MỤC TIÊU 1. Nêu được khái niệm về nguồn tài nguyên nước, sự phân bố các nguồn nước trong tự nhiên, chu trình của nước trên Trái đất và nguồn nước ở Việt Nam 2. Trình bày được vai trò của nước và cung cấp nước sạch, nhu cầu sử dụng, hình thái cung cấp nước của mỗi vùng. 3. Phân tích được các chỉ số dùng để đánh giá chất lượng môi trường nước. 4. Đề xuất được các giải pháp xử lý nước cho từng loại nguồn nước để cung cấp nước sạch, và các giải pháp bảo vệ nguồn nước sạch. 5. Định nghĩa được ô nhiễm nước, các nguồn, các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước và tác hại của ô nhiễm môi trường nước đối với sức khỏe con người. 6. Đề xuất được các phương pháp xử lý nước thải, và các biện pháp phòng chống ô nhiễm nguồn nước. 7. Áp dụng được những kiến thức đã học để tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho cộng đồng về vệ sinh môi trường nước và cách phòng chống ô nhiễm nước. NỘI DUNG 1. Tài nguyên nước, nguồn nước trong tự nhiên và chu trình nước trên trái đất 1.1. Tài nguyên nước trên trái đất Nước có trong khí quyển, trên mặt đất, trong các tầng nham thạch dưới mặt đất; nước tạo nên đại dương bao la, trong các biển trên lục địa, các hồ, đầm; nước tạo nên mạng lưới sông hồ, suối... Tất cả các dạng nước kể trên đều có nguồn gốc từ nước ngầm sâu trong cấu tạo địa chất của Trái Đất sinh ra. Bằng con đường rất phức tạp, nước được tách ra từ trong nham thạch nóng chảy trong lòng đất đã dâng lên mặt đất, tạo thành mặt nước của đại dương. Tiếp theo, do quá trình bốc hơi, nước có mặt trong khí quyển, hình thành những trận mưa để tạo nên sông, suối, hồ, ao, tạo nên các nguồn nước mặt, và sau đó là các tầng nước ngầm của vỏ Trái Đất. Nước chiếm gần 34 bề mặt trái đất (71 – 72%), thể tích nước ở trạng thái tự do phủ lên trái đất là > 1,4 tỉ km3. Các nguồn nước tự nhiên trên trái đất nằm ở nhiều nơi, nhiều dạng khác nhau như: đại dương, biển, hồ, sông, suối, thác, băng, tuyết, ao, đầm lầy, nước ngầm, hơi ẩm trong đất, hơi nước trong không khí... Và sự phân bố lượng nước ở các nơi trên trái đất cũng khác nhau, phân bố như sau: Phần lớn nước nằm ở biển và đại dương chiếm khoảng 97% tổng khối lượng nước trên trái đất, nhưng chủ yếu là nước mặn với hàm lượng muối trong nước rất cao, không thể sử dụng trực tiếp nguồn nước này cho nhu cầu sinh hoạt của con người. Có khoảng 2% nguồn dự trữ nước của trái đất là nước ngọt nằm ở dạng các tảng băng vùng địa cực. Và chỉ còn khoảng 1% nước ngọt (bao gồm nước bề mặt và nước ngầm) phục vụ cho nhu cầu sự sống của con người. Thực tế, lượng nước đóng vai trò bảo tồn sự sống trên trái đất chỉ chiếm khoảng 200.000 km3 (tức gần bằng 1 phần 7000 của tổng lượng nước bao phủ trái đất). Việt Nam có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, lượng nước bình quân đầu người đạt 17.000 m3năm (cao gấp 3 lần so với lượng nước bình quân đầu ngườinăm trên thế giới). Tuy nhiên, hệ số khai thác nguồn nước sử dụng chỉ đạt vài % tổng lượng nước tự nhiên hiện có; thường tập trung ở các con sông chính, chủ yếu để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Còn nước ngầm thì được khai thác chủ yếu để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất ở các trung tâm công nghiệp và khu dân cư thành thị (tại Hà Nội, mỗi ngày đêm tiêu thụ gần 500.000m3 nước ngầm). 1.2. Chu trình nước trên trái đất (vòng tuần hoàn của nước) Chu trình nước có 3 dạng chủ yếu là: Hơi nước, mưa tuyết, và các dòng chảy. Nước không ngừng vận động và chuyển đổi trạng thái, sự luân chuyển này tạo nên vòng tuần hoàn tương đối khép kín, giúp cân bằng theo sự phân bố nước trên trái đất. Vòng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước trên mặt đất, trong lòng đất và trong bầu khí quyển. Vòng tuần hoàn nước tự nhiên: Nước trong tự nhiên luôn được luân hồi theo chu trình thủy văn. Khoảng 13 năng lượng Mặt Trời do Trái Đất hấp thụ được dùng làm bốc hơi một lượng nước khổng lồ từ đại dương, ước tính 525 tỉ tấn mỗi năm. Nước bốc hơi vào khí quyển tạo thành mây. Mây được gió đưa vào đất liền. Cùng với sự thoát hơi nước của thực vật, các quá trình này làm cho không khí có độ ẩm nhất định. Khi gặp lạnh, hơi nước ngưng tụ lại, rơi xuống thành mưa và tuyết. Một phần nước mưa thấm qua đất tạo thành nước ngầm. Một phần khác chảy vào sông hồ rồi ra biển và đại dương. Từ đây nước lại bốc hơi và tạo ra mây, đi vào vòng tuần hoàn tự nhiên.
Trang 1Bài 3 Vệ sinh nước, cung cấp nước sạch và ô nhiễm nước
Phan Thị Trung Ngọc
MỤC TIÊU
1 Nêu được khái niệm về nguồn tài nguyên nước, sự phân bố các nguồnnước trong tự nhiên, chu trình của nước trên Trái đất và nguồn nước ởViệt Nam
2 Trình bày được vai trò của nước và cung cấp nước sạch, nhu cầu sử dụng,hình thái cung cấp nước của mỗi vùng
3 Phân tích được các chỉ số dùng để đánh giá chất lượng môi trường nước
4 Đề xuất được các giải pháp xử lý nước cho từng loại nguồn nước để cungcấp nước sạch, và các giải pháp bảo vệ nguồn nước sạch
5 Định nghĩa được ô nhiễm nước, các nguồn, các tác nhân gây ô nhiễm môitrường nước và tác hại của ô nhiễm môi trường nước đối với sức khỏecon người
6 Đề xuất được các phương pháp xử lý nước thải, và các biện pháp phòngchống ô nhiễm nguồn nước
7 Áp dụng được những kiến thức đã học để tuyên truyền giáo dục sức khỏecho cộng đồng về vệ sinh môi trường nước và cách phòng chống ônhiễm nước
NỘI DUNG
1 Tài nguyên nước, nguồn nước trong tự nhiên và chu trình nước trên trái đất
1.1 Tài nguyên nước trên trái đất
Nước có trong khí quyển, trên mặt đất, trong các tầng nham thạch dướimặt đất; nước tạo nên đại dương bao la, trong các biển trên lục địa, các hồ, đầm;nước tạo nên mạng lưới sông hồ, suối Tất cả các dạng nước kể trên đều cónguồn gốc từ nước ngầm sâu trong cấu tạo địa chất của Trái Đất sinh ra Bằng
Trang 2con đường rất phức tạp, nước được tách ra từ trong nham thạch nóng chảy tronglòng đất đã dâng lên mặt đất, tạo thành mặt nước của đại dương Tiếp theo, doquá trình bốc hơi, nước có mặt trong khí quyển, hình thành những trận mưa đểtạo nên sông, suối, hồ, ao, tạo nên các nguồn nước mặt, và sau đó là các tầngnước ngầm của vỏ Trái Đất.
Nước chiếm gần 3/4 bề mặt trái đất (71 – 72%), thể tích nước ở trạngthái tự do phủ lên trái đất là > 1,4 tỉ km3 Các nguồn nước tự nhiên trên trái đấtnằm ở nhiều nơi, nhiều dạng khác nhau như: đại dương, biển, hồ, sông, suối,thác, băng, tuyết, ao, đầm lầy, nước ngầm, hơi ẩm trong đất, hơi nước trongkhông khí Và sự phân bố lượng nước ở các nơi trên trái đất cũng khác nhau,phân bố như sau:
- Phần lớn nước nằm ở biển và đại dương chiếm khoảng 97% tổng khốilượng nước trên trái đất, nhưng chủ yếu là nước mặn với hàm lượngmuối trong nước rất cao, không thể sử dụng trực tiếp nguồn nướcnày cho nhu cầu sinh hoạt của con người
- Có khoảng 2% nguồn dự trữ nước của trái đất là nước ngọt nằm ở dạngcác tảng băng vùng địa cực Và chỉ còn khoảng 1% nước ngọt (baogồm nước bề mặt và nước ngầm) phục vụ cho nhu cầu sự sống củacon người Thực tế, lượng nước đóng vai trò bảo tồn sự sống trêntrái đất chỉ chiếm khoảng 200.000 km3 (tức gần bằng 1 phần 7000của tổng lượng nước bao phủ trái đất)
- Việt Nam có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, lượng nước bình quânđầu người đạt 17.000 m3/năm (cao gấp 3 lần so với lượng nước bìnhquân đầu người/năm trên thế giới) Tuy nhiên, hệ số khai thác nguồnnước sử dụng chỉ đạt vài % tổng lượng nước tự nhiên hiện có;thường tập trung ở các con sông chính, chủ yếu để phục vụ sản xuấtnông nghiệp Còn nước ngầm thì được khai thác chủ yếu để cungcấp cho sinh hoạt và sản xuất ở các trung tâm công nghiệp và khudân cư thành thị (tại Hà Nội, mỗi ngày đêm tiêu thụ gần 500.000m3
Trang 31.2 Chu trình nước trên trái đất (vòng tuần hoàn của nước)
Chu trình nước có 3 dạng chủ yếu là: Hơi nước, mưa tuyết, và các dòngchảy Nước không ngừng vận động và chuyển đổi trạng thái, sự luân chuyểnnày tạo nên vòng tuần hoàn tương đối khép kín, giúp cân bằng theo sự phân bốnước trên trái đất Vòng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước trênmặt đất, trong lòng đất và trong bầu khí quyển
Vòng tuần hoàn nước tự nhiên: Nước trong tự nhiên luôn được luân hồi
theo chu trình thủy văn Khoảng 1/3 năng lượng Mặt Trời do Trái Đất hấp thụđược dùng làm bốc hơi một lượng nước khổng lồ từ đại dương, ước tính 525 tỉtấn mỗi năm Nước bốc hơi vào khí quyển tạo thành mây Mây được gió đưavào đất liền Cùng với sự thoát hơi nước của thực vật, các quá trình này làmcho không khí có độ ẩm nhất định Khi gặp lạnh, hơi nước ngưng tụ lại, rơixuống thành mưa và tuyết Một phần nước mưa thấm qua đất tạo thành nướcngầm Một phần khác chảy vào sông hồ rồi ra biển và đại dương Từ đây nướclại bốc hơi và tạo ra mây, đi vào vòng tuần hoàn tự nhiên
Hình 1: Vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên (Nguồn USGS)
Trong chu trình thủy văn, nguồn nước được luân hồi qua quá trình bốchơi và mưa Thời gian luân hồi thường ngắn (hàng năm), nhưng đối với nguồnnước ngầm, chu trình này có thể kéo dài đến hàng ngàn năm
Trang 4Bảng chu trình tuần hoàn của các nguồn nước
Nguồn Thời gian luân hồi
1.3 Đặc điểm một số nguồn nước trong thiên nhiên
Bảng trình bày dạng của nước và phân bố nước trên trái đất:
(km2)
Tổng thể tích nước
(km3)
Lượng nước(%)Đại dương và biển 361.000.000 1.230.000.000 97,2000
(Theo nguồn: US Geological Survey)
Trong thiên nhiên có 3 nguồn nước chính, đó là: nước mưa, nước mặt vànước ngầm
Trang 51.3.1. Nước mưa
Nước bốc hơi từ đại dương, biển, sông, ao hồ lên không trung gặpkhông khí lạnh tạo thành mây, tích tụ dần và rơi xuống thành mưa, tuyết Đốivới các hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam khi không có điều kiện sử dụng đượccác nguồn nước khác thì nước mưa là nguồn cung cấp nước sinh hoạt đóng vaitrò quan trọng, nhiều gia đình dùng nước mưa để ăn uống, sinh hoạt vì cho rằngđây là trời cho nên hoàn toàn sạch Thực tế ngày nay, nước mưa thường dễ bị ônhiễm do quá trình bốc hơi và đi qua môi trường không khí đang bị ô nhiễm,đồng thời việc hứng qua mái nhà và bảo quản trong các dụng cụ chứa khôngđảm bảo vệ sinh cũng làm cho nước mưa không còn sạch Bên cạnh đó, lượngnước mưa không nhiều chủ yếu chỉ tập trung trong vài tháng của mùa mưa, phụthuộc vào lượng mưa trong năm nên không cung cấp đủ nước cho nhu cầu ănuống và sinh hoạt quanh năm Đặc điểm của nước mưa chứa hàm lượng muốikhoáng thấp và có thể tạo phản ứng với không khí có chứa nhiều khí Nitơ tạo
ra NO2, NO3 là nguồn cung cấp đạm Nitrat cho thực vật
Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thườngxuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sôngngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết.Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ hay mộtquốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào vàlượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa) Tổng lượngdòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3,trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 chiếm 60% và dòng chảynội địa là 340 km3, chiếm 40% Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyênnước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòngchảy của các sông trên thế giới Với trữ lượng dồi dào, nguồn nước mặt có thểcung cấp đầy đủ cho sinh hoạt, sản xuất công - nông nghiệp, thuận tiện choviệc khai thác và sử dụng Tuy nhiên, nguồn nước mặt thường bị nhiễm bẩn
Trang 6chất hữu cơ và vi sinh vật Vì vậy, muốn sử dụng nguồn nước mặt, nhất thiếtphải xử lý triệt để chất hữu cơ cũng như khử trùng nước
Nước mặt gồm nước sông, suối, ao, hồ, đầm bắt nguồn chủ yếu từ nướcmưa hay do băng tuyết tan từ thượng nguồn chảy xuống
- Nước sông: là loại nước mặt chủ yếu cung cấp nước cho nhiều vùng dân
cư, lưu lượng lớn, độ cứng và hàm lượng sắt nhỏ; tuy nhiên, độ cặn
và độ nhiễm bẩn khá lớn, do đó giá thành xử lý nguồn nước nàythường đắt
- Nước suối: có mức nước không ổn định, lưu lượng nhỏ và rất trong vàomùa khô; mùa mưa lũ thì có lưu lượng lớn nhưng rất đục chứa nhiềucát sỏi Nước suối thường có độ cứng cao, đôi khi có hòa tan lẫn cáckhoáng chất hay hoạt chất cây cỏ độc
- Nước ao, hồ, đầm: thường có độ màu cao do rong rêu và các thủy sinhvật, thường nhiễm bẩn, nhiễm khuẩn nếu không được bảo vệ tốt Ởmột số thành thị thì hồ lại là nơi thu chứa nước thải từ các khu vựcdân cư; ở các vùng nông thôn, ao hồ cũng thường bị nhiễm bẩn nặng
do chất thải sinh hoạt trong gia đình và trong chăn nuôi
Nước ngầm là loại nước chảy trong mạch kín ở dưới đất do các kiến tạođịa chất tạo nên, có thể là các túi nước liên thông nhau hoặc là mạch nước chảysát với tầng đá mẹ Hình thành nước ngầm do nước trên bề mặt ngấm xuống,
do không thể ngấm qua tầng đá mẹ nên trên nó nước sẽ tập trung trên bề mặt,tùy từng kiến tạo địa chất mà nó hình thành nên các hình dạng khác nhau, nướctập trung nhiều sẽ bắt đầu di chuyển và liên kết với các khoang, túi nước khác,dần dần hình thành mạch ngước ngầm lớn nhỏ Tuy nhiên, việc hình thànhnước ngầm phụ thuộc vào lượng nước ngấm xuống và phụ thuộc vào lượngmưa và khả năng trữ nước của đất Nước từ mưa hay từ đáy sông hồ thấm quađất, được đất lọc sạch và giữ lại trong các lớp đất chứa nước (cát, sỏi, đá
Trang 7cuội ), nằm giữa các lớp đất cản nước (đất sét, đất thịt ) Gồm 2 loại: nướcngầm nông và nước ngầm sâu.
- Nước ngầm nông: ở độ sâu khoảng từ 3 đến 10 mét, có trữ lượng ít,thường bị nhiễm bẩn và chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu,thời tiết
- Nước ngầm sâu: ở độ sâu trên 20 mét, chất lượng tốt, trữ lượng lớn vàtương đối ổn định quanh năm
Chất lượng nước ngầm thường tốt hơn nước mưa và nước mặt, tuy nhiênnhược điểm lớn nhất của nước ngầm là chứa nhiều sắt, dễ bị nhiễm mặn ở cácvùng gần biển và thời gian thăm dò lâu và xử lý khó khăn Ở Việt Nam, việckhai thác nước ngầm là phổ biến, các hình thức: giếng đào, giếng khoan đây
là nguồn nước quan trọng ở nông thôn nước ta
2 Vai trò của nước
Từ xưa đến nay con người luôn biết đến vai trò quan trọng của nước,nước là thành phần không thể thiếu của môi trường sinh thái toàn cầu, nó duytrì sự sống cho con người và sinh vật, sự sống gắn liền với sự hiện diện củanước, ở đâu có sự sống thì ở đó phải có nước; người ta có thể nhịn đói nhiềungày nhưng không thể nhịn khát trong vài ngày; trong kinh Koran của ngườiHồi giáo cũng đã viết: “không phải đất, mà là nước đã cho ta sự sống” Và cũnghợp với lẽ tự nhiên, tạo hóa đã cho chúng ta nguồn tài nguyên nước dồi dàotrên trái đất này Trong cơ thể con người: nước chiếm 63% trọng lượng, phân
bố hầu hết khắp cơ thể, một số nơi nước chiếm tỷ lệ rất cao (như: ở Da chiếm70% trọng lượng da, ở Thận là 83%, và trong huyết tương nước chiếm đến90%) Nước tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất, đảm bảo sự cân bằngcác chất điện giải và điều hòa thân nhiệt, điều hòa áp suất thẩm thấu trong cơ
thể, nước được coi như một chất cần thiết cho đời sống và cho nhu cầu sinh lý
của cơ thể người Mỗi ngày cơ thể mất đi trung bình khoảng 1,5 lít nước quađại tiểu tiện, đổ mồ hôi, hơi thở; làm việc và vận động nhiều cơ thể sẽ mất thêmnước Vì vậy, để giữ lượng nước của cơ thể bình thường, cần phải uống nước
để thay thế phần mất đi; trung bình hàng ngày mỗi người cần khoảng 2 lít nước
Trang 8sạch để uống, nếu tính theo dân số thế giới hiện nay xấp xỉ 7 tỉ người, nghĩa làmỗi ngày dân số trên thế giới cần khoảng 14 triệu m3 nước sạch để uống Nướcvận chuyển và cung cấp các nguyên tố cần thiết cho cơ thể (như: Iốt, Fluor,Mangan, Kẽm, Sắt, các Vitamin và các Acid Amin ); đồng thời nước cũnggiúp cơ thể lọc và đào thải các chất độc, chất bả bên trong cơ thể ra ngoài.Nước cũng rất cần thiết cho nhu cầu vệ sinh cá nhân, vệ sinh công cộng trong
xã hội, cứu hỏa và các nhu cầu sản xuất nước còn được dùng trong giaothông, thủy điện và phát triển du lịch
- Tuy nhiên bên cạnh những vai trò thiết thực đó, nước cũng là môitrường trung gian chứa các độc chất và lan truyền các mầm bệnh, dịch bệnhgây nguy hại cho sức khỏe con người và sinh vật sống
3 Nhu cầu sử dụng, hình thái cung cấp nước của mỗi vùng
3.1 Nhu cầu sử dụng nước
Bao gồm: Nhu cầu về nước uống và nhu cầu về nước sinh hoạt
Người lớn (60kg): trung bình cần uống khoảng 2 lít nước/ ngày.
Thiếu niên (10kg): trung bình cần uống khoảng 1 lít nước/ ngày.
Trẻ nhỏ (5kg): trung bình cần uống khoảng 0,75 lít nước/ ngày.
Tuy nhiên, những người hoạt động nhiều thì nhu cầu sẽ cao hơn (có thể
từ 3 đến 5 lít nước/ ngày); hay những người sống ở xa mạc, dân dumục thì lại sử dụng tiết kiệm hơn: chỉ với một lượng nước rất íttrong suốt thời gian dài
Tiêu chuẩn trung bình trong sinh hoạt của mỗi người cần khoảng từ 60
đến 100 lít nước/ ngày; tuy nhiên trong sản xuất công nghiệp vànông nghiệp thì nhu cầu này còn cao hơn (vd: đối với người nôngdân thì nhu cầu nước cho sinh hoạt phải trên 100 lít/ ngày)
Trang 9Theo tiêu chuẩn Việt Nam qui định:
+ Cấp nước cho thành phố: 100 lít/ người/ 24 giờ
+ Cấp nước cho thị trấn: 40 lít/ người/ 24 giờ
+ Cấp nước cho nông thôn: 20 lít/ người/ 24 giờ
Trên thế giới hiện nay, lượng nước sinh hoạt của mỗi người trong 24 giờ là:
+ Tại Mỹ bình quân là: 600 lít
+ Tại Châu Âu bình quân là: 200 lít
+ Tại Châu Phi bình quân là: 30 lít
3.2 Tình hình cung cấp nước sạch
- Tình hình cung cấp nước sạch ở nông thôn Việt Nam đến cuối năm 1992
có khoảng 23,3% dân số được sử dụng nước sạch, trong khi trên Thếgiới có khoảng 26% dân số không được cung cấp nước sạch (nôngthôn chiếm đến 61%, chủ yếu là các nước đang phát triển) Ngoài ra,nhu cầu nước sạch trong sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cònrất lớn
3.3 Hình thái cung cấp nước của mỗi vùng
Bể chứa nước mưa: phổ biến ở nông thôn Việt Nam, chất lượng tốt,
nước khá sạch, ít chất hữu cơ, độ cứng thấp, pH khoảng từ 6 đến 6,5.Tuy nhiên bể phải được xây kín, có nắp đậy, định kỳ vệ sinh bể hàngnăm, nên thường xuyên quét sạch bụi rác trên mái nhà và mánghứng nước, đồng thời nên loại bỏ nước mưa đầu mùa trong 10 - 15phút đầu tiên rồi mới hứng vào bể chứa
Giếng khơi: có đường kính từ 0,8 đến 2 mét và độ sâu từ 3 đến 20 mét,
giếng khơi cung cấp nước ngầm nông cho gia đình hay tập thể nhỏ
Giếng hào lọc: ở một số nơi khi đào giếng sâu hơn 10 mét mà không gặp
mạch nước ngầm hay gặp nguồn nước mặn thì người ta thường đào
Trang 10giếng gần cạnh ao hồ và lấy nước từ ao hồ lọc qua hào vào giếng để
sử dụng Khi sử dụng hình thức giếng hào lọc này thì cần chú ý:chọn ao hồ sạch, hợp vệ sinh và nên bảo vệ tốt ao hồ dành cho lọcnước sinh hoạt và định kỳ thay rửa hoặc thay lớp lọc
Bể chứa nước ở khe núi cao: đối với những vùng núi có nguồn nước khe
chảy quanh năm có thể xây dựng bể chứa và dẫn nước bằng đườngống về cụm dân cư, nhờ có sự chênh lệch độ cao mà nước có thể tựchảy
vùng núi cao
ống dẫn nước về
Bể chứa nước ở khe núi cao
cụm dân cư
Nước máng lần: Khai thác nguồn nước chảy từ các khe núi đá cao để
dẫn nước về làng bản bằng các ống nứa đã được đục mắc và nối tiếpnhau, đồng thời trên thành ống nứa người ta cũng dùi nhiều lổ nhỏ
để cho nước được tiếp xúc với không khí có tác dụng làm lắng đọngcan-xi giúp giảm độ cứng của nước
vùng núi cao
ống nứa dẫn nước về
Dân cư
Trang 11Giếng khoan đặt máy bơm tay: khởi đầu nhờ sự giúp đỡ của UNICEF,
hiện nay nhiều nơi đã sử dụng giếng khoan đặt máy bơm tay để lấynước ngầm sâu Tuy nhiên, nguồn nước này thường chứa hàm lượngsắt rất cao, do đó thường phải xây dựng đồng thời các bể lọc kèmtheo để loại bỏ chất sắt
Đô thị là nơi chật hẹp, tập trung nhiều dân cư đông đúc, nhu cầu sử dụngnước rất cao, nguồn cung cấp nước chủ yếu là từ các nhà máy nước sau khikhai thác và làm sạch dưới sự kiểm soát của chính quyền và mẩu nước phảiđược xét nghiệm thường xuyên về mặt lý hóa và vi sinh vật Hệ thống nhà máycung cấp nước bao gồm:
Hệ thống ống dẫn phân phối nước.
* Trạm khai thác nước ngầm sâu: các giếng khoan có độ sâu tùy từngvùng, vd: ở tại Hà Nội giếng khoan có độ sâu từ 60 đến 80 mét,nhưng ở đồng bằng sông Cửu Long giếng khoan có thể sâu từ 200đến 450 mét
* Trạm khai thác nước ngầm nông: là lấy nước từ các giếng đào, qua trạm
xử lý và cung cấp cho người sử dụng
* Trạm khai thác nước bề mặt: là lấy nước từ sông, ao hồ, qua hệ thống
xử lý làm sạch, rồi cung cấp nước cho người sử dụng
Trang 12* Trạm khai thác nước bằng hệ thống tự chảy: hình thức này phổ biến ởcác tỉnh miền núi, người ta lấy nước đầu nguồn từ các khe núi đá caotập trung nước vào bể chứa và lắng lọc, sau đó cung cấp qua ống dẫnnước đến nơi sử dụng.
Vùng đồng bằng: người ta thường sử dụng cả ba nguồn nước: nước
mưa, nước mặt và nước mgầm Đặc điểm chung của nguồn nước
sử dụng thường có trữ lượng dồi dào; tuy nhiên nước có thể bịnhiễm bẩn chất hữu cơ và chứa nhiều chất sắt
Vùng trung du: người ta thường sử dụng nước giếng khơi (có khoảng
30% nhà hộ dân vùng trung du có giếng khơi) Đặc điểm củanguồn nước này chứa hàm lượng chất sắt và chất hữu cơ rất thấp
Vùng thượng du: chủ yếu là sử dụng nước suối (trên 60% dân số), đặc
điểm nước suối có độ cứng cao (do chảy qua nhiều lớp đá vôi), vàrất ít Iốt
Vùng biển: Nước ngầm vùng biển thường có độ mặn rất cao, do đó
người dân vùng này thường cần phải dự trử nước mưa để uống và
sử dụng trong sinh hoạt
4 Các chỉ số đánh giá chất lượng môi trường nước, tiêu chuẩn nước sạch
4.1 Chỉ số về tính chất vật lý
Độ đục của nước hình thành bởi những chất lơ lửng (như: đất, cát, phù sa,chất mùn, chất hữu cơ, chất sắt có trong nước); là nơi trú ẩn của các vi khuẩngây bệnh, các hoá chất, thuốc trừ sâu và các kim loại nặng Hiệu lực khử trùng
sẽ bị giảm mạnh nếu nước có độ đục cao, vì chất khử trùng không thể tiếp cậnvới vi khuẩn do hàng rào cản vật lý hoặc tạo các phản ứng hóa học với chất gâyđục làm giảm khả năng khử trùng Do vậy, theo tiêu chuẩn về nước sạch thìnước uống phải trong, việc sử dụng nước đục sẽ gây nguy hại cho sức khỏe