Tính cấp thiết của đề tài * Xét về mặt lý thuyết: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì hoạt động sản xuất kinh doanh phải có lợi nhuận..
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
* Xét về mặt lý thuyết:
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì hoạt động sản xuất kinh doanh phải có lợi nhuận Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, tuyệt đối phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó không chỉ là nguồn tài chính có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế quốc dân mà còn với cả các doanh nghiệp và người lao động
Việc nâng cao lợi nhuận giúp người lao động cải thiện được cuộc sống, mức sống ngày càng được nâng cao Còn đối với nền kinh tế quốc dân thì việc nâng cao lợi nhuận sẽ đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, từ đó có thể xây dựng
cơ sở hạ tầng hiện đại hơn trước thúc đẩy các doanh nghiệp và nhà nước ngày càng phát triển
Các doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu để có lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng tăng trong điều kiện kinh tế ngày càng khó khăn và nhiều thách thức như hiện nay Và để đạt được mục tiêu đó thì doanh nghiệp phải luôn biết phát huy hết những nguồn lực sẵn có, khai thác được những thế mạnh của doanh nghiệp mình, đảm bảo lấy thu bù chi và có lợi nhuận
* Xét về mặt thực tiễn
Việc nâng cao lợi nhuận mang ý nghĩa hết sức quan trọng, vì vậy qua thời gian tìm hiểu thực tế tại CTCP Gia Minh Hải Phòng, em đã phát hiện ra những vấn đề còn tồn đọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty làm giảm lợi nhuận nên cần tìm ra giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận doanh nghiệp Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn đề tài: “Nâng cao lợi nhuận của công ty cổ phần Gia Minh Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp với hy vọng những giải pháp mà
em đưa ra sẽ góp phần nâng cao lợi nhuận hơn nữa cho công ty trong thời gian tới
1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ đề cập việc nâng cao lợi nhuận trong kinh doanh mặt hàng nội thất của CTCP Gia Minh Hải Phòng nên trong thời gian thực tập, em đã chú trọng và đi sâu vào nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu là lợi nhuận của công ty
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 2Đề tài xác định được các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
• Trình bày khái quát cơ sở lý luận về lợi nhuận, kết cấu lợi nhuận, ý nghĩa của việc tăng lợi nhuận
• Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tới tình hình lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng trong khoảng thời gian 2008- 2010
• Phân tích và đánh giá thực trạng tình hình lợi nhuận trong kinh doanh mặt hàng nội thất của CTCP Gia Minh Hải Phòng trong khoảng thời gian 2008– 2010
• Từ phân tích thực trạng khó khăn và những thuận lợi để thấy được thành công và hạn chế của công ty Từ đó đưa ra một số giải pháp tối đa hoá lợi nhuận khả thi nhất cho CTCP Gia Minh Hải Phòng
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của đề tài là lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng, thì phạm vi nghiên cứu của đề tài là:
* Xét về nội dung nghiên cứu: Lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng
* Xét phạm vi không gian: Việc khảo sát thực tế được tiến hành tại CTCP
Gia Minh Hải Phòng, địa chỉ: tầng 8 tòa nhà Harbour View, số 4 Trần Phú, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
* Xét phạm vi thời gian: Tiến hành nghiên cứu phân tích tình hình lợi
nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng giai đoạn từ năm 2008- 2010
1.5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được kết cấu bởi bốn chương Cụ thể:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng về
tình hình lợi nhuận tại CTCP Gia Minh Hải Phòng
Chương 4: Các kết luận và một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao lợi
nhuận tại CTCP Gia Minh Hải Phòng
Trang 3CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI
NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 Một số quan điểm và khái niệm cơ bản về lợi nhuận
2.1.1 Một số quan điểm về lợi nhuận của các nhà kinh tế học
Trong mỗi doanh nghiệp, lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu Khi tiến hành kinh doanh, người ta đều phải tính toán đến lợi nhuận mà mình có thể thu về từ hoạt động đó Vì vậy, lợi nhuận luôn là đề tài được nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu và tranh luận Bởi vì qua các thời đại khác nhau, dưới các góc nhìn khác nhau, mỗi nhà kinh tế lại đưa ra quan điểm của riêng mình
Ngay khi có hoạt động sản xuất, trao đổi mua bán hàng hóa, lợi nhuận trong kinh doanh đã là một đề tài nghiên cứu, tranh luận của nhiều trường phái, nhiều nhà lý luận kinh tế AdamSmith là người đầu tiên trong số các nhà kinh tế học
cổ điển, đã nghiên cứu khá toàn diện về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận Ông xuất phát từ quan điểm, giá trị trao đổi của mọi hàng hóa là do lao động sản xuất ra hàng hóa đó quyết định, để từ đó đặt nền tảng chi các lý thuyết về kinh tế thị trường Theo A.Smith: Nếu chất lượng của lao động chi phí cho việc sản xuất
ra một sản phẩm nào đó càng lớn thì giá trị trao đổi của nó cũng càng lớn Ông khẳng định giá trị của một hàng hóa quy định giá trị trao đổi: Trong cấu thành giá trị của hàng hóa có tiền lương, địa tô và lợi nhuận Theo A.Smith, lợi nhuận của nhà tư bản được tạo ra trong quá trình sản xuất, là hình thái biểu hiện khác của giá trị thặng dư, tức phần giá trị do lao động không được trả công tạo ra Ông đã định nghĩa: “Lợi nhuận là khoản khấu trừ vào giá trị sản phẩm do người lao động tạo ra”.Nguồn gốc của lợi nhuận là do toàn bộ tư bản đầu tư đẻ ra trong
cả lĩnh vực sản xuất và lưu thông Lợi nhuận là nguồn gốc của các thu thập trong
xã hội và của mọi giá trị trao đổi AdamSmith cho rằng không chỉ có lao động nông nghiệp mà cả lao động công nghiệp cũng tạo ra lợi nhuận Nhà tư bản tiền
tệ cho nhà tư bản sản xuất vay vốn và nhận được lợi tức cho vay Đó là một biểu hiện khác của lợi nhuận đã được tạo ra trong sản xuất Chính các nhà tư bản sẽ thỏa thuận để phân chia giá trị thặng dư được tạo ra từ sản xuất kinh doanh tư
Trang 4bản chủ nghĩa Sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển thì tính cạnh tranh ngày càng quyết liệt A.Smith còn phát hiện viện phân chia lợi nhuận theo
tỷ suất lợi nhuận bình quân và khi quy mô đầu tư tư bản càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút
Tuy còn những sai lầm trong hệ thống lý luận của mình nhưng A.Smith đã chỉ ra được rằng: Nguồn gốc thực sự cho giá trị thặng dư là do lao động tạo ra, còn lợi nhuận, địa tô, lợi tức chỉ là biến thể, là hình thái biểu hiện khác nhau của giá trị thặng dư mà thôi D.Ricacdo và những người kế tục đã xây dựng học thuyết kinh tế của mình trên cơ sở những tiền đề và phát kiến của A.Smith D.Ricacdo cũng hoàn toàn dựa vào lý luận giá trị lao động để phân tích chỉ rõ nguồn gốc và bản chất lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa.D.Ricacdo đã khẳng định: Lao động là nguồn gốc của giá trị và giá trị hàng hóa sản phẩm lao động được phân thành các nguồn thu nhập tiền lương, địa tô, lợi nhuận Ông kết luận: “Lợi nhuận chính là phần giá trị lao động thừa ra ngoài tiền công; lợi nhuận là lao động không được trả công của công nhân D.Ricacdo coi lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công, giá trị hàng hóa do công nhân tạo ra luôn luôn lớn hơn số tiền công, số chênh lệch đó chính là lợi nhuận Việc hạ thấp tiền lương làm cho lợi nhuận tăng và ngược lại, tiền lương làm cho lợi nhuận giảm, còn giá trị hàng hóa không thay đổi Ông nhận thấy sự đối lập giữa tiền lương và lợi nhuận, tức sự đối lập lợi ích kinh tế của công nhân và các nhà tư bản
Phân tích sâu hơn sự vận động của lợi nhuận trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, D.Ricacdo đã nhận định: Nếu tư bản được đầu tư vào sản xuất những đại lượng bằng nhau, sẽ nhận được những lợi nhuận như nhau và bình quân hóa lợi nhuận là một xu hướng khách quan của sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa.Jan Batitxay đưa ra nguyên tắc phân phối thu nhập trong xã hội tư sản:
1 Công nhân làm thuê nhận được tiền công từ sản phẩm lao động
2 Chủ ruộng đất nhận được địa tô tư việc chuyển nhượng quyền sử dụng cho các nhà tư bản chủ nghĩa
Trang 53 Chủ tư bản nhận được lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Kế thừa những nguyên lý đúng đắn, khoa học của những nhà lý luận tiền bối C.Mác đã nghiên cứu một cách toàn diện và triệt để về nguông gốc, bản chất của lợi nhuận trong kinh doanh tư bản chủ nghĩa Dựa trên lý luận lao động, lấy sản xuất tư bản chủ nghĩa làm đối tượng nghiên cứu, phân tích, C.Mác đã phát hiện và làm rõ toàn bộ quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản- điều mà các vị tiền bối của ông chưa làm được C.Mác đã khẳng định: Về nguồn gốc lợi nhuận là do lao động làm thuê tạo ra, về bản chất: Lợi nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư, là kết quả của lao động không được trả công, do nhà tư bản chiếm lấy, là quan hệ bóc lột và nô dịch lao động trong xã hội tư bản chủ nghĩa Khi truy tìm nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận, C.Mác viết: “Giá trị thặng dư được quan niệm là toàn bộ con đẻ của tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận” và “giá trị thặng dư (là lợi nhuận) là phần giá trị dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hóa với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hóa”
Vượt trên tất cả các nhà lý luận trước đây, C.Mác đã phân tích tất cả các khía cạnh khác nhau của lợi nhuận, sự hình thành lợi nhuận và sự vận động của quy luật lợi nhuận bình quân, xuyên qua các quan hệ kinh tế là các quan hệ chính trị - xã hội của phạm trù lợi nhuận Là nhà tư tưởng vĩ đại của giai cấp công nhân, sự nghiên cứu về kinh tế của C.Mác là cơ sở, là phương tiện vạch rõ những mâu thuẫn nội tại của xã hội tư bản, những mâu thuẫn đối kháng đẩy chủ nghĩa tư bản đến chỗ tất yếu bị diệt vong, xây dựng học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp
Lợi nhuận được xem như một cực đối lập với tiền lương trong cơ chế phân phối thu nhập tư bản chủ nghĩa C.Mác viết: giá cả lao động biểu hiện ra dưới hình thức lao động biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa tiền công, nên ở cực đối lập, giá trị thặng dư biểu hiện ra dưới hình thức chuyển hóa là lợi nhuận Trong doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa, để theo đuổi mục tiêu của lợi nhuận thì
Trang 6tiền trả cho việc thuê sức lao động sẽ phải có xu hướng giảm sút Mác tóm tắt như sau: “Tiền công và lợi nhuận là tỷ lệ nghịch với nhau” Giá trị trao đổi của
tư bản, tức là lợi nhuận tăng lên theo tỷ lệ mà giá trị trao đổi của lao động tức là lao động tiền công giảm xuống và ngược lại Lợi nhuận tăng lên theo mức độ tiền công tăng lên
Tóm lại, hầu hết các nhà lý luận khi xây dựng học thuyết kinh tế của mình đều cố gắng vạch rõ bản chất, nguồn gốc của lợi nhuận của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô được xem là những vấn đề trọng yếu của các lý thuyết kinh tế
2.1.2 Các khái niệm cơ bản
Lợi nhuận:
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là người sản xuất hàng hóa, để đứng vững trên thị trường họ không thể không tính đến hiệu quả sản xuất kinh doanh hay chính là sản xuất kinh doanh có lợi nhuận
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận Theo GS.TS Đinh Văn
Sơn (giáo trình tài chính DNTM- Đại học Thương Mại) thì lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập thu được và các khoản chi phí đã bỏ ra để đạt được thu nhập đó trong một thời kì nhất định.
Ta có công thức chung xác định lợi nhuận:
Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
Song bên cạnh đó, PGS.TS Trần Thế Dũng lại cho rằng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu đạt được với toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được kết quả đó (theo giáo trình phân tích hoạt động kinh
tế doanh nghiệp thương mại)
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 17 (thuế TNDN): Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Trang 7Chúng ta thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận nhưng hiểu
theo một cách tổng quát lợi nhuận chính là khoản chênh lệch giữa thu nhập phát sinh trong một thời kì nhất định với chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó Để xác định lợi nhuận thì ta phải tính toán một cách
chính xác các chi phí đã bỏ ra và doanh thu đạt được Muốn làm được điều này thì tiếp theo đây chung ta sẽ đi tìm hiểu về doanh thu và chi phí
Doanh thu:
Có thể hiểu: “Doanh thu là tổng thể giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ từ hoạt động kinh doanh góp phần làm tăng vốn chủ
sở hữu”(GS.TS Đinh Văn Sơn)
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 14- doanh thu và thu nhập khác
(Ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ- BTC 31/12/2001 của BTC) Doanh thu là tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu Nguồn thu từ bên thứ ba không phải
là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu
- Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết
cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn
- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng kém
phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu
- Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định
tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán
Doanh thu bao gồm: doanh thu thuần và doanh thu hoạt động tài chính Trong đó doanh thu thuần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu Và ngay sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu doanh thu thuần được định nghĩa như thế nào
Doanh thu thuần:
Doanh thu thuần là khoản doanh thu bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong kỳ sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp (nếu có)
Trang 8 Chi phí kinh doanh
Chi phí kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống (nhân công), lao động vật hóa (các yếu tố vật chất) và các yếu tố khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (Theo giáo trình tài chính doanh nghiệp thương mại của GS.TS
Đinh Văn Sơn) Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh, phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác
Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tiền lãi vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức,… Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc thiết bị
Vậy chi phí kinh doanh là bộ phận chi phí gắn liền với quá trình mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ và hoạt động tài chính của doanh nghiệp Bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí kinh doanh chính là giá vốn hàng bán
xuất thì giá vốn hàng bán là trị giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ là giá thành sản xuất của hàng hóa đã tiêu thụ trong kỳ Khi xác định doanh thu thì đồng thời giá trị sản phẩm hàng hóa xuất khẩu cũng được phản ánh vào giá vốn để xác định kết quả kinh doanh Do vậy việc xác định đúng giá vốn hàng bán có ý nghĩa rất quan trọng
Trang 92.2 Một số vấn đề cơ bản về lợi nhuận
2.2.1 Kết cấu lợi nhuận
Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở cộng với cơ chế hạch toán kinh doanh thì phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng
Do đó mà doanh nghiệp có thể đầu tư vào nhiều hoạt động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Về cơ bản hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận khác
2.2.1.1 Lợi nhuận thu được từ hoạt động SXKD: hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp là hoạt động đầu tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận theo những mục tiêu được xác định sẵn, bao gồm hai hoạt động sau:
- Hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ: Đây là hoạt động chủ yếu của
doanh nghiệp thương mại dịch vụ nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất vào tiêu dùng Hoạt động này thường tạo ra lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại
- Hoạt động tài chính: Ngoài lĩnh vực hoạt dộng sản xuất kinh doanh, các
doanh nghiệp có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính Hoạt động đầu tư tài chính là hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như: góp vốn liên doanh liên kết kinh tế, mua bán trái phiếu, cổ phiếu, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi
và lãi hco vay thuộc nguồn vốn kinh doanh… Các khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động này góp phần làm tăng tổng lợi nhuận
Trang 10Trên thực tế, tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận ở các doanh nghiệp là có sự khác nhau do phương thức kinh doanh cũng như lĩnh vực kinh doanh và môi trường kinh tế khác nhau.
Môi trường kinh tế bên ngoài của mỗi doanh nghiệp cũng làm cho tỷ trọng lợi nhuận trong mỗi doanh nghiệp khác nhau Nếu như trước kia, nền kinh
tế thị trường chưa phát triển và thị trường chứng khoán chưa sôi nổi như ngày nay thì lợi nhuận từ hoạt động tài chính chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ Khi thị trường chứng khoán phát triển thì
2.2.2 Phương pháp xác định lợi nhuận
Như phần trình bày trước, lợi nhuận được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, do vậy để tổng hợp lợi nhuận của doanh nghiệp Bộ tài chính đã đưa ra một phương pháp chung áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp để xác định kết quả hoạt động kinh doanh
Theo chuẩn mực chung “Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định như sau:
Tổng lợi nhuận của
Dưới đây là phương pháp xác định lợi nhuận
Xác định lợi nhuận hoạt động SXKD
Hoạt động SXKD cơ bản của doanh nghiệp thương mại là tổ chức lưu chuyển hàng hóa, lợi nhuận từ hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận hoạt động SXKD được xác định theo công thức sau:
Lợi nhuận hoạt
Trang 11*Thu nhập từ hoạt động SXKD bao gồm 2 bộ phận là doanh thu từ hoạt
động SXKD hàng hóa, dịch vụ và doanh thu từ hoạt động tài chính
+ Doanh thu thuần hoạt động SXKD: thực chất là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, được xác định như sau:
Doanh thu thuần
bộ hoặc trả thay lương
+ Doanh thu tài chính: là các khoản thu nhập doanh nghiệp thu được từ hoạt động đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp gồm:
• Tiền lãi: Lãi cho vay, lãi tiền gửi ngân hàng, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng hóa, dịch vụ
• Cổ tức, lợi nhuận được chia, lãi tỷ giá hối đoái
• Thu nhập về hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn
• Thu nhập về thu hồi hoặc thanh lý các khoản vốn góp liên doanh, đầu tư vào công ty con, đầu tư vốn khác
• Chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn
• Các khoản doanh thu hoạt động đầu tư tài chính khác
* Chi phí hoạt động SXKD bao gồm: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi
phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính
+ Trị giá vốn hàng bán là phần giá trị thực của hàng hóa bao gồm giá trị mua cộng các chi phí phát sinh ở khâu mua
+ Chi phí bán hàng: là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình tổ chức bán hàng như chi phí vận chuyển, chi phí tiền lương nhân viên bán hàng, chi phí lưu kho, lưu bãi, + Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình quản lý kinh doanh,
Trang 12quản lý hành chính và các chi phí khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
+ Chi phí tài chính: là các khoản chi phí đầu tư tài chính ra bên ngoài doanh nghiệp nhằm sử dụng hợp lý các nguồn vốn, tăng thêm thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các khoản chi phí này bao gồm:
• Chi phí trả lãi tiền vay
• Chi phí góp vốn liên doanh, liên kết
• Lãi phải trả khi mua hàng hóa tài sản trả góp
• Chi phí mua các loại chứng khoán, kể cả các loại tổn thất trong đầu tư chứng khoán nếu có
• Chiết khấu thanh toán dành cho khách hàng
• Chi phí lập dự phòng giảm giá chứng khoán
• Khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ, lỗ tỷ giá hối đoái
Xác định lợi nhuận từ hoạt động khác:
Lợi nhuận khác được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
* Thu nhập khác: là các khoản thu nhập phát sinh bất thường, các khoản thu
nhập này có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nội dung thu nhập khác của doanh nghiệp bao gồm:
• Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định
• Chênh lệch lãi do đánh giá lại vật tư, hàng hóa, tài sản cố định đưa đi góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác
• Thu nhập từ nghiệp vụ bán và cho thuê lại tài sản
• Thu tiền được phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng
• Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ
• Các khoản thuế ngân sách nhà nước hoàn lại
• Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ
Trang 13• Các khoản tiền thưởng của khách hàng liên quan đến tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ không mang tính doanh thu (nếu có)
• Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức, cá nhân tặng cho doanh nghiệp
* Chi phí khác: là chi phí phát sinh bất thường được xác định là hợp lệ theo
chế độ của Nhà nước Chi phí khác của doanh nghiệp bao gồm:
• Chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản cố định và giá trị còn lại của tài sản
cố định, nhượng bán
• Chênh lệch lỗ do đánh giá lại vật tư, hàng hóa, tài sản cố định đưa đi góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác
• Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế
• Bị phạt thuế, truy nộp thuế và các khoản chi phí khác
Việc xác định chính xác lợi nhuận có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định, là cơ sở cho việc đánh giá năng lực hoạt động của doanh nghiệp trên thương trường, đồng thời là cơ sở cho việc phân phối đúng đắn lợi nhuận tạo ra để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên và liên tục
2.2.3 Đánh giá lợi nhuận của doanh nghiệp
2.2.3.1 Tổng mức lợi nhuận
Tổng lợi nhuận là một chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số lãi sẽ được tạo
ra trong năm Chỉ tiêu này phản ánh cứ sau một năm hay một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp có thể thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu con số lợi nhuận thu về là lớn thì chứng tỏ doanh nghiệp đó hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và ngược lại Tuy nhiên, vì đây chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối nên để có thể đưa ra đánh được những đánh giá chính xác về chất lượng hoạt động của mỗi doanh nghiệp thì cần phải kết hợp với các chỉ tiêu sau đây
2.2.3.2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Trang 14Tỷ suất này được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của nguồn vốn chủ sở hữu Thông qua chỉ tiêu tỷ suất này ta có thể biết được 100 đồng vốn chủ
sở hữu bỏ ra thì thu được về bao nhiêu đồng lợi nhuận Bên cạnh đó còn cho ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu của công ty đã được sử dụng một cách hiệu quả hay chưa
2.2.3.3 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Chỉ tiêu này cho ta biết cứ 100 đồng doanh thu đạt được thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận được tạo ra Tỷ suất này càng lớn thì được đánh giá càng tốt Để đạt được điều đó thì doanh thu phải được tăng lên với tốc độ tăng chậm hơn mức tăng lợi nhuận Ta biết: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí, cho nên cần đồng thời tăng doanh thu và quản lý tốt chi phí thì lợi nhuận mới đảm bảo có lãi Không nhất thiết chi phí kỳ sau phải nhỏ hơn chi phí kỳ trước, trong những trường hợp chi phí tăng lên là do tăng theo quy mô kinh doanh nên cần có biện pháp sử dụng chi phí hợp lý là được
2.2.3.4 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu lợi nhuận/ Vốn kinh doanh là một chỉ tiêu khá quan trọng đối với doanh nghiệp nói riêng và đối với các nhà đầu tư, các tổ chức ngân hang tài chính, những người quan tâm đến doanh nghiệp nói chung Chỉ tiêu này nói lên hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, khả năng sinh lời của vốn kinh doanh
Nó cho ta biết cứ 100 đồng vốn kinh doanh bỏ ra thì được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn kinh doanh càng lớn hơn 1 càng tốt Để làm được
Trang 15điều này có nghĩa nâng cao lợi nhuận bằng cách đẩy nhanh tốc độ vòng quay của vốn Đây là một phương pháp hiệu quả nhất để đạt được mức tăng lợi nhuận
2.2.3.5 Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa tổng lơi nhuận với tổng chi phí kinh doanh trong năm Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng chi phí bỏ
ra thì tạ được bao nhiêu lợi nhuận Trong kinh doanh thương mại, các doanh nghiệp luôn muốn tăng nhanh Tỷ suất lợi nhuận/ Chi phí, bằng cách tăng mức chi phí nhưng phải đảm bảo mức tăng lợi nhuận là nhanh hơn mức tăng chi phí
Vì vậy, để hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao nhà quản lý phải tìm cách quản
lý tốt các khoản chi phí của doanh nghiệp, tiết kiệm được chi phí được coi là biện pháp phổ biến và hữu hiệu nhất Bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường mục tiêu lợi nhuận luôn đặt lên hàng đầu Doanh nghiệp không những muốn tăng lợi nhuận về chỉ tiêu tuyệt đối mà còn tăng cả chỉ tiêu tương đối là tỷ suất lợi nhuận vì tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh mặt “chất lượng” của lợi nhuận.Đạt được cả hai điều kiện này thì doanh nghiệp mới có lợi nhuận thực tế (hay lợi nhuận thuần)
2.2.4 Vai trò của lợi nhuận
Trong nền kinh tế bao cấp, vai trò của lợi nhuận không được chú trọng đến do mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều tuân theo kế hoạch của nhà nước, nhà nước bao cấp về giá vật tư hàng hóa, về lãi tín dụng,
về vốn kinh doanh Nhưng trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp phải hạch toán kinh doanh thì lợi nhuận là mối quan tâm được đặt lên hàng đầu của doanh nghiệp Lợi nhuận có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung
* Đối với doanh nghiệp
- Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp, kể từ lúc tìm kiếm thị trường, chuẩn bị
Trang 16và tổ chức sản xuất, cung ứng hàng hóa ra thị trường Nó phản ánh về cả mặt lượng và chất, kinh doanh tốt thì lợi nhuận nhiều, khi lợi nhuận nhiều tạo ra khả năng đầu tư, tái sản xuất mở rộng tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn Ngược lại làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản là tất yếu Vì vậy lợi nhuận tối đa là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp cạnh tranh trong cơ chế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh phải
có lợi
- Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng kích thích người lao động đẩy mạnh sản xuất nâng cao năng suất lao động Kinh doanh có lợi nhuận sẽ giúp doanh nghiệp có nguồn để trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…và tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, taoj động lực thúc đẩy cho người lao động làm việc tốt hơn và đem lại hiệu quả cao trong tương lai Vai trò đòn bẩy kinh tế được thể hiện thông qua quá trình hình thành và phân phối, sử dụng lợi nhuận, quá trình đó góp phần giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước, tập thể và người lao động
* Đối với kinh tế xã hội
- Lợi nhuận không chỉ là nguồn thu nhập thuần túy của doanh nghiệp đồng thời là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, và là cơ sở đê tăng thu nhập quốc dân Thu nhập thuần túy càng lớn thì khả năng thu nhập quốc dân càng cao và do đó khả năng tái sản xuất và phát triển xã hội càng nhiều Nhờ đó các doanh nghiệp không những thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua các sắc thuế mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt động từ thiện và nhân đạo
- Lợi nhuận của doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như chỉ tiêu về đầu tư sản xuất, sử dụng các yếu tố đầu vào, chỉ tiêu chi phí giá thành, các chỉ tiêu đầu ra và các chính sách quốc gia
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của đề tài
Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng hàng đầu của doanh nghiệp, do đó có nhiều đề tài nghiên cứu về lợi nhuận và nâng cao lợi nhuận Mỗi đề tài lại có mục đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu khác nhau nên tuy cùng đề tài
Trang 17nhưng các luận văn hầu như không có sự trùng lặp Cùng với lĩnh vực nghiên cứu về các giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận có rất nhiều nghiên cứu liên quan Cụ thể là tác giả Đinh Thị Phương Hảo (sinh viên Học Viện Hành Chính) với đề tài “Lợi nhuận và các giải pháp nâng cao lợi nhuận ở công ty TNHH nhà nước một thành viên giày Thượng Đình” năm 2009 hay đề tài “Các giải pháp tài chính để phấn đấu tăng lợi nhuận tại CTCP Đại La” của tác giả Bùi Thị Thu Hà (sinh viên Học Viện Tài Chính) Hai đề tài này đã đi sâu vào phân tích các vấn
đề lợi nhuận cũng như các biện pháp tối đa hóa lợi nhuận nhưng chỉ về mặt lý thuyết còn thiếu tính ứng dụng thực tiễn đối với các đơn vị nghiên cứu
Và ngay trường đại học Thương Mại, những năm trước cũng đã có nhiều
đề tài nghiên cứu như “ Lựa chọn mức chi phí tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận trong kinh doanh sản phẩm thiết bị xây dựng Minh Chi Thực trạng và giải pháp”, năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo Tác giả này đã nêu rõ các vấn đề liên quan đến lợi nhuận và các biện pháp để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Tuy nhiên các kết quả đưa ra trong luận văn này mới chỉ đưa ra các biện pháp tối đa hóa lợi nhuận một trên mặt lý thuyết, thiếu tính ứng dụng thực tế
Ngoài ra, CTCP Gia Minh Hải Phòng mới thành lập được 7 năm nên chưa
có đề tài nào nghiên cứu về công ty Do đó đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về các giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận cho CTCP Gia Minh Hải Phòng Em đã tổng kết số liệu về tình hình kinh doanh của công ty trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2010, phân tích và đưa ra các kết luận nhằm đưa ra giải pháp nâng cao lợi nhuận cho CTCP Gia Minh Hải Phòng trong thời gian sắp tới Các giải pháp
em đưa ra chỉ mang tính khách quan, dưới góc nhìn của cá nhân nên không tránh khỏi những thiếu sót Tuy nhiênban lãnh đạo cũng có thể tham khảo và đưa ra những giải pháp phù hợp nhất với công ty của mình
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 18Đề tài “Nâng cao lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng” sẽ khắc
phục được những hạn chế thiếu sót của các công trình nghiên cứu cùng đề tài những năm trước và sẽ có nhiều điểm nổi bật hơn
Trong đề tài này em sẽ nghiên cứu tình hình CTCP Gia Minh Hải Phòng trong khoảng thời gian 2008- 2010 Đề tài sẽ đi sâuvà giải quyết các nội dung sau đây:
+ Khái quát một số lý luận cơ bản về lợi nhuận: một số khái niệm về lợi nhuận, ý nghĩa của việc tăng lợi nhuận, phương pháp xác định lợi nhuận, một số chỉ tiêu đánh giá tình hình lợi nhuận của công ty
+ Khảo sát thực trạng hoạt động SXKD và tình hình lợi nhuận tại CTCP Gia Minh Hải Phòng Luận văn đã phân tích tình hình tài chính và kết cấu lợi nhuận của công ty trong ba năm 2008, 2009, 2010 qua việc phỏng vấn các chuyên gia và xem xét bảng kết quả kinh doanh của công ty trong ba năm
+ Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty Tìm hiểu các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh và thực hiện lợi nhuận của công ty
+ Đưa ra một số giải pháp để nâng cao lợi nhuận tại CTCP Gia Minh Hải Phòng
+ Đưa ra một số kiến nghị với nhà nước tạo điều kiện về chính sách hành lang pháp lý thuận lợi giúp công ty tiến hành kinh doanh hiệu quả hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn, góp phần phát triển kinh tế xã hội và giải quyết một phần lao động xã hội Bên cạnh đó em cũng đưa ra một số kiến nghị với ban lãnh đạo công ty với mong muốn tình hình kinh doanh của công ty sẽ phát triển hơn nữa trong thời gian tới
Trang 19CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN TẠI CTCP GIA MINH
HẢI PHÒNG
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Có 2 phương pháp thu thập thông tin là sử dụng phiếu điều tra và thu thập
dữ liệu thứ cấp
a) Phương pháp sử dụng phiếu điều tra.
Luận văn sử dụng mẫu bảng phỏng vấn gồm 10 phiếu, mỗi phiếu có 9 câu hỏi đưa ra ở dạng câu hỏi lựa chọn để phỏng vấn chuyên gia xoay quanh vấn đề thực hiện lợi nhuận, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan, khách quan đến vấn đề nâng cao lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng Bên cạnh đó, phiếu phỏng vấn còn đề cập nhiều đến thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian qua và định hướng phát triển của công ty trong thời gian sắp tới Quá trình phỏng vấn tiến hành với các đối tượng là giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng, kế toán viên và một số cán bộ công nhân viên của CTCP Gia Minh Hải Phòng từ ngày 2/4/2011- 9/4/2011 Các thông tin thu thập được trong quá trình phỏng vấn được thu lại, sau đó thống kê các phiếu, loại bỏ phiếu không hợp lệ, tổng hợp thành một bản báo cáo phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu lợi nhuận của luận văn
b) Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Trang 20Dữ liệu thứ cấp sẽ được thu thập từ kế toán trưởng của dựa vào các bảng kết quả kinh doanh của công ty trong ba năm 2008- 2010 Mục đích là làm cơ sở
và làm luận cứ chứng minh giả thiết hay tìm ra vấn đề cân nghiên cứu trong tình hình lợi nhuận hiện tại của doanh nghiệp
Trang 213.1.3 Phương pháp xử lý dữ liệu
a) Đối với phương pháp phỏng vấn:
Tập hợp, kiểm tra tính hợp lệ của thông tin ghi trên phiếu, tổng hợp các
dữ liệu vào một bảng chung và đưa ra nhận xét Tìm ra vấn đề nào là chủ yếu thì tập trung giải quyết
b) Đối với báo cáo kết quả hoạt động SXKD
Dùng phương pháp so sánh, lập bảng biểu, thống kê phân tích so sánh tuyệt đối, so sánh tương đối, so sánh số bình quân tình hình lợi nhuận cuả công
ty Phân tích xu hướng, xét xu hướng biến động qua thời gian Đánh giá các tỷ
số trở nên xấu đi hay tốt lên Theo dõi sự biến động tăng giảm của các chỉ tiêu lợi nhuận qua các năm để đưa ra nhận xét và phương hướng phát triển cho những năm sắp tới
3.2 Các nhân tố tác động đến vấn đề nâng cao lợi nhuận tại CTCP Gia Minh Hải Phòng
3.2.1 Giới thiệu tổng quan về CTCP Gia Minh Hải Phòng
- Tên công ty: Công ty cổ phần Gia Minh Hải Phòng
- Thành lập: Năm 2004
- Tên giao dịch: Gia Minh Furniture
- Địa chỉ trụ sở: Tầng 8 tòa nhà Harbour View, số 4 Trần Phú, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Trang 22+ Số lao động: 15 người.
- Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty CTCP Gia Minh Hải Phòng:
3.2.2 Đánh giá các nhân tố môi trường có tác động đến lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng
3.2.2.1 Nhóm nhân tố bên ngoài
a) Tình hình kinh tế vĩ mô
Việc cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung cấp nội thất trong nước có ảnh hưỏng rất lớn đến hoạt động thương mại của công ty Do việc phân phối công ty không chủ động trong việc giá cả trong thương mại Hiện nay Nhà nước đang áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi có kiểm soát và tình tăng trưởng kinh tế đất nước đang có những bước suy giảm nên đồng tiền Việt Nam vẫn biến động trong thời gian tới Tỷ giá tăng làm cho chi phí liên quan đến hoạt động nhập khẩu hàng hoá như thuế GTGT nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu, chi phí mua hàng của công ty tăng lên Với cùng một lượng hàng nhập giờ công ty phải chi một khoản tiền Việt Nam lớn hơn Chi phí này tăng đẩy giá và phí bán tăng nhưng công ty không thể tăng giá bán lên cao để bù đắp hết khoản chi phí thêm
Kế toán trưởng Phó giám đốc
Giám đốc
Bộ phận kỹ thuật và chăm sóc khách hàng
Trang 23này Tỷ giá tăng khiến cho khách hàng cân nhắc nhiều hơn trước khi ra quyết định mua hàng, tăng giá bán lúc này là đồng nghĩa với việc giảm lượng tiêu thụ
Vì vậy nên tỷ giá tăng gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của công ty, lợi nhuận giảm mạnh
b)Tình hình tăng trưởng kinh tế
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế những năm gần đây đều đạt từ 8% trở nên Chính sách mở cửa thị trường làm bạn với các nước trên thế giới đã tạo đà cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung và CTCP Gia Minh Hải Phòng nói riêng phát triển Tuy nhiên 3 năm trở lại đây tình hình kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU rơi vào suy thoái, và nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực Giá cả hàng hoá ngày càng tăng đẩy chi phí nhất là những khoản chi phí cho dịch vụ mua ngoài, cho chi phí công tác của công ty tăng lên Do vậy doanh thu tăng cao nhưng lợi nhuận công ty thu được chưa phải là tối đa
b) Lạm phát
Năm 2008 lạm phát đạt mức kỷ lục, có lúc lên tới xấp xỉ 20% khiến cho các khoản chi phí cho dịch vụ mua ngoài tăng cao nhưng sang năm 2009, 2010 với sự nỗ lực của chính phủ lạm phát đã được duy trì ở mức dưới hai con số Tuy nhiên so với trước thời điểm lạm phát gia tăng, giá cả nhiều mặt hàng đã tăng gấp năm, gấp mười thậm chí hàng chục lần Để đảm bảo cuộc sống trong tình hình giá cả leo thang công ty phải tăng mức lương tối thiểu cho nhân viên Lạm phát cũng làm cho việc tiêu thụ hàng hoá trở nên khó khăn, chính vì vậy
mà năm 2008 lợi nhuận của công ty đạt được thấp nhất, và lợi nhuận có chiều hướng tăng trở lại vào cuối năm 2009- 2010
c) Tình hình chính trị pháp luật
Trong những năm qua Việt Nam đựơc coi là nước có tình hình chính trị
ổn định, hệ thống pháp luật ngày càng được điều chỉnh và hoàn thiện hơn với
Trang 24định hướng phát triển của đất nước và thông lệ quốc tế Chính điều này đã tạo ra môi trường ổn định cho hoạt động kinh doanh của CTCP Gia Minh Hải Phòng Tuy nhiên, thực tế cho thấy dù chính sách của nhà nước đã có đổi mới nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đủ Chính sách một cửa trong các thủ tục hành chính đã được Nhà nước ban hành khá lâu rồi nhưng đến bây giờ thực hiện vẫn còn nhiều rườm rà và chưa thật sự triệt để Điều này đã phần nào làm tăng chi phí thực tế như chi phí thuê bãi kho để lưu hàng và chi phí cơ hội của công ty Điều này thể hiện rõ trong hai năm gần đây công ty nhập khẩu tủ tài liệu bằng sắt, nhiều khi hàng nhập về phải chờ ở cảng lâu vì chưa có đủ giấy tờ thủ tục nhất là thủ tục kê khai thuế Giá trị hàng hoá không phải là nhỏ lại cộng với tiền thuê bãi nữa càng khiến cho chi phí công ty tăng lên nhiều Không chỉ có vậy nhiều lúc công ty còn mất hợp đồng lớn do không có hàng để bán dù hàng đã nhập về nhưng bị giữ ở cảng
3.2.2.2 Nhóm nhân tố bên trong
a) Nguồn nhân lực
CTCP Gia Minh Hải Phòng được hình thành từ đội ngũ cán bộ nhân viên thuộc ngành kiến trúc sư là chủ yếu nên khả năng tư vấn thiết kế nội thất cho khách hàng được đánh giá cao, rất chuyên nghiệp Bên cạnh đó đội ngũ nhân
Trang 25viên kinh doanh khéo léo trong giao tiếp, có khả năng thuyết phục và được đào tạo rất kỹ lưỡng để có thể tư vấn cho khách hàng sao cho phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của họ Đội ngũ nhân viên kỹ thuật lành nghề đáp ứng một cách tốt nhất các dich vụ bảo hành, sửa chữa khi khách hàng có nhu cầu, chính điều này
đã tạo ấn tượng tốt trong lòng khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán hàng và cung cấp các dịch vụ có liên quan
b) Khả năng tài chính của công ty:
Nhờ uy tín và vị thế của mình trên thị trường tư vấn thiết kế và cung cấp nội thất mà CTCP Gia Minh Hải Phòng có được nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng như ngân hàng Công Thương, ngân hàng Techcombank… tạo điều kiện tiền đề vật chất cho hoạt động của công ty mở rộng kinh doanh thị trường, trang thiết bị máy móc, tăng chất lượng phục vụ cho khách hàng Điều này giúp cho việc kinh doanh của công ty phát triển, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận
c) Chu kì sống của sản phẩm
Lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chu kỳ sống của các sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh Các mặt hàng nội thất có chu kỳ sống chỉ khoảng một năm vì sau đó hãng sẽ tung ra các sản phẩm mẫu mã mới, cải tiến chất lượng sao cho đáp ứng kịp với thị hiếu của người tiêu dùng Cứ mỗi năm xu hướng thị hiếu người tiêu dùng lại khác nhau nên hãng phải đưa các dòng sản phẩm khác nhau Nếu hàng bán ở năm cũ không hết để tồn sang năm sau thì những mẫu mã đó bị lỗi thời, công ty phải giảm giá bán có khi chỉ bằng giá nhập Vào thời điểm khi sản phẩm vừa mới tung ra thị trường nếu được khách hàng chấp nhận mua thì công ty sẽ thu được rất nhiều lợi nhuận do chênh lệch giữa giá bán và giá nhập là rất lớn nhưng đến giai đoạn cuối của chu kỳ sống giá bán giảm dần nên công ty thu được ít lợi nhuận .
d) Uy tín của công ty
CTCP Gia Minh Hải Phòng là một công ty nội thất trẻ trên thị trường nội thất Hải Phòng nói riêng và toàn quốc nói chung Tuy mới xuất hiện trong bảy năm nhưng công ty đã có những thành công nhất định, khẳng định được vị thế
Trang 26của mình trong ngành nghề nội thất Uy tín của công ty sẽ giúp công ty ngày càng có nhiều khách hàng hơn Bên cạnh đó, uy tín sẽ giúp công ty được nhiều bạn hàng tin cậy và tạo thuận lợi cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Kết luận:
Như vậy công ty bị ảnh hưởng rất nhiều bởi nhân tố cả khách quan lẫn chủ quan, cả môi trường bên trong và môi trường bên ngoài Công ty cần xem xét mức độ tác động của các nhân tố đến chi phí và lợi nhuận như thế nào để có những biện pháp chủ động phòng tránh giảm thiểu tới mức thấp nhất tác động của chúng Có như vậy công ty mới đảm bảo hoạt động kinh doanh luôn hiệu quả và mang lại nhiều lợi nhuận nhất.
3.3 Kết quả điều tra trắc nghiệm/ Kết quả tổng hợp đánh giá của các chuyên gia về vấn đề nâng cao lợi nhuận tại CTCP Gia Minh Hải Phòng
Để phục vụ cho việc nghiên cứu về vấn đề lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng, em đã phát ra mười phiếu điều tra Đây là bảng tổng hợp của mười phiếu điều tra trắc nghiệm, mỗi phiếu có chín câu hỏi, trả lời dưới dạng lựa chọn
và trả lời theo ý kiến cá nhân Mười phiếu này được phát ra cho mười cán bộ, công nhân viên CTCP Gia Minh Hải Phòng để thăm dò ý kiến của họ về vấn đề nâng cao lợi nhuận của công ty Sau khoảng thời gian từ 2/4/2011 đến 9/4/2011,
em đã phát và thu thập phiếu trắc nghiệm về Số phiếu thu về hợp lệ là 10/10 phiếu Trong bảng tổng hợp dưới sẽ đề cập đến những vấn đề cần thiết liên quan đến tình hình lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng thông qua cán bộ và nhân viên công ty
Trang 27viên kinh doanh
hiện tại của
để có thể nâng cao được vị thế của công ty trong kinh doanh và nâng cao lợi nhuận của công ty trong thời gian sắp tới
2008, lạm phát tăng cao làm tình hình kinh doanh của công ty gặp nhiều bất ổn và lợi nhuận của công ty cũng bị suy giảm
2010 công ty đã khắc phục những khó khăn gặp phải trong năm 2008 Năm 2011 là một năm công ty tiếp tục tăng doanh thu và lợi nhuận qua các hợp đồng kí kết thiết kế lắp đặt trọn gói với khu chung cư cao cấp để nhanh chóng mở rộng quy mô kinh doanh
Trang 28đã được gần 7 năm Công ty đã phát triển gần như trọn vẹn cả về nhân lực cũng như
cơ sở vật chất Mở rộng quy mô kinh doanh với những mặt hàng sản phẩm mới, với những tập khách hàng tiềm năng và cả những khu vực mới lân cận Hải Phòng đã nằm trong kế hoạch phát triển của công ty trong năm 2010 Song do phải giải quyết những vấn đề tồn đọng trong kinh doanh nên năm 2011 công ty mới bắt tay vào thực hiện việc mở rộng quy mô kinh doanh
để giảm thiểu những chi phí không cần thiết nhằm nâng cao lợi nhuận cho công ty
b) Doanh thu bán hàng: 40%
c) Tình hình kinh tế
vĩ mô: 20%
d) Đối thủ cạnh tranh: 20%
Nhân tố doanh thu bán hàng được 40% các chuyên gia đánh giá là ảnh hưởng nhiều nhất đến lợi nhuận của công ty Thật ra tình hình kinh tế vĩ mô, đối thủ cạnh tranh hay chu kì sống của sản phẩm đều là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi nhuận của một công ty nội thất Nhưng doanh thu bán hàng vẫn là nhân tố được các chuyên gia chú trọng hơn cả vì doanh thu bán hàng càng cao thì lợi nhuận công ty thu về ngày càng nhiều Doanh thu bán hàng cũng là mục tiêu quan trọng mà các doanh nhgiệp luôn chú trọng như vấn
đề lợi nhuận
Trang 297 Với lợi nhuận
thu được trong
100% nhận định của các chuyên gia là năm
2010 công ty chưa sử dụng hết khả năng vốn Nhận định này hoàn toàn đúng đắn qua phân tích các chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân năm 2010 đều giảm đi so với năm 2009 và năm 2008 Điều này đặt ra câu hỏi cho công ty cần thực hiện những biện pháp nào trong chiến lược kinh doanh
để nâng cao và phát huy được hầu hết tối đa nguồn lực mà công ty có
c) Tăng chất lượng, nâng cao giá trị sản phẩm: 60%
d) Phát triển và mở rộng thị trường:
40%
e) Xây dựng một biểu giá hợp lý:
40%
Các biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận được đưa ra để các chuyên gia đánh giá thì biện pháp giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cùng biện pháp tăng chất lượng, nâng cao giá trị sản phẩm được các chuyên gia lựa chọn với mức cao nhất
là 60% Đứng sau là các biện pháp tiết kiệm chi phí, phát triển mở rộng thị trường, xây dựng một biểu giá hợp lý được các chuyên gia lựa chọn với cùng mức độ quan trọng là 40% Một doanh nghiệp cần phải giảm thiểu được những chi phí không cần thiết, nâng cao giá trị hàng hóa
9 Những vấn đền còn tồn đọng trong hoạt động SXKD của công ty?
a Hoạt động kinh doanh chưa tạo tính cạnh tranh bền vững, chưa đạt được lợi nhuận tối đa
b Đội ngũ cán bộ trẻ được tuyển dụng nhưng chưa thật sự có môi trường để phát huy hết các thế mạnh, cách sắp xếp nhân sự còn mang tính hình thức
c Còn nhiều hoạt động nghiệp vụ gây lãng phí, nhiều cán bộ nhân viên chưa có
ý thức tiết kiệm
d Công tác nghiên cứu thị trường còn mang tính chủ quan, chưa kịp thời và chưa phát huy được hiệu quả, lượng thông tin về thị trường, về khách hàng, về đối thủ cạnh tranh chưa đáp ứng được nhu cầu của công ty, công tác phát triển thị trường còn chậm
Trang 313.4 Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp về tình hình lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng
3.4.1 Đánh giá chung tình hình kết quả hoạt động kinh doanhcủa công ty trong các năm 2008, 2009, 2010
Nhìn theo một hướng tổng quan, tình hình kinh doanh của CTCP Gia Minh Hải Phòng trong ba năm 2008, 2009, 2010 không tốt Sau đây sẽ là bảng kết quả hoạt động SXKD của CTCP Gia Minh Hải Phòng trong vòng 3 năm
2008, 2009, 2010
Trang 32Bảng 3.1: K ết quả hoạt động sản xuất kinh doanh CTCP Gia Minh Hải Phòng giai đoạn 2008- 2010
Trang 33Năm 2008 lạm phát tăng cao, hoạt động tiêu thụ hàng hóa gặp khó khăn, tuy nhiên lợi nhuận công ty thu về năm 2008 là 455.879.548 đồng vẫn cao nhất trong khoảng thời gian ba năm từ 2008- 2010 Sang năm 2009 là năm hậu khủng hoảng nên nền kinh tế rơi vào trạng thái suy giảm, nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh được thể hiện rõ qua việc doanh thu của công ty giảm rất nhiều so với năm trước đồng thời chi phí chiếm tới 91,79% Điều này là do tỷ giá hối đoái năm 2009 tăng cao mà công ty lại nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài nên làm cho lợi nhuận công ty thu được rất thấp, chỉ còn 398.991.257 đồng Song đến năm 2010 công ty đã có những dấu hiệu phục hồi, quy mô kinh doanh mở rộng Tuy lợi nhuận thu về chưa phải thực sự là cao so với trước khủng hoảng 2008 nhưng với
sự cố gắng nỗ lực của toàn thể nhân viên trong công ty nên việc kinh doanh của công ty đã có những bước tăng trưởng nhất định
3.4.2 Phân tích ảnh hưởng của doanh thu và thu nhập khác đến lợi nhuậncủa công ty trong ba năm 2008, 2009, 2010
Doanh thu và thu nhập khác là nguồn tài chính quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Sự tăng giảm doanh thu sẽ làm cho lợi nhuận cũng tăng giảm theo Việc phân tích ảnh hưởng của doanh thu và thu nhập khác đến lợi nhuận cũng là vấn đề quan trọng Sau đây em sẽ đi phân tích vấn đề này:
Trang 34Bảng3.2: Phân tích ảnh hưởng của doanh thu và thu nhập khác đến lợi nhuận
Trang 35Tổng doanh thu năm 2009 là 4.875.855.420 đồng giảm so với tổng doanh thu năm 2008 271.098.014 đồng, trong khi đó thu nhập khác năm 2009 là 15.846.082 đồng, chiếm 3,82% trong tổng lợi nhuận trước thuế năm 2009 Thu nhập khác năm 2009 tăng do công ty thanh lý tài sản cố định đã đến thời hạn khấu hao Thu nhập khác năm 2009 tăng 15.296.082 đồng so với năm 2008 Tổng lợi nhuận năm 2009 giảm so với tổng lợi nhuận năm 2008 là 38.592.209 đồng Năm 2010 công ty không phát sinh thu nhập khác trong khi tổng doanh thu vẫn tăng lên 6.991.957.799 đồng, tăng thêm 2.132.635.510 đồng Tuy nhiên tổng lợi nhuận công ty năm 2010 lại giảm so với năm 2009 là 56.804.356 đồng.
3.4.3 Phân tích ảnh hưởng của chi phí đến lợi nhuận của công ty trong ba năm 2008, 2009, 2010.
Chi phí của doanh nghiệp là một chỉ tiêu tài chính quan trọng gắn liền với quá trình sử dụng các nguồn lực vật tư, tiền vốn, lao động và các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sau đây em sẽ đi nghiên cứu làm rõ ảnh hưởng của chi phí theo các khoản mục đến lợi nhuận của CTCP Gia Minh Hải Phòng trong ba năm 2008, 2009, 2010
Trang 36Bảng 3.3: Ảnh hưởng của chi phí theo các khoản mục đến lợi nhuận
Trang 37Chi phí của CTCP Gia Minh Hải Phòng có những khoản cố định gồm chi phí quản lý, chi phí trả lãi vay, chi phí khác và có những khoản biến đổi là chi phí về giá vốn hàng bán Tình hình chi phí của công ty biến động trong khoảng
ba năm 2008- 2010 nhưng ta có thể thấy tổng chi phí công ty năm 2009 là thấp nhất và đến năm 2010 thì tăng một cách rõ rệt và các khoản chi phí nhất định cũng biến động tăng giảm trong quá trình hoạt động kinh doanh
Từ số liệu của công ty, ta tính được tỷ suất chi phí/ doanh thu tăng lên sau mỗi năm Năm 2008 chi phí tăng mạnh do tác động của lạm phát làm tăng giá vốn hàng bán khiến tỷ suất chi phí chiếm đến 91,10% trong doanh thu Và xu hướng này ảnh hưởng sang cả năm 2009 làm cho tỷ suất chi phí tăng lên 91,49%, lợi nhuận công ty thấp nhất trong ba năm, chỉ chiếm có 8,51% trong doanh thu Chi phí cũng tiếp tục tăng đến năm 2010 khi lên đến 94,88% trong tổng doanh thu, trong khi lợi nhuận thì vẫn thấp Để có cái nhìn cụ thể chúng ta
sẽ xét sự biến động của từng loại chi phí trong tổng chi phí của CTCP Gia Minh Hải Phòng
3.4.3.1 Chi phí cố định trong giai đoạn 2008- 2010
Chi phí cố định của công ty bao gồm chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính và các khoản chi phí khác Trong đó chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn chi phí tài chính Nhìn vào bảng chi phí ta thấy trong hai năm 2008, 2009 chi phí cố định chỉ có chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính Sang đến năm 2010 phần chi phí cố định của công ty tăng thêm một khoản nữa là chi phí bán hàng
a) Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là khoản chi phí không thể thiếu đối với bất
kì công ty nào Chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty bao gồm tiền lương nhân viện và cán bộ quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao tài sản
cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài… trong đó chi phí tiền lương chiếm tỷ trọng lớn nhất
Trang 38Qua bảng chi phí ta thấy chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty có xu hướng tăng trong ba năm 2008- 2010 Năm 2008 tình hình giá cả biến động không ngừng, lạm phát tăng cao, xấp xỉ 20% (SAGA- Số liệu, 2008) Trong tình hình này để đảm bảo cuộc sống cho nhân viên công ty quyết định tăng lương Bên cạnh đó lạm phát tăng đẩy chi phí cho các dịch vụ mua ngoài như tiền điện, tiền điện thoại của công ty lên cao Sang đến năm 2009 chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn cao do là năm hậu khủng hoảng Tuy với sự nỗ lực của chính phủ, lạm phát đã được duy trì ở mức dưới 2 con số, chi phí mua ngoài không bị tăng mấy nhưng việc kinh doanh công ty vẫn phải duy trì bình thường Năm 2009 công ty tuyển thêm nhân viên thị trường, sửa sang lại văn phòng đại diện nên chi phí năm này cũng tăng hơn năm trước Năm 2010 công ty mất thêm một khoản chi phí cho việc bán hàng là 89.785.000 đồng nên chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng lên.
b) Chi phí tài chính
Qua bảng trên ta nhận thấy chi phí tài chính của công ty tăng đột biến vào
năm 2009 và năm 2010 Do trong hai năm này công ty mở rộng hoạt động kinh doanh sang các thị trường mới nên phải vay vốn ngân hàng Tình hình thanh toán khoản vay của ngân hàng vẫn chưa được giải quyết làm chi phí tài chính tăng lên mà chưa có dấu hiệu giảm
3.4.3.2 Chi phí biến đổi trong giai đoạn 2008- 2010
Chi phí biến đổi của một doanh nghiệp thường là chi phí mua hàng, chi phí vận chuyển bao gói, hoa hồng cho người bán hàng, đại lý… tuy nhiên do đặc điểm chi phí biến đổi của CTCP Gia Minh Hải Phòng chỉ có giá vốn hàng bán Theo tính toán tỷ suất Chi phí biến đổi/ Doanh thu của công ty năm 2008 là 75,20%, sang đến năm 2009 tỷ suất này giảm xuống 73,22% và tăng lên 78,96% vào năm 2010 Năm 2009, giá vốn hàng bán giảm 295.731.178 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 7,67%, trong khi đó tỷ giá hối đoái tính trung bình cả năm tăng lên đến 18.454 VND/USD Có thể nói rằng số lượng hàng bán giảm mạnh ở năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năm 2008 Đến năm 2010 công