Đánh giá chung thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất từ thực tiễn thực hiện tại 2.2.1.Những kết quả đạt được...18 2.2.2.Những hạn chế, bất c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU THỊ THU THỦY
PH¸P LUËT §IÒU CHØNH QUAN HÖ THU£ §ÊT GI÷A NHµ N¦íC Vµ NG¦êI Sö DôNG §ÊT Tõ THùC TIÔN T¹I Hµ NéI
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2013
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hữu Nghị
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 4
1.Tính cấp thiết của đề tài 4
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài 4 3.Mục đích nghiên cứu 4
4.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
5.Phương pháp nghiên cứu 5
6.Kết quả và đóng góp của Luận văn 5
7.Kết cấu của Luận văn 5
Chương1 5
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 5
1.1.Khái niệm quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 5 1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất, cho thuê đất 5
1.1.2.Khái niệm, đặc điểm quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 7
1.2 Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 8 1.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 9 1.3.1. Nội dung của sự điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 9
Trang 41.3.2. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 9
1.4 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 9Chương 2 10 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT: THỰC TRẠNG, THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HÀ NỘI 102.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất và thực
2.1.1. .Các quy định về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê đất10 2.1.2. Các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cho thuê đất12 2.1.3.Các quy định về giá đất 13 2.1.4. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 14
2.2 Đánh giá chung thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất từ thực tiễn thực hiện tại
2.2.1.Những kết quả đạt được 18 2.2.2.Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân1 9
Chương 3 22 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐƯỢC ĐỀ XUẤT TỪ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 223.1 Định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 22
Trang 53.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất 22
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê đất 22 3.2.2 Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục cho thuê đất 23 3.2.3 Hoàn thiện các quy định về giá đất 24 3.2.4 Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thuê đất giữa nhà nước và người sử dụng đất 24
KẾT LUẬN 25
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước đã banhành nhiều văn bản pháp luật để quản lý đất đai như Luật Đất đai năm 2003được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 Theo đó cùng với giao đất, chothuê đất là một trong những công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước về đấtđai, là tiền đề khai thác, sử dụng đất phát triển kinh tế - xã hội theo quy hoạch,
kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Tuy nhiên, tình trạng đất chothuê sử dụng còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Xuất phát từ những lý do trên
tôi đã chọn đề tài: “Pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và
người sử dụng đất từ thực tiễn tại Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn
nhằm tìm hiểu và hệ thống hóa những lý luận về pháp luật điều chỉnh quan hệthuê đất để giúp chúng ta khắc phục được những thiếu sót, bất cập nêu trên, tạo
cơ sở để tiếp tục hoàn thiện hơn hành lang pháp lý về quan hệ thuê đất giữaNhà nước và người sử dụng đất
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thời gian qua, các nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu được sựquan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và các nhà hoạt động thực tiễn, gópphần tạo ra những cơ sở lý luận chung về quản lý đất đai nói chung và thuêđất nói riêng Tuy nhiên, với mong muốn được tiếp cận vấn đề từ tổng quanchính sách, pháp luật về quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụngđất, nhận diện những bất cập còn hạn chế trong việc điều chỉnh quan hệpháp luật này, tác giả đã tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này
Luận văn có mục đích nghiên cứu là chỉ ra những điểm còn thiếu sót,hạn chế của khung pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước vàngười sử dụng đất ở Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật vàthực hiện pháp luật tại một địa phương Từ đó đề xuất các giải pháp nhằmbảo đảm việc nâng cao hiệu quả thi hành, áp dụng các chế định điều chỉnhquan hệ pháp luật đất đai này trên thực tế
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Trang 7Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các văn bản pháp luật,thực tiễn thi hành pháp luật điều chỉnh về quan hệ thuê đất giữa nhà nước
và người sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật về quan hệ thuê đất là một đề tài cónội hàm nghiên cứu rộng, tuy nhiên trong khuôn khổ có hạn của một bản Luậnvăn Thạc sĩ Luật học, người viết chỉ đề cập đến phạm vi quan hệ thuê đất giữaNhà nước - chủ sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất từ thực tiễn thihành pháp luật điều chỉnh về quan hệ thuê đất giữa nhà nước và người sử dụngđất trên địa bàn thành phố Hà Nội
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận văn gồmcác phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá, đối chiếu, diễngiải, quy nạp và thu thập, kế thừa các nghiên cứu, tài liệu cùng quan điểm,đánh giá của một số công trình khoa học đã công bố
Luận văn đã phân tích được một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luậtđiều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và đánh giá thực trạng của pháp luật
để rút ra những hạn chế, bất cập còn tổn tại Trên cơ sở khoa học và thực tiễn,luận văn đã định hướng và đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiệnpháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất.Kết quả nghiên cứu có thế là tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ quan,
tổ chức nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện phápluật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và Người sử dụng đất Đây
sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ sở ngiên cứu và đào tạo luật học
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Chương1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN
HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Khái niệm quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất, cho thuê đất
Trang 81.1.1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất
Hiện nay, trên cơ sở tinh thần của Bộ luật Dân sự, có nhiều hướng tiếpcận và quan điểm về khái niệm quyền sử dụng đất được đưa ra, nhưng nhìnchung đều xem xét quyền sử dụng đất dưới hai góc độ kinh tế và góc độ pháp
lý Từ cơ sở pháp lý đó, quyền sử dụng đất có tính chất như sau: Chế độ sửdụng đất hình thành và phát triển trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu đặc biệt củaNhà nước; Chế độ sử dụng đất đai có tính đặc biệt và là loại quyền khôngtrọn vẹn, không đầy đủ ; Quyền sử dụng không phải là quyền sở hữu cho nênkhông có tính chất vĩnh viễn, quyền sử dụng vì thế bị giới hạn về thời giantheo hợp đồng giữa bên sở hữu và bên sử dụng
Từ những lập luận theo phương diện chủ quan và khách quan, có thể
khái quát như sau: Quyền sử dụng đất là quyền năng của người sử dụng đất trong việc khai thác các thuộc tính có ích của đất nhằm đem lại lợi ích vật chất nhất định và là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai bao gồm toàn
bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất và quy định việc bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng.
1.1.1.2 Khái niệm cho thuê đất, pháp luật cho thuê đất
Khoản 4, Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất
ổn định” Như vậy, cho thuê đất là hình thức Nhà nước chuyển quyền sử
dụng đất của mình cho các chủ thuê đất thông qua hợp đồng thuê đất, phùhợp với các quy định của pháp luật hiện hành Tại khoản 2, Điều 4, Luật
Đất đai năm 2003 như sau: “Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”
Khái niệm pháp luật về cho thuê đất được hiểu là toàn bộ các văn
bản quy phạm pháp luật (bao gồm Luật, văn bản dưới luật) quy định về vấn
đề cho thuê đất Theo pháp luật hiện nay, các quy định liên quan đến vấn đề cho thuê đất ở nước ta được thể hiện cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003 và các lần sửa đổi bổ sung; các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
Trang 91.1.2 Khái niệm, đặc điểm quan hệ thuê đất giữa Nhà nước
Theo điều 4 Khoản 2 của Luật đất đai hiện hành:“Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng
có nhu cầu sử dụng đất” Hợp đồng cho thuê đất chính là cơ sở làm phát
sinh quan hệ thuê đất Các chủ thể có thể ký kết những hợp đồng thuê đất
và các hợp đồng này cần phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để Nhà nước thực hiện việc quản lý các hợp đồng
Hợp đồng là một trong những hình thức pháp lý cơ bản của các quan
hệ xã hội Hiện hành ở Việt Nam, trên giác độ pháp lý, khái niệm hợp đồngthường được hiểu trên cơ sở của khái niệm hợp đồng dân sự Theo Bộ luậtDân sự (2005), Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xáclập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự và theo đó hợp đồng cóđặc điểm là sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng về địa vị pháp lýgiữa các chủ thể (cá nhân, tổ chức) tham gia giao kết
Tuy nhiên, với nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhànước đại diện chủ sở hữu, có nghĩa toàn bộ đất đai trên phạm vi cả nước chỉthuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thực hiện các quyền củachủ sở hữu chứ không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ tổ chức cá nhân nàokhác Nhà nước thực hiện quyền định đoạt với đất đai (quyền đặc trưng củachủ sở hữu) thông qua hành vi như: Quyết định cho thuê đất
Quy định tại Điều 4 Khoản 1 của Luật Đất đai 2003 được xây dựngvới mục đích phân biệt giữa hoạt động giao đất và cho thuê đất của Nhànước Tuy nhiên, cách tiếp cận nêu trên đã bỏ qua một nội dung quan trọngmang yếu tố quyết định trong hoạt động cho thuê đất đó là quyết định chothuê đất của UBND và dễ làm người đọc hiểu nhầm rằng quan hệ thuê đất
Trang 10giữa Nhà nước và người sử dụng hoàn toàn mang tính dân sự, thương mạitrong khi những quy định khác trong cùng Luật đất đai đã cho thấy quan hệcho thuê đất vẫn mang đậm và rõ nét tính hành chính, tính chất dân sự,thương mại ở đây rất mờ nhạt
Tóm lại, quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất làquan hệ do các quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh, trong đó các bêntham gia quan hệ đều có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý mà quyền vànghĩa vụ này được Nhà nước đảm bảo thực hiện Quan hệ cho thuê đấtđược phát sinh qua hoạt động chuyển giao đất từ Nhà nước sang cho người
sử dụng bằng một hợp đồng thuê đất dựa trên quyết định cho thuê đất của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, và người thuê đất phải trả tiền thuê đấtcho Nhà nước cho suốt thời gian thuê
1.1.2.2 Đặc điểm của quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất
Quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất có những đặcđiểm như ra đời từ quy định thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng, làmột sản phẩm của hoạt động lập pháp; Do tính chất đặc thù của chế độ sởhữu toàn dân về đất đai nên quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sửdụng đất được hình thành trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân về đất đai;Quan hệ pháp luật về thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng là một quan
hệ vừa mang tính dân sự, thương mại, vừa mang tính hành chính
1.2 Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất
Do đất đai là tài nguyên vô cùng quý gía có đặc tính khan hiếm, dễphát sinh tình trạng đầu cơ đất đai, độc quyền trong kinh doanh và là mộtsản phẩm của hoạt động lập pháp nên việc xây dựng một hành lang pháp lýđảm bảo cho sự điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sửdụng đất là điều tất yếu và sẽ giúp quan hệ đất đai này phát triển một cáchcân bằng, hài hòa lợi ích của các bên
Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước vàngười sử dụng đất phải bảo đảm nguyên tắc cơ bản sau: Pháp luật điềuchỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất phải bảo vệ
Trang 11được quyền sở hữu toàn dân đối với đất và bảo đảm được lợi ích của chủ sởhữu đất trong việc cho thuê đất Mặt khác, pháp luật điều chỉnh quan hệthuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất phải bảo đảm được lợi íchchính đáng của người thuê đất.
1.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất
1.3.1 Nội dung của sự điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất
Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước vàngười sử dụng đất chủ yếu bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật về chủthể là cơ quan đại diện chủ sở hữu tham gia quan hệ thuê đất với tư cách làbên cho thuê và chủ thể sử dụng đất; nhóm quy phạm về quyền và nghĩa vụcủa các bên trong quan hệ thuê đất Ngoài ra, pháp luật điều chỉnh quan hệthuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất còn nhóm quy phạm điềuchỉnh về thẩm quyền của bên cho thuê tức cơ quan đại diện chủ sở hữucũng như trình tự, thủ tục thuê đất, về giá đất khi thuê đất
1.3.2 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất
Pháp luật đối với quan hệ thuê đất ở Việt Nam được quy định trongnhiều văn bản Luật và văn bản dưới Luật như: Bộ Luật Dân sự 2005, cácLuật Đất đai và các văn bản dưới luật như Nghị định, thông tư hướng dẫnthi hành và các quyết định, công văn do cấp UBND các tỉnh ban hành đểphù hợp và thuận tiện cho việc hướng dẫn áp dụng pháp luật
1.4 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất
Ở Việt Nam tất yếu loại quan hệ này chỉ xuất hiện và phát triển từkhi quy đất đai về một chủ sở hữu, đó là sở hữu toàn dân Luật đất đai năm
1987 là văn bản luật đầu tiên quy định về vấn đề quản lý, sử dụng đất vàđược xây dựng trên nền tảng các quy định của Hiến pháp 1980 Tuy nhiên,đến Luật đất đai 1993, Nhà nước mới chính thức quy định thêm mộtphương thức chuyển giao đất nữa cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, đó
là thuê đất Trên cơ sở quy định của Luật đất đai 1993, lần lượt các văn bản
Trang 12cụ thể hóa quan hệ pháp luật này đã được ban hành Để phù hợp với tìnhhình mới, Luật đất đai 2003 ra đời kế thừa những quy định hoàn thiện trongluật cũ và điều chỉnh một số điểm cho phù hợp với yêu cầu của hiện tại.Đây chính là cơ sở pháp lý cho quan hệ thuê đất giữa Nhà nước và người
sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về cho thuê đấtnói riêng có thể thấy: hầu hết các quốc gia mà đề tài nghiên cứu đều cóchính sách pháp luật về cho thuê đất Theo đó, việc quy định cho thuê đất
có thu tiền là phổ biến Đây là những kinh nghiệm và xu hướng phát triển
mà Việt Nam cần học hỏi và quan tâm
Chương 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THUÊ ĐẤT GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT: THỰC TRẠNG, THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI HÀ NỘI
2.1. Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê đất và thực tiễn thực hiện tại Hà Nội
2.1.1 Các quy định về căn cứ, hình thức, thời hạn cho thuê
đất
Căn cứ để quyết định cho thuê đất theo Điều 31, Luật Đất đai năm
2003 bao gồm: Một là, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây
dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xét duyệt; Hai là, nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự
án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất Nhu cầu
sử dụng đất thể hiện rõ hơn trong Điều 27 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CPngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất,giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Cùng với các căn cứtrên, Điều 32 Luật Đất đai năm 2003 cũng quy định: Việc quyết định cho thuêđất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện saukhi có quyết định thu hồi đất đó
Trang 13Nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật đất đai 2003, một số văn bản
đã được ban hành như Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quyđịnh bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư, Thông tư số 19/2010/TT-BTNMT quy định chi tiết việc lập,điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và Nghị quyết số06/NQ-CP ngày 09/01/2013 của Chính phủ về Quy hoạch sử dụng đất đếnnăm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố
Hà Nội, UBND Thành phố đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu(2011-2015) bằng kế hoạch Số 23/KH-UBND ngày 31 tháng 01 năm 2013.Đến nay, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2020đang được triển khai đồng bộ tại 04 cấp Sở Tài nguyên và Môi trường HàNội đã chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan thẩm định vềnhu cầu sử dụng đất trên cơ sở xem xét hồ sơ dự án đầu tư theo quy địnhcủa pháp luật về đầu tư.Thực tế nhiều địa phương nói chung và tại Hà Nội,thẩm định nhu cầu sử dụng đất tuy được thực hiện nhưng vẫn còn mangtính hình thức, do thiếu cơ chế, thiếu các điều kiện thực tế để cơ quan cóthẩm quyền thực hiện
Theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước cho thuê đất dưới hai hìnhthức sau: Nhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất hàng năm và hình thứcNhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất một lần Theo đó, hộ gia đình,
cá nhân và các tổ chức có nhu cầu thuê đất phải trả một khoản tiền nhấtđịnh theo hợp đồng thuê đất cho Nhà nước theo hai cách: trả tiền thuê đấthàng năm hoặc trả tiền thuê đất một lần theo quy định của pháp luật.Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, tại khoản 1, Điều 35Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất hàngnăm trong bảy trường hợp và Khoản 2, Điều 35 Luật Đất đai năm 2003 quyđịnh đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất 1 lầncho cả thời gian thuê trong hai trường hợp
Như vậy, Nhà nước đã thu hẹp diện thu hồi đất bằng quyết định hànhchính và sau đó cho nhà đầu tư thuê đất phục vụ phát triển kinh tế Đồng