Nhiệm vụ - Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về công tác xoá đóigiảm nghèo, trong đó đi sâu tìm hiểu vai trò của hội phụ nữ trong xóa đóigiảm nghèo - Phân tích, đánh giá th
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp mới của đề tài 7
7 Kết cấu tiểu luận 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ HỘI PHỤ NỮ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 8
1.1.Một số vấn đề chung về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo 8
1.1.1.Khái niệm và nguyên nhân của đói nghèo 8
1.1.2 Sự cần thiết của việc xóa đói giảm nghèo 11
1.2 Đặc điểm và vai trò của hội phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo 11
1.2.1 Đặc điểm của hội phụ nữ 11
1.2.2.Vai trò của hội phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo 12
1.3 Kinh nghiệm xóa đói của một số hội phụ nữ huyện 15
1.3.1.Kinh nghiệm của hội phụ nữ huyện Ba Vì 15
1.3.2 Kinh nghiệm hội phụ nữ huyện Sơn Hà( Quảng Ngãi ) 17
CHƯƠNG 2: HỘI PHỤ NỮ QUỐC OAI VỚI SỰ NGHIỆP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở ĐỊA PHƯƠNG 20
2.1 Khái quát về hội phụ nữ huyện Quốc Oai 20
2.2 Thực trạng sự nghiệp xóa đói giảm nghèo của hội phụ nữ huyện Quốc Oai 21 2.2.1.Chính sách hỗ trợ hội viên vay vốn 22
Trang 22.2.2.Chính sách đào tạo và hương nghiệp cho từng hội viên phụ nữ 232.2.3 Chính sách giúp hội viên làm kinh tế gia đình 232.2.4 Vận động hội viên thực hiện kế hoạch hóa gia đình 252.3 Thành tựu của hội phụ nữ huyện Quốc Oai trong xóa đói giảm nghèovà vấn đề đặt ra 282.3.1 Những thành tựu cơ bản 282.3.2.Một số vấn đề đặt ra trong xóa đói giảm nghèo 30
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI PHỤ NỮ HUYỆN QUỐC OAI TRONG XÓA ĐÓ GIẢM NGHÈO ĐẾN NĂM 2015 31
3.1 Định hướng của hội trong xóa đói giảm nghèo 313.2 Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hoạt động xóa đói giảm nghèo của hội phụ nữ huyện Quốc Oai 323.2.1 Cần tăng cường xây dựng chương trình “ góp vốn”, “tiết kiệm vốn” trong công đồng phụ nữ 323.2.2 Huy động và sử dụng vốn vay một cách hiệu quả trong phát triển kinh
tế hộ gia đình của mỗi hội viên nghèo 333.2.3.Tăng cường tuyên truyền về kế hoạch hóa dân số tới tận từng thành viêncủa hội hội phụ nữ 333.2.4 Tăng cường hoạt động tập huấn khoa học kỹ thuật cho từng hội viên 34
KẾT LUẬN 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ởmỗi quốc gia Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đang sống trongcảnh đói nghèo, kể cả nước có thu nhập cao nhất thế giới Tỷ lệ người nghèo
ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn cácnước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất nhiều Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề xoá đói giảmnghèo (XĐGN) không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thànhmối quan tâm của cả động đồng Quốc tế Việt Nam là một trong những nước
có thu nhập thấp trên thế giới, do đó chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN
là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc
tế kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết của cả dân tộc đểđẩy lùi đói nghèo tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến.Chúng ta đều biết đòi nghèo là lực cản trên con đường tăng trưởng và pháttriển của Quốc gia, nghèo khổ luôn đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xãhội, bệnh tật phát triển, trật tự an ninh chính trị không ổn định…
Trong thời kỳ nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiệnđại hoá (CNH,HĐH), phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, vấn đềXĐGN càng khó khăn và phức tạp hơn so với thời kỳ trước Muốn đạt đượchiệu quả thiết thực nhằm giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống chongười dân thì mỗi địa phương, mỗi vùng phải có chương trình XĐGN riêngphù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình nhằm thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Quốc Oai là huyện ngoại thành có diện tích là 147 km vuông, trongnhững năm gần đây được sự quan tâm đầu tư của thành phố, sự nỗ lực cố
Trang 4gắng của lãnh đạo và nhân dân toàn huyện nên tình hình kinh tế - xã hội đã cónhững bước chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngàycàng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo đói hàng năm giảm từ 2-3% Nhữngthành tựu đó là kết quả nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp cùng các tổ chức và
cá nhân trong huyện, trong đó có sự đóng góp tích cực của Hội Phụ nữ huyện
Tuy nhiên, cho đến nay Quốc Oai vẫn là huyện nghèo, có tỷ lệ hộnghèo cao nhất và thu nhập trung bình thấp nhất so với các quận, huyện củaThủ đô Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của QuốcOai như vậy, Thành phố Hà Nội, huyện đã có những chính sách gì, bằng cáchnào, và trong thời gian tới cần thực hiện các giải pháp gì để đẩy mạnh quátrình xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đótạo những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo vàkhông bị tái nghèo? Đó là những câu hỏi mà đề tài tiểu luận này sẽ nghiêncữu và giải đáp
2 Tình hình nghiên cứu
Vẫn đề xóa đói giảm nghèo đã có nhiều công trình nhiên cứu và báo cáođược công bố Liên quan đến nội dung của đề tài có các công trình tiêu biểusau:
- Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, của TS Đỗ
Thị Bình và Lê Ngọc Hân, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 Cuốn sách nàynêu lên các quan niệm về phân hóa giàu nghèo và tình trạng đói nghèo ởnước ta và trên thế giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn vàyêu cầu của phụ nữ nghèo nông thôn; đưa ra các khuyến nghị khoa họclàm cơ sở cho việc hoạch định chính sách xóa đói, giảm nghèo, giúp phụ
nữ nghèo nông thôn vươn lên
- Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, do PGS.TSKH Lê Du Phong - PTS.
Trang 5Hoàng Văn Hoa đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.Các tác giả đã đánh giá những thành tựu về kinh tế - xã hội qua hơn 10năm đổi mới và tiềm năng ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta.
- Việc xóa đói giảm nghèo ở Hưng Hà, của Nhật Tân, Tạp chí cộng sản
số 12 năm 1993
- Đói nghèo ở miền núi Nghệ An-Nguyên nhân và biện pháp khắc phục”
của TS Bạch Đình Ninh, Tạp chí Cộng sản số 10 năm 1999
Các công trình, chuyên khảo và báo cáo trên phần lớn đều tập trung vàovai trò của các cấp ủy Đảng và chính quyền, chứ rất ít công trình viết về vaitrò của các tổ chức xã hội trong xóa đói giảm nghèo, nhất là vai trò của hộiphụ nữ
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng vaitrò của Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai trong hoạt động xóa đối giảm nghèo đểrút ra những thành tựu, hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường vaitrò Hội Phụ nữ huyện trong công tác này
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về công tác xoá đóigiảm nghèo, trong đó đi sâu tìm hiểu vai trò của hội phụ nữ trong xóa đóigiảm nghèo
- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của hội phụ nữ huyện Quốc Oaitrong xóa đói giảm nghèo thời gian qua
- Đề xuất các định hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của hộitrong công tác xoá đói giảm nghèo huyện Quốc Oai đến 2015
Trang 64 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế - xã hội có liên quan đến công tác
và chương trình xoá đói giảm nghèo, trong đó đi sâu tìm hiểu một số hộ tiêubiểu đại diện cho 3 vùng của huyện Quốc Oai
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung : nghiên cứu thực trạng đói nghèo và phát triển kinh tế của
các hộ nghèo tại huyện Quốc Oai
Phạm vi thời gian : từ năm 2006 đến 2011và một số định hướng, giải
5.2 Phương pháp cụ thể
Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ 2 nguồn:
+ Từ các sách, công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học về các nộidung liên quan đến chủ đề tiểu luận
+ Từ các Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đảng bộ thànhphố Hà Nội và đại hội Đảng bộ huyện Quốc Oai, các báo cáo tổng kết hàngnăm của UBND huyện, báo cáo của các phòng LĐTB&XH, Phòng Thống
Trang 7kê,Hội phụ nữ huyện qua 5 năm từ 2006 đến 2011, và các mục tiêu, giải phápcủa hội đến năm 2016.
Phương pháp phân tích
- Để phân tích thực trạng đói nghèo của huyện chúng tôi sử dụng cácphương pháp: thống kê mô tả để mô tả thực trạng, thống kê so sánh tỷ lệ phântrăm hộ nghèo tại các xã trong tòa huyện để từ đó đánh giá, đưa ra các đinhhướng cho từng xã
- Căn cứ vào thực trạng đói nghèo của huyện, quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội huyện Quốc Oai đến năm 2015 để đưa ra những địnhhướng và giải pháp nâng cao vai trò của hội phụ nữ trong XĐGN đến năm
2015 cho huyện Quốc Oai
6 Đóng góp mới của đề tài
- Làm rõ vai trò của Hội Phụ nữ trong hoạt động xóa đói giảm nghèo nói
chung và hội phụ nữ huyện Quốc Oai nói riêng
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của các hội phụ nữ
trong xóa đói giảm nghèo tại những huyện trong thời gian tới
- Tiểu luận là tài liệu tham khảo cho các hội phụ nữ quận ( huyện ) trên
phạm vi cả nước nhằm đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nooij dung tiểu luận được kết cấu thành 3chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm phát huy vai trò Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo
Chương 2: Hội phụ nữ huyện Quốc Oai với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo ở địa phương
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát huy vai trò của Hội Phụ nữ huyên Quốc Oai trong xóa đói giảm nghèo đến năm 2015
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ HỘI PHỤ NỮ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1 Một số vấn đề chung về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo
1.1.1 Khái niệm và nguyên nhân của đói nghèo
1.1.1.1 Khái niệm nghèo đói
Tại Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương doESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa
như sau: “ nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được
xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”[15]
Theo liên minh châu âu (EU) thì đánh giá: “ Một gia đình nghèo là gia đình
có mức thu nhập không băng nửa so với các gia đình khác trong quốc gia”[…]
Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu nghèo đói là tình trạng một bộ phận
dân không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu con người đã được xã hộithừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quáncủa địa phương
Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà làvấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cảnhững giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết ngườinghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội,môi trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra Rủi ro quánhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tìnhtrạng nghèo Tháng 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã
Trang 9hội ở Copenhagen( Đan Mạch), những người đứng đầu các quốc gia đã trịnhtrong tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèotrên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tácquốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị,kinh tế của nhân loại
Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc Nó
là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian Đến nay,nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khácnhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn
về xóa đói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổchức tại Thái Lan vào tháng 9/1993 Theo hội nghị này, đói nghèo là tìnhtrạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơbản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triểnkinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương Đây là khái niệmkhá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng,trong đó có Việt Nam
Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại:
Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ
phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu
để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,…; Còn
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức
trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định
Những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếucủa người nghèo là: 1) không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mứctối thiểu dành cho con người; 2) có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng;3) thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
Trang 10Việt Nam cũng nằm trong các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đềnghèo đói, và cũng đang nỗ lực đề xóa đói giảm nghèo, song đến nay tìnhtrạng đói nghèo vẫn còn phổ biến, nhất là tại các vùng nông thôn
1.1.1.2 Nguyên nhân
Vấn đề đói nghèo của các quốc gia tuy có những nguyên nhân giốngnhau, song do điều kiện cụ thể khác nhau mà mỗi nước lại có nguyên nhânkhác nhau Tại Việt Nam, đói nghèo là do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt,
hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã vàđang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực
Thứ hai, do người dân thiếu kiến thức về kinh tế thị trường, thiếu vốn
kinh doanh, hoặc gia đình đông con, thiếu người làm và không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động, ốm đau, rủi ro
Thứ ba, do cơ chế chính sách Cụ thể là chính sách thiếu hoặc không
đồng bộ Thêm vào đó là những khó khăn trong đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng cho các khu vực nông thôn, miền núi Các chính sách khuyến khích sảnxuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chínhsách giáo dục đào tạo, ytế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mớihiện vẫn chưa có tác động tích cực đến đời sống dân nghèo
Thứ tư, do số hộ nghèo tại các tỉnh thành phố trên cả nước chưa ý thức
đầy đủ về việc phải tự giải thoát mình khỏi cảnh nghèo khó cũng như làchưa lo tích góp vốn để đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình Nhiều tỉnhthành, nơi có đồng bào là người dân tộc thiểu số còn có suy nghi cho rằngđầu tư cho xóa đói giảm nghèo là việc của Nhà nước, của chính quyền cáccấp vì thế nên chưa có ý thức hợp tác, bảo vệ và khai thác các công trình hạtầng cơ sở do nhà nước xây đầu tư xây dựng vì mục tiêu xóa đói giảm nghèotại địa phương
Trang 111.1.2 Sự cần thiết của việc xóa đói giảm nghèo
Nghèo đói vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề xã hội Mục tiêu củaViệt Nam đến năm 2020 là xây dựng một xã hội “ Dân giàu, nước mạnh, côngbằng, dân chủ, văn minh”, vì vậy xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ cấp báchcủa toàn Đảng, toàn dân ta Điều này xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:
- Nghèo đói sẽ cản trở sự phát triển chung của toàn xã hội
- Nhèo đói làm cho con người mất đi vị tri, vai trò trong xã hội
- Ngèo đói làm cho con người ta thiếu thốn về vật chất, ảnh hưởng đếntinh thần
- Nghèo đói gây ra các tiêu cực trong xã hội, các tệ nạn xã hội
Nghèo đói không chỉ làm con người ta thiếu thốn về vật chất mà còntạo ra những suy nghi tiêu cực cho con người, con người không lao động sảnxuất mà thay vào đó là tham gia vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, sốđề v Người nghèo cũng tác động đến quyền bình đẳng, vị trí cá nhận và sựphát triển trong từng xã hội
Từ những phân tích trên ta thấy việc xóa đói giảm nghèo là trách nhiệmcủa toàn Đảng, toàn dân ta để hương tới một xã hội dân giàu, nước mạnh
1.2 Đặc điểm và vai trò của Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo
1.2.1 Đặc điểm đói nghèo của phụ nữ
Phụ nữ chiếm một nửa dân số thế giới, nhưng tỷ lệ nghèo đói của phụ nữlại gấp đôi nam giới Vì vậy, phụ nữ được xếp vào nhóm “yếu thế” trong xã hội
Theo điều tra của Ngân Hàng Thế giới năm 1997-1998, tỷ lệ dân số nữ 15tuổi trở lên chưa đến trường tại Việt Nam la 13,4%, nhiều hơn 2 lần tỷ lện nam
Phụ nữ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay đểxản xuất kinh doanh
Phụ nữ Việt Nam có tỷ lệ nữ là đại biểu quốc hội khá cao (khoảng25%), xếp thứ 2 khu vực châu á, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị
Trang 12Phụ nữ Việt Nam hiện đang làm chủ 21% trong tổng số hơn 500.000doaanh nghiệp cả nước, 30 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứngkhoán.Doanh nghiệp nữ của Việt Nam cũng có mặt ở hầu hết các lĩnh vựcnhư; dệt may, chế biến nông sản, thủy sản, da dày.v…
Rõ ràng những đặc điểm trên của phụ nữ Việt Nam có ảnh hưởng rấtlớn vào việc tham gia phát triển kinh tế, xã hội, và cũng là đặc điểm nổi bậtbản sắc người phụ nữ Việt Nam
1.2.2 Vai trò của Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo
Phụ nữ tuy là “phái yếu” nhưng một khi được tổ chức lại, họ lại có sứcmạnh đáng kể Điều này được thể hiện rõ khi Hội Phụ nữ các cấp tham giavào công cuộc xóa đói giảm nghèo Vai trò của các cấp Hội Phụ nữ trong xóađói giảm nghèo được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, giúp hội viên vay vốn, phát triển kinh tế gia đình
- Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn quan tâm đến sựphát triển, tiến bộ, bình đẳng của phụ nữ Trung ương Hội luôn sát sao hộiviên, hỗ trợ chị em phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nhất là tại các tỉnh,các khu vực khó khăn Trong nhiều năm qua, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Namvới chức năng đại diện chăm lo cho quyền lợi phụ nữ đã tập trung chỉ đạo vàtriển khai nhiều phong trào tới các cấp hội nhưng chương trình, thiết thực hỗtrợ cho phụ nữ ở các nơi kho khăn phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo
- Các cấp Hội phụ nữ trong cả nước đều có vai trò to lớn trong việc hỗtrợ phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế gia đình Các phong trào “Phụ nữ giúpnhau làm kinh tế”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “Chương trình hỗ trợphụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập” đã khơi dậy được tiềm năng to lớn, sứcsáng tạo và truyền thống nhân ái, ý thức tự nguyện giúp nhau giống, vốn, kinhnghiệm, ngày công sản xuất trong phụ nữ các khu vực khắp đất nước đặc biệt
là vùng sâu vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số Các tổ nhóm “Vay vốn
Trang 13-tiết kiệm”, “Phụ nữ sản xuất giỏi”, “Câu lạc bộ phụ nữ khuyến nông”, “Câulạc bộ nữ doanh nghiệp”, các mô hình lồng ghép dân số, sức khoẻ sinh sảnvới xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, xoá mù chữ… đã thu hút nhiều phụ
nữ ở các tỉnh , thành và khu vực có các đông bào dân tộc thiểu số tham gia
Các cấp Hội tập trung khai thác từ ngân hàng, các tổ chức quốc tế, từ
tiết kiệm của chị em để hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo.Hội đã chủ động tín chấp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, thực hiện uỷ thác với Ngân hàng Chính sách xã hội cho phụ nữ các cấpvay với cách thức vay trả linh hoạt, phù hợp Đến nay số vốn do các cấp Hộivùng quản lí là trên 10.550 tỷ đồng cho hàng triệu lượt chị em được vay.Không chỉ giúp vốn, các cấp Hội còn tranh thủ các nguồn lực để tổ chức tậphuấn, hội thảo, tham quan mô hình, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho trên250.000 lượt phụ nữ …
Thứ hai, hướng dẫn kỹ thuật cho hội viên
Các cấp Hội đã không chỉ giúp chị em hội viên vay vốn, mà còn hướngdẫn chị em sử dụng đồng vốn đúng mục đích, hướng dẫn kỹ thuật tiên tiến,
sử dụng giống mới vào sản xuất … Nhpờ vậy, nhiều chị em phụ nữ đã cănbản thoát đói và giảm nghèo Nhiều tấm gương giúp nhau phát triển kinh tế,nhiều điển hình vượt khó, thoát đói nghèo vươn lên khá, giàu xuất hiện; một
bộ phận phụ nữ đã mạnh dạn phát triển kinh tế trang trại, tiểu thủ côngnghiệp, đa dạng hoá ngành nghề với doanh thu hàng năm từ 50-100 triệuđồng, góp phần giải quyết việc làm cho phụ nữ và thay đổi bộ mặt khu vựcnông thôn và miền núi
Mô hình “Giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ” và chỉ tiêu “80% trở lên số
hộ đói nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội giúp đỡ” được các tỉnh tổ chứcthực hiện với nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo như Hội phụ nữ tỉnh chỉ đạo1-2 xã điểm, còn mỗi xã giúp 1-2 hộ nghèo trở lên, trong đó ưu tiên giúp hộ
Trang 14phụ nữ nghèo làm chủ hộ Cách thức là phân công 2-3 cán bộ, hội viên cókinh tế khá hay đơn vị kết nghĩa giúp 1 hội viên về vốn, giống, cây, con, kinhnghiệm, kiến thức làm ăn để dần vươn lên thoát nghèo.
Thứ ba, tổ chức các cuộc “Hội thảo đầu bờ”giúp chị em kinh nghiệm
làm ăn
Việc xây dựng các mô hình điểm hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèogắn với củng cố cơ sở Hội, phát triển hội viên, xây dựng lực lượng nòng cốttrong phụ nữ được các cấp Hội quan tâm chỉ đạo Năm 2005-2006 Trungương Hội đã trực tiếp chỉ đạo tỉnh Lâm Đồng, Đắc Nông, Gia Lai xây dựng
mô hình xoá đói giảm nghèo cho phụ nữ và hướng dẫn cách làm ăn, khuyếnnông, khuyến lâm cho phụ nữ 5 tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh Cao Bằng, BắcCạn, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La… Chỉ đạo phụ nữ dân tộc Mông, Dao ở hai
xã Phong Niên, Bản Cầm huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xây dựng mô hìnhđiểm có gắn với Hội thảo đầu bờ về trồng ngô lai, nuôi lợn sinh sản, nuôi dê,hướng dẫn chế biến, dự trữ lương thực, thực phẩm đạt kết quả tốt được cấp
uỷ, chính quyền địa phương đánh giá cao, phụ nữ dân tộc thiểu số được thụhưởng thật sự phấn khởi, tích cực tham gia sinh hoạt hội
Hoạt động giúp phụ nữ thoát nghèo của các cấp Hội ngày càng đa
dạng, đạt nhiều kết quả nổi bật như tập trung giúp xây, sửa nhà cho phụ nữnghèo, tặng học bổng cho bà con hộ nghèo, giúp hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
hộ thoát nghèo bền vững… Bằng sự đóng góp tiền, ngày công của phụ nữ,cộng đồng, doanh nghiệp… các mái ấm tình thương đã được xây dựng Chỉtính riêng hai đợt là tập trung kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên vàhưởng ứng đợt thi đua đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ phát động, Trungương hội đã phát động phong trào “Phụ nữ cả nước với Điện Biên”, phụ nữ cảnước đã giúp cho 2.713 phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số xoá được nhàtranh tre, ở tạm
Trang 15Thứ tư, hỗ trợ dạy nghề cho hội viên
Hoạt động dạy nghề, giới thiệu việc làm cho phụ nữ cũng được Hội
phụ nữ nhiều tỉnh như Hoà Bình, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, AnGiang… đẩy mạnh với việc dạy nghề truyền thống và một số ngành nghề mớicho nữ nông dân nghèo, trẻ em gái ở các địa bàn có khu du lịch, trung tâmgiao lưu; tìm nguồn hàng và tạo việc làm tại chỗ, giúp chị em nghèo tăng thunhập bình quân 150.000đ-500.000đ/tháng Năm 2005, các tỉnh, thành Hộivùng khó khăn đã tích cực tổ chức dạy nghề cho 196.094 người, tư vấn nghề,
tư vấn việc làm cho 162.765 người; giới thiệu việc làm và cung ứng lao độngcho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài 157.937 người
Với nhiều mô hình và biện pháp thiết thực, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam, đặc biệt là các cấp Hội phụ nữ ở vùng sâu vùng xa trong những nămqua đã giúp cho nhau biết cách làm ăn, mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế giađình, từ đó từng bước thoát nghèo bền vững Số lượt hộ nghèo được Hội giúp
đỡ là 780.114 hộ; trong đó số lượt hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội phụ
nữ giúp đỡ là 344.168 hộ Riêng năm 2005 đã có gần 80% hộ nghèo do phụ
nữ làm chủ hộ được Hội giúp đỡ, trong đó có 103.420 hộ thoát nghèo
1.3 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của một số Hội Phụ nữ huyện
1.3.1.Kinh nghiệm của Hội Phụ nữ huyện Ba Vì
Ba Vì là một huyện miền núi thuộc thành phố Hà Nội, có 7.073 phụ nữnghèo trong đó có 1.462 hội viên là chủ hộ gia đình Những năm qua, HộiLHPN huyện đã xây dựng phong trào thi đua: Phụ nữ tích cực học tập, laođộng sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc giúp phụ nữ làm kinhtế với nhiềunội dung như: xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việclàm, tăng thu nhập góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống…
Ban Thường vụ Hội LHPN huyện đã phối hợp với các ban, ngành khảosát, điều tra hộ nghèo; mở lớp tập huấn, hướng dẫn chị em áp dụng tiến bộ
Trang 16khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh chăn nuôi, chuyển đổi cơ cấu câytrồng Hội cũng tổ chức và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế, thựchành tiết kiệm bằng nhiều hình thức giúp nhau về vốn, công lao động, về câycon giống, kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi; xây dựng mô hình vườn rau dinhdưỡng, trồng rau sạch để cung cấp cho các trường mầm non; xây dựng cáccông trình vệ sinh nước sạch Năm 2010, Huyện hội duy trì thường xuyên cáchoạt động giúp nhau không lấy lãi với số tiền 471.930.000 đồng cho 317 lượthội viên vay đầu tư sản xuất Đồng thời, khảo sát và giải ngân số tiền 825triệu đồng cho 55 hộ gia đình hội viên có nhu cầu vay phát triển đàn bò sữa ở
3 xã là Vân Hoà, Tản Lĩnh và Tòng Bạt.Hiện nay, dự án "Chăn nuôi bò sữa"
đã phát triển được 285 con, trong đó có gần 200 con cho khai thác sữa Bêncạnh đó, Hội LHPN huyện còn phối hợp hội LHPN thành phố Hà Nội thựchiện chương trình "Vỗ béo bò thịt" tại 2 xã Ba Vì và Ba Trại Từ nguồn vốnvay, có hộ gia đình có thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên, nhiều hộ gia đìnhhội viên phụ nữ có thu nhập từ 30 - 50 triệu đồng
Việc quản lý và sử dụng nguồn vốn được huy động, khai thác cho hộiviên vay để sản xuất, tạo việc làm, thu hút chị em tham gia tổ chức Hội thựchiện chương trình ký phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội, đã giảingânhơn 27 tỷ đồng cho 2.512 gia đình hội viên vay Hiện nay, tổng nguồnvốn của hội đang quản lý là 140 tỷ đồng cho hơn 10 nghìn hội viên vay pháttriển kinh tế Song song với việc vay vốn, Hội còn quan tâm đến việc giúp hộiviên phát triển đàn bò sinh sản, bò sữa và mô hình trang trại tổng hợp HuyệnHội đang hướng tới hình thành được các vùng sản xuất chuyên canh quy mô
và sản phẩm có giá trị, như trồng lúa chất lượng cao, làng nghề làm nón, mâytre đan, làm miến dong Trong phong trào hỗ trợ xoá nhà tạm, xây dựng
"mái ấm tình thương", bằng những nguồn vốn vận động được từ các tổ chứcchính trị xã hội, năm 2010, đã có 4 nhà "Mái ấm tình thương" được tặng cho
Trang 17chị em phụ nữ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trị giá 77 triệu đồng.Kết quả trong năm 2010, 127 hội viên phụ nữ thoát nghèo, trong đó 62 hộthoát nghèo bền vững.
1.3.2 Kinh nghiệm hội phụ nữ huyện Sơn Hà( Quảng Ngãi )
Hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế huyện Sơn Hà đã có những bước tiếntriển Song, đời sống của nhân dân nói chung, phụ nữ nói riêng, đặc biệt làphụ nữ dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn Hiện nay, toàn huyện có 14.053phụ nữ từ 18 tuổi trở lên, trong đó phụ nữ dân tộc thiểu số là 11.591 người;tổng số hội viên là 7.375 người (có 6.248 người dân tộc thiểu số), sinh hoạt ở
91 chi hội và 279 tổ phụ nữ, phần lớn phụ nữ trình độ học vấn thấp, điều kiệntiếp cận với thông tin khoa học và kiến thức xã hội còn nhiều hạn chế, khôngđược đào tạo nghề, chị em quen với cách làm ăn cũ, thiếu vốn và thiếu đất sảnxuất Vì vậy, tỷ lệ hộ nghèo còn cao: 75,54% (theo chuẩn mới)
Từ thực trạng trên, các cấp Hội xác định công tác xoá đói giảm nghèo(XĐGN) cần được tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả, nhằmnâng cao đời sống cho chị em, thu hút, tập hợp hội viên, nâng cao vị trí củangười phụ nữ trong gia đình và xã hội
Để từng bước giải quyết khó khăn, giúp hội viên, phụ nữ XĐGN, tăngthu nhập, cải thiện đời sống, Ban Chấp hành Hội phụ nữ huyện đã tăng cườngchỉ đạo cơ sở Hội tổ chức những hoạt động cụ thể như: tín chấp hơn 2,1 tỷđồng cho 355 phụ nữ nghèo vay vốn Khai thác vốn từ các dự án nước ngoài(CARE; RUDEP) trên 1,2 tỷ đồng cho 1015 lượt chị vay Huy động vốn trong
tổ chức Hội (Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo, tổ phụ nữ hùn vốn-tiết kiệm,vốn từ quỹ hội) 250 triệu đồng cho 464 lượt chị vay Ngoài việc khai thác cácnguồn vốn, Hội đã chủ động phối kết hợp với các ngành chức năng tổ chức
mở các lớp tập huấn cho 2.125 lượt cán bộ, hội viên về kiến thức hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế, kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm, chương trình IPM;
Trang 18kỹ năng lập kế hoạch sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh hỗ trợ gia đình, chươngtrình tín dụng-tiết kiệm, chương trình quản lý vốn đã cho năng suất và giátrị kinh tế cao Trong 5 năm qua, Hội cơ sở đã vận động giúp cho 550 phụ nữnghèo vay không lấy lãi 300 chỉ vàng, trị giá cây, con giống, ngày công, tiềnmặt trên 260 triệu đồng, giúp 355 chị qua cơn hoạn nạn khó khăn, trị giá tiền
38 triệu đồng, khoảng 6.000 lon gạo và hàng trăm ngày công lao động Nhờ
đó, Hội đã giúp cho một bộ phận phụ nữ xoá được đói, giảm được nghèo
Từ năm 2001 đến nay, đã có 2.039 chị thoát nghèo, 37 chị thu nhậphàng năm từ 30 triệu đồng trở lên Điển hình như các chị: Đinh Thị Hồng xãSơn Trung; Đinh Thị Trói xã Sơn Thành, Đinh Thị Máy xã Sơn Nham, ĐinhThị Triêm xã Sơn Hạ Song song với những chương trình hỗ trợ và phát triểnkinh tế, Hội Phụ nữ huyện Sơn Hà còn thực hiện lồng ghép các chương trình,phong trào khác như xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, phụ nữ tích cực họctập, lao động sáng tạo, phụ nữ tiến bộ ; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh;tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về bìnhđẳng giới nhằm tuyên truyền, vận động chị em nâng cao kiến thức chăm sócsức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, vệ sinh môi trường, phòng chốngHIV/AIDS Hội còn tuyên truyền cho 100% cán bộ hội và 70% hội viên quầnchúng kiến thức về công ước quyền trẻ em, nạn bạo hành gia đình, luật hônnhân và gia đình, kết hợp với các ngành vận động, đưa trẻ đến trường đạt 95%
Thực hiện phong trào đền ơn đáp nghĩa, Hội đã phối hợp với HộiLHPN tỉnh, huyện Mộ Đức, Ban vận động “Ngày vì nguời nghèo” của huyệnxây dựng 4 căn nhà tình thương với số tiền là 38 triệu đồng Hiện nay, Hộiđang triển khai cuộc vận động quyên góp ủng hộ Quỹ xây dựng nhà tìnhthương cho phụ nữ nghèo Từ đó, đã nâng dần nhận thức của phụ nữ về tổchức Hội, số hội viên tăng hàng năm 1,5%
Trang 19Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, phong trào hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế của Hội phụ nữ Sơn Hà vẫn còn gặp không ít khó khăn.Phần lớn cán bộ Hội cơ sở là người dân tộc thiểu số trình độ văn hoá thấp, đa
số chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động tín dụng-tiết kiệm, khả năngđiều hành nhóm, phổ biến các kiến thức cần thiết cho chị em còn hạn chế.Phần lớn thành viên được vay vốn quen với phương thức canh tác cũ, chưađược tiếp cận và mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chănnuôi, giá thị trường không ổn định, đầu ra cho sản phẩm bấp bênh Vì vậy, đểcông tác XĐGN đạt hiệu quả, rất cần có sự phối hợp chặt chẽ và sự quan
1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho hội phụ nữ huyện Quốc Oai
Nghiên cứu kinh nghiệm các Hội Phụ nữ huyện nêu trên, có thể rút ramột số bài học mà Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai có thể tham khảo như sau:
Thứ nhất, cần có sự quản lý và hướng dẫn hội viên sử dụng vốn vay có
hiệu quả vào đúng mục đích cũng như là cách thức sử dụng nguồn vốn trongphát triển kinh tế hộ gia đình nhằm góp phần hiệu quả vào công cuộc xóa đóigiảm nghèo tại địa phương
Thứ hai, các hội phụ nữ cần có sự phối kết hợp giữa Hội phụ nữ với
chính quyền, các ban nghành, đoàn thể ở địa phương trong xóa đói giảmnghèo Trong công tác tuyên truyền chính sách dân số và kế hoạch hóa giađình như không sinh con thứ ba, hay tư tưởng trọng nam kinh nữ.v…rất cầnthiết co sự gắn kết cùng vân động, tuyên truyền của các ban nghành, và chínhquyền để có sự thông nhất cũng như thông tin của chủ trương, chính sách củaĐảng đến tận từng thành viên phụ nữ, từng hộ gia đình tai địa phương
Trang 20CHƯƠNG 2 HỘI PHỤ NỮ HUYỆN QUỐC OAI VỚI SỰ NGHIỆP
XểA ĐểI GIẢM NGHẩO Ở ĐỊA PHƯƠNG
2.1 Khỏi quỏt về Hội phụ nữ huyện Quốc Oai
Hội LHPN huyện Quốc oai đợc ra đời ngay sau khi thành thành lập
Đảng Công sản Việt Nam Là tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội đặt d ới sựlãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp giúp đỡ của Chính quyền,MTTQ và các ban ngành, đoàn thể Hội LHPN có chức năng đại diện, bảo
vệ quyền bình đẳng,dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ,tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà n ớc; Đoàn kết, tập hợptuyên truyền, giáo dục, vận động, tổ chức hớng dẫn phụ nữ thực hiện chủtrơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc, góp phần xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa
Hội có nhiệm vụ tuyên truyền vận động, giáo dục phụ nữ giữ gìnphẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của phụ nữ Việtnam, tổ chức tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao nhận thức, trình độ, nănglực về mọi mặt, tích cực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội
an ninh quốc phòng, xây dựng gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh.
Hoạt động của Hội Phụ nữ khụng vỡ mục tiờu lợi nhuận, mà vỡ sự tiến
bộ của phụ nữ Về tổ chức, toàn huyện cú 20 cơ sở hội, với 129 chi hội, 478
tổ hội phụ nữ Tổng số hội viờn tớnh đến đầu năm 2012 là 23.266 người,chiếm 65% lực lượng lao động toàn huyện Trong số đú, chỉ cú 20 % hội viờn
cú cuộc sống khỏ giả; 31 % (7.215/23.266 người) số hội viờn lõm vào cảnhnghốo đúi, tỳng thiếu
Bảng 2.1 Tỷ lệ cỏc chủ hộ nghốo là nữ trong huyện