Việc tìm hiểu quan niệm về con người trong triết học Lútvích Phoiơbắc có ý nghĩa giúp ta có cái nhìn toàn diện về lịch sử quan niệm về con người trong triết học nói chung và những ưu điể
Trang 1
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
Giảng viên hướng dẫn: TS BÙI VĂN MƯA Học viên thực hiện : NGUYỄN ANH TUẤN
Số thứ tự : 114 Nhóm 6 - Lớp cao học Đêm 1 – K23
Trang 2Lời mở đầu ………….…… ……….… 1
Chương 1: Giới thiệu sơ lược về Lútvích Phoiơbắc và những nội dung cơ bản chủ nghĩa duy vật nhân bản ……….… 2
1.1 Giới thiệu sơ lược về Phoiơbắc ……… 2
1.2 Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc ……….……….3
1.2.1 Quan niệm về giới tự nhiên và con người ……… 3
1.2.2 Quan niệm về nhận thức ……… 5
1.2.3 Quan niệm về tôn giáo ……… 5
1.2.4 Quan niệm về đạo đức ……… ………7
Chương 2: Những giá trị, hạn chế và vai trò của chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc đối với sự ra đời của triết học Mác …………7
2.1.Những giá trị của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc ……….7
2.2 Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc ……… 10
2.3 Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với sự ra đời của triết học Mác ……… 15
Kết luận ……… 16
Tài liệu tham khảo ……….17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nhân loại luôn nhắc tới các nhà tư tưởng tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người, những người gắn suy nghĩ của mình với khát vọng vươn tới một cuộc sống tốt đẹp cho con người Những tư tưởng tiến bộ đó của họ luôn được các thời đại lịch sử tiếp theo phục hồi, phát triển và làm phong phú thêm nhờ nội dung xã hội mới, nội dung thể hiện tính tất yếu lịch sử và những nhu cầu xã hội cao hơn Lútvích Phoiơbắc với tư tưởng nhân đạo trong những quan niệm của ông về tôn giáo và sự giải phóng con người là một trong những người như vậy Ông vốn là người mang tư tưởng không khoan dung theo lối nhân đạo chủ nghĩa đối với mọi sự áp bức con người, luôn đặt niềm tin vào khả năng vô tận của lý trí con người coi khát vọng chân lý là cái không tương dung với chủ nghĩa giáo điều, song ông lại sống trong một thời đại
mà sự thống trị tinh thần thuộc về tôn giáo và các khái niệm của “tinh thần tuyệt đối”, ông đã chống lại sự thống trị đó Lútvích Phoiơbắc đối lập với Heghen, người coi toàn bộ thế giới hiện thực chỉ là hiện thân của “tinh thần tuyệt đối” được hiểu như một lực lượng siêu nhiên nhưng Lútvích Phoiơbắc thì cho rằng con người không phải
là nô lệ của thượng đế hay “tinh thần tuyệt đối” mà là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả phát triển của tự nhiên Theo ông, nhiệm vụ cao cả của triết học là đem lại cho con người một quan niệm mới về chính bản thân mình, một cuộc sống hạnh phúc và hơn nữa, tiến hành cuộc đấu tranh lý luận cho việc giải phóng con người
Xuất phát từ quan điểm đó mà Lútvích Phoiơbắc cho rằng triết học phải xuất phát từ chính con người, đem lại hạnh phúc cho con người Theo ông, con người mới
có tư duy và chỉ khi nào xuất phát từ chính con người thì vấn đề về tư duy và tồn tại mới được giải quyết một cách đúng đắn Do đó, đối tượng nghiên cứu của triết học mới là con người, và khoa học nghiên cứu bản chất con người là nhân bản học, nên triết học mới đó là triết học nhân bản hay nhân bản học phải là khoa học cơ sở và chung nhất cho mọi ngành khoa học Triết học mới mà Lútvích Phoiơbắc đã xây
dựng là triết học duy vật nhân bản.
Việc tìm hiểu quan niệm về con người trong triết học Lútvích Phoiơbắc có ý nghĩa giúp ta có cái nhìn toàn diện về lịch sử quan niệm về con người trong triết học nói chung và những ưu điểm, đóng góp lẫn những hạn chế của ông nói riêng và vai trò của triết học duy vật nhân bản với triết học của Mác
Trang 4Chương 1: Giới thiệu sơ lược về Lútvích Phoiơbắc và những nội dung
cơ bản chủ nghĩa duy vật nhân bản
1.1 Giới thiệu sơ lược về Phoiơbắc
Lútvích Phoiơbắc (1804-1872) sinh ra trong một gia đình luật sư nổi tiếng, đã từng tham gia phái Hêghen trẻ, về sau tách khỏi phái này rồi trở thành người phê phán hệ thống của Hêghen và xây dựng hệ thống triết học duy vật của riêng mình, ông là nhà triết học duy vật duy nhất và cũng là đại biểu cuối cùng trong nền triết học
cổ điển Đức, là bậc tiền bối của Mác, các tác phẩm của ông như “Phê phán triết học Heghen”, “Bản chất của đạo cơ đốc”, “Luận cương sơ bộ về cải cách triết học”, “Cơ
sở triết học tương lai”, “Bản chất của tôn giáo”… đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII và làm sinh động thế giới quan duy vật khoa học thời bấy giờ Ông là người đã đem đến sự kết thúc đầy ý nghĩa toàn bộ nền triết học phương Tây
cổ điển nói chung, triết học cổ điển Đức nói riêng
Tư tưởng cải cách triết học ở Phoiơbắc được hình thành từ năm 1829, khi ông vừa hoàn thành Luận án Tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và siêu hình học tại Erlangen Năm 1831, Hêghen mất và tám năm sau, Phoiơbắc công bố tác phẩm góp phần phê phán triết học Hêghen, qua đó đoạn tuyệt với thế giới quan duy tâm, trở thành nhà duy vật Vấn đề cải cách triết học được ông bàn đến ở hầu hết các tác phẩm sau đó, nhưng nổi bật nhất là trong ba tác phẩm kế tiếp nhau: gồm Bản chất của Cơ đốc giáo (1841), Luận cương sơ bộ về cải cách triết học (1842), Cơ sở triết học tương lai (1843) Đây cũng là các tác phẩm có sức thu hút lớn đối với Mác thời trẻ bởi tính kiên định, phân minh về thế giới quan và thiên hướng chính trị dân chủ, nhân văn của chúng
Luận điểm xuất phát của triết học Phoiơbắc là giới tự nhiên tồn tại không lệ thuộc vào ý thức, nó là cơ sở của tồn tại người, ngoài tự nhiên và con người, không
có gì cả, bản chất của Thượng đế chẳng qua là sự phản ánh hư ảo bản chất con người Nguyên tắc nhân bản nằm ở tính thống nhất của bản chất con người, tinh thần và thể xác, trong đó thể xác là bộ phận của thế giới khách quan, và ở chừng mực nào đó nó bao hàm cả tồn tại của thế giới ấy
Trang 5Khác với những người theo chủ nghĩa duy lý, Lútvích Phoiơbắc cho rằng con người khác với con vật không chỉ ở trí tuệ mà cả ở cảm xúc Cảm xúc của con người khác về chất với cảm giác vốn có ở động vật Sứ mệnh của lý tính không phải là ở việc lấn át bản tính cảm tính của con người mà là ở chỗ phát triển nó, phát triển nhân tính Đời sống con người trước hết là đời sống cảm tính, hạnh phúc con người khổng thể có được bên ngoài sự đa dạng, sự phong phú của hoạt động cảm tính và tình cảm
1.2 Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
1.2.1 Quan niệm về giới tự nhiên và con người :
Tiếp thu những thành tựu của khoa học tự nhiên trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật nhân bản, Phoiơbắc cho rằng, con người không phải là sản phẩm của Thượng
đế như các nhà thần học quan niệm, nó cũng không phải là sự tha hóa của ý niệm tuyệt đối như Hêghen nói, mà là sản phẩm của giới tự nhiên Dựa trên truyền thống
duy vật, Phoiơbắc cho rằng: giới tự nhiên vật chất có trước ý thức, tồn tại vô cùng
đa dạng, phong phú và tự nó; không gian, thời gian và vận động là thuộc tính cố hữu,
là phương thức tồn tại của vật chất - giới tự nhiên; trong những điều kiện nhất định, quá trình phát triển của giới tự nhiên sẽ dẫn đến sự ra đời của đời sống sinh học mà cao hơn là con người và đời sống xã hội của con người; con người muốn hiểu giới tự nhiên phải xuất phát từ chính bản thân mình, thông qua cảm giác và tư duy của chính mình
Giới tự nhiên, theo Phoiơbắc, có tính chất vật chất, vật thể, tính cảm giác được Vật chất không do ai sáng tạo ra, luôn luôn đã và sẽ tồn tại, nghĩa là vĩnh viễn,
nó không có khởi điểm và kết thúc, nghĩa là vô hạn Cần tìm hiểu nguyên nhân của
tự nhiên từ chính tự nhiên Nếu Xpinôda tuyên bố thực thể là causa sui - nguyên nhân tự thân, thì Phoiơbắc theo cách hiểu đó cũng khẳng định "tự nhiên là causa sui" Nếu Hêgen xem tự nhiên là thứ ý niệm đã tha hoá, hay tinh thần hoá đá, chết cứng, thiếu sáng tạo, thì Phoiơbắc lại nhấn mạnh yếu tố sản sinh và phát triển của nó Tự nhiên không phải là bản thể được nhào nặn từ cái tuyệt đối, thượng đế nào đó, mà là bản thể độc lập, không cần đến bất kỳ giá đỡ thần thánh nào Sự hình thành thế giới nói chung, Trái đất, Mặt trời là quá trình tự nhiên "Cú hích ban đầu của Chúa" mà Galilê và Niutơn hình dung, đối với Phoiơbắc, là sản phẩm của trí tưởng tượng khôi hài Nếu Hêgen xác lập ranh giới không thể vượt qua giữa thế giới vô cơ và thế giới
Trang 6hữu cơ, tự nhiên và tinh thần, thì Phoiơbắc lại từ lập trường của chủ nghĩa duy vật
mà khẳng định rằng, không có cái gì, kể cả sự sống, lại không hình thành từ vật chất Bên cạnh đó những dữ liệu do hoá học, sinh vật học và sinh lý học đem đến đều được Phoiơbắc sử dụng thành công trong việc phê phán cả chủ nghĩa duy tâm sinh lý học lẫn chủ nghĩa duy vật tầm thường
Phoiơbắc cũng cho rằng không thể tách con người ra khỏi giới tự nhiên, vì
con người là sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ
sở không thể thiếu của đời sống con người Do đó, theo ông thì con người vừa mang bản tính cá nhân, và con người - cá nhân cũng mang bản tính cộng đồng, có bản chất nằm trong tình yêu
Do mang bản tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt
có lý trí, có ý chí, có trái tim của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê,
để rung động cảm xúc Với bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một năng lực sáng tạo kỳ vĩ, năng lực này bắt nguồn từ trong cá tính cá nhân của mỗi con người, chứ không phải xuất phát từ Thượng đế
Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với
những người khác Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con người mà là hạnh phúc được kiếm tìm trong sự hòa hợp với mọi người, trong cộng đồng
Bản tính vừa cá nhân vừa cộng đồng của con người, theo Phoiơbắc, là cơ sở của tính ích kỉ hợp lý - thống nhất tính ích kỉ cá nhân với tính ích kỉ cộng đồng xã hội Phoiơbắc quan niệm rằng: “Chúng ta sẽ không thể là con người nếu không biết yêu; và một đứa trẻ chỉ trở thành người lớn khi nó biết yêu; tình yêu phụ nữ là tình
yêu phổ quát, ai không yêu phụ nữ người đó không yêu con người”
Nhìn chung, quan niệm của Phoiơbắc về con người thể hiện quan điểm của giai cấp tư sản muốn khẳng định cá tính sáng tạo của mỗi con người Nó có ưu điểm là
đã quan tâm đến con người (chủ yếu mặt tự nhiên - sinh học); song, nó còn có hạn chế
là đã tuyệt đối hóa tình yêu, coi tình yêu là bản chất con người mà không chú ý mặt lịch sử - xã hội, không thấy điều kiện chính trị-xã hội mà con người phải sống trong
đó
Trang 71.2.2 Quan niệm về nhận thức:
Khi đứng vững trên quan điểm duy vật về khả năng con người nhận thức được
và nhận thức ngày càng đầy đủ thế giới, Phoiơbắc cho rằng, giới tự nhiên và con người chứ không phải lý tính logic trừu tượng hay Thượng đế là khách thể của nhận thức Chủ thể nhận thức cũng không phải là lý tính logic trừu tượng mà là con người sống động, tồn tại trong thực tế, có cảm giác và lý trí Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận, còn tư duy lý luận xử lý tài liệu cảm tính để khám phá ra chân
lý Chân lý là sự phù hợp giữa tư tưởng trong chủ thể với đối tượng được tư tưởng -khách thể Nhờ vào năng lực của cảm giác và lý trí mà con người có khả năng nhận thức đầy đủ giới tự nhiên, nhưng đó là một quá trình lâu dài, thông qua các cá nhân và các thế hệ khác nhau
1.2.3 Quan niệm về tôn giáo:
Có thể nói, tư tưởng cơ bản bao quát toàn bộ triết học tôn giáo của Phoiơbắc
là chủ nghĩa vô thần được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật nhân bản
* Quan niệm của Phoiơbắc về nguồn gốc tôn giáo:
- Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
Theo Phoiơbắc việc nghiên cứu nguồn gốc của tôn giáo phải xuất phát từ việc nghiên cứu bản chất con người và đời sống hiện thực của nó Muốn làm được việc đó thì cần phải nhờ vào sức mạnh của lý tính Đời sống con người phải lệ thuộc vào giới
tự nhiên để tồn tại
- Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo:
Quan niệm về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo ở Phoiơbắc gắn liền một cách trực tiếp với quan điểm nhận thức của ông, theo đó thì nhận thức của con người
là kết quả tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan nhận biết, làm phát sinh
ra cảm giác Ông cho rằng việc phát sinh ra các quan niệm về tôn giáo nói chung về Thượng đế nói riêng gắn liền với sự phát triển của tư duy trừu tượng Nhờ sự phát triển của tư duy trừu tượng, con người đã khái quát hóa, trừu tượng hóa các sự vật hiện tượng riêng lẻ trong giới tự nhiên thành những khái niệm chung Nhưng sai lầm
Trang 8của con người ở chỗ là tuyệt đối hóa các khái niệm, biến chúng thành những tồn tại tinh thần độc lập
- Nguồn gốc xã hội của tôn giáo:
Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo không đơn giản là những ảo tưởng phi lý hoang đường mà còn là những mơ ước, khát vọng đời thường của con người Còn Thượng
đế chỉ là tập hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người muốn có Như vậy theo Phoiơbắc, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý và nhận thức của con người; không phải Thượng đế sinh ra con người mà chính con người đã sinh ra Thượng đế
* Quan niệm của Phoiơbắc về bản chất tôn giáo:
- Mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị:
Là một người có tư tưởng tự do cấp tiến, Phoiơbắc cho rằng tự do chính trị trong lịch sử quá khứ và lịch sử đương đại luôn có mối quan hệ ràng buộc với tôn giáo, những người làm chính trị đặc biệt là các vị vua trong triều đại phong kiến luôn
có tư tưởng thần thánh hóa các chính sách chính trị để dễ bề cai trị
- Mối quan hệ giữa tôn giáo với đạo đức:
Phoiơbắc cho rằng đạo đức là lĩnh vực quan hệ giữa người với người trong thế giới hiện thực sinh động, nó không liên quan gì tới thế giới bên kia Trong đạo đức, con người thiết lập quan hệ của nó với bản thân mình, với những người thân cận Còn trong tôn giáo, con người thiết lập quan hệ với một tồn tại tách khỏi bản tính con người, tức là thần thánh, thần thánh đối với con người như một lý tưởng đạo đức bù đắp những gì mà con người còn thiếu hụt
- Mối quan hệ giữa tôn giáo và triết học duy tâm:
Cả chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo đều tuyệt đối hóa tinh thần, coi nó như là một thực thể tồn tại độc lập tuyệt đối tách khỏi vật chất; cả hai đều tuyệt đối hóa nhân tố chủ quan, đề cao vai trò của trí tưởng tượng, đi đến quan điểm tách rời tư
duy khỏi tồn tại, cái chung khỏi cái riêng Ngoài ra cả hai đều có vai trò tiêu cực
trong đời sống xã hội, chúng đưa đến cho con người những nhận thức sai lầm về mối quan hệ giữa con người và thế giới bảo vệ những quan niệm cổ hủ, lạc hậu, sai lầm
Trang 91.2.4 Quan niệm về đạo đức:
Trong vấn đề đạo đức, Phoiơbắc hoàn toàn duy tâm cho rằng lòng mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh của con người, do đó nó phải là cơ sở của hạnh phúc Và để thực hiện lòng mong muốn hạnh phúc đó, Phoiơbắc đòi hỏi phải có sự tự hạn chế hợp lý bản thân mình và tình yêu giữa người với người lại trở thành những quy tắc
cơ bản của đạo đức Bằng sự bóc lột giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp và sự bất bình đẳng xã hội, Ănghen phê phán quan điểm đạo đức của Phoiơbắc "Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kì, mọi dân tộc và mọi hoàn cảnh và chính vì thế,
nó không thể đem áp dụng được ở đâu cả, cả đối với thế giới hiện thực" và Ănghen cho rằng : "Trong thực tế mỗi giai cấp và cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình" Như vậy quan niệm về đạo đức của Phoiơbắc vẫn chưa thoát khỏi sự trừu tượng, vì ông hiểu con người một cách trừu tượng, phi lịch sử, không thấy con người
là sản phẩm của xã hội, của lịch sử và con người là chủ thể của hoạt động
Chương 2: Những giá trị, hạn chế và vai trò của chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc đối với sự ra đời của triết học Mác
2.1 Những giá trị của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc:
Triết học Phoiơbắc đã khôi phục được truyền thống duy vật thế kỉ XVIII trong hoàn cảnh chủ nghĩa duy tâm thống trị đời sống tinh thần ở Phương Tây, và phát triển chủ nghĩa duy vật thêm một bước Ông đã trình bày sáng rõ nhiều quan điểm duy vật; ông phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và Cơ đốc giáo; ông biết đặt con người vào đúng tâm điểm phân tích triết học Triết học của ông chất chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là một cội nguồn tư tưởng của triết học Mac sau này
Theo đánh giá của Mac và Ănghen thì triết học của L.Phoiơbắc có những giá trị sau:
- Phê phán những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm cũng như của nhị nguyên luận trong việc tách đôi thể xác và tinh thần, tồn tại và tư duy, L.Phoiơbắc khẳng định rằng: "Quan hệ thực sự của tồn tại đối với tư duy là: tồn tại – chủ thể (sujective), tư duy – thuộc tính (prelicate) Tư duy xuất phát từ tồn tại, chứ không
Trang 10phải tồn tại xuất phát từ tư duy, cơ sở của tồn tại nằm ngay trong tồn tại, tồn tại chính
là cảm tính, là nguyên lý, trí tuệ, là sự tất yếu và chân lý; bản chất của tồn tại với tư
cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên" Tại sao tồn tại là chủ thể, còn
tư duy là thuộc tính của chủ thể đó? Để trả lời câu hỏi này, theo L.Phoiơbắc, chúng
ta cần sự giúp sức của sinh lý học và câu trả lời là: "Con người chỉ có thể suy nghĩ nhờ đầu óc tồn tại cảm tính của mình, lý tính có cơ sở cảm tính vững vàng trong đầu
óc, trong bộ não, trong sự tập trung của các giác quan" và "Tinh thần là sản phẩm có sau và hơn nữa là sản phẩm của trí tưởng tượng và trừu tượng, tinh thần phát triển cùng với thể xác, với con người nói chung; tinh thần liên quan với cảm giác, với đầu
óc, với các giác quan của cơ thể"
- Sau khi luận chứng và khẳng định tồn tại là chủ thể, tư duy là thuộc tính, ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, L.Phoiơbắc đã tìm hiểu sâu hơn bản chất tự nhiên – sinh học của con người "Bản chất chung của con người là gì? Những nhân
tính cơ bản trong con người là gì? Đó là lý tính, ý chí và trái tim Trong ý chí, tư duy
và tình cảm luôn chứa đựng bản chất tối cao, tuyệt đối của con người và mục đích
tồn tại của nó, con người tồn tại để nhận thức, yêu thương và mong muốn Nhưng mục đích của lý tính, của ý chí, của tình yêu là để làm cho con người trở thành người tự do" Với luận điểm này, ông muốn chứng minh rằng, bản chất chung của con người là tổng hoà mọi khát vọng chính trị, mọi năng lực nhận thức và nhu cầu tự nhiên – sinh học trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của con người
- Mọi mong muốn chính trị, khát vọng tự nhiên của con người, theo quan điểm của L.Phoiơbắc, không phải xuất phát từ tư tưởng thuần tuý, mà chúng phản ánh đời sống hiện thực và do đời sống đó quy định Đây là luận điểm mới so với đương thời, nhấn mạnh điều kiện sinh hoạt vật chất quy định suy nghĩ và tư tưởng của con người
- Nhấn mạnh tính cá thể của con người, song L.Phoiơbắc cũng hé mở một ý tưởng cho rằng, trong quá trình sống, con người giao tiếp với những người khác, với cộng đồng xã hội Do tiếp xúc với xã hội mà từ một tồn tại thuần tuý vật lý, con người trở thành một tồn tại chính trị, nói chung trở thành một cái gì đó khác với tự nhiên, tồn tại đó chỉ quan tâm đến bản thân mình Con người – L.Phoiơbắc viết – là một tồn tại của tự do, tồn tại có nhân cách, tồn tại của luật pháp Vấn đề quan trọng