1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

58 837 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Tác giả Mai Thu Thuỷ
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 541,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Trang 1

Lêi më ®ÇuCon người là vốn quý của tự nhiên và của xã hội Bảo vệ quyền con người làmục tiêu của các thiết chế Nhà nước dân chủ và tiến bộ Bảo đảm thực hiện có hiệuquả quyền công dân là tiêu chí đánh giá sự văn minh, tiến bộ của một xã hội hiện đại.Ngày nay, đất nước ta đang trên đà phát triển về mọi mặt Song song với việc pháttriển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng chăm lo xây dựng một Nhà nước pháp quyềncủa dân, do dân và vì dân, xây dựng một hệ thống pháp luật bảo đảm cho việc pháttriển các quyền tự do dân chủ của công dân.

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một quyền quan trọng củacông dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Nguyêntắc bảo đảm quyền bào chữa là nguyên tắc Hiến định được ghi nhận trong tất cả cácbản Hiến pháp đã ban hành của nước ta Đồng thời đây cũng là một nguyên tắc đặcthù của luật Tố tụng hình sự (TTHS).Việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế đãgóp phần không nhỏ vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo; giúp cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) và Toà ángiải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

Tuy nhiên, thực tiễn TTHS cho thấy, việc bảo đảm quyền bào chữa của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo chưa được thực hiện một cách đầy đủ, nhiều cơ quan tiến hành

tố tụng (THTT), người THTT và những người tham gia tố tụng vẫn còn xem nhẹnguyên tắc này Tình trạng bắt, giam giữ, xét xử oan sai vẫn còn tồn tại trên thực tế tốtụng Mặt khác, vấn đề lý luận của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa: khái niệm,chủ thể, nội dung của quyền bào chữa; khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữacủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ

Đề tài: nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

là một đề tài mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc; đây cũng là đề tài gây cho emnhiều hứng thú nghiên cứu và tìm hiểu trong quá trình học tập tại trường Mục đíchnghiên cứu của em khi lựa chọn đề tài này là: Nghiên cứu nhằm làm rõ một số vấn đề

lý luận chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo; Làm rõ nội dung và sự thể hiện của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS hiện hành; Nghiên cứu thựctrạng thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo, tìm hiểu những hạn chế vướng mắc, nguyên nhân của chúng từ đó đưa ra cáckiến nghị, giải pháp khắc phục hạn chế và hoàn thiện pháp luật

Trang 2

Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, trên cơ sở của phương pháp duyvật biện chứng, duy vật lịch sử chúng tôi đã sử dụng những phương pháp như: sosánh, phân tích, tổng hợp, lôgic

Kết cấu của khoá luận gồm lời nói đầu, ba chương, kết luận và danh mục tài liệutham khảo

Đây là lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, kiến thức lý luận và thực tế chưa đầy

đủ nên những thiếu sót trong khoá luận là không thể tránh khỏi, em rất mong nhận đượcnhững ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN

BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO

1.1 Khái niệm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của các cuộc đấu tranh giành các quyền dânchủ và tiến bộ Các quyền tự do, dân chủ mà con người có được ngày nay là kết quảcủa quá trình đấu tranh lâu dài, bền bỉ của những lực lượng tiến bộ chống lại nhữngthế lực độc tài, phản dân chủ trên thế giới Một trong những quyền dân chủ mà conngười giành được trong các cuộc đấu tranh này là quyền bào chữa Ở tất cả các nướctiến bộ trên thế giới, quyền bào chữa đều đã được ghi nhận, được coi là nguyên tắcHiến pháp và được cụ thể hoá trong những quy định của Bộ luật TTHS Tính đến nay,Nhà nước ta đã ban hành bốn bản Hiến pháp và trong tất cả các bản Hiến pháp đó đềughi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS

Quyền bào chữa là một chế định quan trọng của luật TTHS nhưng khái niệm, chủthể, nội dung của quyền bào chữa vẫn còn là những vấn đề gây tranh cãi giữa các nhàkhoa học pháp lý cũng như những cán bộ làm công tác áp dụng pháp luật

Quan điểm thứ nhất là quan điểm trong luật TTHS một số nước thuộc hệ thốngpháp luật Common Law: TTHS được coi là bắt đầu từ thời điểm vụ án hình sự đượcchuyển sang Toà án và quyền bào chữa chỉ thuộc về bị cáo

Quan điểm thứ hai cho rằng: quyền bào chữa thuộc về bị can, bị cáo(1)

Quan điểm thứ ba cho rằng: trong TTHS, bị can, người bị tình nghi cũng nhưnhững công dân tham gia trong tố tụng với tư cách khác trong đó có cả người bị hạiđều cần có sự bảo vệ các lợi ích có thể bị xâm phạm Như vậy, theo tác giả thì quyềnbào chữa có cả trong trường hợp mà ở đó không có sự buộc tội Cùng quan điểm nhưvậy, một số tác giả khác cũng cho rằng: “ Không chỉ có bị cáo mà người bị hại cũngcần đến việc bào chữa Nhân chứng, giám định viên và những người khác cũng vậynếu quyền lợi của họ bị xâm hại”(2)

Quan điểm thứ tư: quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng dongười bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy

H.2006, tr 33.

Trang 4

định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quanTHTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự(1).Quan điểm thứ năm là quan điểm trong Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003:quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Ngoài các quan điểm trên trong Bộ luật TTHS của các nước trên thế giới cũng cónhững quan điểm hết sức khác nhau về chủ thể của quyền bào chữa

Bộ luật TTHS Liên Bang Nga quy định: “Người bào chữa được tham gia tố tụng

từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp người bị tình nghi thựchiện tội phạm bị tạm giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trước khi khởi

tố bị can thì từ khi nhận được biên bản về việc bắt hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặntạm giam” (Điều 47)(2)

Theo Bộ luật TTHS Nhật Bản thì quyền bào chữa chỉ thuộc về người bị tình nghi

và bị cáo Điều 30 Bộ luật này quy định: “Bị cáo hoặc người bị tình nghi có thể lựachọn luật sư bất cứ lúc nào”(3)

Để tìm hiểu rõ hơn về các quan điểm trên trước hết chúng ta hãy đi tìm hiểu kháiniệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang,người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ

đã có quyết định tạm giữ (khoản 1 Điều 48 Bộ luật TTHS năm 2003)

Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự (khoản 1 Điều 49 Bộ luật TTHS năm 2003)

Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử (khoản 1 Điều 50 Bộ luậtTTHS năm 2003)

Trong các xã hội công dân, đặc biệt là trong xã hội XHCN, người công dân đượchưởng những quyền và lợi ích hết sức rộng lớn, Hiến pháp và pháp luật ghi nhận vàbảo đảm cho việc thực hiện các quyền này Điều 71 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCNViệt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được phápluật bảo hội về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm…Nghiêm cấm mọi hìnhthức bức cung, dùng nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”

Quyền bào chữa là một trong rất nhiều quyền của công dân, là bộ phận hợp thànhcủa quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình “Bào chữa là hành vi của một ngườiđưa ra các tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặc làm giảm lỗi của

Trang 5

mình” Vì vậy, quyền bào chữa chỉ thuộc về người nào bị coi là có lỗi bao gồm cả lỗi

kỷ luật, lỗi hành chính, lỗi dân sự, lỗi hình sự Quyền bào chữa với ý nghĩa là kháiniệm chung bao hàm cả quyền bào chữa của người bị coi là có lỗi hành chính, lỗi kỷluật, quyền bào chữa của bị đơn dân sự (trong tố tụng Dân sự) và quyền bào chữa củangười bị coi là có lỗi hình sự (quyền bào chữa trong TTHS)

Như vậy, quyền bào chữa trong TTHS với quyền bào chữa ở trên có mối quan hệgiữa cái chung với cái riêng Người nào bị coi là có lỗi hình sự, bị buộc tội thì cóquyền bào chữa trong TTHS – sau đây gọi tắt là quyền bào chữa

“Như một chức năng tố tụng, bào chữa tồn tại ở tất cả các giai đoạn của TTHS ởđâu có buộc tội thì ở đó có bào chữa”(1) “Buộc tội trong TTHS là hành vi của các cơquan THTT nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người buộc tội trên cơ sở cácchứng cứ về hình sự đã được xác định ở thời điểm ấy”(2)

Bị can bị buộc tội bằng quyết định khởi tố bị can, phải chịu những hậu quả pháplý: bị điều tra hình sự, có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS…Bị cáo bịbuộc tội bằng bản cáo trạng của VKS, hậu quả pháp lý của việc buộc tội này là bị cáo

có thể bị kết án, có thể phải chịu hình phạt…Người bị tạm giữ tuy chưa bị buộc tộibằng một văn bản có tính chất pháp lý nhưng đối với họ đã có quyết định tạm giữ và họ

đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng là tạm giữ “Cơ sở coi một người là người bịtình nghi phạm tội là các dữ kiện khách quan và không thể bắt giữ một người khi ĐTV vàCQĐT “nghi” là họ phạm tội vì bản thân sự nghi ngờ mang tính chủ quan”(3)

Vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng quan điểm của Bộ luật TTHS Việt Nam

2003 về quyền bào chữa là hoàn toàn chính xác Quyền bào chữa chỉ thuộc về nhữngchủ thể: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - những người bị buộc tội với nội dung: đưa

ra những chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặc làm giảm lỗi của mình (lỗihình sự) Ngoài những chủ thể trên, những người khác – không chịu sự buộc tội thìkhông có quyền bào chữa, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình họ có thể sửdụng những quyền năng khác được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện

Từ những phân tích ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về quyền bào chữa trong

TTHS như sau: “Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự”.

Trang 6

Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị

cáo có thể được xác định như sau: Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một quy định của luật TTHS trong đó xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa đồng thời quy định các cơ quan THTT có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật”.

1.2 Cơ sở của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,

“quyền xã hội” - sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan

hệ xã hội Mác cũng khẳng định không có quyền con người chung cho mọi chế độ xãhội mà quyền con người phụ thuộc vào từng phương thức sản xuất nhất định với từngchế độ chính trị xã hội – kinh tế - văn hoá nhất định

Khái niệm nhân quyền có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại dưới dạng các quyền

tự nhiên của con người như quyền được sống… Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, người

nô lệ không được coi là con người, không có và không được thừa nhận các quyền conngười Chế độ phong kiến so với chế độ nô lệ đã là một bước tiến trong việc giành lại

tự do và giải phóng con người Giai cấp tư sản là những người đầu tiên nêu ngọn cờnhân quyền, biết lợi dụng những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, vốn là yêu cầu bứcthiết của nhân dân lao động, tuyệt đối hoá tự do cá nhân, nhấn mạnh các yếu tố cánhân trong khái niệm quyền con người – “quyền tư hữu thiêng liêng” Lần đầu tiêncác quyền con người được ghi nhận trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngônđộc lập của Mỹ 1776, Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của Pháp1789… Tuy vậy giai cấp Tư sản chỉ tập trung nhấn mạnh quyền dân sự, chính trị, coinhẹ quyền kinh tế, văn hoá, xã hội - những cơ sở và điều kiện quan trọng để người laođộng thoát khỏi đói nghèo và bóc lột Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo nên mộtphạm trù mới về quyền con người: đó là các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội Từ sauchiến tranh Thế giới thứ II, các nước XHCN đã đi đầu trong việc nêu bật các quyềndân tộc cơ bản như một bộ phận thiết yếu của quyền tập thể, đưa ra cách đề cập toàn

Trang 7

diện và biện chứng hơn về nhân quyền Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của loàingười, các quyền con người cũng tiếp tục phát triển.

Trong mỗi quốc gia, quyền công dân là một nội dung cơ bản của quyền con người, là

sự thể hiện cụ thể của quyền con người Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua Điều 50Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: “Ở nước Cộng hoà XHCN ViệtNam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng,thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”

Quyền con người, quyền công dân được chia thành các nhóm chính sau :

+ Các quyền tự do, dân chủ về chính trị: tham gia quản lý Nhà nước, bầu cử,bình đẳng nam nữ…

+ Các quyền về kinh tế - xã hội: quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền

sở hữu tài sản hợp pháp, quyền thừa kế…

+ Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân): quyền được pháp luật bảo hộ về tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo…(1)

Các quyền con người đã trở thành một giá trị pháp lý được quốc tế hoá khi Đạihội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bản Tuyên ngôn về nhân quyền ngày 10/12/1948.Khoản 1 Điều 11 tuyên ngôn này khẳng định: “Bị cáo về một tội hình sự được suyđoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên toà xét xửcông khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ”(2)

Như vậy trước khi có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật, người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo vẫn chưa bị coi là người có tội, họ vẫn là những công dân, những conngười, chỉ khác là họ đang chịu sự buộc tội và phải chịu những biện pháp tố tụng.Những biện pháp tố tụng được tiến hành đối với họ có thể hạn chế quyền tự do hayđộng chạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ vềdanh dự, nhân phẩm… - những nội dung cơ bản của quyền con người Để đảm bảo cácbiện pháp đó được tiến hành một cách cần thiết và hợp pháp tránh được sự độc đoánmột chiều từ phía các cơ quan THTT, pháp luật đã quy định người bị tạm giữ, bị can, bịcáo có quyền bào chữa và cơ chế bảo đảm quyền bào chữa được thực hiện

Có thể thấy rằng quyền bào chữa là một nội dung cơ bản thể hiện quyền conngười và quyền con người là cơ sở lý luận của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữatrong TTHS Việt Nam

2004.

Trang 8

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Trong TTHS, quá trình nhận thức vụ án diễn ra từ thấp đến cao, từ chỗ chưanhận thức đến chỗ nhận thức được, từ chỗ nhận thức ít tới chỗ nhận thức nhiều vàcuối cùng là từ nhận thức chưa đầy đủ, chưa đúng đắn tới nhận thức đầy đủ và đúngđắn Việc xác định chân lý khách quan của vụ án không thể thực hiện được nếu chủthể không sử dụng biện pháp so sánh, đánh giá các dữ kiện và cọ sát các quan điểmkhác nhau giữa bên buộc tội và bên bào chữa

Trong TTHS, chức năng bào chữa tồn tại song song với chức năng buộc tội nhưmột nhu cầu tất yếu khách quan Nó xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của TTHS đượcđặt ra đối với tất cả các cơ quan, những người THTT và những người tham gia tốtụng Sẽ không xuất hiện sự tranh tụng nếu TTHS chỉ đơn thuần hoặc là bào chữahoặc là buộc tội Nếu quan niệm buộc tội là chức năng duy nhất của TTHS thì sẽ dẫnđến sai lầm là người ta chỉ chú ý tới các chứng cứ buộc tội mà không chú ý tới cácchứng cứ gỡ tội (giảm tội) Điều này đến lượt nó lại gây ra các hiện tượng tiêu cực cóthể có như mớm cung, bức cung, hoặc hậu quả tai hại hơn là truy tố, xét xử người vôtội Ngược lại, nếu quan niệm bào chữa là chức năng duy nhất của TTHS thì có thểdẫn tới hậu quả bỏ lọt tội phạm, không xử lý công minh các hành vi phạm tội vàngười phạm tội Cả hai quan niệm trên đều không đúng và rõ ràng, chúng có thể làmgiảm hiệu quả của hoạt động TTHS Nghiêm trọng hơn, chúng là những cản trở choquá trình xác định chân lý khách quan của vụ án và thực hiện mục đích của TTHS như

đã nêu trong Điều 1 của Bộ luật TTHS nước ta

Chúng ta chắc hẳn đã ít nhiều nghe về “ Vụ án Vườn Điều” - một vụ án kéo dàivào loại nhất nhì trong lịch sử tố tụng, hơn 12 năm, qua 4 lần xét xử, đến nay chấm dứtbằng quyết định đình chỉ điều tra vào tháng 12/2006 Năm 1993, từ phát hiện của ngườidân, CQĐT Công an Bình Thuận phát hiện nạn nhân nằm chết tại vườn điều nhà ôngHai Hoàng là bà Dương Thị Mỹ Công an Bình Thuận đã ra quyết định khởi tố vụ ánnhưng sau đó phải đình chỉ điều tra vì không tìm được thủ phạm Năm năm sau, cũngtại địa phương trên lại xảy ra 1 vụ giết, cướp Hung thủ trong vụ án Công an BìnhThuận bắt được là Huỳnh Văn Nén (sinh 1962, người địa phương) Qua quá trình tạmgiam Nén và điều tra vụ án này xuất hiện nhiều chi tiết cho thấy Nén có biết vụ án tạivườn điều nhà ông Hai Hoàng trước đó Từ lời khai của Nén, Công an Bình Thuận đãphục hồi điều tra vụ án giết bà Mỹ tại vườn điều nhà ông Hai Hoàng, đồng thời đưa ramột kết luận khá tròn trịa Hung thủ được CQĐT xác định là một tập thể gồm 9 người,đều là người nhà phía vợ ông Trần Văn Sáng - người tình của nạn nhân Vụ án đã từng

Trang 9

được đưa ra xét xử phúc thẩm tới lần thứ 2, và tại phiên toà này, đồng loạt các bị cáođều phản cung và chối tội Tại phiên toà, bị cáo Trần Thanh Vân cho biết đã được ĐTVdạy cho 1 tháng mới có các thông tin để khai trong băng video Còn bị cáo Lâm chobiết CQĐT đã quay 7 cuộn băng và bắt bị cáo khai đi khai lại nhiều lần để chọn đượccuộn băng hoàn chỉnh nhất Bị cáo Lâm khi phản cung cũng khẳng định rằng, mìnhnhận tội trước đây là do ĐTV đã đánh gãy răng bị cáo và hứa hẹn với bị cáo: “Bà giàrồi, không ai bắt bà làm gì, nếu bà khai ra sẽ được tha”…(1)

Rõ ràng việc không tôn trọng nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo như trên mà vụ án đã rơi vào bế tắc, gây ảnh hưởng nghiêmtrọng tới tự do, danh dự, nhân phẩm của 9 con người trong 1 gia đình

Từ những phân tích ở trên chúng ta có thể đi đến kết luận rằng việc quy địnhnguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là rất cần thiếtxuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền con người và từ thực tiễn của quá trình tố tụng

1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là

sự thể hiện cụ thể của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS

Vấn đề nhân quyền luôn là điểm nóng của hầu hết các quốc gia trên thế giới Đặcbiệt, các thế lực phản động và hiếu chiến luôn lấy vấn đề nhân quyền để kích độngnhân dân, chống phá cách mạng Hiện nay, đất nước ta đang trên đà phát triển mạnh

mẽ về kinh tế - xã hội nhưng song song với đó, Nhà nước luôn chú ý tới việc phát huytoàn diện quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo đảm các quyền con người ViệcHiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan ghi nhận quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước các cơ quan THTT và cơ chế bảo đảm việc thực hiện

là nhiệm vụ của cơ quan đó đã chứng tỏ bản chất ưu việt của Nhà nước ta

Thứ hai, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,bị cáo

thể hiện tính nhân đạo XHCN

Tính nhân đạo được thể hiện, trong những trường hợp theo quy định của phápluật, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bàochữa thì CQĐT, VKS hoặc Toà án yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ.Các trường hợp đó là: bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tửhình theo quy định tại Bộ luật hình sự; bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người

có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Trang 10

Thứ ba, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

là biểu hiện của tính dân chủ XHCN trong hoạt động TTHS

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã tạođiều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có cơ hội đưa ra những chứng cứminh oan hoặc làm giảm nhẹ tội cho mình, cơ hội được tranh tụng bình đẳng trước Toàán

Thứ tư, thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo góp phần tích cực vào việc bảo vệ pháp chế XHCN, củng cố lòng tin củaquần chúng nhân dân vào hoạt động của hệ thống Tư pháp hình sự

Thứ năm, thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm trongquá trình tố tụng không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm điềutra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam

Theo nhận xét của một số nhà nghiên cứu thì quyền bào chữa xuất hiện sớm nhất

ở Châu Âu cùng với sự xuất hiện của Toà án và người biện hộ xuất hiện cùng Thẩmphán Trong Nhà nước Hy Lạp cổ, khi mà tổ chức Toà án đã hình thành, bị cáo đượcnhờ người thân thuộc của mình bào chữa trước Toà án Vào giai đoạn đầu của nềnCộng hoà thứ IV trước Công nguyên, chế độ bào chữa bắt đầu phát triển Việc bàochữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho bạn bè, người thân bị giai cấp thống trịbắt giam vô cớ và trừng phạt một cách độc đoán Nó xuất phát từ quyền lợi của nhândân bị áp bức nên được nhân dân nhiệt tình ủng hộ.(1)

Trong lịch sử, pháp luật thừa nhận nhiều cách bào chữa khác nhau, nhưng ở các chế độ

xã hội và kiểu nhà nước khác nhau, trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử doquan điểm giai cấp không giống nhau, quyền bào chữa cũng được quan niệm khác nhau.Thuở xa xưa, khi một người bị tình nghi là phạm tội, họ được bào chữa bằngcách trói chân, trói tay rồi quẳng xuống nước mà không chìm thì họ được coi là vô tội

“Cách bào chữa mỏng manh theo ý trời này đối với số phận một con người thực chất

là lời buộc tội họ một cách hùng hồn nhất, vì dẫu có vô tội, họ cũng đã cầm chắc trongtay một bản án kết tội khó có thể bào chữa được”(2).

Thế kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ II sau Công nguyên, tại Hy Lạp và La

Mã đã xuất hiện một loại hiệp sĩ đặc biệt - họ không dùng khí giới hay bắp thịt đểchiến thắng mà chỉ dùng thiên tài ngôn ngữ, sự hiểu biết rộng rãi về cổ luật để đứng ra

5, 6.

Trang 11

bênh vực cho những kẻ nghèo nàn, yếu thế, thấp cổ bé họng hoặc phụ nữ bị ngược đãitrước các thế lực đương thời Họ được gọi là Advocatus (người biện hộ).

Ở Việt Nam, các nhà sử học và luật học phần lớn đi đến nhận định, xã hội ngườiViệt trong khoảng 1000 năm trước Công nguyên, pháp luật thành văn nếu có cũngkhông nhiều và trong một thời gian dài nguồn pháp luật chủ yếu là tục lệ, tập quán(1).Lịch sử của thời phong kiến cho thấy, về cơ bản nghề thầy cung, thầy kiện khôngđược coi trọng bởi cách nhìn không đúng về loại người này, trong đó nguyên nhânchính xuất phát từ quan niệm các bậc vua, chúa phong kiến luôn tự coi mình là “kẻbảo vệ dân và bảo vệ sự công bằng”, ý chí của vua là luật cao nhất… Tuy nhiên, hệthống pháp luật thành văn thời phong kiến, đặc biệt là bộ Quốc triều Hình luật đã ghinhận nhiều quan điểm mới, tiến bộ về việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của ngườiphạm tội, cho phép họ tự bào chữa và bảo đảm việc tranh biện kỹ lưỡng Điều 691 Bộluật Hồng Đức quy định: “Những án xét rồi mà còn nghi ngờ thì chuyển qua quanviện thẩm hình, hội đồng nghị xét, hỏi tội phạm nhân đến khi họ nhận tội, nếu họkhông chịu nhận tội thì cho phép họ tự bào chữa rồi xét lại kỹ càng…” Điều 670 cònquy định: “Các quan xét án, phải theo tờ cáo trạng mà xét hỏi, nếu ra ngoài tờ cáotrạng, tìm việc khác để buộc tội người, thì xử là cố ý bắt tội người”(2)

Phải nói rằng, những điểm mới, tiến bộ nêu trên đã đi trước hàng thế kỷ so vớicác nguyên tắc nêu trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 và Tuyên ngôn nhânquyền và dân quyền của Pháp 1789

1.4.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật TTHS Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành

Trước bối cảnh thế giới thuận lợi, cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộngsản Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám 1945 đã thành công và Nhà nước Việt NamDân chủ Cộng hoà – Nhà nước đầu tiên của giai cấp công nhân và nông dân ở ĐôngNam Á được thành lập Nhiệm vụ của Nhà nước non trẻ lúc này là củng cố chínhquyền, kịp thời ban hành pháp luật cách mạng làm vũ khí chống lại thù trong, giặcngoài, xây dựng xã hội mới Mặc dù trong những ngày đầu khi cách mạng mới thànhcông có biết bao nhiệm vụ cần giải quyết trong đó có nhiệm vụ đấu tranh chống cácloại tội phạm nhưng chính quyền dân chủ nhân dân vẫn rất quan tâm tới nhiệm vụ bảo

vệ các quyền dân chủ của công dân trong đó có quyền bào chữa trước Toà án

H.1968, t.1, tr.36; Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hoà, Lịch sử các chế định chính trị và pháp quyền Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.1997, t.1, tr.32

Trang 12

Ngày 13/09/1945 tức là chỉ sau ngày khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoàđược thành lập đúng 11 ngày, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 33c về việc thiết lậpcác Toà án quân sự Đoạn 4, Điều V Sắc lệnh này quy định: “Bị cáo có thể tự bàochữa hay nhờ một người khác bênh vực cho”.

Ngày 10/10/1945, Sắc lệnh số 46-SL về việc quy định tổ chức các đoàn thể luật

sư ra đời Theo Điều thứ 2 sắc lệnh này thì: “Các luật sư có quyền bào chữa ở tất cảcác Toà án hàng tỉnh trở lên và trước các Toà án quân sự”

Tiếp theo, ngày 23/11/1945, Nhà nước ban hành Sắc lệnh thiết lập một ban thanhtra đặc biệt, trong đó quy định, một Toà án đặc biệt được thành lập để xử những nhânviên của Uỷ ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ bị ban thanh tra truy tố(Điều III) Và trước các Toà án này “bị cáo có thể tự bào chữa lấy hay nhờ luật sưbênh vực Ông Hội thẩm thuyết trình có thể cử một luật sư ra bào chữa không cho bịcáo” (Điều V)

Sắc lệnh số 13-SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Toà án và các ngạch Thẩm phán,tại Điều thứ 44 quy định : “Trong việc đại hình, nếu trước toà thượng thẩm một bị cankhông có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư để bào chữa cho hắn” Còn tạiĐiều thứ 46: “Các luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Toà án trừ những Toà án

sơ cấp”

Trong sắc lệnh số 40 ngày 29/03/1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân, tiết II nhữngphương pháp đề phòng đặc biệt, tại Điều thứ 7 quy định: “Trong tình thế đặc biệt hiệnthời cho đến khi có lệnh khác, chủ tịch Uỷ ban hành chính kỳ đặc cách được phép ralệnh bắt những người xét ra lời nói hay việc làm có thể làm hại cho sự đấu tranh giànhđộc lập, cho chế độ dân chủ, cho sự an toàn của công chúng và cho sự đoàn kết củaquốc gia, để đem trừng trị trong những trại giam đặc biệt” Đối với những người này

sẽ có “nghị định giam” Và trong 15 ngày, họ (đương sự) có thể nộp đơn “kháng nghịnghị định giam” để hội đồng phúc thẩm giải quyết Điều thứ 11 Sắc lệnh 40 quy định :

“Hội đồng phúc thẩm sẽ báo ngay cho đương sự biết ngày hội đồng sẽ xét đơn khángnghị Người đó có quyền gửi bài trần tình hoặc nhờ vợ hay chồng, ông bà con cháu,anh em ruột, chú bác cô dì, anh em thúc bá hay luật sư đại diện bào chữa cho mình”.Ngày 23/08/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 163-SL về việc tổ chức Toà

án binh lâm thời đặt tại Hà Nội Điều thứ 10 Sắc lệnh này quy định: “Bị can có thể tựbênh vực lấy hay nhờ một luật sư hoặc một người khác bào chữa cho Đối với nhữngtội có thể phạt trên 5 năm tù mà bị can không có luật sư bào chữa cho thì Toà sẽ yêucầu hội đồng luật sư chỉ định một luật sư bào chữa cho hắn”

Trang 13

Như vậy, pháp luật TTHS của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám đã là vũ khí,

là cơ sở pháp lý để bảo vệ và củng cố các quyền của công dân trong đó có quyền bàochữa trước Toà án Có thể thấy rằng, dù chưa rõ ràng và được quy định ở các văn bảnpháp luật khác nhau nhưng qua các quy định đã dẫn ở trên, bước đầu quyền bào chữa

đã được xác định bao hàm quyền tự bào chữa, quyền nhờ người khác bào chữa, vàmột số trường hợp đã được chỉ định người bào chữa; người bị bắt giam cũng đượcquy định là có quyền bào chữa Tuy nhiên, bảo đảm quyền bào chữa chưa được quyđịnh như là một nguyên tắc của luật TTHS Việt Nam; việc nhờ người khác bào chữamới chỉ được quy định cho một số bị cáo; khái niệm bị can, bị cáo chưa được làm rõ

và chưa được sử dụng một cách thống nhất trong các văn bản pháp luật; các trườnghợp được chỉ định người bào chữa mới bước đầu được đề cập, các quy định chưa cụthể và việc chỉ định luật sư bào chữa xem ra phụ thuộc nhiều vào ý kiến của Toà án.Song song với việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh những quan hệ

xã hội trong tất cả các lĩnh vực, Nhà nước đã quan tâm xúc tiến những công việc cầnthiết chuẩn bị cho việc dự thảo và ban hành Hiến pháp Ngày 09/11/1946, tại kỳ họpthứ hai, Quốc hội khoá 1 đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt NamDân chủ Cộng hoà Với ý nghĩa là luật cơ bản, Hiến pháp 1946 đã quy định nhiềunguyên tắc quan trọng trong đó có nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo:

“ Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” (Đoạn 2, Điều thứ67) Như vậy lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vấn đề bảo đảm quyền bào chữacho bị cáo được quy định là một nguyên tắc Hiến pháp – đây là nền móng cho quátrình phát triển và hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật TTHSViệt Nam Quyền bào chữa được Hiến pháp 1946 xác định gồm hai nội dung: tự bàochữa và nhờ luật sư bào chữa

Ngày 18/06/1949, Nhà nước ban hành sắc lệnh số 69-SL, tại Điều thứ hai quyđịnh: “Nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể, tự mình hay theo lờiyêu cầu của bị can, cử ra một người bào chữa cho bị can” Còn Điều thứ nhất của sắclệnh này đã được sửa đổi bổ sung bởi sắc lệnh số 144-SL ngày 22/12/1949 như sau:

“…Từ nay, trước các Toà án thường và Toà án đặc biệt xử các việc tiểu hình, đạihình, trừ các Toà án binh tại mặt trận,… bị cáo và bị can có thể nhờ một công dânkhông phải là luật sư bênh vực cho mình Công dân đó phải được ông Chánh án thừanhận” Có thể nói sắc lệnh số 69-SL và sắc lệnh số 144-SL đã bước đầu đặt nền móngcho việc xây dựng chế độ bào chữa viên nhân dân ở nước ta

Trang 14

Tiếp theo đó, ngày 12/01/1950, Bộ Tư pháp đã ban hành nghị định số 1/NĐ vềviệc ấn định điều kiện để làm bào chữa viên Theo Điều 1 nghị định này, những côngdân sau đây có thể được cử ra hay thừa nhận để bào chữa trước Toà án:

- Có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông hay đàn bà;

- Ít nhất 21 tuổi;

- Hạnh kiểm tốt và chưa can án

Khi được phép tham gia tố tụng (bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án được chuyển sangToà án), bào chữa viên nhân dân cũng có địa vị pháp lý như luật sư

Khoản 1, Điều 4 Nghị định trên còn quy định: “Người bào chữa được cử ra hoặcthừa nhận để bào chữa có quyền đến phòng lục sự xem xét và chép hồ sơ”

Việc thừa nhận, khi tham gia tố tụng, bào chữa viên nhân dân có địa vị pháp lýnhư luật sư là một trong những điểm mới, tiến bộ nhằm thu hút quần chúng nhân dântham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là xác định sự thật kháchquan của vụ án cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo

Năm 1956, khi cả nước đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thìngày 20/06/1956 một văn bản quan trọng đã được thông qua tại hội nghị tư pháp toànquốc Đó là “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo” Đặc biệt trong đề án đã ghi nhậncác quyền cụ thể của người bào chữa khi tham gia tố tụng: người bào chữa có thể bắtđầu công tác từ khi mở cuộc thẩm cứu; được có mặt cùng với bị cáo trong các cuộc hỏicung; được yêu cầu điều tra thêm nếu chứng cứ không đầy đủ, không rõ ràng; sau khicông bố việc luận tội, người bào chữa được trình bày lời bào chữa của mình, đề ranhững điểm không đồng ý với công tố viện và biện bác, xuất phát từ quan điểm bảo vệpháp luật, chính sách và quyền lợi của bị can; được chống án thay cho bị can nếu bị canyêu cầu hoặc được sự đồng ý của bị can; có quyền tiếp tục bênh vực cho bị can tại Toà

án cấp trên…So với các văn bản trước đây, “Đề án về quyền bào chữa của bị cáo” đãquy định tương đối cụ thể quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng nhằm bảođảm cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình một cách có hiệu quả

Mặt khác, để tạo điều kiện cho bị cáo có đủ thời gian chuẩn bị bào chữa tại phiêntoà, ngày 24/10/1956 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 2225/HCCP trong đó quyđịnh “việc giao bản cáo trạng cho bị cáo chậm nhất là 3 ngày trước khi mở phiên toà”.Đây là quy định rất cần thiết để bị cáo và người bào chữa của họ có thể nghiên cứu,chuẩn bị trước những tình tiết, những chứng cứ có lợi khi tham gia phiên toà

Hiến pháp 1959 ra đời, quyền bào chữa của bị cáo một lần nữa được ghi nhận tạiĐiều 101 với nội dung : “quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm” Như vậy,

Trang 15

nếu Hiến pháp 1946 chỉ dừng lại ở việc quy định quyền bào chữa cho bị cáo thì Hiếnpháp 1959 đã tiến bộ hơn - khẳng định cả cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.Cùng với sự ra đời của Hiến pháp, ngày 15/07/1960, Quốc hội ban hành luật Tổchức TAND quy định cụ thể hơn nữa quyền bào chữa của bị cáo: “Quyền bào chữacủa bị cáo được bảo đảm, ngoài việc tự bào chữa ra, bị cáo có thể nhờ luật sư bàochữa cho mình Bị cáo cũng có thể nhờ một công dân được đoàn thể nhân dân giớithiệu hoặc được TAND chấp nhận bào chữa cho mình Khi cần thiết, TAND chỉ địnhngười bào chữa cho bị cáo”.

Để thực hiện quy định trên, TAND đã ban hành Thông tư 06/TC ngày09/09/1967 hướng dẫn việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo trong đó có nhiềuvấn đề mới, cụ thể và tiến bộ hơn so với các văn bản trước đây như: trong phiên toà,Toà án phải xem bị cáo đã được tống đạt bản cáo trạng hay chưa; bị cáo có quyềnyêu cầu Toà án thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, nếu nhận thấy những ngườinày có quan hệ đối với vụ án có thể làm cho việc xét xử không được công bằng;trình bày chứng cứ, đề xuất những lời thỉnh cầu và phát biểu lời cuối cùng trước khiToà án vào nghị án Toà án có nhiệm vụ giải thích cho bị cáo biết những quyền đótrong phần chuẩn bị phiên toà xét xử Sau khi VKS luận tội, Toà án cần để cho bịcáo trình bày lời bào chữa nếu họ không có người bào chữa; Toà án phải chú ý sắpxếp lịch phiên toà để người bào chữa có thời gian cần thiết chuẩn bị bào chữa; ngườibào chữa có thể xin hoãn phiên toà, nếu nhận thấy không có đủ thời gian cần thiếtcho việc bào chữa …

Ngoài những hướng dẫn cụ thể trên, Thông tư 06 còn hướng dẫn việc thực hiệnchế độ bào chữa chữa viên nhân dân: danh sách bào chữa viên nhân dân do các đoànthể nhân dân giới thiệu Đây là những người có trình độ chính trị khá, có khả nănglàm công tác bào chữa, có nhiệt tình và điều kiện thiết thực và có tư cách đạo đức tốt.Điểm đáng chú ý là, mặc dù đã có danh sách những người bào chữa nhưng bị cáo vẫn

có thể yêu cầu Toà án chấp nhận một công dân không có tên trong danh sách bào chữacho mình Toà án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận người được bị cáo cử ra đểbào chữa; Thông tư 06 cũng đã có quy định về các trường hợp phải chỉ định ngườibào chữa cho bị cáo

Ngày 27/08/1974, TAND tối cao đã ban hành Thông tư số 16-TATC, bản hướngdẫn trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự ban hành kèm theo Thông tư này khẳng định:quyền bào chữa là quyền của bị cáo nên Toà án phải bảo đảm cho họ thực hiện đầy đủquyền đó và phải nghiên cứu những lời bào chữa của bị cáo một cách khách quan.Theo Thông tư 16-TATC thì thời gian giao bản cáo trạng cho bị cáo không chỉ là “3

Trang 16

ngày trước khi mở phiên toà” như văn bản trước đây, mà là “chậm nhất là 5 ngàytrước khi xét xử, bị cáo phải nhận được bản cáo trạng” Thông tư cũng hướng dẫn cụthể hơn những trường hợp TAND phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo, đó là cáctrường hợp: bị cáo có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình; bị cáo là vị thành niênhoặc người có nhược điểm về thể chất (ví dụ: mù, câm, điếc) hoặc về tinh thần (ví dụ:

có bệnh động kinh, hoặc trước khi phạm pháp đã bị điên nhưng đã chữa khỏi…); vụ

án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến dư luận của nhân dân.Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Tư pháp của Chính phủ Cách mạnglâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã có Thông tư số 06 ngày 11/06/1976 vềviệc thực hiện chế độ bào chữa ở miền Nam

Hiến pháp 1980 ra đời, tiếp tục khẳng định quyền bào chữa của bị cáo tại Điều133: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, tổ chức luật sư được thành lập đểgiúp bị cáo và các đương sự về mặt pháp lý”

Sau khi Việt Nam thống nhất về mặt Nhà nước, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông

tư số 691/QLTA ngày 31/10/1983 về công tác bào chữa trong toàn quốc, trong đó xácđịnh đoàn bào chữa và bào chữa viên có trách nhiệm góp phần bảo vệ chân lý, bảo vệpháp chế XHCN thông qua hoạt động của mình

Ngày 18/12/1987, một văn bản pháp luật quan trọng về công tác bào chữa đượcban hành, đó là Pháp lệnh tổ chức luật sư và tiếp theo đó là Quy chế Đoàn luật sư kèmtheo Nghị định 15-HĐBT ngày 21/02/1989 đã giải thích cụ thể quyền, nghĩa vụ, cơchế hoạt động của luật sư và tổ chức luật sư

Như vậy, giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luậtTTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành là giai đoạn lịch sử dài từ khi Nhà nước Việt NamDân chủ Cộng hoà non trẻ được thành lập, chống thù trong giặc ngoài, xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, đấutranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Cùng với quá trình đó, mặc dù córất nhiều khó khăn nhưng nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS vẫn đượcphát triển theo hướng dân chủ và ngày càng hoàn thiện Quyền bào chữa của bị cáo đãđược mở rộng, phát triển và được bảo đảm thể hiện tính nhân đạo và dân chủ trongpháp luật TTHS nước ta Tuy nhiên, những quy định về quyền bào chữa trong thời kỳnày không tránh khỏi những hạn chế nhất định như quy định quyền bào chữa chỉ thuộc

về bị cáo và việc thực hiện quyền bào chữa chỉ được thực hiện ở giai đoạn xét xử

Trang 17

1.4.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành đến năm 2003

Kế thừa và phát triển pháp luật TTHS nước ta từ Cách mạng tháng Tám 1945đến năm 1988, và để phù hợp với những đổi mới về mọi mặt của đời sống xã hội,ngày 20/06/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội thông qua Bộ luật TTHS đầu tiên củanước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ 01/01/1989.Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử lập pháp TTHS nói chung và chế định bàochữa nói riêng ở nước ta, nó đánh dấu sự thay đổi về chất của nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa Điều 12 với tên gọi: “Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo”quy định: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.CQĐT,… Bộ luật TTHS năm 1988 xác định không chỉ có bị cáo mà bị can cũng cóquyền bào chữa; Bộ luật cũng đã phân biệt rõ khái niệm bị can, bị cáo, theo đó: “bịcan là người đã bị khởi tố về hình sự Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa raxét xử” (khoản 1, Điều 34) Đồng thời, tại khoản 2 Điều 34, nhà làm luật khẳng địnhlại một lần nữa: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữacho mình” Như vậy, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong Bộ luật TTHS năm

1988 đã thể hiện rõ 3 nội dung: thứ nhất, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa; thứ hai,

bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa; thứ ba, CQĐT, VKS và Toà án cónhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tiếp tục được khẳng định tại Điều 132 Hiếnpháp 1992: “quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặcnhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp đỡ bịcáo…”

Từ khi có hiệu lực thi hành, Bộ luật TTHS năm 1988 đã qua 3 lần sửa đổi bổsung vào các năm 1989, 1992, và năm 2000 Các lần sửa đổi bổ sung này nhằm làmcho Bộ luật TTHS phù hợp hơn với Hiến pháp 1992 và tiến trình phát triển của xã hội,tuy nhiên nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tại điều 12 của Bộ luật vẫnkhông thay đổi

Bảo đảm quyền bào chữa cũng được ghi nhận trong Điều 9 Luật tổ chức TANDnăm 1992 và năm 2002 với nội dung: “Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo”.Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thay thế cho Pháp lệnh Luật sư 1987 là một đảmbảo pháp lý, góp phần quan trọng cho nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can,

bị cáo được thực hiện trên thực tế

1.4.3 Giai đoạn từ khi có Bộ luật TTHS năm 2003 đến nay:

Qua gần 15 năm thi hành với 3 lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật TTHS năm 1988 đã

là một trong những căn cứ pháp lý giúp CQĐT, VKS, Toà án tiến hành các hoạt động

Trang 18

của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ góp phần vào việc bảo đảm pháthiện chính xác, nhanh chóng và xử ký công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Tuy nhiên, trong công cuộc đổimới toàn diện của đất nước trên tất cả các lĩnh vực trong đó có cải cách tư pháp, Bộluật TTHS năm 1988 đã không còn phù hợp nữa và bộc lộ những hạn chế nhất định.Trước tình hình đó, Quốc hội khoá XI tại kỳ họp thứ tư đã thông qua Bộ luật TTHS

2003, Bộ luật có hiệu lực thi hành từ 01/07/2004

Tại Bộ luật TTHS năm 2003 nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa được quy địnhtheo hướng mở rộng hơn Điều 11 với tiêu đề: Bảo đảm quyền bào chữa của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bàochữa hoặc nhờ người khác bào chữa CQĐT, VKS, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm chongười bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của bộluật này” Như vậy, theo Bộ luật TTHS năm 2003, chủ thể của quyền bào chữa được

mở rộng bao gồm cả người bị tạm giữ

Ngoài việc mở rộng quyền bào chữa cho người bị tạm giữ thì Bộ luật TTHS năm

2003 còn có nhiều quy định thể hiện sự tiến bộ và phát triển của nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa như: người bào chữa được tham gia tố tụng sớm hơn so với quy địnhcủa Bộ luật TTHS năm 1988; quy định cụ thể thủ tục chỉ định người bào chữa trongnhững trường hợp phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo; thủ tục cấp giấychứng nhận bào chữa được bổ sung một cách đầy đủ hơn; mở rộng thêm quyền củangười bào chữa; đặc biệt nhấn mạnh quyền mới của người bào chữa là được thu thậptài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan tới việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầucủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo…

Năm 2006, Quốc hội ban hành Luật Luật sư và Luật trợ giúp pháp lý thể hiện sựphát triển ngày càng hoàn thiện của quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bàochữa ở nước ta

Qua nghiên cứu một số khái niệm về quyền bào chữa, lịch sử hình thành và pháttriển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáotrong luật TTHS có thể rút ra một số nhận xét:

1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa đã được ghi nhận trong các điều ướcquốc tế và trở thành một giá trị pháp lý được quốc tế hoá Quy định nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa là một sự tất yếu thể hiện xu thế của thời đại

2 Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng không thể thiếuđược của pháp luật TTHS Việt Nam Mặc dù quyền bào chữa ngày nay được quy định

và thừa nhận trong pháp luật của các nước trên thế giới nhưng xung quanh khái niệm

Trang 19

và nội dung của nó còn nhiều ý kiến khác nhau cần được xem xét và làm rõ từ góc độ lýluận và thực tiễn.

3 Quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - những người bịbuộc tội với nội dung đưa ra những chứng cứ, tình tiết chứng minh cho sự không cótội hoặc làm giảm nhẹ tội của mình, những người khác tham gia TTHS không có quyềnbào chữa

4 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đượcquy định xuất phát từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người và những quyền cơ bảncủa công dân Đồng thời, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn giúp các cơ quan THTT xác định được sự thậtkhách quan của vụ án, giúp TTHS được tiến hành đúng mục đích xét xử công minh, kịpthời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

5 Quyền bào chữa ở Việt Nam có tính ổn định và tính hoàn cảnh lịch sử Tính

ổn định thể hiện: nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa được ghi nhận trong tất cả cácbản Hiến pháp của nước ta Tính hoàn cảnh lịch sử thể hiện ở những đảm bảo pháp lý

và trách nhiệm của các cơ quan THTT trong việc bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can bị cáo được tính toán, cân nhắc phù hợp với điều kiện hoàn cảnhlịch sử cụ thể của từng giai đoạn

6 Sự phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo gắn liền với sự phát triển và dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hộinước ta

Trang 20

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA

CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TTHS

VIỆT NAM

Quyền bào chữa trước hết là quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự mình thực hiện các quyền mà pháp luậtgiành cho họ để chống lại việc buộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho mình Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người hơn ai hết biết được những tìnhtiết liên quan tới vụ án nói chung và những tình tiết liên quan tới họ nói riêng Vì vậy,quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa là một bảo đảm pháp

lý hết sức cần thiết giúp cho họ có thể đưa ra những chứng cứ và lý lẽ biện minh, gỡtội cho mình Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được bảo đảmthực hiện xuyên suốt quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra đến khi Toà án ra bản án

và bản án đó có hiệu lực pháp luật Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo cũng không bị hạn chế, kể cả khi có người bào chữa bào chữa cho họ thì quyềnnăng này cũng vẫn được pháp luật bảo đảm Khoản 2 Điều 217 Bộ luật TTHS đã thểhiện rõ điều này: “…nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo

Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa”

2.1.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố

Quyền tự bào chữa được thực hiện từ giai đoạn điều tra vụ án hình sự Trong giaiđoạn này, quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ và bị can

2.1.1.1 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ

- Người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ.

Để bảo đảm cho người bị tạm giữ thực hiện quyền tự bào chữa của mình, phápluật quy định: “Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ” (điểm a,khoản 2 Điều 48), ngay từ lúc bị bắt, họ được nghe đọc biên bản bắt người và cóquyền ghi ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và ghi ý kiến xác nhận Lý dotạm giữ được ghi trong quyết định tạm giữ và khi có quyết định này người bị tạm giữđược giao một bản Lý do tạm giữ này cũng được bảo đảm về tính cần thiết và có căn

cứ pháp luật khi pháp luật quy định trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạmgiữ, quyết định tạm giữ được gửi cho VKS cùng cấp Nếu thấy việc tạm giữ không cócăn cứ hoặc không cần thiết thì VKS ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ vàngười ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trang 21

- Người bị tạm giữ có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.

Không phải người nào khi tham gia tố tụng với tư cách người bị tạm giữ đều cónhững hiểu biết về pháp luật nói chung cũng như quyền và nghĩa vụ của mình trongTTHS nói riêng Giải thích quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể và cặn kẽ cho người bịtạm giữ biết sẽ khiến họ yên tâm hơn, tin tưởng vào pháp luật và có thể sử dụng phápluật để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình Để đảm bảo quyền này chongười bị tạm giữ, pháp luật quy định, người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thíchquyền và nghĩa vụ cho người bị tạm giữ theo quy định tại điều 48 Bộ luật TTHS

- Người bị tạm giữ có quyền trình bày lời khai.

Trong lời khai trước CQĐT, người bị tạm giữ trình bày về những tình tiết liênquan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm Cơ quan ra quyết định tạm giữ có tráchnhiệm lập biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ Lời khai của người bị tạm giữchỉ được coi là một loại nguồn chứng cứ trong TTHS khi nó được thể hiện hợp phápvới biên bản kèm theo Biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ được ĐTV đọc lạicho người bị tạm giữ nghe, đồng thời ĐTV giải thích cho họ biết quyền được bổ sung

và nhận xét về biên bản Biên bản lời khai của người bị tạm giữ chỉ hợp pháp khi cóchữ ký của ĐTV và chữ ký hoặc điểm chỉ của người bị tạm giữ (nếu người bị tạm giữkhông biết chữ) Nếu người bị tạm giữ vì nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần hoặc

vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì trong biên bản phải ghi rõ lý do

- Người bị tạm giữ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.

Trong thời gian bị tạm giữ, người bị tạm giữ có quyền đưa ra những tài liệu, đồvật nhằm chứng minh họ không liên quan đến vụ việc mà vì đó họ bị bắt giữ, họ cũng

có quyền yêu cầu xác minh lại sự việc, yêu cầu CQĐT đưa ra những bằng chứng đượccoi là căn cứ bắt giữ họ…

- Người bị tạm giữ có quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.

Nếu như Bộ luật TTHS năm 1988 quy định người bị tạm giữ chỉ có quyền khiếunại về việc tạm giữ thì Bộ luật TTHS năm 2003 đã đưa thêm quyền khiếu nại quyếtđịnh, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT Quyết định trên thểhiện sự mở rộng quyền, mở rộng tính dân chủ trong TTHS, tạo điều kiện cho người bịtạm giữ thực hiện quyền tự bào chữa của mình

2.1.1.2 Bảo đảm quyền tự bào chữa của bị can

Khi bị khởi tố về hình sự một người sẽ tham gia tố tụng với tư cách là bị can

- Bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì.

Trang 22

Được biết mình bị khởi tố về tội gì, bị can sẽ có những chuẩn bị tốt hơn cho việc

gỡ tội và minh oan cho mình Ngay sau khi khởi tố bị can, trong thời hạn 24 giờ, CQĐTphải gửi ngay quyết định khởi tố và tài liệu liên quan tới việc khởi tố bị can cho VKScùng cấp để phê chuẩn việc khởi tố CQĐT cũng phải giao ngay quyết định khởi tố bịcan của mình hoặc quyết định khởi tố bị can của VKS (trong trường hợp VKS ra quyếtđịnh khởi tố bị can) cho bị can Và sau khi nhận được quyết định phê chuẩn hoặc quyếtđịnh huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can của VKS, CQĐT phải giao ngay cho người đã bịkhởi tố - đây là một quy định mới của Bộ luật TTHS năm 2003 so với Bộ luật TTHSnăm 1988 giúp tránh được những sai sót trong việc ra quyết định khởi tố bị can, sự chặtchẽ này cũng làm cho bị can tin tưởng hơn vào tính nghiêm minh của pháp luật

- Bị can có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.

Nếu như Bộ luật TTHS năm 1988 quy định gián tiếp quyền được giải thích vềquyền và nghĩa vụ của bị can tại khoản 3 Điều 103: “Cơ quan ra quyết định khởi tố bịcan phải… và giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can” thì Bộ luật TTHS 2003 đã quyđịnh quyền này cho bị can một cách trực tiếp tại điểm b, khoản 2 Điều 49 đồng thời

Bộ luật cũng quy định trách nhiệm cho CQĐT - những người trực tiếp tiến hànhnhững hành vi tố tụng với bị can phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can

- Bị can có quyền được trình bày lời khai.

Bị can được khai về những tình tiết của vụ án Lời khai của bị can là một loạinguồn chứng cứ và chúng được kiểm tra và đánh giá theo những quy định chung.Theo quy định của Bộ luật TTHS, việc lấy lời khai của bị can phải do ĐTV tiến hànhngay sau khi có quyết định khởi tố bị can Trước khi hỏi cung, ĐTV đọc phải đọcquyết định khởi tố bị can, và giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ và “việcnày phải được ghi vào biên bản” Quy định mới này của Bộ luật TTHS năm 2003 giúp

bị can thực hiện tốt hơn quyền tự bào chữa của mình cũng như nâng cao trách nhiệmcủa ĐTV trong việc đảm bảo quyền tự bào chữa của bị can trong quá trình hỏi cung.Trong khi hỏi cung, bị can có thể thú nhận một phần hay toàn bộ tội lỗi củamình Tuy nhiên, lời nhận tội của bị can cần phải được kiểm tra, đối chiếu với cácchứng cứ khác của vụ án Pháp luật quy định không được dùng lời nhận tội của bị can,

bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội (Điều 72 Bộ luật TTHS)

Mỗi lần hỏi cung đều phải lập biên bản, biên bản phải ghi đầy đủ lời trình bàycủa bị can, các câu hỏi và câu trả lời Và để đảm bảo những lời khai này là được chínhxác, thể hiện ý chí thật sự của bị can, pháp luật quy định nghiêm cấm ĐTV tự mìnhthêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can Sau khi hỏi cung, ĐTV đọc lại biên bảncho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc Trong trường hợp có bổ sung, sửa chữa biên

Trang 23

bản thì ĐTV và bị can cùng ký xác nhận Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can kývào từng trang của biên bản Nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau khi hỏi cung phảiphát lại để ĐTV và bị can cùng nghe Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung, bịcan và ĐTV cùng ký xác nhận (Điều 132 Bộ luật TTHS) Để tạo điều kiện cho bị canđưa ra chứng cứ, lời khai và những lời giải thích, bị can có thể tự viết lời khai củamình (Điều 131 Bộ luật TTHS) Không được hỏi cung vào ban đêm trừ trường hợpkhông thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, việc đưa ra lời khai, hay nói cách khác là trình bày vềnhững tình tiết của vụ án là quyền của bị can chứ không phải trách nhiệm của họ.Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án tại Điều 10 Bộ luật TTHS quy định: “Trách nhiệmchứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT, bị can, bị cáo có quyền nhưng khôngbuộc phải chứng minh là mình vô tội” Pháp luật không quy định trách nhiệm với bị can

về hành vi từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối, trong khi đó pháp luật nghiêm cấmmọi hình thức truy bức, nhục hình (Điều 6 Bộ luật TTHS) và quy định khi hỏi cung bịcan, ĐTV hoặc KSV bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu tráchnhiệm hình sự theo quy đinh tại Điều 299 hoặc 298 của Bộ luật hình sự

Tuy nhiên, trên thực tế, việc mớm cung và ép cung vẫn xảy ra, vi phạm nghiêmtrọng tới quyền tự bào chữa của bị can Hoàng Linh, một bị cáo trong vụ án Năm Camkhi đứng trước vành móng ngựa đã nói “Cáo trạng và kết luận điều tra chủ yếu dựavào 4 văn bản gồm: bản tự khai, bản cung, bản cam kết và thư cảm ơn Bản tự khaicủa tôi phải khai theo chỉ dẫn của các ĐTV, nếu khai không đúng theo ý của họ, họđều xé bỏ, bắt khai lại Bản cung cũng vậy, và đều bị hỏi vào lúc 12h đêm, nhưng khi

ký vào biên bản, công an đều ghi hỏi lúc 8h sáng Các ĐTV còn ép tôi phải viết bảncam kết là lời khai của tôi không phải do bị ép cung, hù dọa… Sau đó còn ép tôi viếtthư cảm ơn đến các cơ quan THTT” Hoàng Linh diễn tả: “Trong phòng hỏi cung,

một cán bộ điều tra đã nói với tôi: ông từng viết bài bênh vực cho con nhỏ bán vé số

và đánh công an Tiền Giang Nay ông đã lọt vào tay chúng tôi, nếu không khai đúng

ý, chúng tôi sẽ treo ông lên Anh ta diễn tả việc treo lên rất ghê rợn và nói lại đến 6-7

lần, tôi không thể tả nổi tại đây”.(1)

- Bị can có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.

Bị can có quyền cung cấp những tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, CQĐTkhi nhận được các tài liệu, đồ vật do bị can cung cấp phải tiến hành kiểm tra, đánh giámột cách khách quan để xác định các tài liệu, đồ vật đó có phải là chứng cứ trong vụ

án hay không? Bị can cũng có quyền đưa ra những yêu cầu như: yêu cầu thông báo vềnội dung kết luận giám định; được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giámđịnh; được yêu cầu giám định bổ sung, giám định lại Trong trường hợp CQĐT, VKS

Trang 24

không chấp nhận yêu cầu của bị can thì phải nêu rõ lý do và phải thông báo cho họbiết (Điều 158); Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại điểm 5 và điểm 6 Điều

107 Bộ luật TTHS mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì CQĐT hoặcVKS ra quyết định phục hồi điều tra (Điều 165)…

- Bị can có quyền đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch.

Trong quá trình điều tra, bị can có quyền đề nghị thay đổi những người THTT,người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô

tư trong khi làm nhiệm vụ; việc họ tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm cho vụ

án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can Các cơ quan THTT phải xemxét, giải quyết yêu cầu của bị can nếu đề nghị của bị can là có căn cứ Đồng thời vớiviệc quy định quyền đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịchcho bị can, Bộ luật TTHS cũng quy định những trường hợp những người THTT phải từchối THTT hoặc bị thay đổi (Điều 42 Bộ luật TTHS) và người giám định, người phiêndịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi (Điều 62, 61 Bộ luật TTHS)

- Bị can có quyền được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng; quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật TTHS.

Quy định cho bị can có quyền nhận được tất cả các quyết định tố tụng theo quyđịnh của Bộ luật TTHS là một việc hết sức quan trọng giúp cho bị can thực hiện tốtquyền bào chữa của mình Có đọc và nắm được tất cả những tài liệu và tình tiết của vụ

án liên quan đến bản thân và liên quan đến những bị cáo khác (nếu có) thì bị can mới

có được khả năng chuẩn bị ý kiến để bào chữa cho mình Phù hợp với quy định này,khoản 2 Điều 160 Bộ luật TTHS quy định CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều traphải gửi quyết định này cho bị can; khoản 4 Điều 162 quy định trong thời hạn 2 ngày

kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, CQĐT phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy

tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can; khoản 1 Điều 166 quy định trong thờihạn 3 ngày kể từ ngày ra một trong những quyết: truy tố bị can trước toà bằng bản cáotrạng; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; VKS phải thôngbáo cho bị can, giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ áncho bị can

Trang 25

- Bị can có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.

Như đã phân tích ở trên, bị can có quyền tiếp xúc với tất cả các quyết định tố tụngtheo quy định của Bộ luật TTHS, từ đó pháp luật cũng quy định các cơ quan THTT phảitạo điều kiện cho bị can thực hiện các quyền này Khi đã nắm được toàn bộ những quyếtđịnh, những kết luận tố tụng, những tài liệu về vụ án, bị can có thể khiếu nại đối vớinhững quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT

Ngày 08/09/2006, TAND Thành phố Hà Nội mở phiên toà xét xử vụ án nhận hối

lộ, trong đó bị cáo Trần Lê Sơn bị VKS Thành phố Hà Nội truy tố về hành vi môi giớihối lộ Trước vành móng ngựa, Sơn trình bày rành rẽ : “VKS tống đạt cáo trạng tới bịcáo, nhưng hôm sau lại thay bằng một bản khác Cáo trạng đọc tại toà hôm nay là bảncũ” Theo Sơn cáo trạng còn trích dẫn không chính xác nhiều lời khai cũng như thờigian xảy ra vụ án và thời điểm bắt các bị cáo…Bị bất ngờ trước việc này, Thẩm phánchủ toạ phiên toà đã cho đối chất giữa đại diện VKS và bị cáo Và khi được luật sưcung cấp cả hai bản cáo trạng và so sánh thì Toà án thấy rằng hai bản cáo trạng đượctống đạt cho bị cáo Sơn là không giống nhau Ngày 11/09/2006, sau 3 ngày xét xử,TAND Thành phố Hà Nội tuyên trả hồ sơ về VKSND Thành phố Hà Nội để tống đạtlại cho các bị cáo theo đúng thủ tục tố tụng.(1)

- Bị can có quyền tham gia một số hoạt động điều tra.

Để tạo điều kiện cho bị can thực hiện quyền bào chữa, Bộ luật TTHS quy định,khi khám nghiệm hiện trường và khi tiến hành thực nghiệm điều tra trong trường hợpcần thiết bị can cũng có thể tham gia (Điều 150, 153 Bộ luật TTHS)

2.1.2 Đảm bảo quyền tự bào chữa trong giai đoạn xét xử

Sau khi Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị can trở thành bị cáo và quyềnbào chữa của họ tiếp tục được bảo đảm bằng các quy định của Bộ luật TTHS

- Bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Toà án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật TTHS.

Các quyết định, các văn bản kể trên liên quan trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa vụcủa bị cáo nói chung và quyền bào chữa của bị cáo nói riêng Nhận được đầy đủ cácquyết định này nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có thể thực hiện tốt quyền bào chữacũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình Đồng thời quy định này cũng

Trang 26

đòi hỏi các cơ quan THTT phải giải quyết vụ án theo đúng thủ pháp luật, các văn bản,các quyết định được ban hành phải có căn cứ và hợp pháp.

Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyền quan trọng của bị cáo.Theo quy định tại khoản 1 Điều 182 Bộ luật TTHS, quyết định đưa vụ án ra xét xửphải được giao cho bị cáo chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên toà Quyết địnhđưa vụ án ra xét xử có những nội dung rất cần thiết cho bị cáo trong việc chuẩn bị bàochữa: tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự mà VKS áp dụng đối với hành vicủa bị cáo; ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà; họ tên Thẩm phán, Hộithẩm, Thư ký Toà án, KSV, người bào chữa, người phiên dịch nếu có; họ tên ngườiđược triệu tập tới phiên toà để xét hỏi; vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên toà…(Điều 178 Bộ luật TTHS) Cùng với những điều đã biết về kết luận điều tra, các tìnhtiết và tài liệu vụ án nêu trong bản cáo trạng, việc nghiên cứu quyết định đưa vụ án raxét xử cũng là cơ sở để bị cáo có thể thực hiện được các quyền của mình như quyềntham gia phiên toà, quyền đề nghị thay đổi người THTT, quyền yêu cầu xem xét thêmvật chứng mới… Quyết định đưa vụ án ra xét xử là một quyết định rất quan trọng với

bị cáo nên trong trường hợp bị cáo chưa được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét

xử trong thời hạn 10 ngày trước khi mở phiên toà và bị cáo có yêu cầu thì HĐXX phảihoãn phiên toà (Điều 201) Pháp luật cũng quy định đảm cho bị cáo được nhận cácquyết định khác của Toà án theo Điều 182 Bộ luật TTHS

- Bị cáo có quyền tham gia phiên toà

Trong TTHS, giai đoạn xét xử là giai đoạn quan trọng nhất, trong giai đoạn nàytội trạng của bị cáo sẽ được xác định một cách công khai trước phiên toà với sự thamgia của các bên tố tụng Thay mặt Nhà nước, HĐXX sẽ quyết định những vấn đề quantrọng nhất của TTHS là xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo dựatrên những chứng cứ đã thu thập được tại phiên toà Tại phiên toà, bị cáo bình đẳngvới KSV và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra các chứng cứ, đồvật, tài liệu, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ tại phiên toà… Như vậy, thực hiệnquyền bào chữa tại phiên toà có thể coi là hành vi tố tụng quan trọng nhất trong cáchành vi tố tụng của bị cáo Và để bị cáo có thể thực hiện được hành vi đó pháp luậtquy định tham gia phiên toà là quyền của bị cáo và Toà án chỉ được phép xét xử vắngmặt bị cáo trong những trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 187 Bộ luật TTHScòn các trường hợp khác nếu bị cáo vắng mặt đều phải hoãn phiên toà Tham giaphiên toà cũng là nghĩa vụ của bị cáo, nếu bị cáo vắng mặt tại phiên toà mà không có

lý do chính đáng thì sẽ bị áp giải

Trang 27

- Bị cáo có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.

Đây là quyền của bị cáo được ghi nhận trực tiếp tại điểm a, khoản 2 Điều 50 Bộluật TTHS Trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà, chủ toạ phiên toà sẽ thay mặtHĐXX giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo Biết mình có những quyền gì và phảithực hiện những nghĩa vụ gì sẽ giúp cho bị cáo chủ động, hoà nhập tốt hơn vào diễnbiến phiên toà

- Bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật TTHS.

Bị cáo là đối tượng bị đưa ra xét xử, là đối tượng bị buộc tội trong vụ án hình sự,việc xét xử như thế nào ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và nghĩa vụ của bị cáo, vì vậy, bịcáo có quyền được đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịchkhi có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ Bị cáo có thểthực hiện quyền này trước hoặc tại phiên toà khi HĐXX hỏi Trước khi mở phiên toà,trong thời gian chuẩn bị xét xử, nếu bị cáo yêu cầu thay đổi KSV, thành viên HĐXX,Thư ký Toà án thì Viện trưởng VKS và Chánh án Toà án xem xét giải quyết yêu cầucủa bị cáo (Điều 60, 61 Bộ luật TTHS) Tại phiên toà, khi bị cáo có yêu cầu thay đổingười THTT, người giám định, người phiên dịch thì HĐXX phải xem xét quyết định

- Bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.

Bị cáo có quyền đưa ra các tài liệu, đồ vật tại phiên toà xét xử Những tài liệu, đồvật mà bị cáo đưa ra thông thường có ý nghĩa gỡ tội cho bị cáo, chứng minh bị cáokhông phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bịcáo… HĐXX phải kiểm tra, xác minh và đánh giá các đồ vật, tài liệu đó có phải làchứng cứ trong vụ án không và giá trị của nó trong việc xác định sự thật của vụ án

Bị cáo có thể đưa ra những yêu cầu: yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng; yêucầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét; yêu cầu hoãn phiên toà (Điều 205); yêucầu xem biên bản phiên toà và yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiêntoà và ký xác nhận (Điều 200) HĐXX xem xét và giải quyết yêu cầu của bị cáo

Hai ngày trước khi mở phiên phúc thẩm lần 2 vụ tai nạn giao thông thảm khốctrên đường cao tốc Láng - Hoà Lạc vào ngày 25/2, TAND tối cao đã ra quyết địnhhoãn phiên xử Một trong những lý do quan trọng là toà chưa gửi giấy triệu tập đượchết tới hơn 20 người làm chứng như yêu cầu của gia đình 2 nạn nhân.(1)

- Bị cáo có quyền trình bày ý kiến tranh luận tại phiên toà.

Đây là một điểm mới, một quyền mà Bộ luật TTHS năm 2003 quy định trực tiếpcho bị cáo (tại điểm g, khoản 2 Điều 50 Bộ luật TTHS) giúp bị cáo phát huy cao nhất

Trang 28

quyền tự bào chữa của mình tại phiên toà Bị cáo có quyền trình bày ý kiến về luận tộicủa KSV và đưa ra đề nghị của mình Khi trình bày ý kiến tranh luận tại phiên toà, bịcáo bình đẳng với KSV và những người tham gia tranh luận khác Theo nguyên tắcbảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án - Điều 19 Bộ luật TTHS và theo quy định tạiĐiều 218 Bộ luật TTHS thì Toà án, chủ toạ phiên toà có trách nhiệm tạo điều kiện cho

bị cáo tranh luận, trình bày hết ý kiến nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án

- Bị cáo có quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án.

Sau khi HĐXX kết thúc xét hỏi và tranh luận, bị cáo được nói lời sau cùng trướckhi nghị án Pháp luật quy định quyền này là để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hộiđược trình bày thái độ, nguyện vọng của mình trước khi HĐXX đưa ra những quyếtđịnh đối với vụ án Trong khi nói lời sau cùng, bị cáo có quyền trình bày mọi vấn đềliên quan tới vụ án, tỏ thái độ của mình đối với việc buộc tội…

Khi được nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án, nguyên thứ trưởng BộThương Mại Mai Văn Dâu nghẹn ngào nhắc lại khoảng thời gian 2 năm 4 tháng sốngtrong trại giam Đó là những lúc "tưởng như không sống nổi" khi bệnh tật dày vò nhưngvẫn "mong chờ đến ngày ra tòa để được trình bày đúng sự thật" Đó là những lúc phảikhai đại theo yêu cầu của cán bộ điều tra để mong được tại ngoại Trong lời phát biểucủa mình ông Dâu còn nhắc đến những ngày gắn bó với Bộ Thương mại Ông nghẹnngào: "Tôi đã có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của Bộ Bộ vừa đượctặng Huân chương sao vàng và tôi tự hào là có phần đóng góp của mình trong đó Saunhững việc đã xảy ra, tôi thấy mình có lỗi Xin toàn thể cán bộ nhân viên hãy tha lỗicho tôi Phải đứng trước vành móng ngựa vì những sai sót của bản thân là tôi đã mắc tộilỗi lớn Tôi xin nhận lỗi với các bậc cha chú, anh em, con cháu "(1)

HĐXX phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời nói sau cùng của bị cáo trước khinghị án Nhiều trường hợp, khi nói lời sau cùng, bị cáo lại đưa ra những tình tiết có ýnghĩa quan trọng với vụ án, khi đó HĐXX phải quyết định trở lại việc xét hỏi

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án.

Khi không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án hoặc quyết định sơ thẩmchưa có hiệu lực pháp luật của Toà án, pháp luật quy định cho bị cáo có quyền khángcáo bản án, quyết định này để Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại Bị cáo có quyềnkháng cáo về tất cả các vấn đề mà bản án sơ thẩm đề cập tới như: tội danh, loại hìnhphạt chính, hình phạt bổ sung, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung… Bị cáo cũng

có quyền kháng cáo quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án chưa có hiệu lực phápluật của Toà án Khi kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, Toà án cấp phúc thẩm phải xemxét và giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo Để bị cáo có thể yên tâm thực hiện

Trang 29

quyền kháng cáo của mình, luật TTHS quy định nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo màkhông có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng nào khác thì Toà án cấp phúcthẩm không có quyền sửa án theo hướng bất lợi cho bị cáo.

- Bị cáo có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.

Bị cáo có quyền khiếu nại quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.Những quyết định này không thuộc đối tượng kháng cáo như quyết định áp dụng, thayđổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, quyết định hoãn phiên toà… Bị cáo cũng có quyềnkhiếu nại hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT nếu các hành vi đó

là trái pháp luật

2.2 Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa

Như đã phân tích ở trên, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể sử dụng các biệnpháp do luật định để tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình và pháp luậtcũng quy định các cơ chế bảo đảm cho họ thực hiện quyền tự bào chữa Nhưng trênthực tế do hạn chế về hiểu biết pháp luật hay do bị áp dụng các biện pháp c ưỡng chế

tố tụng: tạm giữ, tạm giam nên người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể thực hiệnđược đầy đủ và có hiệu quả quyền tự bào chữa của mình Chính vì vậy sự tham giacủa người bào chữa trong TTHS là rất cần thiết trong việc thực hiện nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; tạo điều kiện để TTHS đạtđược mục đích đặt ra trong đó có mục đích bảo vệ hiệu quả các quyền và lợi ích hợppháp của công dân

Tuy Bộ luật TTHS không nêu khái niệm thế nào là người bào chữa nhưng căn cứvào quy định tại các Điều 56, 57 và 58 Bộ luật TTHS thì người bào chữa là ngườiđược cơ quan THTT cấp giấy chứng nhận bào chữa tham gia vào quá trình TTHS đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, góp phần làmsáng tỏ các tình tiết gỡ tội hay làm giảm nhẹ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáođồng thời giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo những vấn đề pháp lý cần thiết

Hiện nay do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của nhân dân ta còn hạn chế nênkhi nói đến người bào chữa người ta chỉ nghĩ đến luật sư còn những người khác khôngphải luật sư thì không phải là người bào chữa Tuy nhiên, luật sư là khái niệm nghềnghiệp còn người bào chữa là khái niệm tố tụng Theo điều 56 Bộ luật TTHS, ngườibào chữa có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Luật sư là những người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của luật này,thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan tổ chức (sau đây gọi chung

Ngày đăng: 04/04/2013, 10:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Thanh Niên, Số ra thứ tư ngày 26/12/2001, “Hơn 70% phiên toà không có Luật sư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 70% phiên toà khôngcó Luật sư
2. Bộ Công an, Tổng cục Cảnh sát, Báo cáo sơ kết một năm thực hiện Pháp lệnh Điều tra hình sự trong lực lượng cảnh sát nhân dân, H. 2006 Khác
3. Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, H. 2006 Khác
4. Bộ Tư pháp, Báo cáo tổng kết thi hành Pháp lệnh Luật sư 2001 Khác
5. Bộ Tư pháp-Vụ pháp luật hình sự-hành chính, Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.Tư pháp, H. 2006 Khác
6. Chức năng bào chữa trong TTHS Xô Viết, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 1/1978 Khác
7. Đỗ Đức Hồng Hà, Một số đặc điểm tội phạm học của tội giết người, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 6/2004, tr. 72 Khác
8. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi), Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2004 Khác
9. Hoàng Thị Sơn, Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, H. 2003 Khác
10.Hoàng Thị Sơn, Thực trạng thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, Số 4/2002 Khác
24.Một số vấn đề về cơ sở bảo đảm dân chủ trong tranh luận tại phiên toà hình sự, tạp chí Kiểm sát, VKS nhân dân tối cao, Số 3/2002 Khác
25.Nguyễn Hà Thanh, Vai trò hạn chế của luật sư trong giai đoạn Điều tra vụ án hình sự - nguyên nhân và giải pháp, Tạp chí TAND Số 3/2007, tr. 2 Khác
26.Nhà Pháp luật Việt-Pháp, Hội thảo Pháp luật về tổ chức Điều tra hình sự, H. 2002 Khác
27.Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb. Công an nhân dân, H.1999 Khác
28.Phan Trung Hoài, Hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, H. 2006 Khác
29.Quốc triều Hình luật (Luật Hình triều Lê), Nxb. Pháp lý, H.1991 Khác
30.TAND Tối cao, Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2007 của ngành TAND, H. 2007 Khác
31.Tổng cục cảnh sát nhân dân, Cục chính trị, Báo cáo tổng kết Khác
32.Trần Ngọc Đường, Bàn về quyền con người quyền công dân, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2004 Khác
33.Vụ bổ trợ tư pháp, Nội dung cơ bản của dự án Luật về luật sư so sánh với pháp luật của một số nước, Nxb. Tư pháp, H.2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w