1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÓM TẮT LUẬN VĂN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIỄN TẠI HÀ NỘI

27 691 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 241,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chung thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất từ thực tiễn thực hiện tại 2.2.1.Những kết quả đạt được...18 2.2.2.Những hạn chế, bất c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CHU THỊ THU THỦY

PH¸P LUËT §IÒU CHØNH QUAN HÖ THU£ §ÊT GI÷A NHµ N¦íC Vµ NG¦êI Sö DôNG §ÊT Tõ THùC TIÔN T¹I Hµ NéI

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hữu Nghị

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2014

Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỤC LỤC Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 4

1.Tính cấp thiết của đề tài 4

2.Tình hình nghiên cứu của đề tài 4 3.Mục đích nghiên cứu 4

4.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

5.Phương pháp nghiên cứu 5

6.Kết quả và đóng góp của Luận văn 5

7.Kết cấu của Luận văn 5

Chương1 5

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 5

1.1.Khái niệm quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 5 1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất, cho thuê đất 5

1.1.2.Khái niệm, đặc điểm quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 7

1.2 Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 8 1.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 9 1.3.1. Nội dung của sự điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 9

Trang 4

1.3.2. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 9

1.4 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 9Chương 2 10 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT: THỰC TRẠNG, THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HÀ NỘI 102.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất và thực

2.1.1. .Các quy định về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê đất10 2.1.2. Các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cho thuê đất12 2.1.3.Các quy định về giá đất 13 2.1.4. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 14

2.2 Đánh giá chung thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất từ thực tiễn thực hiện tại

2.2.1.Những kết quả đạt được 18 2.2.2.Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân1 9

Chương 3 22 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐƯỢC ĐỀ XUẤT TỪ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 223.1 Định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 22

Trang 5

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 22

3.2.1 Hoàn thiện các quy định về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê đất 22 3.2.2 Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục cho thuê đất 23 3.2.3 Hoàn thiện các quy định về giá đất 24 3.2.4 Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thuê đất giữa nhà nước và người sử dụng đất 24

KẾT LUẬN 25

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước đã banhành nhiều văn bản pháp luật để quản lý đất đai như Luật Đất đai năm 2003được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 Theo đó cùng với giao đất, chothuê đất là một trong những công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước về đấtđai, là tiền đề khai thác, sử dụng đất phát triển kinh tế - xã hội theo quy hoạch,

kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Tuy nhiên, tình trạng đất chothuê sử dụng còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Xuất phát từ những lý do trên

tôi đã chọn đề tài: “Pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và

người sử dụng đất từ thực tiễn tại Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn

nhằm tìm hiểu và hệ thống hóa những lý luận về pháp luật điều chỉnh quan hệthuê đất để giúp chúng ta khắc phục được những thiếu sót, bất cập nêu trên, tạo

cơ sở để tiếp tục hoàn thiện hơn hành lang pháp lý về quan hệ thuê đất giữaNhà nước và người sử dụng đất

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Thời gian qua, các nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu được sựquan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và các nhà hoạt động thực tiễn, gópphần tạo ra những cơ sở lý luận chung về quản lý đất đai nói chung và thuêđất nói riêng Tuy nhiên, với mong muốn được tiếp cận vấn đề từ tổng quanchính sách, pháp luật về quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụngđất, nhận diện những bất cập còn hạn chế trong việc điều chỉnh quan hệpháp luật này, tác giả đã tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này

Luận văn có mục đích nghiên cứu là chỉ ra những điểm còn thiếu sót,hạn chế của khung pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước vàngười sử dụng đất ở Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật vàthực hiện pháp luật tại một địa phương Từ đó đề xuất các giải pháp nhằmbảo đảm việc nâng cao hiệu quả thi hành, áp dụng các chế định điều chỉnhquan hệ pháp luật đất đai này trên thực tế

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các văn bản pháp luật,thực tiễn thi hành pháp luật điều chỉnh về quan hệ thuê đất giữa nhà nước

và người sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật về quan hệ thuê đất là một đề tài cónội hàm nghiên cứu rộng, tuy nhiên trong khuôn khổ có hạn của một bản Luậnvăn Thạc sĩ Luật học, người viết chỉ đề cập đến phạm vi quan hệ thuê đất giữaNhà nước - chủ sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất từ thực tiễn thihành pháp luật điều chỉnh về quan hệ thuê đất giữa nhà nước và người sử dụngđất trên địa bàn thành phố Hà Nội

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận văn gồmcác phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá, đối chiếu, diễngiải, quy nạp và thu thập, kế thừa các nghiên cứu, tài liệu cùng quan điểm,đánh giá của một số công trình khoa học đã công bố

Luận văn đã phân tích được một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luậtđiều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và đánh giá thực trạng của pháp luật

để rút ra những hạn chế, bất cập còn tổn tại Trên cơ sở khoa học và thực tiễn,luận văn đã định hướng và đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiệnpháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất.Kết quả nghiên cứu có thế là tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ quan,

tổ chức nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện phápluật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và Người sử dụng đất Đây

sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ sở ngiên cứu và đào tạo luật học

Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Chương1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN

HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Khái niệm quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất, cho thuê đất

Trang 8

1.1.1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất

Hiện nay, trên cơ sở tinh thần của Bộ luật Dân sự, có nhiều hướng tiếpcận và quan điểm về khái niệm quyền sử dụng đất được đưa ra, nhưng nhìnchung đều xem xét quyền sử dụng đất dưới hai góc độ kinh tế và góc độ pháp

lý Từ cơ sở pháp lý đó, quyền sử dụng đất có tính chất như sau: Chế độ sửdụng đất hình thành và phát triển trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu đặc biệt củaNhà nước; Chế độ sử dụng đất đai có tính đặc biệt và là loại quyền khôngtrọn vẹn, không đầy đủ ; Quyền sử dụng không phải là quyền sở hữu cho nênkhông có tính chất vĩnh viễn, quyền sử dụng vì thế bị giới hạn về thời giantheo hợp đồng giữa bên sở hữu và bên sử dụng

Từ những lập luận theo phương diện chủ quan và khách quan, có thể

khái quát như sau: Quyền sử dụng đất là quyền năng của người sử dụng đất trong việc khai thác các thuộc tính có ích của đất nhằm đem lại lợi ích vật chất nhất định và là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai bao gồm toàn

bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất và quy định việc bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng.

1.1.1.2 Khái niệm cho thuê đất, pháp luật cho thuê đất

Khoản 4, Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất

ổn định” Như vậy, cho thuê đất là hình thức Nhà nước chuyển quyền sử

dụng đất của mình cho các chủ thuê đất thông qua hợp đồng thuê đất, phùhợp với các quy định của pháp luật hiện hành Tại khoản 2, Điều 4, Luật

Đất đai năm 2003 như sau: “Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”

Khái niệm pháp luật về cho thuê đất được hiểu là toàn bộ các văn

bản quy phạm pháp luật (bao gồm Luật, văn bản dưới luật) quy định về vấn

đề cho thuê đất Theo pháp luật hiện nay, các quy định liên quan đến vấn đề cho thuê đất ở nước ta được thể hiện cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003 và các lần sửa đổi bổ sung; các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

Trang 9

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm quan hệ thuê đất giữa Nhà nước

Theo điều 4 Khoản 2 của Luật đất đai hiện hành:“Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng

có nhu cầu sử dụng đất” Hợp đồng cho thuê đất chính là cơ sở làm phát

sinh quan hệ thuê đất Các chủ thể có thể ký kết những hợp đồng thuê đất

và các hợp đồng này cần phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

để Nhà nước thực hiện việc quản lý các hợp đồng

Hợp đồng là một trong những hình thức pháp lý cơ bản của các quan

hệ xã hội Hiện hành ở Việt Nam, trên giác độ pháp lý, khái niệm hợp đồngthường được hiểu trên cơ sở của khái niệm hợp đồng dân sự Theo Bộ luậtDân sự (2005), Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xáclập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự và theo đó hợp đồng cóđặc điểm là sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng về địa vị pháp lýgiữa các chủ thể (cá nhân, tổ chức) tham gia giao kết

Tuy nhiên, với nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhànước đại diện chủ sở hữu, có nghĩa toàn bộ đất đai trên phạm vi cả nước chỉthuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thực hiện các quyền củachủ sở hữu chứ không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ tổ chức cá nhân nàokhác Nhà nước thực hiện quyền định đoạt với đất đai (quyền đặc trưng củachủ sở hữu) thông qua hành vi như: Quyết định cho thuê đất

Quy định tại Điều 4 Khoản 1 của Luật Đất đai 2003 được xây dựngvới mục đích phân biệt giữa hoạt động giao đất và cho thuê đất của Nhànước Tuy nhiên, cách tiếp cận nêu trên đã bỏ qua một nội dung quan trọngmang yếu tố quyết định trong hoạt động cho thuê đất đó là quyết định chothuê đất của UBND và dễ làm người đọc hiểu nhầm rằng quan hệ thuê đất

Trang 10

giữa Nhà nước và người sử dụng hoàn toàn mang tính dân sự, thương mạitrong khi những quy định khác trong cùng Luật đất đai đã cho thấy quan hệcho thuê đất vẫn mang đậm và rõ nét tính hành chính, tính chất dân sự,thương mại ở đây rất mờ nhạt

Tóm lại, quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất làquan hệ do các quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh, trong đó các bêntham gia quan hệ đều có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý mà quyền vànghĩa vụ này được Nhà nước đảm bảo thực hiện Quan hệ cho thuê đấtđược phát sinh qua hoạt động chuyển giao đất từ Nhà nước sang cho người

sử dụng bằng một hợp đồng thuê đất dựa trên quyết định cho thuê đất của

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, và người thuê đất phải trả tiền thuê đấtcho Nhà nước cho suốt thời gian thuê

1.1.2.2 Đặc điểm của quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất

Quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất có những đặcđiểm như ra đời từ quy định thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng, làmột sản phẩm của hoạt động lập pháp; Do tính chất đặc thù của chế độ sởhữu toàn dân về đất đai nên quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sửdụng đất được hình thành trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân về đất đai;Quan hệ pháp luật về thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng là một quan

hệ vừa mang tính dân sự, thương mại, vừa mang tính hành chính

1.2 Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất

Do đất đai là tài nguyên vô cùng quý gía có đặc tính khan hiếm, dễphát sinh tình trạng đầu cơ đất đai, độc quyền trong kinh doanh và là mộtsản phẩm của hoạt động lập pháp nên việc xây dựng một hành lang pháp lýđảm bảo cho sự điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sửdụng đất là điều tất yếu và sẽ giúp quan hệ đất đai này phát triển một cáchcân bằng, hài hòa lợi ích của các bên

Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước vàngười sử dụng đất phải bảo đảm nguyên tắc cơ bản sau: Pháp luật điềuchỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất phải bảo vệ

Trang 11

được quyền sở hữu toàn dân đối với đất và bảo đảm được lợi ích của chủ sởhữu đất trong việc cho thuê đất Mặt khác, pháp luật điều chỉnh quan hệthuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất phải bảo đảm được lợi íchchính đáng của người thuê đất.

1.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất

1.3.1 Nội dung của sự điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất

Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước vàngười sử dụng đất chủ yếu bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật về chủthể là cơ quan đại diện chủ sở hữu tham gia quan hệ thuê đất với tư cách làbên cho thuê và chủ thể sử dụng đất; nhóm quy phạm về quyền và nghĩa vụcủa các bên trong quan hệ thuê đất Ngoài ra, pháp luật điều chỉnh quan hệthuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất còn nhóm quy phạm điềuchỉnh về thẩm quyền của bên cho thuê tức cơ quan đại diện chủ sở hữucũng như trình tự, thủ tục thuê đất, về giá đất khi thuê đất

1.3.2 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất

Pháp luật đối với quan hệ thuê đất ở Việt Nam được quy định trongnhiều văn bản Luật và văn bản dưới Luật như: Bộ Luật Dân sự 2005, cácLuật Đất đai và các văn bản dưới luật như Nghị định, thông tư hướng dẫnthi hành và các quyết định, công văn do cấp UBND các tỉnh ban hành đểphù hợp và thuận tiện cho việc hướng dẫn áp dụng pháp luật

1.4 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất

Ở Việt Nam tất yếu loại quan hệ này chỉ xuất hiện và phát triển từkhi quy đất đai về một chủ sở hữu, đó là sở hữu toàn dân Luật đất đai năm

1987 là văn bản luật đầu tiên quy định về vấn đề quản lý, sử dụng đất vàđược xây dựng trên nền tảng các quy định của Hiến pháp 1980 Tuy nhiên,đến Luật đất đai 1993, Nhà nước mới chính thức quy định thêm mộtphương thức chuyển giao đất nữa cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, đó

là thuê đất Trên cơ sở quy định của Luật đất đai 1993, lần lượt các văn bản

Trang 12

cụ thể hóa quan hệ pháp luật này đã được ban hành Để phù hợp với tìnhhình mới, Luật đất đai 2003 ra đời kế thừa những quy định hoàn thiện trongluật cũ và điều chỉnh một số điểm cho phù hợp với yêu cầu của hiện tại.Đây chính là cơ sở pháp lý cho quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người

sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về cho thuê đấtnói riêng có thể thấy: hầu hết các quốc gia mà đề tài nghiên cứu đều cóchính sách pháp luật về cho thuê đất Theo đó, việc quy định cho thuê đất

có thu tiền là phổ biến Đây là những kinh nghiệm và xu hướng phát triển

mà Việt Nam cần học hỏi và quan tâm

Chương 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT: THỰC TRẠNG, THỰC TIỄN

THỰC HIỆN TẠI HÀ NỘI

2.1. Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất và thực tiễn thực hiện tại Hà Nội

2.1.1 Các quy định về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê

đất

Căn cứ để quyết định cho thuê đất theo Điều 31, Luật Đất đai năm

2003 bao gồm: Một là, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây

dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà

nước có thẩm quyền xét duyệt; Hai là, nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự

án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất Nhu cầu

sử dụng đất thể hiện rõ hơn trong Điều 27 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CPngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất,giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Cùng với các căn cứtrên, Điều 32 Luật Đất đai năm 2003 cũng quy định: Việc quyết định cho thuêđất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện saukhi có quyết định thu hồi đất đó

Trang 13

Nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật đất đai 2003, một số văn bản

đã được ban hành như Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quyđịnh bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư, Thông tư số 19/2010/TT-BTNMT quy định chi tiết việc lập,điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và Nghị quyết số06/NQ-CP ngày 09/01/2013 của Chính phủ về Quy hoạch sử dụng đất đếnnăm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố

Hà Nội, UBND Thành phố đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu(2011-2015) bằng kế hoạch Số 23/KH-UBND ngày 31 tháng 01 năm 2013.Đến nay, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2020đang được triển khai đồng bộ tại 04 cấp Sở Tài nguyên và Môi trường HàNội đã chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan thẩm định vềnhu cầu sử dụng đất trên cơ sở xem xét hồ sơ dự án đầu tư theo quy địnhcủa pháp luật về đầu tư.Thực tế nhiều địa phương nói chung và tại Hà Nội,thẩm định nhu cầu sử dụng đất tuy được thực hiện nhưng vẫn còn mangtính hình thức, do thiếu cơ chế, thiếu các điều kiện thực tế để cơ quan cóthẩm quyền thực hiện

Theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước cho thuê đất dưới hai hìnhthức sau: Nhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất hàng năm và hình thứcNhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất một lần Theo đó, hộ gia đình,

cá nhân và các tổ chức có nhu cầu thuê đất phải trả một khoản tiền nhấtđịnh theo hợp đồng thuê đất cho Nhà nước theo hai cách: trả tiền thuê đấthàng năm hoặc trả tiền thuê đất một lần theo quy định của pháp luật.Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, tại khoản 1, Điều 35Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất hàngnăm trong bảy trường hợp và Khoản 2, Điều 35 Luật Đất đai năm 2003 quyđịnh đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất 1 lầncho cả thời gian thuê trong hai trường hợp

Như vậy, Nhà nước đã thu hẹp diện thu hồi đất bằng quyết định hànhchính và sau đó cho nhà đầu tư thuê đất phục vụ phát triển kinh tế Đồng

Ngày đăng: 13/04/2015, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w