- Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của triết học cổ điển Đức là tính chất duy tâm khách quan của Hêghen, còn về chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc thì xét về thực chất không vượt qua được trình độ
Trang 1Viện Đào tạo Sau Đại Học
- -BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài 11: “Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mac”
TP.HCM tháng 12/2014
HVTH: Bùi Lý Thảo Trinh STT: 110 Nhóm: 6 Lớp: QTKD1 Khóa: 23 GVPT: TS Bùi Văn Mưa
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
- Triết học cổ điển Đức là một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn nhưng nó
đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học Trước hết, nó đã từng bước khắc phục những hạn chế siêu hình của triết học duy vật thế kỷ XVII, XVIII Thành quả lớn nhất của nó là những tư tưởng biện chứng đã đạt tới trình độ một hệ thống lý luận – điều mà phép biện chứng cổ đại Hy Lạp đã chưa đạt tới và chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII cũng không
có khả năng tạo ra
- Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của triết học cổ điển Đức là tính chất duy tâm khách quan của Hêghen, còn về chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc thì xét về thực chất không vượt qua được trình độ chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII Tây Âu
- Những hạn chế và thành quả của triết học cổ điển Đức đặc biệt là những vấn đề trong triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc đã được triết học Mác khắc phục, kế thừa và nâng lên một trình độ mới của chủ nghĩa duy vật hiện đại
- Để tìm hiểu rõ hơn nội dung triết học Phoiơbắc và những vai trò của nó
đến triết học Mac nhóm 6 đã chọn đề tài: “ Nội dung triết học nhân bản
của Phoiơbắc và vai trò của nó đối với triết học Mác”.
- Mục đích: Tìm hiểu nội dung, thành tựu và hạn chế của triết học Phoiơbắc
từ đó tìm ra những vai trò ảnh hưởng của triết học nhân bản Phoiơbắc đến triết học Mác
- Do giới hạn của đề tài nên chỉ tìm hiểu nội dung tư tưởng cơ bản và đưa ra vai trò cơ bản của triết học nhân bản Phoiơbắc đến triết học Mác
Trang 3NỘI DUNG
Chương 1: Những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật
nhân bản Phoiơbắc
1.1 Giới thiệu sơ lược về Phoiơbắc:
- Lútvích Phoiơbắc là một đại biểu lỗi lạc của nền triết học cổ điển Đức, nhà duy vật lớn nhất của triết học thời kỳ truớc Mác, nhà vô thần học, bậc tiền bối của triết học Mác Ông sinh năm 1804 trong một gia đình luật sư nổi tiếng ở Đức Ông đã theo học ở trường đại học tổng hợp Béclin, tham gia phái Hegel trẻ Về sau ông tách ra khỏi phái này, trở thành người phê phán hệ thống của Hegel, xây dựng hệ thống triết học duy vật riêng của mình Các tác phẩm triết học lớn của ông là” Những nguyên lý cơ bản của triết học tương lai” (1843), Bản chất của cơ đốc giáo”, “Lịch sử triết học” Trong các tác phẩm này, Phoiơbắc luận chứng cho những quan điểm duy vật của ông
1.2 Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc:
- Năm 1831, Hêgen mất, tám năm sau, Phoiơbắc công bố tác phẩm Góp phần phê phán triết học Hêgen, qua đó đoạn tuyệt vời thế giới quan duy tâm, trở thành nhà duy vật Vấn đề Cải cách triết học của Phoiơbắc thể hiện trước hết trong việc giải quyết một cách duy vật vấn đề cơ bản của triết học - mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, tư duy và tồn tại Trong khi giải quyết vấn đề này, Phoiơbắc đã đưa thuyết nhân bản đến gần chủ nghĩa duy vật Luận điểm xuất phát của triết học Phoiơbắc là giới tự nhiên tồn tại không lệ thuộc vào ý thức, nó là cơ sở của tồn tại người, ngoài tự nhiên và con người thì không có gì cả, bản chất của Thượng đế chẳng qua
là sự phản ánh hư ảo bản chất con người
- Nguyên tắc nhân bản nằm ở tính thống nhất của bản chất con người, tinh thần và thể xác, trong đó thể xác là bộ phận của thế giới khách quan, và ở chừng mực nào đó nó bao hàm cả tồn tại của thế giới ấy, xoá bỏ sự tách rời giữa tinh thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên tạo ra "Triết học mới Phoiơbắc viết: biến con người, gồm cả tự nhiên với
tư cách cơ sở của con người, thành đối tượng duy nhất, phổ quát và cao
Trang 4nhất của triết học và do đó, biến thuyết nhân bản, trong đó có triết học thành khoa học phổ quát"
1.2.1 Quan niệm về giới tự nhiên và con người:
* Về giới tự nhiên:
- Vật chất - giới tự nhiên có truớc ý thức, tồn tại vô cùng đa dạng và độc lập: không gian, thời gian và vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại vật chất - giới tự nhiên Sự vận động của giới tự nhiên tuân theo quy luật nhân quả là đời sống sinh học, con người và xã hội Con người thống nhất với giới tự nhiên, giới tự nhiên - cơ thể vô cơ của con người
- Dựa trên truyền thống duy vật, PhoiơBắc cho rằng: giới tự nhiên vật chất
có trước ý thức, tồn tại vô cùng đa dạng, phong phú và tự nó Không gian, thời gian và vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất – giới tự nhiên, bản thân giới tự nhiên bị chi phối bởi mối liên hệ nhân quả nên không ngừng vận động, phát triển trong không gian, thời gian, theo các quy luật khách quan nội tại; trong những điều kiện nhất định Quá trình phát triển của giới tự nhiên sẽ dẫn đến sự ra đời của đời sống sinh học mà cao hơn là con người và đời sống xã hội của con người Con người muốn hiểu giới tự nhiên phải xuất phát từ chính bản thân mình, thông qua cảm giác và tư duy của chính mình – một đoá hoa rực rỡ của giới tự nhiên, để nhận thức giới tự nhiên, tức tất cả nhừng gì không phải là siêu nhiên… => Theo ông, giới tự nhiên là ánh sáng, điện từ, từ tính, không khí, nước, lửa, đất, động vật, thực vật, là con người, bởi vì con người là một thực thể hoạt động; trong đó, con người là sản phẩm tiến hoá cao nhất của giới tự nhiên
* Về con người:
- Con người trong triết học Phoiơbắc là con người cụ thể bằng xương, bằng thịt Bản chất con người là tổng thể những khát vọng, khả năng, nhu cầu của anh ta Phoiơbắc cũng nhận thấy ảnh hưởng to lớn của môi trường, điều kiện sống, hoàn cảnh đối với tư duy và nhận thức của con người Con người được Phoiơbắc hiểu theo nghĩa cá thể (individium): mỗi người đều
Trang 5có những nét riêng biệt mà không ai có, vì vậy bản chất con người rất đa dạng “Tất cả chúng ta là những con người, nhưng mỗi con người lại là một người khác”
- Quan niệm của Phoiơbắc về con người được xây dựng trên nền tảng duy vật, đề cao tính cá thể của con người, nhấn mạnh sự năng động và sáng tạo của cá nhân con người Tuy nhiên, hạn chế của Phoiơbắc ở đây là ông chưa thấy con người được tạo nên và chi phối bởi các mối quan hệ xã hội như thế nào Ông chỉ xét con người về mặt sinh học mà thôi (là một bộ phận của tự nhiên, tách rời các điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử Ông không coi trọng thực tế là mỗi người tuy là cá thể nhưng lại sinh ra trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, thuộc một dân tộc và một thời đại lịch sử nhất định, thuộc một tầng lớp hoặc giai cấp nhất định, thuộc một dân tộc
và một thời đại lịch sử nhất định Vì vậy theo nhận xét của Engel, con người của Phoiơbắc là con người phi lịch sử, phi giai cấp…và vì vậy cực
kì trừu tượng
1.2.2 Quan niệm về nhận thức:
- Ông là người có công lớn trong việc phát triển lý luận nhận thức duy vật Ông cho rằng, thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức và con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan, khả năng nhận thức của con người là vô tận Ông kiên quyết chống lại thuyết không thể biết của I.Cantơ
- Nhận thức theo ông gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức
lý tính
- Khách thể của nhận thức – giới tự nhiên và con người chứ không phải lý tính logic trừu tượng hay thượng đế
- Chủ thể của nhận thức: con người đang tồn tại có cảm giác và lý trí
- Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận, tư duy lý luận xử lý tài liệu cảm tính để khám phá ra chân lý Chân lý là sự phù hợp của tư tưởng trong chủ thể với đối tượng được tư tưởng - khách thể Nhờ vào năng lực của cảm giác và lý trí mà con người có thể nhận thức đầy đủ giới
Trang 6tự nhiên, đó là một quá trình lâu dài, thông qua các cá nhân và các thế hệ khác nhau
- Phoiơbắc đã tiếp tục truyền thống cảm giác luận duy vật, chống lại thuyết không thể biết và lối tư biện trừu tượng Ông không phủ nhận vai trò của
tư duy trong nhận thức, nhưng ông không thấy được vai trò của thực tiễn trong nhận thức Vì không thấy thực tiễn trong động lực phát triển xã hội nên ông cố đi tìm nó trong tình yêu Do không xuất phát từ quan điểm thực tiễn mà trong lĩnh vực xã hội Phoiơbắc cũng như mọi nhà tư tưởng trước Mác đều sa vào chủ nghĩa duy tâm, quá đề cao sức mạnh tinh thần, trước hết là giáo dục, đạo đức, pháp luật… mà không thấy vai trò của nền sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Do đó chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc chưa thoát khỏi tính trực quan của chủ nghĩa duy vật trước Mác
1.2.3 Quan niệm về tôn giáo:
- Tôn giáo, theo ông, là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và bản chất con người Người ta ai cũng sợ chết, cần có niềm tin, và an ủi Bản chất của thần học, do vậy, chứa đựng trong nhân bản học, là sản phẩm của sự tưởng tượng phong phú của con người Tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với các vấn đề xã hội
- Tôn giáo thực chất là sự thể hiện bản chất của con người dưới hình thức thần bí Phoiơbắc nói: "Tư tưởng và dụng ý của con người như thế nào thì chúa của con người như thế Giá trị của chúa không vượt quá giá trị con
người Ý thức của Chúa là tự ý thức của con người, nhận thức của chúa là
tự nhận thức của con người" Thực ra "bản chất thần thánh không là cái gì
khác, mà là bản chất của con người, nhưng đã được tinh chế, khách quan hoá, tách rời với con người hiện thực bằng xương, bằng thịt"
Tóm lại, tôn giáo là bản chất của con người đã bị tha hoá "Thánh thần của con người có trong tinh thần và trái tim của anh ta" (L.Phoiơbắc: tuyển
tập triết học Matxcơva 1957 T.2 tr 42 - 43- Tiếng Nga)
Trang 7* Một số vấn đề rút ra từ học thuyết của Phoiơbắc về tôn giáo :
- Những quan niệm trên đây của Phoiơbắc về cơ bản đã chỉ ra nguồn gốc tâm lý, tình cảm và tâm linh của con người đối với tôn giáo, đòng thời cho thấy nội dung nhăn bản trong các quan niệm thần thánh nhưng chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế chính trị- xã hội và văn hoá của vấn đề
- Tuy phê phán kịch liệt tôn giáo, nhưng Phoiơbắc thực tế chỉ phê phán Cơ đốc giáo Còn tôn giáo nói chung, theo ông, vẫn là điều cần thiết đối với đời sống con người Cho nên thay vào Cơ đốc giáo, con người "cần một tôn giáo mới", vì chỉ có tín ngưỡng, niềm tin mới an ủi được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong cuộc đời con người Mặc dù sự an ủi trên là giả dối nhưng chúng ta không thể làm gì khác và phải chấp nhận sự dối trá đó Đúng như Engel nhận xét rằng "Phoiơbắc hoàn toàn không muốn xoá bỏ tôn giáo, ông muốn hoàn thiện tôn giáo Ngay cả triết học cũng phải hoà vào tôn giáo Thứ tôn giáo mà Phoiơbắc đề cao hiểu theo nghĩa của ông là tôn giáo tình yêu, là quan hệ thân thiện giữa người và người Tôn giáo tình yêu của Phoiơbắc dựa trên triết học nhân bản của ông Ông cho rằng nó phản ánh được cái gì đó vĩnh hằng trong con người Vì vậy, nó cần thiết phải tồn tại chừng nào xã hội loài người còn tồn tại Và phải hình thành nên tình cảm tôn giáo
- Ông chưa hiểu được các nguồn gốc tâm lý, kinh tế - xã hội, giai cấp, văn hóa của tôn giáo Mặc dù ông đã thấy được mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo
- Ông cho rằng, xã hội loài người cần đến tôn giáo vì nó có thể đáp ứng những thiếu hụt mà con người không có được
- Hơn nữa, ông không muốn khắc phục những điều kiện làm nảy sinh tôn giáo, muốn thay Cơ đốc giáo bằng một tôn giáo mới – Tôn giáo tình yêu – khi ấy người với người là thượng đế của nhau
1.2.4 Quan niệm về đạo đức:
- Xuất phát từ tinh thần nhân bản nên quan niệm về đạo đức của ông cũng đầy tính nhân bản, với ông khát vọng hạnh phúc là cơ sở của mọi hành vi
Trang 8của con người Về bản chất con người cố gắng đạt cái mà mình cho là tốt, tránh cái mà mình cho là không tốt
- Cũng vì đứng trên lập trường nhân bản nên ông gắn cảm giác với đạo đức, bởi lẽ, theo ông điều tốt đem lại cho con người cảm giác vui, hạnh phúc, thỏa mãn; ngược lại, điều xấu đem lại cảm giác đau đớn, xót xa, dằn vặt Ông khuyên răn con người không nên tham lam, ích kỷ
* Quan niệm về đạo đức của ông về cơ bản có tinh thần nhân văn, vì con người Tuy nhiên, cũng còn có những hạn chế, chẳng hạn:
- Ông cho rằng các hiện tượng phi đạo đức chỉ là những hiện tượng ngẫu nhiên trong xã hội, bằng tình yêu sẽ xây dựng đạo đức mới, đạo đức có sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và xã hội Đặc biệt, ông đã xây dựng nên một thứ đạo đức trừu tượng, tách rời đời sống xã hội, phi giai cấp, phi lịch
sử, thứ đạo đức vĩnh hằng cho mọi thời đại Về cơ bản ông chỉ nói đến tính nhân loại của đạo đức, chưa nói đến tính dân tộc, tính giai cấp, tính lịch sử của đạo đức
Trang 9Chương 2: Những giá trị, hạn chế và vai trò của chủ nghĩa duy vật
Phoiơbắc đối với sự ra đời của triết học Mác
2.1 Những giá trị của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc:
- Phoiơbắc đã khôi phục và phát triển thêm chủ nghĩa duy vật thế kỉ 18 trong hoàn cảnh chủ nghĩa duy tâm thống trị ở phương Tây Ông trình bày sáng rõ nhiều quan điểm duy vật và phê phán triệt để chủ nghĩa duy tâm
và cơ đốc giáo
- Ông biết đặt con người vào đúng tâm điểm phân tích triết học
- Triết học của ông chứa đầy tính duy vật và nhân bản, nó là cội nguồn tư tưởng của triết học Mác
- Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc là đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh chống lại việc giải thích duy tâm, nhị nguyên luận, thậm chí cả chủ nghĩa duy tâm tầm thường về vấn đề con người Song, nguyên lý nhân bản học của Phoiơbắc không triệt để, vì ông hiểu con người chỉ là những
cá nhân trừu tượng, là thực thể thuần tuý tự nhiên - sinh vật Ông không thấy được mặt xã hội của con người trong hoạt động biến đổi hiện thực
- Mặt tích cực trong triết học nhân bản của Phoiơbắc còn ở chỗ ông đấu tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo thiên chúa, đặc biệt là quan niệm về Thượng đế Trái với các quan niệm tôn giáo và thần học cho rằng Thượng đế tạo ra con người, ông khẳng định chính con người tạo ra Thượng đế Khác với Hêghen nói về sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối Phoiơbắc nói về sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng
đế Ông lập luận rằng bản chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện nghĩa là hướng tới cái gì đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế những cái đó co người không đạt được nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng đế; từ đó ông phủ nhận mọi thứ tôn giáo và thần học về một vị Thượng đế siêu nhiên đứng ngoài sáng tạo ra con người, chi phối cuộc sống con người
2.2 Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc:
- Phoiơbắc hiểu về phép biện chứng, lý giải đối tượng triết học, phân tích bản chất con người, hiểu thực tiễn và xác định vai trò của nó trong nhận
Trang 10thức, trong đời sống xã hội…còn hời hợt và siêu hình, quan niệm về xã hội còn đầy tính duy tâm, thái độ đối với tôn giáo không nhất quán
- Quan niệm về con người rất trừu tượng, phi lịch sử (giai cấp, dân tộc); chỉ quan tâm đến mặt tự nhiên siêu hình mà không chú ý mặt xã hội và điều kiện chính trị xã hội của con người; tuyệt đối hóa tình yêu và coi tình yêu
là bản chất của con người
- Coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại, thụ động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể; coi thực tiễn mang tính thấp hèn, cần được loại ra khỏi nhận thức, trục xuất ra khỏi hệ thống triết học, không hiểu hoạt động khoa học cũng là hoạt động thực tiễn, không thấy được vai trò to lớn của thực tiễn đối trong quá trình nhận thức hay hoàn thiện nhân cách con người, thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng, xã hội nói chung
- Đề cao sức mạnh tinh thần (giáo dục, đạo đức, pháp luật), không thấy được nguồn gốc, động lực phát triển và phương tiện cải tạo xã hội
- Triết học của Phoiơbắc không sâu, còn nhiều quan niệm siêu hình, phiến diện trong lý giải đối tượng triết học, trong việc phân tích bản chất con người, trong việc tìm hiểu thực tiễn và xác định vài trò của nó trong nhận thức và cuộc sống… Đặc biệt trong việc xác định nguồn gốc, động lực phát triển và phương tiện cải tạo xã hội Quan điểm của Phoiơbắc còn đầy tính duy tâm, thái độ đối với tôn giáo của ông không nhất quán
- Trong quan hệ đối với triết học của Hêghen, ông có thái độ phủ định sạch trơn, không thấy được thành tựu quý giá của Hêghen là phép biện chứng
để kế thừa và phát triển Ông hiểu tính quy luật, tính tất yếu, tính nhân quả một cách siêu hình Cho nên chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông còn mang nặng tính siêu hình
- Những hạn chế của nguyên tắc nhân bản trong thế giới quan của Phoiơbắc còn thể hiện rõ trong việc nghiên cứu tôn giáo và đạo đức Ở lĩnh vực này, ông lại rơi vào lập trường duy tâm thể hiện trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo và ý định đưa ra những nguyên tắc đạo đức chung cho mọi dân tộc, mọi thời đại lịch sử