MỤC TIÊU: 1. Nêu được khái niệm về nguồn tài nguyên nước, sự phân bố các nguồn nước trong tự nhiên, chu trình của nước trên Trái đất và nguồn nước ở Việt Nam. 2. Trình bày được vai trò của nước và cung cấp nước sạch, nhu cầu sử dụng, hình thái cung cấp nước của mỗi vùng. 3. Phân tích được các chỉ số dùng để đánh giá chất lượng môi trường nước. 4. Đề xuất được các giải pháp xử lý nước cho từng loại nguồn nước để cung cấp nước sạch, và các giải pháp bảo vệ nguồn nước sạch. 5. Định nghĩa được ô nhiễm nước, các nguồn, các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước và tác hại của ô nhiễm môi trường nước đối với sức khỏe con người. 6. Đề xuất được các phương pháp xử lý nước thải, và các biện pháp phòng chống ô nhiễm nguồn nước. 7. Áp dụng được những kiến thức đã học để tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho cộng đồng về vệ sinh môi trường nước và cách phòng chống ô nhiễm nước. NỘI DUNG: 1. Nêu được khái niệm về nguồn tài nguyên nước, sự phân bố các nguồn nước trong tự nhiên, chu trình của nước trên Trái đất và nguồn nước ở Việt Nam. 1.1. Tài nguyên nước: là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt. 1.2. Phân bố nguồn nước: 97% nước trên Trái Đất là nước muối, 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần 23 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí. 1.3. Chu trình nước: Vòng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước trên mặt đất, trong lòng đất và trong bầu khí quyển của Trái Đất. Nước trái đất luôn vận động và chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ thể lỏng sang thể hơi, thể rắn và ngược lại. Vòng tuần hoàn nước đã và đang diễn ra từ hàng tỉ năm và tất cả cuộc sống trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nó. Sơ đồ vòng tuần hoàn nước, theo Cục Địa chất Hoa Kỳ Vòng tuần nước không có điểm bắt đầu nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ các đại dương. Mặt Trời điều khiển vòng tuần hoàn nước bằng việc làm nóng nước trên những đại dương, làm bốc hơi nước vào trong không khí. Những dòng khí bốc lên đem theo hơi nước vào trong khí quyển, gặp nơi có nhiệt độ thấp hơn hơi nước bị ngưng tụ thành những đám mây. Những dòng không khí di chuyển những đám mây khắp toàn cầu, những phân tử mây va chạm vào nhau, kết hợp với nhau, gia tăng kích cỡ và rơi xuống thành giáng thủy (mưa). Giáng thuỷ dưới dạng tuyết được tích lại thành những núi tuyết và băng hà có thể giữ nước đóng băng hàng nghìn năm. Trong những vùng khí hậu ấm áp hơn, khi mùa xuân đến, tuyết tan và chảy thành dòng trên mặt đất, đôi khi tạo thành lũ. Phần lớn lượng giáng thuỷ rơi trên các đại dương; hoặc rơi trên mặt đất và nhờ trọng lực trở thành dòng chảy mặt. Một phần dòng chảy mặt chảy vào trong sông theo những thung lũng sông trong khu vực, với dòng chảy chính trong sông chảy ra đại dương. Dòng chảy mặt và nước thấm được tích luỹ và được trữ trong những hồ nước ngọt. Mặc dù vậy, không phải tất cả dòng chảy mặt đều chảy vào các sông. Một lượng lớn nước thấm xuống dưới đất. Một lượng nhỏ nước được giữ lại ở lớp đất sát mặt và được thấm ngược trở lại vào nước mặt (và đại đương) dưới dạng dòng chảy ngầm. Một phần nước ngầm chảy ra thành các dòng suối nước ngọt. Nước ngầm tầng nông được rễ cây hấp thụ rồi thoát hơi qua lá cây. Một lượng nước tiếp tục thấm vào lớp đất dưới sâu hơn và bổ sung cho tầng nước ngầm sâu để tái tạo nước ngầm (đá sát mặt bảo hoà), nơi mà một lượng nước ngọt khổng lồ được trữ lại trong một thời gian dài. Tuy nhiên, lượng nước này vẫn luân chuyển theo thời gian, có thể quay trở lại đại dương, nơi mà vòng tuần hoàn nước “kết thúc”... và lại bắt đầu.
Trang 1Bài : Vệ sinh nước, cung cấp nước sạch và ô nhiễm nước (12 tiết)
Đại học Y Dược Thái Nguyên
3 Phân tích được các chỉ số dùng để đánh giá chất lượng môi trường nước
4 Đề xuất được các giải pháp xử lý nước cho từng loại nguồn nước để cung cấp nước sạch, và các giải pháp bảo vệ nguồn nước sạch
5 Định nghĩa được ô nhiễm nước, các nguồn, các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước và tác hại của ô nhiễm môi trường nước đối với sức khỏe con người
6 Đề xuất được các phương pháp xử lý nước thải, và các biện pháp phòng chống ô nhiễm nguồn nước
7 Áp dụng được những kiến thức đã học để tuyên truyền giáo dục sức khỏecho cộng đồng về vệ sinh môi trường nước và cách phòng chống ô nhiễmnước
NỘI DUNG:
1 Nêu được khái niệm về nguồn tài nguyên nước, sự phân bố các nguồn nước trong tự nhiên, chu trình của nước trên Trái đất và nguồn nước ở Việt Nam.
1.1 Tài nguyên nước: là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng
vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt
1.2 Phân bố nguồn nước: 97% nước trên Trái Đất là nước muối, 3% còn lại là nước
ngọt nhưng gần 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí
Trang 21.3 Chu trình nước:
Vòng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước trên mặt đất, tronglòng đất và trong bầu khí quyển của Trái Đất Nước trái đất luôn vận động vàchuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ thể lỏng sang thể hơi, thể rắn vàngược lại Vòng tuần hoàn nước đã và đang diễn ra từ hàng tỉ năm và tất cả cuộcsống trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nó
Sơ đồ vòng tuần hoàn nước, theo Cục Địa chất Hoa Kỳ
Vòng tuần nước không có điểm bắt đầu nhưng chúng ta có thể bắt đầu từcác đại dương Mặt Trời điều khiển vòng tuần hoàn nước bằng việc làm nóng nướctrên những đại dương, làm bốc hơi nước vào trong không khí Những dòng khí bốclên đem theo hơi nước vào trong khí quyển, gặp nơi có nhiệt độ thấp hơn hơi nước
bị ngưng tụ thành những đám mây Những dòng không khí di chuyển những đámmây khắp toàn cầu, những phân tử mây va chạm vào nhau, kết hợp với nhau, giatăng kích cỡ và rơi xuống thành giáng thủy (mưa) Giáng thuỷ dưới dạng tuyếtđược tích lại thành những núi tuyết và băng hà có thể giữ nước đóng băng hàng
Trang 3nghìn năm Trong những vùng khí hậu ấm áp hơn, khi mùa xuân đến, tuyết tan vàchảy thành dòng trên mặt đất, đôi khi tạo thành lũ Phần lớn lượng giáng thuỷ rơitrên các đại dương; hoặc rơi trên mặt đất và nhờ trọng lực trở thành dòng chảymặt Một phần dòng chảy mặt chảy vào trong sông theo những thung lũng sôngtrong khu vực, với dòng chảy chính trong sông chảy ra đại dương Dòng chảy mặt
và nước thấm được tích luỹ và được trữ trong những hồ nước ngọt Mặc dù vậy,không phải tất cả dòng chảy mặt đều chảy vào các sông Một lượng lớn nước thấmxuống dưới đất Một lượng nhỏ nước được giữ lại ở lớp đất sát mặt và được thấmngược trở lại vào nước mặt (và đại đương) dưới dạng dòng chảy ngầm Một phầnnước ngầm chảy ra thành các dòng suối nước ngọt Nước ngầm tầng nông được rễcây hấp thụ rồi thoát hơi qua lá cây Một lượng nước tiếp tục thấm vào lớp đấtdưới sâu hơn và bổ sung cho tầng nước ngầm sâu để tái tạo nước ngầm (đá sát mặtbảo hoà), nơi mà một lượng nước ngọt khổng lồ được trữ lại trong một thời giandài Tuy nhiên, lượng nước này vẫn luân chuyển theo thời gian, có thể quay trở lạiđại dương, nơi mà vòng tuần hoàn nước “kết thúc” và lại bắt đầu
Trang 41.4 Nguồn nước trong thiên nhiên
Phân bổ nước trên Trái Đất
Trong thiên nhiên có ba nguồn nước chính sau:
Nước mưa: do hơi nước trên mặt đất như nước biển, nước sông, hồ ao, bốchơi lên không trung, gặp gió và khí lạnh đọng lại và thành mưa
Nước mặt: mưa rơi xuống mặt đất và tuỳ địa hình của mặt đất mà hình thànhsông, suối, hồ ao
- Nước ngầm được hình thành bởi lượng nước thấm vào đất
1.4.1 Nguồn nước mưa
Về chất lượng hoá học và vi sinh vật học thì nước mưa là nước sạch nhất.Tuy nhiên nó cũng bị nhiễm bẩn do rơi qua không khí, mái nhà, đựng trong bểchứa, nên mang theo nhiều bụi và các chất bẩn trong không khí Nước mưa cónhược điểm là số lượng không nhiều, chỉ đủ cung cấp nước ăn uống cho các giađình trong mùa mưa (3 - 4 tháng), hàm lượng muối khoáng trong nước mưa thấp
Trang 5Trong không khí có nhiều N, cho nên trong nước mưa có nhiều NO2 và NO3 Hiệnnay, nước mưa là nguồn cung cấp quan trọng cho các gia đình ở nông thôn ViệtNam, nó không những là nguồn nước ăn tốt mà còn là nguồn cung cấp nitrat cần thiếttrong gieo trồng.
1.4.2 Nguồn nước ngầm
Nước ngầm tạo thành bởi nước mưa rơi trên mặt đất, thấm qua các lớp đất,
được lọc sạch và giữ lại trong các lớp đất chứa nước giữa các lớp đất cản nước.Lớp đất giữ nước thường là cát, sỏi, cuội hoặc lẫn lộn các thứ trên Lớp đấtcản nước thường là đất sét, đất thịt vv Ngoài ra, nước ngầm có thể còn do nướcthấm từ đáy thành sông hoặc hồ tạo ra Đôi khi nước ngầm còn gọi là nước mạch
từ các sườn núi hoặc thung lũng chảy lộ thiên ra ngoài mặt đất, đó là do các kẽ nứtthông với các lớp đất chứa nước gây ra
Nước ngầm có ưu điểm là rất trong sạch (hàm lượng cặn nhỏ, ít vi khuẩn).Song nhược điểm của nó là nước có nhiều sắt, dễ bị nhiễm mặn các vùng ven biển,thăm dò lâu và xử lý khó khăn
Ở miền Bắc Việt Nam, vùng đồng bằng, phần lớn có nước mạch ngầm, dùsâu hay nông đều có sắt, cho nên nước lấy lên có màu vàng Ở các vùng trung du
và miền núi, sắt hầu như không có, có thể dùng ngay hoặc chỉ cần khử trùng Cácnguồn cung cấp nước cho thành phố lớn và thị xã chủ yếu được khai thác từ nướcngầm sâu với độ sâu từ 60m đến 100m
Riêng ở miền Nam, trong mấy năm gần đây đã thực hiện việc khai thác nướcngầm sâu để ung cấp nước cho các thành phố, khu dân cư lớn với độ khoan sâu từ200m Có nơi như ở Kiên Giang đã phải khoan sâu tới 450 m mới thu được nước.1.4.2 Nguồn nước mặt
Nước mặt chủ yếu do nước mưa cung cấp, ngoài ra có thể do tuyết trên cáctriền núi cao ở thường nguồn chảy xuống
1.4.3 Nước sông
Là loại nước mặt chủ yếu để cung cấp nuớc cho nhiều vùng dân cư Nướcsông có lưu lượng lớn, dễ khai thác, độ cứng và hàm lượng sắt nhỏ Tuy nhiên nó
Trang 6thường có hàm lượng cặn cao, độ nhiễm bẩn về vi trùng lớn nên giá thành xử lýthường đắt Nước sông thường có sự thay đổi lớn theo mùa về lưu lượng, độ đục,mức nước và nhiệt độ (trong mùa mưa lũ hàm lượng cặn lên tới 2500 - 3000mg/lít)
1.4.4 Nước suối
Một tầng nước ngầm liên tục được bổ sung nước đến khi nước chảy tràn trênmặt đất, kết quả là hình thành các con suối Các con suối có thể rất nhỏ, chỉ cónước chảy khi có một trận mưa đáng kể, đến các dòng suối lớn chảy với hàng trămtriệu gallon nước mỗi ngày
Các con suối có thể hình thành trong bất kỳ loại đá nào, nhưng phần lớnchúng hình thành trong các loại đá vôi và đolomit, dễ dàng rạn nứt và hoà tan domưa axit Khi đá bị phá huỷ và hoà tan, các khoảng trống hình thành cho phépnước chảy qua Nếu dòng chảy theo phương ngang, nó có thể chảy tới mặt đất,hình thành các con suối
Nước từ các suối thường sạch Tuy nhiên, nước trong một vài con suối có thể
có màu trà Nước suối có màu đỏ của sắt do nước ngầm tiếp xúc với khoáng sảntrong lòng đất Tại bang Florida, Mỹ, nhiều nguồn nước mặt chứa các axit ta-nanh
tự nhiên từ các chất hữu cơ ở trong đất đá làm cho nước suối có mầu Lưu lượngcủa nước màu trong các suối chỉ ra rằng nước đang chảy nhanh trong các kênh dẫnrộng trong tầng nước ngầm mà không được lọc qua các vùng đá vôi
Mùa khô nước rất trong, lưu lượng nhỏ, mùa lũ lưu lượng lớn, nước đục, cónhiều cát sỏi, mức nước lên xuống đột biến, không ổn định Nước suối thường có
độ cứng cao có khi hoà tan các khoáng chất và hoạt chất cây cỏ độc
1.4.5 Nước hồ, đầm
Tương đối trong, trừ ở ven hồ đục hơn do bị ảnh hưởng của sóng Nước hồ,đầm thường có độ màu cao do ảnh hưởng của rong rêu và các thuỷ sinh vật, nóthường bị nhiễm bẩn, nhiễm khuẩn nếu không được bảo vệ Ở một số thành phố các
hồ được sử dụng là nơi thu nước thải của các khu vực dân cư Ở nông thôn, các hồ, aothường nhiễm bẩn nặng vì chứa nước thải của gia đình, nuôi cá, nuôi bèo
Trang 72 Vai trò của nước và cung cấp nước sạch, nhu cầu sử dụng, hình thái cung cấp nước của mỗi vùng
2.1 Vai trò của nước
- Nước là một loại thực phẩm: nó rất cần thiết cho đời sống và nhu cầu sinh
lý của cơ thể vì trong cơ thể nước chiếm 70 % - 80 % trọng lượng (ở một số tổchức thì tỷ lệ nước chiếm cao hơn như thận chiếm 83,5 %, huyết tương 92 % )
- Nước là yếu tố điều hoà thân nhiệt, điều hoà áp lực thẩm thấu trong vàngoài tế bào
- Sự cần nước biểu hiện bằng cảm giác khát nước, biểu hiện sự rối loạn giữathành phần máu
- Nước cung cấp các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể như Iode, fluo,
- Nước là yếu tố để đảm bảo vệ sinh cá nhân, vệ sinh nhà cửa
Do vậy nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày của conngười, vì vậy nước phải đảm bảo yêu cầu về số lượng và phải đảm bảo về chất lượng -Tiêu chuẩn về lượng: để đảm cho cho cuộc sống của mỗi con người trong
xã hội, nước phải thoả mãn những nhu cầu sau:
+ Đảm bảo cho nhu cầu ăn và uống
+ Đảm bảo cho vệ sinh cá nhân, (tắm giặt)
+ Đảm bảo cho vệ sinh nhà cửa, vệ sinh công cộng
+ Đảm bảo cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp
Lượng nước cho mỗi đầu người trong 24h là 150 lít kể cả ăn uống, vệ sinh cánhân, vệ sinh nhà ở Nếu ở thị trấn thì lượng nước có thể ít hơn chỉ vào khoảng -
80 lít/24h cho một người Song cũng có nơi cần nhiều nước hơn như các bệnh viện,
Trang 8khách sạn, khu công nghiệp Ví dụ: đối với bệnh viện lượng nước cần cung cấpcho mỗi giường bệnh là:
200 lít nước cho các bệnh viện lớn
150 lít nước cho các viện vừa và nhỏ
- Tiêu chuẩn về chất: nước phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt của con ngườiphải đảm bảo sạch (nước không có các chất độc hại và không bị nhiễm khuẩn)
2.2 Nhu cầu sử dụng nước
2.3 Hình thái cung cấp nước
3 Phân tích được các chỉ số dùng để đánh giá chất lượng môi trường nước.
3.1 Lý học
- Về độ trong phải đảm bảo từ 25 - 30 cm Sneller, nếu không trong là nước
đã bị nhiễm bẩn bởi cát và chất lơ lửng, độ trong của nước phụ thuộc vào các hạtđất, cát, hạt bụi lơ lửng trong nước Ngược lại với độ trong là độ đục đo đượcbằng số lượng các chất có trong 1 lít nước (mg/lit) và không có độ đục quá1mg/lít
- Độ dẫn điện của nước kém, nước tinh khiết 20 độ C có độ dẫn điện 4,2Ms/
m độ dẫn điện tăng theo hàm lượng chất khoáng hoà tan trong nước và dao độngtheo nhiệt độ
- Màu của nước: do các chất bẩn trong nước tạo nên (đơn vị đo là coban) Nước tốt là loại nước không có màu Màu của nước phụ thuộc vào cácchất hoà tan, nước có nhiều mùn thì nước có màu vàng nâu và phản ứng acide
flatin Mùi vị: nước uống phải có vị mát dễ chịu và không được có mùi, nếu nước
có ion bari nước có vị chát, có ion hydro thì có vị chua, nước có muối khoáng thì
có vị mặn Mùi của nước có thể do nguồn gốc động vật hay thực vật
- Nhiệt độ của nước: nhiệt độ của nước phụ thuộc vào nguồn nước (nướcngầm nước bề mặt) Nhiệt độ của nước bề mặt phụ thuộc vào nhiệt độ không khí
Trang 9Nước ngầm càng sâu thì nhiệt độ càng ổn định và ít dao động và nó cũng là mộttiêu chuẩn để đánh giá độ trong sạch của nguồn nước.
3.2 Hoá học
- Chất hữu cơ được sinh ra do quá trình phân hoá phức tạp, lâu dài của xáccác loại động vật, thực vật và các chất thải bỏ Đây là môi trường tốt cho các visinh vật gây bệnh có thể sống nhờ vào đó Phương pháp xác định chất hữu cơtrong nước bằng phương pháp gián tiếp, tức là sử dụng chất hoá học có giải phóng
ra nhiều O2 để ô xy hoá các chất hữu cơ đó
Tiêu chuẩn quy định: Chất hữu cơ thực vật là ≤ 4mg O2/lít
Chất hữu cơ động vật ≤ 2 mg O2 /lít
Ý nghĩa vệ sinh: nếu hàm lượng chất hữu cơ trong nước cao chứng tỏ nước
đó đã bị nhiễm bẩn và mới bị nhiễm bẩn bởi các chất thải của người và động vậthoặc do sự thối rữa xác động vật, thực vật
- NH3: là sản phẩm phân huỷ tiếp theo của các chất hữu cơ - có Amoniacchứng tỏ là có chất hữu cơ bắt đầu phân huỷ Nếu xét nghiệm thấy NH3 mà không
có chất hữu cơ thì phải xét nghiệm lại
Tiêu chuẩn cho phép NH3 trong nước là ≤ 2mg/lít
Ý nghĩa vệ sinh: nếu NH3 cao hơn tiêu chuẩn cho phép chứng tỏ nước đó đã
bị nhiễm bẩn và mới bị nhiễm bẩn
- NO2 (Nitrit): là sản phẩm phân huỷ tiếp theo của NH3, nhờ các vi khuẩnhiếu khí phân giải NH3 để tạo thành NO2, tiêu chuẩn là không có NO2 trong nước,nếu sau cơn mưa thì nồng độ cho phép là ≤ 0,01 mg/l
- NO3 (Nitrat): NO3 là một chất thấy có mặt khá nhiều ở trong nước thiênnhiên NO3 là sản phẩm phân huỷ cuối cùng của các chất hữu cơ trong nước Nếuhàm lượng NO3 quá nhiều, quá cao ở trong nước có thể nguy hiểm với sức khoẻđặc biệt đối với trẻ sơ sinh vì nó gây Methemoglobin trong máu làm mất khả năngvận chuyển O2 của Hemoglobin Tiêu chuẩn cho phép NO3 trong nước là ≤ 5mg/lít
Trang 10Ý nghĩa vệ sinh: khi thấy trong nước hàm lượng NO3 cao hơn tiêu chuẩn chophép chứng tỏ nước đó đã bị nhiễm bẩn và bị nhiễm bẩn lâu ngày, ít nguy hiểm hơn.
- Muối Natriclorua (NaCl) tất cả các dịch thể của động vật đều có hàm lượngNaCl cao Nếu khi thấy hàm lượng NaCl cao trong nước là nước đó đã bị nhiễmbẩn bởi các dịch thể động vật
- Các chất SO4,PO4, nguồn gốc của 2 chất này trong nước là do nhiễm bẩnbởi phân, nước tiểu cũng có thể do địa chất mang lại cho nên khi thấy quá mứcquy định, SO4 < 1,5g/lít , PO4 < 1,5 g/lít ) thì phải xác định nguồn gốc của hai chất
đó mới có thể đánh giá tính chất của nước
- Sắt (Fe) có trong nước thường ở hai dạng Fe(HCO3)2, FeSO4, về phươngdiện sinh lý thì Fe không có hại cho sức khoẻ con người, song nếu nước có sắt nó
có màu vàng đục không đảm bảo về màu mặt khác nó ảnh hưởng đến sinh hoạtlàm hoen ố quần áo, nấu cơm chế biến thực phẩm trong nước có sắt làm cho ănkhông ngon miệng
- Độ cứng của nước:
Nước cứng: là loại nước có chứa nhiều ion Ca++ và Mg++ Nước mềm là loạinước có chứa ít ion Ca++ và ít Mg++ Can xi và Magie là hai chất chính tạo nên độcứng của nước
Có 3 khái niệm chỉ độ cứng:
Độ cứng toàn phần: bao gồm tổng hàm lượng các ion Ca và Mg trong nước
Độ cứng tạm thời biểu thị tổng hàm lượng các muối cácbonat Ca vàbicacbonat Ca và Magie có trong nước, độ cứng tạm thời sẽ mất đi khi đun sôinước tạo thành CaCO3 đọng lại ở đáy nồi
Độ cứng vĩnh cửu bao gồm tổng hàm lượng các muối còn lại của Ca và Mg,
Trang 114 –––> 8o đức là nước trung bình.(50-150mg CaCO3/l )
Chú ý: ở các vùng có bướu cổ, nước ăn uống phải có độ cứng thấp vì lượng
Ca++ cao có thể ngăn cản tuyến giáp hấp thu Iode làm cho bệnh bướu cổ tăng lên
- Độ pH: Nó đặc trưng cho nồng độ ion H+ có trong nước, biểu thị tính acid,kiềm của nước
3.3 Vi sinh vật
Mục đích kiểm tra vệ sinh nước là xác định mức an toàn của nước đối vớisức khoẻ tìm ra những vi khuẩn có khả năng gây bệnh cho người Vi khuẩn gâybệnh qua nước có rất nhiều do đó các phương pháp xác định rất phức tạp đòi hỏi
có nhiều người và phòng xét nghiệm lớn và trả lời kết quả sau 3 tuần Vì sự khókhăn và phức tạp ấy người ta đã tìm biện pháp thay thế bằng cách chỉ xác địnhnhững vi sinh vật không gây bệnh cho người nhưng lại thường xuyên sống trongphân của người, đó là:
Vi khuẩn Escherichia coli
Cầu khuẩn đường ruột Enterocoque
Vi khuẩn khi có nha bào Clostridium Ferfrimgens
Tổng số coli trong nước gọi là coliform trong đó số coli phân được gọi làfeacalcoliform, là vi khuẩn không có nha bào nên đời sống trong nước của nó ngắn
vì tốc độ bị tiêu diệt của chúng phù hợp với tốc độ bị tiêu diệt của một số lớn vikhuẩn gây bệnh Riêng Clostridium perfringens sống ở trong nước lâu hơn vikhuẩn gây bệnh vì nó là vi khuẩn có nha bào Do đó dùng E.coli là chỉ tiêu vệ sinhchính và 2 chỉ tiêu phụ là Cl pefringens và thực khuẩn thể