Chính từ thực tế trên, nhằm gópphần thúc đẩy sự phát triển của TMĐT tại Việt Nam nói chung và TTĐT nói riêng, tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Đa dạng hóa các công cụ thanh toán điện tử tại
Trang 1“ Đa dạng hóa các công cụ thanh toán điện tử tại công
ty cổ phần thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay”
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tính cấp thiết của đề tàiVào cuối thế kỷ XX, sự phát triển và hoàn thiện của
kĩ thuật số đã được áp dụng trước hết vào máy tính điện tử, tiếp đó sang các lĩnhvực khác (điện thoại di động, thẻ tín dụng ) Số hoá và mạng hoá là tiền đề cho sự
ra đời của nền kinh tế mới - nền kinh tế số (còn gọi là nền kinh tế tri thức, nền kinh
tế dựa trên tri thức, ) Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phươngtiện điện tử, Internet và các mạng viễn thông khác đã xuất hiện, đó chính là thươngmại điện tử (TMĐT) và thanh toán trong thương mại điện tử (TTĐT)
Thanh toán trực tuyến xuất hiện cùng với sự phát triển của Internet và TMĐT
tử là hình thức phát triển mới của TTĐT truyền thống Ngày nay khi TMĐT đangphát triển mạnh mẽ trên thế giới, các phương thức thanh toán mới ra đời đã đem lại
sự thuận tiện, nhanh chóng và tiết kiệm cho cả các doanh nghiệp và người tiêudùng Bên cạnh các phương thức TTĐT truyền thống như chuyển khoản, ATM,POS hay thư đảm bảo còn có các hình thức khác như thanh toán qua điện thoại diđộng, thanh toán qua Internet đang ngày càng phát triển và phổ biến ở các nước trênthế giới
Thanh toán điện tử giữ vai trò quyết định trong việc thúc đẩy TMĐT pháttriển Sở dĩ TMĐT tại các nước phát trên thế giới đã phát triển từ lâu một phầnquyết định là do hệ thống TTĐT của các quốc gia đó đã rất phát triển và được các
cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, chính phủ sử dụng rộng rãi, phổ biến Đó là nhucầu không thể thiếu trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay vàcũng bởi những lợi ích mà nó mang lại cho khách hàng trong giao dịch
Tại Việt Nam TTĐT cũng chỉ thực sự bắt đầu những bước đi đầu tiên từ cuốinăm 2006 đầu năm 2007 khi mà có sự xuất hiện của hàng loạt các doanh nghiệpcung cấp dịch vụ cổng TTĐT Payment Gateway ra đời như OnePay, Smarlink,VinaPay, Vietpay, Paynet, Mobivi, Fibo… Tuy nhiên sự xuất hiện ồ ạt của cácdoanh nghiệp cũng không nhanh chóng đưa TTĐT ở Việt Nam Phát triển Chỉ cómột vài doanh nghiệp có hướng đi đúng đắn như PayNet, VTC hay VASC mới cóthể tiếp tục phát triển và đạt được những thành công nhất định Và công ty cổ phầnthương mại và dịch vụ trực tuyến OnePay là một doanh nghiệp như vậy OnePay
Trang 3nhận định để có thể phát triển thành công và hội nhập quốc tế thì phải chuyênnghiệp ngay từ đầu Chính vì vậy OnePay đã xây dựng một mô hình nhà cung cấptuân theo những mô hình chuẩn trên thế giới
Trong vài năm trở lại đây việc sử dụng thẻ thanh toán đã trở nên quen thuộcvới một bộ phận người dân Việc sử dụng thẻ thanh toán đem lại nhiều lợi ích chongười sử dụng nhưng cũng có nhiều bất tiện vì lý do an toàn, nhiều người chưaquen sử dụng Các công cụ TTĐT tại Việt Nam còn thiếu và chưa đa dạng như cácnước phát triển trên thế giới ngay cả với công cụ thẻ thanh toán cũng chưa được đadạng và chưa được nhiều tổ chức chấp nhận Lý do là vì các yếu tố về công nghệ,văn hoá, thói quen sử dụng tiền mặt của người Việt Nam và những rủi ro tiềm ẩncủa nó nên số lượng khách hàng sử dụng vẫn còn rất hạn chế Từ thực tế trênOnePay đã sớm xác định việc phát triển các dịch vụ nhằm cung cấp các giải phápTTTT là điều cần thiết ở Việt Nam và là công ty dẫn đầu trong lĩnh vực TTĐT
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Trong tương lai gần TMĐT Việt nam sẽ phát triển mạnh và các công cụ TTĐT
sẽ có vai trò thúc đẩy TMĐT phát triển Với vị thế là một doanh nghiệp dẫn đầu thịtrường TTĐT Việt Nam, Onepay đang có những lợi thế nhất định trong cuộc cạnhtranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ TTĐT Tuy nhiên chỉ với kinh nghiệm 3 nămhoạt động, Onepay cũng không tránh khỏi những thiếu sót, sản phẩm dịch vụ chưathật đa dạng và chất lượng chưa thật hoàn hảo OnePay cần có những bước đi tiếptheo trong quá trình phát triển toàn diện công ty Chính từ thực tế trên, nhằm gópphần thúc đẩy sự phát triển của TMĐT tại Việt Nam nói chung và TTĐT nói riêng,
tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Đa dạng hóa các công cụ thanh toán điện tử tại công
ty cổ phần thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay” làm đề tài nghiên cứu của
mình Từ đó khách hàng của công ty và người tiêu dùng có thể được sử dụng cácdịch vụ TTĐT tốt nhất, tiện lợi và an toàn nhất trong quá trình thực hiện các giaodịch
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 4- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về TTĐT và các công cụ TTĐT.
- Khảo sát nghiên cứu và đánh giá thực trạng ứng dụng các công cụ TTĐT ởViệt Nam và của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay
- Đề xuất các giải pháp nhằm đa dạng hóa các công cụ TTĐT của công ty cổphần thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: là đề tài luận văn của sinh viên nên
phạm vi nghiên cứu của đề tài mang tầm cỡ vi mô, giới hạn trong một doanh nghiệpnhất định Cụ thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận thực trạng và
đề xuất các giải pháp nhằm đa dạng hóa các công cụ TTĐT tại công ty cổ phầnthương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: giới hạn nghiên cứu về mặt thời gian của
đề tài luận văn là các số liệu được khảo sát từ năm 2007 đến năm 2009 của công tyOnepay Kết hợp với số liệu thứ cấp bên ngoài trong vòng 5 năm trở lại đây
Đề tài sẽ nghiên cứu tình hình và cách thực hiện đa dạng hóa các công cụTTĐT trên thế giới kết hợp với nghiên cứu lý luận của các tác giả khác để đối chiếuvới hoạt động thực tiễn của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ trực tuyếnOnepay để đánh giá thực trạng Từ đó đưa ra cách thức đa dạng hóa các công cụTTĐT cho công ty
1.5 Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viếttắt, tài liệu tham khảo và các phần phụ lục khác thì kết cấu đề tài nghiên cứu củaluận văn gồm có bốn phần chính là:
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 2 CÁC LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TRỰC TUYẾN ONEPAY CHƯƠNG 4 CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM THỰC HIỆN ĐA DẠNG HÓA CÁC CÔNG CỤ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TRỰC TUYẾN ONEPAY
Trang 5CHƯƠNG 2 CÁC LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ2.1 Tổng quan về thanh toán điện tử
2.1.1 Định nghĩa thanh toán điện tử
Theo Uỷ ban Châu Âu, TTĐT được hiểu là việc thực hiện các hoạt động thanhtoán thông qua các phương tiện điện tử dựa trên việc xử lý truyền dữ liệu điện tử.(1)
Trang 6Theo báo cáo quốc gia về kỹ thuật TMĐT của Bộ thương mại (cũ) thì TTĐT làviệc thanh toán tiền thông qua các thông điệp điện tử thay cho việc trao tay tiềnmặt.
2.1.2 Lợi ích của thanh toán điện tử
2.1.2.1 Một số lợi ích chung của thanh toán điện tử
- Thuận tiện trong sử dụng: TTĐT giúp gia tăng lượng khách mua sản phẩm vì
khách hàng có thể đặt hàng 24 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần và có thể thực hiệnviệc thanh toán toàn cầu một cách nhanh chóng Đồng thời thay vì mang theo tiềnmặt thì mọi người chỉ cần mang theo thiết bị lưu trữ giá trị vừa thuận tiện vừa antoàn hơn
- Giúp hoàn thiện và phát triển thương mại điện tử: Xét trên nhiều phương diện,
TTĐT là nền tảng của các hệ thống TMĐT Do vậy, việc phát triển TTĐT tử sẽ hoànthiện hóa TMĐT, các giao dịch hoàn toàn qua mạng, người mua chỉ cần thao tác trênmáy tính cá nhân của mình để mua hàng, các doanh nghệp có những hệ thống xử lýtiền số tự động Một khi thanh toán trong TMĐT an toàn, tiện lợi, việc phát triểnTMĐT trên toàn cầu là một điều tất yếu với dân số đông đảo và không ngừng tăngcủa mạng Internet
- Tăng tốc độ thông tiền tệ và hàng hóa: TTĐT có ưu điểm đẩy mạnh quá trình
lưu thông tiền tệ và hàng hóa Người bán hàng có thể nhận tiền thanh toán qua mạngtức thì, do đó có thể yên tâm giao hàng một cách sớm nhất, sớm thu hồi vốn để đầu tưtiếp tục sản xuất, nhanh, an toàn…TTĐT giúp thực hiện thanh toán nhanh, an toàn,đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia thanh toán, hạn chế rủi ro với thanh toánbằng tiền mặt, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, tạo lập thói quen mới trongdân chúng về thanh toán hiện đại
- Hiện đại hóa hệ thống thanh toán: Tiến cao hơn một bước, TTĐT khai thác sử
dụng một loại tiền mới, tiền số hóa , không chỉ thỏa mãn các tài khoản tại ngân hàng
mà hoàn toàn có thể dùng để mua hàng hóa thông thường quá trình giao dịch đượcđơn giản và nhanh chóng, chi phí giao dịch giảm bớt đáng kể và giao dịch sẽ trở lên
an toàn hơn
Trang 72.1.2.2 Một số lợi ích đối với Ngân hàng
Giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh
+ Giảm chi phí văn phòng: Giao dịch qua mạng giúp rút ngắn thời gian tác nghiệp,chuẩn hóa các thủ tục, quy trình, nâng cao hiệu quả tìm kiếm và xử lý chứng từ.+ Giảm chi phí nhân viên: Một máy rút tiền tự động có thể làm việc 24 trên 24 giờ vàtương đương một chi nhánh ngân hàng truyền thống
+ Cung cấp dịch vụ thuận tiện cho khách hàng: thông qua Internet/web Ngân hàng cókhả năng cung cấp dịch vụ mới (Internet banking) và thu hút thêm nhiều khách hànggiao dịch thường xuyên hơn, giảm chi phí bán hàng và tiếp thị
+ Mở rộng thị trường thông qua Internet, ngân hàng thay vì mở nhiều chi nhánh ở cácnước khác nhau có thể cung cấp dịch vụ Internet banking để mở rộng phạm vi cungcấp dịch vụ
Đa dạng hóa dịch vụ và sản phẩm: Ngày nay, dịch vụ ngân hàng vươn tới từng
người dân Đó là dịch vụ ngân hàng tiêu dùng và bán lẻ “Ngân hàng điện tử”, với sựtrợ giúp của công nghệ thông tin cho phép tiến hành các giao dịch bán lẻ với tốc độcao và liên tục Các ngân hàng có thể cung cấp thêm các dịch vụ mới cho khách hàngnhư “phone banking”, “home banking”, “Internet banking”, chuyển, rút tiền, thanhtoán tự động…
Nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nét riêng trong kinh doanh: “ Ngân hàng
điện tử” giúp các ngân hàng duy trì một hệ thống khách hàng rộng rãi bền vững Thay
vì phải xếp hàng rất lâu chờ rút tiền tại chi nhánh một ngân hàng khách hàng có thể đitới một máy rút tiền tự động của một ngân hàng khác và thực hiện giao dịch trong vàiphút Thế mạnh về dịch vụ ngân hàng điện tử cũng là một đặc điểm để các ngân hànghiện đại tạo dựng nét riêng của mình
Thực hiện chiến lược toàn cầu hóa: Một lợi ích quan trọng khác mà ngân hàng
điện tử đem lại đó là việc ngân hàng có thể thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa”,chiến lược “bành trướng” mà không cần phải mở thêm chi nhánh Ngân hàng có thểvừa tiết kiệm chi phí do không phải thiết lập quá nhiều các trụ sở hoặc văn phòng,nhân sự gọn nhẹ hơn, đồng thời lại có thể phục vụ một khối lượng khách hàng lớnhơn Internet là một phương tiện có tính kinh tế cao để các ngân hàng có thể mở rộng
Trang 8hoạt động kinh doanh của mình ra các quốc gia khác mà không cần đầu tư vào trụ sởhoặc cơ sở hạ tầng Theo cách này, các ngân hàng lớn đang vươn cánh tay khổng lồ
và dần thiết lập cơ sở của mình
Xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu toàn cầu: Thông qua Internet ngân
hàng có thể đăng tải tất cả những thông tin tài chính, tổng giá trị tài sản, các dịch vụcủa ngân hàng mình, để phục vụ cho mục đích xúc tiến quảng cáo Có thể ngân hàngchưa thể tiến hành các giao dịch tài chính trực tuyến, song bằng cách thiết lập cáctrang web của riêng mình với chức năng ban đầu là cung cấp thông tin và giải đáp ýkiến thắc mắc của khách hàng qua mạng, ngân hàng cũng được coi là đã bước đầutham gia áp dụng dịch vụ ngân hàng điện tử và hòa mình vào xu thế chung
2.1.2.3 Một số lợi ích đối với khách hàng
Khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí: Phí giao dịch ngân hàng điện tử hiện
được đánh giá là ở mức độ thấp so với các phương tiện giao dịch khác Điều này hoàntoàn có thể lý giải được bởi một khi các ngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí triểnkhai ngân hàng điện tử nhất là với các ngân hàng ảo chỉ hoạt động trên Internet màkhông cần tới văn phòng, trụ sở, các chi phí mà khách hàng phải trả cũng theo đó màgiảm đi rất nhiều
Khách hàng tiết kiệm thời gian: Đối với các ngân hàng từ Internet được thực hiện
và xử lý một cách nhanh chóng và hết sức chính xác Khách hàng không cần phải tớitận văn phòng giao dịch của ngân hàng, không phải mất thời gian đi lại hoặc nhiềukhi phải xếp hàng để chờ tới lượt mình Giờ đây, với dịch vụ ngân hàng điện tử, họ cóthể tiếp cận với bất cứ một giao dịch nào của ngân hàng vào bất cứ thời điểm nàohoặc ở bất cứ đâu họ muốn
Thông tin liên lạc với ngân hàng nhanh hơn và hiệu quả hơn: Khi khách hàng sử
dụng ngân hàng điện tử, họ sẽ nắm được nhanh chóng, kịp thời những thông tin về tàikhoản, tỷ giá, lãi suất Chỉ trong chốc lát, qua máy vi tính được nối mạng với ngânhàng, khách hàng có thể giao dịch trực tiếp với ngân hàng để kiểm tra số dư tàikhoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn dịch vụ công cộng, thanh toán thẻ tín dụng,mua séc du lịch, kinh doanh ngoại hối, vay nợ, mở và điều chỉnh, thanh toán thư tíndụng và kể cả kinh doanh chứng khoán với ngân hàng
Trang 92.1.3 Rủi ro trong thanh toán điện tử
Rủi ro đối với người tiêu dùng tham gia thanh toán trong TMĐT: Người tiêu
dùng có thể gặp rủi ro khi tham gia TTĐT như không thể hoàn tất một khoản thanhtoán mặc dù có đủ tiền để thực hiện việc thanh toán, ví dụ thẻ tín dụng hết hạn hiệulực, gặp trục trặc khi sử dụng thiết bị ngoại vi hoặc thẻ…
Rủi ro đối với các tổ chức cung ứng phương tiện TTĐT: Nhà phát hành cũng có
thể phải chịu các rủi ro lừa đảo, vận hành sai, bồi thường tiền điện tử giả mạo khi nóđược người bán hoặc khách hàng chấp nhận
Rủi ro do các hoạt động gian lận và phi pháp: Lợi dụng sự chưa hoàn hảo trong
các hệ thống bảo mật, các dữ liệu về thẻ thanh toán có thể bị kẻ xấu đánh cắp và sửdụng bất hợp pháp
Thẻ giả (Counterfeit Card): Thẻ do các tổ chức tội phạm làm giả căn cứ váo các
thông tin có được từ các giao dịch thẻ hoặc thông tin của thẻ bị mất cắp Thẻ giả được
sử dụng tạo ra các giao dịch giả mạo, gây tổn thất cho các Ngân hàng mà chủ yếu làNHPH chịu hoàn toàn trách nhiệm với mọi giao dịch thẻ giả mạo có mã số củaNHPH Đây là loại rủi ro nguy hiểm và khó quản lý vì có liên quan đến nhiều nguồnthông tin và nằm ngoài khả năng kiểm soát của NHPH
Đơn xin phát hành thẻ với thông tin giả mạo (Fraudulent Application): Do
không thẩm định kỹ hồ sơ, Ngân hàng phát hành thẻ cho khách hàng mà không biếtrằng thông tin trên đơn xin phát hành là giả mạo Trường hợp này sẽ dẫn đến rủi rotín dụng cho NHPH khi đến hạn thanh toán chủ thẻ không hoặc không có khả năngthanh toán
Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (Account takeover): Đến kỳ phát hành lại thẻ,
NHPH nhận được thông báo thay đổi địa chỉ của chủ thẻ Do không kiểm tra tính xác
Trang 10thực của thông báo đó, thẻ được gửi về địa chỉ mới không phải là địa chỉ của chủ thẻđích thực, dẫn đến tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng.
Thẻ bị giả mạo để thanh toán qua thư, điện thoại (Mail, telephone order): Cơ sở
chấp nhận thẻ cung cấp dịch vụ, hàng hóa theo yêu cầu của chủ thẻ qua thư hoặc điệnthoại dựa vào các thông tin về chủ thẻ: loại thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ…
mà không biết rằng khách hàng đó có thể không phải là chủ thẻ chính thức Khi giaodịch đó bị NHPH từ chối thanh toán thì cơ sở chấp nhận thẻ phải chịu rủi ro
Nhân viên cơ sở chấp nhận thẻ giả mạo hóa đơn thanh toán thẻ: (Multiple Imprints): Khi thực hiện giao dịch, nhân viên tại cơ sở chấp nhận thẻ cố tình in ra
nhiều bộ hóa đơn thanh toán cho một giao dịch nhưng chỉ đưa cho chủ thẻ ký vàomột bộ hóa đơn Các hóa đơn còn lại sẽ bị giả mạo chữ ký của chủ thẻ để thu hồi tiền
từ Ngân hàng thanh toán
Tạo băng từ giả (Skimming): Rủi ro xảy ra là do các tổ chức tội phạm dùng các
thiết bị chuyên dụng thu thập thông tin thẻ trên băng từ của thẻ thật Sau đó, chúng sửdụng các thiết bị riêng để mã hóa và in tạo các băng từ trên thẻ giả và thực hiện cácgiao dịch giả mạo Loại giả mạo dựa vào kỹ thuật cao này rất đang phát triển tại cácnước tiên tiến gây thiệt hại cho chủ thẻ, NHPH, NHTT
2.1.4 Yêu cầu đối với thanh toán điện tử
Công nghệ: Để được thành công thì cơ sở hạ tầng của việc thanh toán phải
được công nhận rộng hơn, bảo đảm quyền lợi cho cả khách hàng và doanh nghiệp,công nghệ áp dụng đồng bộ ở các ngân hàng cũng như tại các tổ chức thanh toán
An toàn và bảo mật: cho các giao dịch tài chính qua các mạng mở như Internet
vì đây sẽ là mục tiêu cho các tội phạm, các kẻ sử dụng thẻ tín dụng trái phép, cáchacker…do các dịch vụ trên Internet hiện nay được cung cấp toàn cầu với mọi tiệních phục vụ cho mọi khách hàng, mọi thành phần trong xã hội Chính vì vậy phải đảmbảo khả dụng nhưng chống lại được sự tấn công để tìm kiếm thông tin mật, thông tin
cá nhân hoặc điều chỉnh thông tin, thông điệp được truyền gửi
Riêng tư: Nếu như được khách hàng yêu cầu thì đặc điểm nhận dạng của họ
phải được giữ kín dù khách hàng đã cung cấp đầy đủ thông tin để người bán đượcthanh toán Phải đảm bảo không làm lộ các thông tin cá nhân của khách hàng
Trang 11Khả năng có thể hoán đổi: Tiền số có thể chuyển thành các kiểu loại quỹ khác.
Có thể dễ dàng chuyển từ tiền điện tử sang tiền mặt hay chuyển từ quỹ tiền điện tử vềtài khoản của cá nhân Từ tiền điện tử có thể phát hành séc điện tử, séc thật Tiền sốbằng ngoại tệ này có thể dễ dàng chuyển sang ngoại tệ khác với tỷ giá tốt nhất
Hiệu quả: Chi phí cho mỗi giao dịch chỉ là một con số nhỏ.
Tính linh hoạt: Nên cung cấp nhiều phương thức thanh toán, tiện lợi cho mọi
đối tượng
Tính hợp nhất: Để hỗ trợ cho sự tồn tại của các ứng dụng này thì giao diện nên
được tạo ra theo sự thống nhất của từng ứng dụng Khi mua hàng trên bất cứ websitenào cũng cần có những giao diện với những bước giống nhau
Tính tin cậy: Hệ thống thanh toán phải luôn thích ứng, tránh những sai sót
không đáng có, tránh cho nó không phải là mục tiêu của sự phá hoại
Có tính co dãn: Cho phép khách hàng và những nhà kinh doanh có thể tham gia
vào hệ thống mà không làm hỏng co cấu hạ tầng, đảm bảo xử lý tốt dù khi nhu cầuthanh toán trong TMĐT tăng
Tiện lợi, dễ sử dụng: Nên tạo sự thuận lợi cho việc thanh toán trên mạng như
dư của tài khoản tiền hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát hànhthẻ và chủ thẻ
Thẻ thanh toán cung cấp cho người tiêu dùng phương thức thanh toán an toànhơn, tiện lợi, linh hoạt và dễ kiểm soát hơn bất kỳ phương thức thanh toán khác Làphương thức thanh toán nhanh chóng và đơn giản nhất để họ trả tiền mua hàng hóa
ở các điểm bán hàng, trên Internet, hoặc bằng thư hoặc điện thoại, được an toàn hơn
là mang theo tiền mặt Sự đa dạng của thẻ thanh toán ngày nay mang đến cho ngườitiêu dùng sự linh hoạt khi trả tiền mua hàng hóa và dịch vụ, và thẻ tín dụng cho
Trang 12phép người tiêu dùng đáp ứng nhanh chóng các chi phí bất thường khác Thẻ thanhtoán cũng giúp theo dõi và quản lý chi phí dễ dàng bởi việc cung cấp thông tin truycập trực tuyến nhanh chóng về các giao dịch gần đây và báo cáo chi tiết hàng tháng.(2)
Theo cơ chế thanh toán của thẻ thì thẻ thanh toán có các loại thẻ như sau:
Thẻ tín dụng: là loại thẻ mà theo đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức
tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hóa dịch vụ, tại những cơ sở chấp nhận loạithẻ này Thẻ tín dụng thường do ngân hàng phát hành và thường được quy định mộthạn mức tín dụng nhất định trên cơ sở khả năng tài chính, tài sản thế chấp của chủthẻ Chủ thẻ phải thanh toán cho ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng Tínhchất tín dụng của thẻ còn thể hiện ở việc chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêudùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định Thẻ tíndụng được coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng Trongnhững năm gần đây, việc sử dụng thẻ tín dụng và các hình thức tín dụng đã tăng lênnhiều.(3)
Thẻ ghi nợ: với loại thẻ này, chủ thẻ có thể chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ dựa
trên số dư tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai của mình tại ngân hàng pháthành thẻ Thẻ thanh toán không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiệnhữu trên tài khoản của chủ thẻ
Thẻ ghi nợ là một giải pháp thay thế an toàn và thuận tiện thay vì mang theotiền mặt Nó cho phép người tiêu dùng mua hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền từ máyrút tiền tự động (máy rút tiền ATM) tại bất cứ nơi nào trên thế giới Khi một ngườitiêu dùng mua hàng bằng cách sử dụng một thẻ ghi nợ, số tiền giao dịch được khấutrừ trực tiếp từ việc kiểm tra tài khoản của họ Tùy thuộc vào loại thẻ các tổ chức tàichính đã ban hành các chủ thẻ, số tiền hiện có có thể được khấu trừ ngay lập tứchoặc sau một vài ngày.(4)
Chủ thẻ cũng có thể được ngân hàng chấp nhận cho một mức thấu chi, tùy theo
sự thỏa thuận của chủ thẻ và ngân hàng Đó là một khoản tín dụng ngắn hạn màngân hàng cấp cho chủ thẻ Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản đó là: Thẻ online và thẻoffline
Trang 13Thẻ rút tiền mặt: Dùng để rút tiền mặt từ tài khoản của chủ thẻ tại các máy rút
tiền tự động (ATM) hoặc tại Ngân hàng và sử dụng các dịch vụ khác do máy ATMcung cấp ( Ví dụ: kiểm tra số dư, chuyển khoản, chi trả các khoản vay…) Với chứcnăng chuyên dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra với chủ thẻ là phải ký quỹ tiền vào tàikhoản hoặc được ngân hàng cấp tín dụng thấu chi
Thẻ lưu trữ giá trị (thẻ trả trước): Được phát hành bằng cách nộp một số tiền
nhất định để mua một thẻ, mỗi lần sử dụng thì số tiền trên thẻ bị trừ dần Thẻ nàythường được sử dụng để mua bán hàng hóa có giá trị tương đối nhỏ như xăng dầu ởcác trạm bán xăng dầu tự động, gọi điện thoại, thanh toán phí cầu đường
2.1.2 Chuyển khoản điện tử EFT.
Chuyển khoản điện tử là việc chuyển tiền, hay khác hơn là một giao dịch bắtđầu thông qua một thiết bị đầu cuối điện tử, điện thoại, hay máy tính với các mụcđích khác nhau như để đặt hàng, hoặc ủy quyền cho một tổ chức tài chính để ghi nợhay tín dụng một tài khoản.(5)
Chuyển khoản điện tử là hình thức rất phổ biến trên thế giới và tại Việt Namchuyển khoản điện tử đang phát triển mạnh nhờ các dịch vụ Internet banking củacác ngân hàng Chuyển khoản điện tử có nhiều hình thức như: Chuyển khoản quamáy ATM, Chuyển khoản qua Internet nhờ dịch vụ Internet banking
Chuyển khoản qua máy ATM thực hiện bằng cách người gửi sử dụng tàikhoản trong thẻ của mình đến các máy ATM thực hiện các thao tác chuyển khoảntới người nhận
Chuyển khoản qua Internet nhờ dịch vụ Internet banking thực hiện thông quamạng Internet người chuyển khoản truy cập vào địa chỉ của ngân hàng thực hiện cácthao tác chuyển khoản theo hướng dẫn tới người nhận Ngân hàng yêu cầu ngườichuyển điền các thông tin về tài khoản của người gửi, của người nhận, số tiềnchuyển khoản…và kết thúc bằng việc đồng ý chuyển khoản
2.1.3 Thanh toán ngang hàng – P2P payment
Thanh toán ngang hàng thực chất là mô hình thanh toán P2P Thanh toánP2P là một trong những phương thức TTTT phát triển nhanh nhất khi mà nó
có khả năng chuyển khoản trực tuyến giữa hai cá nhân Người dùng có thể mở
Trang 14một tài khoản của một nhà cung cấp dịch vụ kết nối với tài khoản ngân hàng Sau
đó người dùng sẽ chuyển tiền vào vào tài khoản P2P và có thể thực hiện thanhtoán với các cá nhân khác cũng có tài khoản ở nhà cung cấp dịch vụ đó
Mô hình được phát triển bởi Paypal và nó đã đem lại sự thành công kỳ diệucho Paypal Thanh toán ngang hàng P2P tạo tiện ích cho hai người bình thường cóthể làm trên mạng việc mà phần lớn mọi người đang thực hiện ngoài mạng: thanhtoán tiền mua hàng hóa hay dịch vụ Dịch vụ cho phép hai người trao đổi tiền gầnnhư trực tiếp, theo cách rất đảm bảo và ẩn danh Đó không chỉ là việc mở cửa chomột nền kinh tế kiểu cá nhân với cá nhân qua mạng, mà còn khai phá ra một cáchlàm mới cho các nhà buôn và doanh nghiệp nhỏ, những người không có khả nănglập một tài khỏan thương mại khá tốn kém với các công ty thẻ tín dụng lớn
Ví dụ điển hình về thanh toán ngang hàng P2P đó là mô hình của Paypal đượcEbay mua lại năm 2002 đó là: Với những người sử dụng chính thống, PayPal rấttiện ích vì nó thay thế cho việc đi đến ngân hàng Công nghệ cơ bản của việcchuyển tiền thực ra hết sức đơn giản Để thực hiện các khoản thanh toán của Ebay,vốn là hoạt động chính của PayPal, hai trang chỉ liên kết với số dữ liệu trao đổi rất
ít Nút nhấn Pay Now trên trang đấu giá hàng hóa sẽ dẫn người mua đến một mẫu
kê khai chứa các thông tin về người bán và hàng hóa Chỉ trong giai đoạn cuối cùng,khi cần phải thanh toán, người mua mới được chuyển sang trang PayPal, nơi Ebay
đã gửi kèm theo các thông tin chứng nhận về người bán, mã hàng và các miêu tảkhác
Hay như công cụ thanh toán “ngân lượng” là một công cụ trả và nhận tiềnthuận tiện làm cầu nối trao đổi giữa người mua hàng online và các chủ cửa hàngtrực tuyến Công cụ thanh toán “ngân lượng” với tính năng thanh toán tức thời, bảomật an toàn nên là giải pháp thanh toán được giới mua bán trực tuyến đánh giá caohiện nay Công cụ “ngân lượng” cho phép người mua nạp tiền mặt để nhận mộtlượng "ngân lượng" tương ứng trong tài khoản của mình tại nhà cung cấp dịch vụ,sau đó sử dụng số dư "ngân lượng" của mình chuyển cho người bán để thanh toán
Trang 15các hóa đơn mua hàng Người bán khi có nhu cầu có thể rút số "ngân lượng" nhậnđược từ người mua từ tài khoản của mình ra để đổi lấy tiền mặt bất kỳ lúc nào
2.1.4 Thanh toán trên điện thoại di động, PDA và các thiết bị di động khác
Thanh toán qua các thiết bị di động đang ngày càng trở nên phổ biến trên thếgiới, hòa nhịp với một trào lưu phát triển mới của TMĐT là thương mại di động (m-commerce) Thanh toán trên điện thoại di động là hình thức thanh toán sử dụng điệnthoại di động để thực hiện thanh toán Đây là xu hướng tất yếu của tương lai nhờ sựphát triển của các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại Các ứng dụng cho điện thoạingày càng nhiều và đa dạng làm cho việc thanh toán qua điện thoại di động khôngcòn là vấn đề khó khăn nữa Những sản phẩm phù hợp với phương thức kinh doanhthương mại di động là phần mềm trò chơi, nhạc và các dịch vụ tin nhắn-những sảnphẩm số hóa có thể được tải về và tiêu thụ trực tiếp trên nền thiết bị di độngcủakhách hàng mà không tốn chi phí vận chuyển Do đặc thù này, cộng với giá thànhsản phẩm thấp và khối lượng tiêu thụ lớn, nhà cung cấp không thể chọn phươngthức thu tiền mặt, trừ tài khoản thẻ tín dụng, hay chuyển khoản để thu hồi tiền bánsản phẩm/dịch vụ Phương thức thanh toán hợp lý hơn cả là trừ trực tiếp vào phíđiện thoại của khách hàng
Thanh toán qua điện thoại di động với nhiều nước trên thế giới không còn làđiều xa lạ khi chiếc điện thoại di động đã trở thành vật bất ly thân của mỗi người.Tại Việt Nam, theo thống kê của Cục Thương mại điện từ (Bộ Thông tin và Truyềnthông), đã có trên 16 ngân hàng và một số công ty cung cấp dịch vụ tiện ích quađiện thoại di động, được chia làm 2 nhóm: nhóm cung cấp thông tin (truy vấn số dưtài khoản, liệt kê giao dịch, thông tin lãi suất…) và nhóm thanh toán
Người sử dụng điện thoại di động để thực hiện các giao dịch, thanh toán hànghóa qua chính điện thoại của mình Ngoài ra, còn cho phép thực hiện nhiều chứcnăng tiện ích như nạp tiền điện thoại, rút tiền mà không cần dùng đến máy ATM,chuyển tiền
2.1.5 Trao đổi dữ liệu tài chính điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việctrao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (stuctured form), nghĩa là các thông tin
Trang 16trao đổi được với các đối tác thỏa thuận với nhau tuân thủ theo một khuôn dạng nào
đó từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hoặc đơn vị
đã thỏa thuận buôn bán với nhau, theo cách này sẽ tự động hóa hoàn toàn không cần
có sự can thiệp của con người Theo Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc
tế (UNCITRAL), việc trao đổi dữ liệu điện tử được xác định như sau: “Trao đổi dữliệu điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máytính điện tử khác bằng phương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏathuận để cấu trúc thông tin”.(6)
EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu, chủ yếu phục vụ cho việcmua và phân phối hàng (gửi đơn hàng, các xác nhận, các tài liệu gửi hàng, hóa đơnv.v…), và EDI cũng dùng cho các mục đích khác, như thanh toán tiền khám bệnh,trao đổi các kết quả xét nghiệm v.v EDI chủ yếu được thực hiện thông qua mạngngoài (extranet) với nhau và thường được gọi là “mạng thương mại” (net-commerce) Cũng có khi có “EDI hỗn hợp” (hybird EDI) dùng cho trường hợp chỉ
có một bên đối tác dùng EDI, còn bên kia thì vẫn dùng các phương thức thôngthường (như fax, thư tín qua bưu điện…) Trước khi có Internet đã có EDI, khi đóngười ta dùng “mạng giá trị gia tăng” (Value Added Network, viết tắt là VAN) đểliên kết các đối tác EDI với nhau; cốt lõi của VAN là một hệ thống thư điện tử chophép các máy tính điện tử liên lạc được với nhau, và hoạt động như một phươngtiện lưu trữ và tìm kiếm; khi nối vào VAN, một doanh nghiệp có thể liên lạc vớinhiếu máy tính điện tử nằm ở nhiều thành phố trên khắp thế giới Ngày nay EDI chủyếu được thực hiện thông qua mạng Internet.(7)
Để phục vụ cho buôn bán giữa các doanh nghiệp thuận lợi hơn với chi phítruyền thông không quá tốn kém, người ta đã xây dựng một kiểu mạng mới gọi là
“mạng riêng ảo” (virtual private network), là mạng riêng dạng intranet của mộtdoanh nghiệp nhưng được thiết lập dựa trên chuẩn trang Web và truyền thông quamạng Internet Hai mạng Intranet liên kết, trao đổi thông tin với nhau được gọi làmạng extranet giữa hai doanh nghiệp Mạng riêng ảo có các khối phần cứng hoặcphần mềm dùng để mã hóa thông tin, đôi lúc có tác dụng như một tường lửa bảo vệthông tin (firewall) giữa các đối tác với nhau
Trang 17TMĐT có đặc tính phi biên giới (Cross – border electronic commerce), về bảnchất phi biên giới là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp ở các quốcgia khác nhau, công việc trao đổi EDI thường là các nội dung sau: Giao dịch kếtnối, đặt hàng, giao dịch gửi hàng, thanh toán.
Vấn đề này đang được tiếp tục nghiên cứu và xử lý, đặc biệt là buôn bán giữacác nước có quan điểm chính sách, và luật pháp thương mại khác nhau, đòi hỏi phải
có một pháp lý chung trên nền tảng thống nhất quan điểm về tự do hóa thương mại
và tự do hóa việc sử dụng mạng Internet, chỉ như vậy mới bảo đảm được tính khảthi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của việc trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
Đây là phương thức thanh toán giữa các doanh nghiệp có quan hệ đối tácthường xuyên, có kết nối hệ thống trên cơ sở chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử (EDI),cho phép hai bên theo dõi giá trị các giao dịch được thực hiện và tiến hành quyếttoán định kỳ theo hình thức bù trừ tài khoản đối ứng Phương thức thanh toán nàyđòi hỏi doanh nghiệp phải có một trình độ ứng dụng công nghệ thông tin ở mức cao
và một mô hình tổ chức kinh doanh tương đối hoàn thiện Ở Việt Nam hiện nay vẫnchưa hội đủ điều kiện để phát triển hình thức thanh toán này
2.1.6 Séc điện tử
Séc điện tử là một phương tiện thanh toán mới kết hợp sự an toán, tốc độ vàhiệu quả xử lý của tất cả các nghiệp vụ điện tử Được sử dụng để tiến hành cáckhoản thanh toán có giá trị cao trên mạng công cộng Séc điện tử hoạt động như sécgiấy bình thường nhưng dưới dạng điện tử thuần túy với rất ít các bước bằng tay
Nó được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và người tiêu dùngtrong thế kỷ 21 Séc điện tử sẽ là một công cụ thanh toán quan trọng trong việcchuyển đổi và dẫn dắt các doanh nghiệp và người tiêu dùng vào thế giới mới củathương mại điện tử
Thanh toán bằng séc khá phức tạp (sau khi giao dịch trực tuyến được thựchiện, người mua phải ra khỏi mạng và gửi séc qua thư đến cho người bán), nhưngnhiều khách hàng trên thế giới vẫn sẵn sàng chấp nhận sự phức tạp đó để được thựchiện thanh toán bằng séc
Trang 18Quá trình thanh toán được thực hiện như sau: “ Séc trực tuyến” hay còn gọi là
“séc điện tử” thực chất là một loại “séc ảo”, cho phép người mua thanh toán bằngséc qua mạng Internet Người mua sẽ điền vào form (giống như một quyển séc đượchiển thị trên màn hình) các thông tin về Ngân hàng, ngày giao dịch và giá của giaodịch, sau đó nhấn nút “send” để gửi đi Tất cả những thông tin đó hoặc sẽ đượcchuyển đến máy tính của nhà cung ứng hoặc được chuyển tới một trung tâm giaodịch, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của nhà cung ứng khi thiết kế hệthống
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu của Việt Nam và trên thế giới về thanh toán điện tử
2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
TMĐT nói chung và TTĐT nói riêng trên thế giới đã phát triển từ những năm
1998, trong giai đoạn bùng nổ của Internet và các công ty Dotcom trên thế giới nhờ
có một nền tảng công nghệ vững chắc từ thanh toán điện tử truyền thống
Có một số sách và tài liệu viết về TTĐT như Electronic payment system for
E-commerce của Donal O’Mahony, Michael peirce, Hitesh Tenari; the truth about online payments của Pussell O’brien; Electronic Bill presentment and payment của
Kornel Terplan; New payment System in Global perspectives của Maxwell J.Fry, Isacck kilato và nhóm tác giả Và cuốn 2009-2012 China Third Party Electronic
Payment Industry Market Research Report.
Cuốn sách Electronic payment system for E-commerce của nhóm tác giảDonal O’Mahony, Michael peirce, Hitesh Tenari đã giới thiệu khá đầy dủ và chi tiết
về công nghệ và hệ thống sử dụng cho phép thực hiện thanh toán qua Internet Cuốnsách được viết cho các nhà nghiên cứu và các chuyên gia trong ngành để mở rộng
và phát triển các công nghệ mới trong lĩnh vực này
Trong khi đó cuốn sách New payment world của Mary S.Schaeffer lại cho tacái nhìn toàn cảnh về lịch sử của các dịch vụ thanh toán trên thế giới, các phươngthức thanh toán của ngày “hôm qua”, “hiện tại” và trong “tương lai” trên toàn thếgiới Cuốn sách là sự giới thiệu đầy đủ về các kỹ thuật bảo mật an toàn hệ thốngtrong TTĐT cho từng lĩnh vực khác nhau như tài chính, Ngân hàng, chứng khoán…
Trang 192.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay, tại Việt Nam có rất ít các tài liệu hay công trình nghiên cứu khoahọc trực tiếp nào về TTĐT Chủ yếu vẫn là các cá nhân, doanh nghiệp tự chủ độngtìm hiểu từ các nguồn tài liệu có sẵn khác nhau trên thế giới và hợp tác triển khaiứng dụng TTĐT tại Việt Nam với các tổ chức, doanh nghiệp quốc tế
Tại các trường đại học ở Việt Nam có đào tạo chuyên ngành về TMĐT, vềcông nghệ cũng chưa có giáo trình đào tạo chính thức về TTĐT mà chủ yếu vẫn làcác tài liệu tổng hợp và dịch từ các tài liệu của các chuyên gia, của các trường đạihọc quốc tế, các tổ chức nghiên cứu quốc tế hay của chính các doanh nghiệp vềTMĐT nói chung và TTĐT nói riêng trên thế giới Các giáo trình, bài giảng vềTTĐT, về TMDDT của trường Đại học Thương mại, Đại học ngoại thương…cũngchỉ dành một phần rất nhỏ để giới thiệu về các hình thức TTĐT hiện nay đang cótrên thế giới
Các đề tài luận văn tốt nghiệp trước đây chỉ tập trung giới thiệu về thực trạng
vấn đề TTĐT của doanh nghiệp như đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng
cao vấn đề thanh toán điện tử tại http://chodientu.vn” của Cáp Đức Trường, hay đề
tài “Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh toán chuyển tiền điện tử
tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Đống Đa – Hà Nội” của sinh viên Nguyễn
thị Lục Bình – Học Viện Ngân hàng cũng chủ yếu tập trung giới thiệu về hệ thống
TTĐT của các NHTM tại Việt Nam Hay như đề tài “Giải pháp mở rộng thanh
toàn điện tử tại NHN o &PTNT Bắc Hà Nội” đề cập đến các giải pháp chung nhất
nhằm mở rộng các dịch vụ TTĐT cho ngân hàng Và đề tài “thanh toán trong giao
dịch TMĐT” của Lê Thị Duy Linh thuộc công ty GOL đề cập đến các phương tiện
thanh toán trong TMĐT và những khó khăn khi áp dụng các mô hình TTĐT trên thếgiới vào TMĐT tại Việt Nam
2.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài
Trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài có ba mục tiêu cơ bản là hệ thống hóa cơ
sở lý luận về TTĐT và các công cụ TTĐT Thứ hai là khảo sát nghiên cứu và đánhgiá thực trạng ứng dụng các công cụ TTĐT ở Việt Nam và của công ty cổ phần
Trang 20thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đadạng hóa các công cụ TTĐT của công ty.
Với mục tiêu nghiên cứu này thì trong chương 2 tác giả sẽ làm rõ lý thuyết vềTTĐT và các công cụ TTĐT, các lợi ích và hạn chế của TTĐT, yêu cầu đối vớiTTĐ, các bên tham gia trong thanh toán điện tử Các hình thức TTĐT có trên thịtrường và các công cụ TTĐT xu hướng trong tương lai Sau đó là nghiên cứu sơ bộ
về tình hình nghiên cứu của Việt Nam và trên thế giới về TTĐT
Trong chương 3 song song với việc nghiên cứu tình hình ứng dụng các công
cụ TTĐT của công ty, tác giả sẽ nghiên cứu tổng quan tình hình và ảnh hưởng củacác nhân tố môi trường kinh doanh đến thực trạng ứng dụng các công cụ TTĐT tạicông ty cổ phần thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay Thông qua việc phátphiếu điều tra đánh giá cho khách hàng đang sử dụng dịch vụ của Onepay Trên cơ
sở đó tác giả sẽ phân tích thực trạng hoạt động của Onepay trong quá trình ba nămhoạt động
Từ các kết quả đánh giá trong chương ba, ở chương 4 tác giả sẽ đưa ra kết luận
về những thành công và hạn chế của Onepay, các nguyên nhân của những tồn tại.Tiếp đến tác giả dự báo về tình hình phát triển của thị trường TTĐT ở Việt Nam vàtrên thế giới, quan điểm và mục tiêu phát triển của Onepay Dựa trên các đánh giá
về thị trường và mục tiêu phát triển của Onepay tác giả sẽ đề xuất các nhóm giảipháp nhằm đa dạng hóa các công cụ TTĐT cho Onepay
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TRỰC TUYẾN ONEPAY.
3.1 Hệ thống các phương pháp nghiên cứu vấn đề
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu.
Trong quá trình thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và thực hiện đềtài luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu như sau:
Trang 213.1.1.1 Thu thập dữ liệu sơ cấp.
- Phiếu điều tra khách hàng
Gửi cho các công ty và doanh nghiệp hoạt động thương mại điện tử đang làkhách hàng của Onepay thông qua email.(Mẫu phiếu điều tra được đính kèm trongphần phụ lục) Cụ thể phương pháp điều tra như sau:
Nội dung điều tra: tình hình ứng dụng và triển khai các dịch vụ TTĐT của
OnePay tại các doanh nghiệp là khách hàng của OnePay, chất lượng sản phẩm dịch
vụ OnePay đang cung cấp và ý kiến phản hồi từ người tiêu dùng khi sử dụng dịch
vụ TTĐT trên site của doanh nghiệp, ý kiến của doanh nghiệp về việc OnePay đadạng hóa các công cụ TTĐT…
Cách thức tiến hành: các phiều điều tra sau khi được thiết kế sẽ được gửi đến
các doanh nghiệp là khách hàng của Onepay dưới sự giới thiệu của Onepay Cácdoanh nghiệp sau khi trả lời phiếu điều tra sẽ gửi lại và được tập hợp và đưa vào cơ
sở dữ liệu của phần mềm Excel xử lý và phân tích Mục đích áp dụng cách thức này
là giúp thu thập thông tin một cách nhanh chóng nhất, thuận tiện nhất và xử lý mộtcách chính xác nhất để có thể đưa ra những đánh giá và kết quả chính xác nhất
Ưu, nhược điểm của cách thức điều tra này:
+ Ưu điểm: nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả cao Việc gửi phiếu điều tra đến cácdoanh nghiệp thông qua email nên sẽ nhanh chóng và tiện lợi hơn so với việc đếntận cơ sở doanh nghiệp để gửi phiếu điều tra Do đó sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, cóthể gửi được nhiều phiếu điều tra hơn trong thời gian ngắn hơn
+ Nhược điểm: doanh nghiệp có thể không trả lời phản hồi hoặc không cung cấpcâu trả lời chính xác Do đó có thể làm chễ thời gian thu hồi phiếu điều tra Nguyênnhân là do các doanh nghiệp thường bận các công việc và tập trung cho việc khác
mà không quan tâm đến các mail có nội dung không quan trọng đến công việc hoạtđộng của doanh nghiệp
Đối tượng nghiên cứu: khách hàng của Onepay, lựa chọn 25 doanh nghiệp tiêu
biểu
Số lượng phiếu điều tra: gửi đi 25 phiếu, thu về 20 phiếu.
- Phỏng vấn chuyên gia
Trang 22Nội dung phỏng vấn: quan điểm đánh giá của Onepay về tình hình thị trường
TTĐT trong và ngoài nước; đánh giá về mô hình nhà cung cấp dịch vụ TTĐT màOnepay đang triển khai; chất lượng dịch vụ hiện nay của Onepay; định hướng pháttriển của Onepay;
Cách thức điều tra: Phỏng vấn trực tiếp tại công ty
Đối tượng nghiên cứu: Các chuyên gia được mời phỏng vấn trực tiếp tại công
ty gồm có trợ lý giám đốc, trưởng phòng kinh doanh, phụ trách an ninh và bảo mật,phụ trách Marketing
Ưu nhược điểm của phương pháp điều tra:
+ Ưu điểm: được tiếp xúc trực tiếp với các nhà quản lý nên có thể quan sát trựcquan thái độ và cung cách khi trả lời phỏng vấn để đánh giá mức độ xác thực củathông tin; có được những nhận xét chủ quan của doanh nghiệp về các vấn đề ngành.+ Nhược điểm: khó có được cái nhìn tổng quát và những đánh giá khách quan vềthông tin, mô hình kinh doanh của công ty
3.1.1.2 Thu thập dữ liệu thứ cấp.
- Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty Onepay
Nội dung là kết quả tổng hợp báo cáo về tình hình hoạt động kinh doanh trong
3 năm 2007, 2008, 2009 của công ty
Ưu nhược điểm: những số liệu thống kê về doanh nghiệp cho ta được cái nhìntrực quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
- Các nguồn khác
Các dữ liệu thứ cấp được khai thác từ các nguồn như báo cáo TMĐT qua cácnăm của cục thương mại điện tử-Bộ công thương; các hội thảo và diễn đàn vềTTĐT; báo chí trong nước, quốc tế và từ nguồn Internet về tình hình phát triển củaTTĐT tại Việt Nam và trên thế giới
Nội dung: là các thông tin sự kiện về tình hình phát triển chung của TTĐT trênthế giới và Việt Nam, đánh giá, nhận định và dự báo về tốc độ phát triển trong thờigian tới của TTĐT và TMĐT
Ưu nhược điểm: tìm kiếm nhanh chóng, dễ dàng, số liệu đa dạng Tuy nhiênmức độ chính xác và cập nhật của các số liệu thì khó có khả năng kiểm chứng
Trang 23Phương pháp định tính
Phân tích đánh giá thị trường thông qua câu hỏi phỏng vấn Các câu hỏi phỏngvấn được xây dựng tổng quát trên toàn ngành đến chuyên sâu về công ty Phươngpháp phân tích tổng hợp theo hình thức quy nạp, đánh giá các vấn đề khác nhau rồitổng hợp đưa ra các nhận định chung và đặc trưng
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường kinh doanh đến thực trạng ứng dụng các công cụ thanh toán điện tử tại công ty
cổ phần thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay.
3.2.1 Giới thiệu công ty
a Lịch sử hình thành và phát triển
− Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ trực tuyến OnePay
− Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
− Ngày thành lập: 27/12/2006
− Vốn điều lệ: 8.000.000.000 VND
− Chủ tịch hội đồng quản trị: Ông Lê Huy Tường
Cùng với sự phát triển TMĐT trên thế giới, triển khai kênh bán hàng hoàn toànmới, mở rộng mạng lưới khách hàng và chiếm lĩnh thị phần hơn 18 triệu người Việtdùng Internet 10 năm phát triển Internet tại Việt Nam, các doanh nghiệp luôn phấnđấu để thực hiện TMĐT nhưng gặp nhiều khó khăn do chưa hội đủ các yếu tố kháchquan Quan trọng nhất vẫn chưa có một cổng thanh toán nội địa được chứng nhậnbởi các tổ chức thẻ quốc tế và hệ thống ngân hàng trong nước
Trang 24Hội đồng quản trị
Giám đốc
Phòng Kỹ thuật P.Hành chính Kế toán
Phòng Kinh doanh Phòng Hạ tầng thẻ Phòng Marketing
Từ nhu cầu đó,công ty cổ phần thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay đãđược thành lập từ cuối năm 2006 Onepay cung cấp dịch vụ từ đầu năm 2007 vớikhách hàng đầu tiên là hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines, cho đến nayOnepay đang dẫn đầu thị trường thanh toán điện tử với gần 200 khách hàng (đơn vịchấp nhận thẻ)
Giờ đây, các giao dịch thương mại trực tuyến trở nên được tin cậy và an toànvới sự có mặt của Onepay Được đảm bảo bởi hệ thống các ngân hàng trong nước( ngân hàng thanh toán là Vietcombank) và các tổ chức thẻ thế giới (Visa, MasterCard, Amex…), Onepay được triển khai như cổng TTTT của quốc gia Onepaycung cấp các giải pháp TTTT hoàn thiện giúp các doanh nghiệp mở rộng kinhdoanh
Onepay là nhà cung cấp dịch vụ TTTT uy tín và có thế mạnh tại Việt Nam.Dịch vụ của Onepay đảm bảo an toàn cao nhất cho các giao dịch với các tiêu chuẩncủa VISA và MasterCard Tính đến thời điểm đầu năm 2009 đã có hơn 65 tổ chứcdoanh nghiệp sử dụng dịch vụ TTTT OnePay cung cấp Các khách hàng tiêu biểucủa OnePay như Jetstar Pacific Airline, Saigontourist, Vietravel, Transviet,Chodientu, Vinasun travel, FPT Online…Các khách hàng sau khi hợp tác vớiOnePay đều cảm thấy rất hài lòng với các dịch vụ OnePay đã triển khai, siêu thịtrực tuyến
b Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý.
Về cơ cấu tổ chức của công ty, hiện nay OnePay có tất cả 18 nhân viên làmviệc trong 8 phòng ban bao gồm:
− 1 nhân viên phòng hành chính - − 4 nhân viên phòng Kỹ thuật
kế toán − 1 nhân viên phòng Hạ tầng thẻ
− 5 nhân viên phòng Kinh doanh − 1 nhân viên phòng Hạ tầng mạng
− 1 nhân viên phòng Marketing − 3 nhân viên phòng Hỗ trợ khách hàng
− 2 nhân viên phòng Quản lý rủi ro
Hội đồng quản trị của OnePay gồm có các ông: ông Lê Huy Tường - Chủ tịchHội đồng quản trị; ông Nguyễn Văn Hiện và ông Trịnh Quốc Huy là uỷ viên
Trang 25Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức của công ty OnePay Nguồn: Bản giởi thiệu công ty OnePay phiên bản 3.0-tháng 8/2009.
3.2.2 Tổng quan tình hình liên quan đến hoạt động đa dạng hóa các công cụ thanh toán điện tử tại công ty CP thương mại và dịch vụ trực tuyến Onepay.
a Mô hình hoạt động kinh doanh của Onepay
Sơ đồ 3.2: Mô hình hoạt động kinh doanh của OnePay Nguồn http://diendantmdt.com/forum/showthread.php?t=6708 cập nhật ngày 24/5/2010
Một quy trình TTĐT chuẩn không chỉ gồm người mua (chủ thẻ); người bán(doanh nghiệp) và ngân hàng phát hành thẻ Quy trình này phải bao gồm các đốitượng: khách hàng (chủ thẻ - Card Holder); doanh nghiệp (đơn vị chấp nhận thẻ -Merchant); nhà cung cấp dịch vụ cổng thanh toán (Online Payment GatewayService Provider); Tổ chức thẻ quốc tế (International Card Association); NHPH(Issuer) và NHTT (Acquirer)
Trang 26Mô hình hoạt động kinh doanh của OnePay là trung gian phân phối dịch vụcổng TTTT của tổ chức thẻ quốc tế MasterCard cho các doanh nghiệp ở Việt Nam.OnePay là đại diện của MasterCard ở Việt Nam hợp tác với NHTM Vietcombank
để triển khai cổng TTTT Doanh thu đạt được của OnePay sẽ phải chi trả một phầncho MasterCard theo thoả thuận giữa hai bên
Khách hàng truy cập website bán hàng của doanh nghiệp, lựa chọn hàng hóa
và xác nhận đơn hàng Khách hàng sẽ được yêu cầu điền các thông tin thẻ trên cổngthanh toán của Vietcombank và OnePAY Các thông tin này sẽ được gửi đến ngânhàng phát hành thông qua hệ thống của tổ chức thẻ quốc tế để xử lý việc cấp phépthanh toán Sau từ 3 đến 5 giây, doanh nghiệp sẽ nhận được kết quả giao dịch và raquyết định giao hàng
b Kết quả hoạt động kinh doanh của Onepay
Sau 3 năm đi vào hoạt động Onepay đã nhanh chóng trở thành doanh nghiệpdẫn đầu trong TTĐT tại Việt Nam Xuất phát từ chiến lược của công ty Onepay đãnhận định việc đa dạng hóa các công cụ TTĐT nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng củathị trường trong thời gian tới là điều tất yếu Chính vì thế, Onepay đã đang tập trungđầu tư cho phát triển các công cụ TTĐT trong thời gian tới
Kết quả hoạt động trong 3 năm đã cho thấy chất lượng dịch vụ Onepay đangcung cấp rất ổn định, tình hình bảo mật an toàn cao Sự tin tưởng hài lòng cho cảdoanh nghiệp và sự yên tâm cho những người tiêu dùng Tỷ lệ các giao dịch thanhtoán bị lỗi không đáng kể, dưới 0,01%
Biểu đồ 3.1: Tăng trưởng số lượng giao dịch và tổng giá trị thanh toán theo quý năm 2009 của Onepay Payment Gateway Nguồn: Bản kết quả kinh doanh của OnePay Năm 2009.
Trang 273.2.3 Các công cụ thanh toán điện tử mà công ty đã và đang ứng dụng cung cấp cho khách hàng
a OneCOM Pro
Dành cho các đơn vị kinh doanh TMĐT chuyên nghiệp, mong muốn chủ động
xử lý các giao dịch của khách hàng một cách tự động hoặc thủ công
Cung cấp khả năng chấp nhận TTTT bằng thẻ quốc tế mang thương hiệu:Visa, MasterCard, AmEx, JCB
Cung cấp khả năng chấp nhận TTTT bằng thẻ nội địa mang thương hiệu:Vietcombank, Vietinbank, DongA, Techcombank, Tienphongbank
Tích hợp cổng thanh toán vào website, cho phép nhập thông tin thẻ trênwebsite bán hàng để thực hiện thanh toán
Tích hợp cổng thanh toán vào email, cho phép gửi hóa đơn điện tử có chứcnăng thanh toán tới khách hàng
Chấp nhận thanh toán qua điện thoại, Fax
b OneCOM
OneCOM dành cho các đơn vị kinh doanh TMĐT an toàn Việc đăng ký sửdụng OneCOM không đòi hỏi các chứng chỉ về bảo mật thông tin thẻ Trách nhiệmbảo mật và xử lý thông tin thuộc về cổng thanh toán Gói dịch vụ OneCOM cónhững đặc điểm cơ bản sau:
Cung cấp khả năng chấp nhận thanh toán trực tuyến bằng thẻ quốc tế mangthương hiệu: Visa, MasterCard, AmEx, JCB
Cung cấp khả năng chấp nhận TTTT bằng thẻ nội địa mang thương hiệu:Vietcombank, Vietinbank, DongA, Techcombank, Tienphongbank
Tích hợp cổng thanh toán vào website mà không cần các chứng chỉ về bảomật Thông tin thẻ được nhập tại OnePAY và bảo vệ bởi OnePAY và MasterCard
Tích hợp cổng thanh toán vào email, cho phép gửi hóa đơn điện tử có chứcnăng thanh toán tới khách hàng
c OneBILL
OneBILL là dịch vụ thanh toán hóa đơn thông qua ngân hàng dành cho cácnhà cung cấp dịch vụ dịch vụ muốn cung cấp cho khách hàng của mình những kênh
Trang 28thanh toán hiện đại, nhanh chóng và an toàn OneBILL được xây dựng trên nhu cầugiảm thiểu việc thu cước thủ công, doanh thu từ giao dịch được ghi có trực tiếp vàotài khoản và quản lý trực tuyến các hóa đơn thanh toán.
OneBILL cho phép khách hàng của các nhà cung cấp có thể thanh toán hóađơn sử dụng dịch vụ hoặc nạp (topup) tài khoản sử dụng dịch vụ với bằng nhữngkênh thanh toán đa dạng như:
Thanh toán trực tuyến
Thanh toán thông qua hệ thống Internet Banking của ngân hàng
Thanh toán tại máy rút tiền tự động ATM
Thanh toán tại quầy có gắn thiết bị cà thẻ EFT-POS
Thanh toán qua điện thoại di động
Thanh toán bằng khấu trừ tài khoản tự động hàng tháng
e OneCARD
Là một trong những thẻ thanh toán điện tử, OneCard được phát hành dành chonhững khách hàng muốn quản lý chi tiêu và rủi ro trong thanh toán Với công nghệthanh toán tiên tiến nhất, thẻ ghi nợ trả trước cung cấp cho chủ thẻ nhiều giải phápthanh tóan linh hoạt Khách hàng có thể nạp tiền cho thẻ và sử dụng linh hoạt nhưthẻ ghi nợ thông qua mạng lưới thẻ Visa, MasterCard cho các giao dịch thanh toánquốc tế
c OneSTART
Dịch vụ thu hộ của Onepay dành cho những đơn vị phát sinh ít doanh số từInternet hoặc nhu cầu chấp nhận thanh toán trực tuyến không đều Bằng dịch vụnày, Onepay đứng ra thu hộ và chuyển khoản doanh thu về đơn vị hàng tuần.OneSTAR không yêu cầu đảm bảo thanh toán
g OnePOS
Cung cấp thiết bị cà thẻ ( POS/EDC) cho các doanh nghiệp với nhiều kênhgiao dịch khác nhau như POS giao thức TCP/IP, POS giao thức GPRS, POS giaothức ISDN
Trang 29OnePOS cho phép doanh nghiệp nhận được tiền ngay sau khi khách hàng thựchiện cà thẻ mà không cần trình hóa đơn thanh toán cho ngân hàng Tùy theo tínhchất của doanh nghiệp, và tùy vào quy định của từng ngân hàng, hóa đơn thanh toán
sẽ phải chuyển về ngân hàng trong vòng 1 tháng hoặc nhanh hơn
3.2.4 Ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến việc ứng dụng các công cụ thanh toán điện tử của công ty
3.2.4.1 Các nhân tố bên trong công ty.
a Yếu tố về tài chính.
Không chỉ riêng Onepay, hầu hết các công ty tại Việt Nam đều gặp khó khăn
về tài chính trong việc triển khai các hoạt động kinh doanh của mình Do đặc điểmdoanh nghiệp có quy mô nhỏ, việc đầu tư còn hạn chế Mỗi khi có dự án hay kếhoạch nào đề xuất thì yếu tố tài chính được đặt lên hàng đầu nếu không có nhà đầu
tư nước ngoài hỗ trợ Tuy nhiên nếu xét ở tình hình hiện tại thì yếu tố về tài chínhcủa Onepay không còn là vấn đề đáng lo ngại như trước vì quá trình hoạt độngtrong khoảng 3 năm đã cho thấy sự thành công của Onepay, thương hiệu Onepayđang dần được khẳng định trên thị trường TTĐT Việt Nam
b Yếu tố về nhân lực.
Song song với yếu tố tài chính là vấn đề về nhân lực cho việc triển khai cáccông cụ thanh toán điện tử Hiện nay, công ty Onepay có hơn 20 thành viên đảmnhiệm các chức vụ, công việc khác nhau trong công ty nhưng để thực hiện đượcviệc đa dạng hóa các công cụ TTĐT thì công ty cần phải huy động thêm nguồnnhân lực có trình độ và năng lực, am hiểu về TTĐT Bởi không những nhằm pháttriển hoạt động TTĐT tại thị trường Việt Nam mà còn nhằm vươn ra thị trườngquốc tế Vì vậy, công ty cần có những chính sách phát triển nhân lực cho phù hợpvới chiến lược phát triển của công ty
c Các yếu tố về nền tảng công nghệ.
Là công ty chuyên về cung cấp các giải pháp TTTT nên công ty đã áp dụngcông nghệ cao đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế Onepay được đảm bảo bởi hệ thống cácngân hàng trong nước ( ngân hàng thanh toán là Vietcombank) và các tổ chức thẻthế giới (Visa, Master Card, Amex…), Onepay được triển khai như cổng thanh toán
Trang 30trực tuyến của quốc gia, là nhà cung cấp dịch vụ TTTT uy tín và có thế mạnh tạiViệt Nam Dịch vụ của Onepay đảm bảo an toàn cao nhất cho các giao dịch với cáctiêu chuẩn của VISA và MasterCard Qua đó cho thấy Onepay đã ứng dụng côngnghệ cao trong hoạt động kinh doanh của mình Điều này sẽ có lợi rất lớn cho công
ty trong việc đa dạng hóa các công cụ TTĐT
d Yếu tố về chiến lược của công ty.
Trong bản giới thiệu về công ty, công ty đã khẳng định tầm nhìn sẽ là đơn vịtiên phong và luôn dẫn đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực TTĐT với những tiêu chuẩnbảo mật quốc tế và độ an toàn cao
Công ty đưa ra xứ mệnh rằng: “ Onepay sinh ra để cung cấp các dịch vụ TTTT
và mở rộng là các giải pháp thanh toán đa dạng Dịch vụ của Onepay chuyên nghiệp
và đảm bảo các yêu cầu công nghệ khắt khe của nền công nghiệp thanh toán trên thếgiới để đảm bảo tối đa lợi ích khách hàng Với kinh nghiệm và lợi thế của mình,Onepay cam kết sát cánh cùng khách hàng của mình để cùng thành công trongthương mại điện tử”
OnePay cũng đã đưa ra từng giai đoạn phát triển cho mình như sau:
Giai đoạn 1: OnePay đi tiên phong trong lĩnh vực TTTT tại Việt Nam và trởthành doanh nghiệp dẫn đầu thị trường
Giai đoạn 2: OnePay trở thành doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong việccung cấp các giải pháp dịch vụ TTĐT trong TMĐT Việt Nam như thanh toán ATM,POS, SMS, khấu trừ tài khoản tự động
Giai đoạn 3: OnePay trở thành nhà cung cấp toàn diện các dịch vụ và giải pháp
hỗ trợ cho thị trường TMĐT Việt Nam
3.2.4.2 Các nhân tố bên ngoài.
a Môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước
Trong nước: năm 2007 là năm bước đầu đánh dấu sự phát triển của TTĐT và
đến năm 2008 được xem là năm TTĐT khởi sắc và thực sự đi vào cuộc sống Dịch
vụ thanh toán thẻ đã có một năm phát triển tích cực Đến hết năm 2008 các tổ chứcngân hàng trong nước đa phát hành 13,4 triệu thẻ tăng 46 % so với năm 2007 Sangđến năm 2009 đã có 17 triệu thẻ thanh toán, tăng 26% so với năm 2008 Đặc biệt số
Trang 31lượng website chấp nhận TTĐT đã tăng vọt, nếu năm 2007 chỉ có một vài websitethì sang năm 2008 đã só trên 70 doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhưngân hàng, hàng không, du lịch, siêu thị, doanh nghiệp TMĐT…triển khai thànhcông dịch vụ TTĐT cho khách hàng Và đến cuối năm 2009 số lượng websiteTMĐT sử dụng phương thức TTTT trong giao dịch với khách hàng đã tăng vọt sovới năm 2008 Điều này được xem là một tín hiệu tốt, một cơ hội phát triển lớn choOnepay.
Có thể nói hiện nay trên 80% các doanh nghiệp triển khai hệ thống TTTT hiện đang
là khách hàng và đối tác của Onepay Onepay đang là công ty cung cấp dịch vụTTĐT hàng đầu tại thị trường nội địa, là công ty có các số liệu chính xác nhất về thịtrường TTĐT tại Việt Nam Việc dẫn đầu về thị trường TTĐT trong nước là điều tấtyếu với Onepay Tuy nhiên các lợi thế cạnh tranh của Onepay cũng đang mất dần đibởi sự phát triển nhanh chóng của thị trường TTĐT Sự có mặt ngày càng nhiều củacác công ty trong ngành TTĐT đang đẩy thị trường bước vào cuộc đua gay gắt vềthị phần Để nâng cao khả năng cạnh tranh và khả năng dẫn đầu thị trường trongthời gian tới đòi hỏi Onepay không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ mà cần phải đadạng hóa các sản phẩm dịch vụ
Dưới đây là các thống kê về các ngân hàng và công ty tham gia thị trườngTTĐT tại Việt Nam:
Nhiều ngân hàng đã triển khai dịch vụ Internet Banking thành công như Ngânhàng ACB, NHTM cổ phần Đông Á được xem là ngân hàng tiên phong trong ápdụng các giải pháp công nghệ tiên tiến và nhanh nhất Đông Á cũng là NH triểnkhai thành công Internet Banking với rất nhiều dịch vụ da dạng cho khách hàng củamình Bên cạnh đó các Ngân hàng Vietcombank, Techcombank, SHB và BIDV cũng đã triển khai Internet Banking
3 Công ty CP mạng thanh Thanh toán ePOS, POS, mPay, cổng
Trang 32toán Vinapaynet TTĐT NetCash, thẻ trả trước.
4 Công ty VASC Payment TTTT cho các chủ tài khoản tại Ngân
hàng Ngoại thương và Kỹ thương
15 Tổng công ty truyền thông
đa phương tiện VTC
Cổng TTTT VTC PayGate
Bảng 3.1: Danh sách các công ty cung cấp dịch vụ TTĐT Nguồn: báo cáo
TMĐT Năm 2007
Quốc tế: hiện nay TTĐT đã rất phát triển trên thế giới với nhiều sản phẩm dịch
vụ đa dạng Bên cạnh TTĐT bằng thẻ thanh toán còn có các hình thức thanh toánkhác như thẻ thanh toán ảo, thanh toán qua mail, ví điện tử…chính vì vậy cuộc cạnhtranh giữa các ngân hàng phát hành thẻ, các tổ chức thẻ trên thế giới rất căng thẳng.Tính riêng ở Mỹ (năm 2008) thị phần thẻ thanh toán của Visa là 44%, MasterCardchiếm 31%, Amex là 20% và Discover là 5%