Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Từ Liêm.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hoà nhịp với sự phát triển của thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang tiếnnhững bước vững chắc Sau một số năm tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiềuhướng giảm sút thì đến năm 2000 tỉ lệ này đã tăng lên cùng với sự phát triển khảquan của nền kinh tế
Đạt được những thành tựu này không thể bỏ qua vai trò cực kỳ quan trọngcủa hệ thống ngân hàng Việt Nam Với tư cách là một trung gian tài chính trongnền kinh tế, ngân hàng đã điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, ngoài rangân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động thương mại :bảo lãnh, tài trợ ngoại thương, thanh toán quốc tế Hệ thống ngân hàng trungương cùng với các Ngân hàng Thương mại thực sự là “bà đỡ” của nên kinh tế
Là một trong bốn trụ cột của hệ thống Ngân hàng Thương mại quốc doanh,Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đem lại sự thay đổi lớn laocho sự phát triển nông nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung
Cùng với đóng góp của hệ thống, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn Từ Liêm- một chi nhánh làm ăn có hiệu quả của chi nhánh ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội cũng có sự chuyển biến rõrệt Dư nợ cùng với cho vay năm sau luôn cao hơn năm trước Điều đó chứng tỏhoạt động tín dụng của ngân hàng là tốt
Nằm trên địa bàn có nhiều triển vọng phát triển trong những năm sắp tới(thị trấn Cầu Diễn), ban lãnh đạo ngân hàng luôn trăn trở một điều là làm saohoạt động của ngân hàng luôn đáp ứng được sự phát triển đó Do đó vấn đềđược đặt ra là : để mở rộng hoạt động kinh doanh, thoả mãn tốt nhất nhu cầukhách hàng và mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng thì ngân hàng phảikhông ngừng nâng cao chất lượng công tác huy động vốn - cơ sở làm ra tăngnguồn vốn kinh doanh của ngân hàng
Sau một thời gian thưc tập tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn Từ Liêm, nhận thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn đối
Trang 2với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, em đã mạnh dạn chọn đề tài : “Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Từ Liêm“ làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác huy động vốn củangân hàng từ năm 1998 cho đến nay
Vấn đề huy động vốn là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp song trong quátrình tìm hiểu thực tiễn tại ngân hàng để giải quyết yêu cầu của khoá luận emxây dựng kết cấu như sau:
Chương I : Một số vấn đề chung về công tác huy động vốn ở Ngân hàngThương mại
Chương II : Thực trạng công tác huy động vốn của Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn Từ Liêm
Chương III : Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tạingân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Từ Liêm
Đề tài nghiên cứu là một vấn đề phong phú Trong thời gian thực tập tạingân hàng em vẫn còn những hạn chế nhất định, cho nên bản khoá luận nàykhông tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong sự tham gia góp ý của cơquan thực tiễn, các thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 3CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC
HUY ĐỘNG VỐN Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
1 Khái niệm Ngân hàng Thương mại:
Sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời củathị trường tài chính - tài chính trực tiếp và các trung gian tài chính - tài chínhgián tiếp Các trung gian tài chính tiêu biểu là các Ngân hàng Thương mại vớichức năng chủ yếu là chuyển tiền tiết kiệm từ người thừa vốn sang những đốitượng cần vốn, cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế khôngngừng phát triển
Ở Việt Nam, hiện đang trong bước phát triển nền kinh tế theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thànhphần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các Tổ chức tín dụng trong đó có cácNgân hàng Thương mại đã được thành lập để kinh doanh tiền tệ - tín dụng.Theo điều 20 luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có đưa ra các khái niệmsau:
“ Tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định củaluật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ,làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứngcác dịch vụ thanh toán.”
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạtdộng ngân hàng và các hoạt dộng kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất
và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm có Ngân hàng Thươngmại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hànghợp tác và các loại hình ngân hàng khác.”
2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại :
2.1 Chức năng trung gian tài chính:
Đây là chức năng đặc trưng nhất của các Ngân hàng Thương mại, các tổchức tài chính và các công ty bảo hiểm Ngân hàng Thương mại nhận tiền gửi
và cho vay chính là đã thực hiện việc chuyển tiền tiết kiệm thành tiền đầu tư
Trang 4Người có tiền dư thừa có thể thực hiện các công việc tài chính như : cổ phiếu,trái phiếu, chứng khoán của chính phủ và công ty trực tiếp qua trung tâm tàichính Tuy nhiên, Tài chính trực tiếp đôi khi không đem lại hiệu quả cao nhấtcho người đầu tư, vì người có tiền đầu tư và người sử dụng tiền đầu tư thiếuthông tin chính xác về nhau, hay chi phí giao dịch quá lớn và do đó rủi ro đầu tư
là tương đối cao
Chính vì những hạn chế đó các trung gian Tài chính đã ra đời và phát triểnrất nhanh, điển hình là các Ngân hàng Thương mại Với mạng lưới giao dịchrộng khắp, các dịch vụ đa dạng, cung cấp thông tin nhiều chiều, hoạt động ngàycàng phong phú và chuyên môn hoá vào từng lĩnh vực, Ngân hàng Thương mại
đã thực sự bổ sung được các hạn chế của Tài chính trực tiếp, góp phần nâng caohiệu quả của quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường
2.2 Chức năng tạo tiền và huỷ tiền
Tạo tiền và huỷ tiền là hai chức năng cực kỳ quan trọng của các Ngân hàngThương mại Các chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tíndụng và đầu tư của các Ngân hàng Thương mại trong mối quan hệ với Ngânhàng Trung ương đặc biệt là trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ, mà mụctiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền, tạo sự tăng trưởng kinh tế
và tạo được nhiều việc làm Do đó khối lượng tiền cung ứng phải vừa đủ vàkhông được phép vượt Nếu tiền cung ứng tăng quá nhanh, tất yếu sẽ xảy ra lạmphát và gây ra những hậu quả xấu mà nền kinh tế phải gánh chịu Khối lượngtiền được điều tiết qua các Ngân hàng Thương mại là :
Trong đó
D : khối lượng tiền qua hệ thống Ngân hàng Thương mại
R : số lượng tiền ban đầu ngân hàng phát hành
d
r
1 R.
D
d
dr
Trang 5Các Ngân hàng Thương mại hoạt động như một kênh dẫn để thông qua đótiền cung ứng được tăng lên hay giảm xuống nhằm đạt được các mục tiêu quantrọng nói trên.
Sức mạnh của hệ thống Ngân hàng Thương mại nhằm tạo tiền mang ýnghĩa kinh tế to lớn Hệ thống tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho sựphát triển kinh tế theo một hệ số tăng trưởng vững chẵc Nếu tín dụng ngân hàngkhông tạo được tiền để mở ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất
và những hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp sản xuất không thực hiệnđược và nguồn tích luỹ từ lợi nhuận, các nguồn khác sẽ bị hạn chế Cho nên nóitạo tiền và huỷ tiền là chức năng vô cùng quan trọng của các Ngân hàng Thươngmại
2.3 Chức năng cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán
Cùng với sự phát triển của các Ngân hàng Thương mại đặc biệt là côngnghệ ngân hàng, các phương tiên thanh toán cho ngân hàng cung cấp ngày càng
đa dạng, phong phú và rất thuận tiện cho khách hàng: các loại séc chuyển tiền,chuyển khoản, thẻ tín dụng, card điện tử Sự xuất hiện các phương tiện thanhtoán này tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp trong giao dịch thươngmại, mua bán hàng hoá an toàn, nhanh chóng và chi phí thấp
2.4 Chức năng cung cấp các dịch vụ môi giới, bảo lãnh, tài trợ ngoại thương
Các Ngân hàng Thương mại ngày nay thường cung cấp các dịch vụ chokhách hàng, bên cạnh đó họ cũng tư vấn cho khách hàng Do nhu cầu phát triểncủa nền kinh tế, các ngân hàng mở rộng các hình thức phục vụ của mình : môigiới, mua bán chứng khoán, tư vấn đầu tư, bảo lãnh
3 Vị trí và vai trò của công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại
Bất cứ một Ngân hàng Thương mại nào cũng hoạt động với mục đíchchung là vì lợi nhuận và vì sự tăng trưởng không ngừng của nguồn vốn Đây làyếu tố không thể thiếu được để tiến hành và phát triển các hoạt động kinh doanh
Trang 6Vốn là cơ sở để Ngân hàng Thương mại tổ chức mọi hoạt động kinh doanhcủa mình Bởi vì với đặc trưng hoạt động Ngân hàng Thương mại, vốn khôngchỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếucủa Ngân hàng Thương mại Chính vì vậy có thể nói vốn là điểm đầu tiên trongchu kỳ kinh doanh của ngân hàng Do đó ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết thìngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quátrình hoạt động của mình.
Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngânhàng Vốn của ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượngtín dụng Các ngân hàng trường vốn sẽ có lợi hơn so với các ngân hàng nhỏ vìkhả năng vốn của họ có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu vay trên thị trường.Vốn quyết định năng lực cạnh tranh và đăm bảo uy tín của ngân hàng trênthị trường Để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngânhàng phải có uy tín cao, với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinhdoanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh cóhiệu quả vừa giữ chữ tín vừa nâng cao uy tín của ngân hàng
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng Khả năng vốn lớn làđiều kiện thuân lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng vớicác thành phần kinh tế Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh
số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiềuthuận lợi hơn trong kinh doanh Đồng thời vốn lớn sẽ giúp ngân hàng có đủ khảnăng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường không chỉ đơn thuần là chovay mà còn mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết
Bên cạnh vai trò quan trọng của nguồn vốn trong kinh doanh ngân hàng thìchức năng hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay”đã đặt ra cho cácNgân hàng Thương mại một vấn đề là: phải không ngừng chăm lo tới sự pháttriển của nguồn vốn để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình
Do đó, hiện nay cùng với công tác sử dụng vốn thì các ngân hàng cũng rấtquan tâm đến công tác huy động vốn Cho nên công tác huy động vốn có vai tròhết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng Thương mại
Trang 7II NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
đồ sinh hoạt, cho vay tiêu dùng, cho vay vốn lưu động Do vậy nguồn vốn nàyđược huy động với lãi suất thấp
1.1.2 Huy động vốn dài hạn
Đây là hình thức ngân hàng để huy động để phục vụ hoạt động cho vaytrung và dài hạn, với thời hạn từ 1 năm trở lên Nguồn vốn huy động dài hạnđược sử dụng chủ yếu cho các khoản tín dụng trung hạn và dài hạn như : đầu tưchiều sâu cho các doanh nghiệp thay đổi công nghệ, cải tiến sản phẩm, đầu tưxây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới dây chuyền công nghệ Đây là khoản vốn huy động mà ngân hàng phải trả lãi cao
1.2 Phân loại theo đối tượng
1.2.1 Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước
Đây là lĩnh vực ngân hàng huy động được nhiều vốn nhất vì các đơn vị nàygửi một khối lượng lớn tiền vào ngân hàng để hưởng các dịch vụ thanh toán củangân hàng Giao dịch tiền tệ giữa các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cơ quan nhànước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của họ Do có sự đanxen giữa các khoản phải thanh toán và các khoản phải thu tiền mà trên tài khoảncủa các tổ chức này tại ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi nhất định vàtrở thành một nguồn vốn có chi phí thấp giúp các ngân hàng thực hiện cácnghiệp vụ cho vay ngắn hạn đôi khi cả trung hạn Tuy nhiên, tính ổn định và độ
Trang 8lớn của nguồn vốn này phụ thuộc rất nhiều vào quy mô và loại hình kinh doanhcủa doanh nghiệp.
1.2.2 Huy động vốn từ các tầng lớp dân cư
Mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều có những khoản tiền dự phòng cho nhữngtiêu dùng và rủi ro trong tương lai Khi xã hội càng phát triển thì các khoản dựphòng càng tăng lên Nắm bắt được những đặc tính đó, các Ngân hàng Thươngmại tìm mọi hình thức để huy động các khoản tiết kiệm này, vì nếu gom đượcchúng ngân hàng sẽ có một nguồn vốn không nhỏ để đáp ứng nhu cầu vốn củanền kinh tế đồng thời thu được lợi nhuận
1.2.3.Huy động vốn từ các ngân hàng khác và các tổ chức tài chính
Các hình thức huy động vốn nói trên đóng vai trò chủ yếu trong công táchuy động vốn của Ngân hàng Thương mại Tuy nhiên, trong tình hình kinhdoanh của các ngân hàng ngày nay, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến nguồnvốn có thể huy động được bằng cách vay các Ngân hàng Thương mại khácthông qua thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng Các Ngân hàng Thươngmại là những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh tiền tệ,giống như những doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác, ở các ngânhàng và các tổ chức tài chính cũng thường xuất hiện tình trạng tạm thời thừa,thiếu vốn so với nhu cầu ở đầu ra của họ
1.3 Phân loại theo các công cụ huy động vốn của ngân hàng
1.3.1 Huy động các tài khoản tiền gửi của khách hàng
Đây là bộ phận chủ yếu trong cơ cấu tài sản nợ của các Ngân hàng Thươngmại Huy động tiền gửi là đặc trưng cơ bản trong kinh doanh của các ngân hàng.Tiền gửi bao gồm :
* Tiền gửi thanh toán (thường không có kỳ hạn)
Đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử dụng để tiến hànhthanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khácphát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận
Trang 9tiện Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại ngân hàng trên hai loại tàikhoản : tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai Đối với tài khoảntiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba được thực hiện bằngséc hay chuyển khoản Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư Nợ có lúc dư
Có Với tài khoản này, khách hàng còn có thể được ngân hàng dáp ứng nhu cầutín dụng trong một thời gian nhất định
Đứng trên góc độ ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ màngân hàng phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào Tuy nhiên,trong mỗi ngân hàng do có sự không khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tàikhoản tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp hay giữa các tài khoản của cácdoanh nghiệp làm cho nhập lớn hơn xuất, tạo nên tồn khoản mà ngân hàng đượcphép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh
* Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền được uỷ thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thờigian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng Như vậy, theo nguyên tắc kháchhàng ký thác chỉ được rút ra khi đến hạn đã thoả thuận Đại bộ phận nguồn tiềngửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký thác với mụcđích hưởng lãi Do đó, khác với tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi suất có tácđộng rất lớn đến nguồn này Các Ngân hàng Thương mại nhận hai loại tiền gửi
có kỳ hạn : tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút (khi rút phải báo trước) Về cơbản, các khoản tiền có kỳ hạn không được sử dụng để tiến hành thanh toán nhưcác tài khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai Thông thường, tiền gửi có
kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiềngửi tiết kiệm Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụngphần lớn tồn khoản vào kinh doanh Để tăng cường khả năng huy động nguồnnày, trước hết các Ngân hàng Thương mại thường áp dụng nhiều kỳ hạn khácnhau nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau Mỗi
kỳ hạn ngân hàng thường áp dụng một mức lãi suất tương ứng, với nguyên tắcthời hạn càng dài thì lãi suất càng cao
Trang 10* Tiền gửi tiết kiệm
Ở các nước phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi tiếtkiệm đứng ở vị trí thứ hai về mặt số lượng Tiền gửi tiết kiệm là khoản để dànhcủa cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi theo định kkỳ Tiền gửi tiếtkiệm gồm có : tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất
cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả chongười khác
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền có sự thoả thuận về thờihạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm không kỳhạn
1.3.2 Huy động vốn qua thị trường
Các Ngân hàng Thương mại còn tăng cường nguồn vốn bằng cách vay vốntrên thị trường, phát hành các phiếu nợ như kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu Ngânhàng Thương mại Các hình thức này ngày càng phổ biến và mang lại những kếtquả tốt
Phát hành các loại phiếu nợ:
Trái phiếu và kỳ phiếu ngân hàng là những hình thức huy động vốn rất cơđộng và thoáng Bằng các công cụ này các ngân hàng có thể tạo ra một khốilượng vốn lớn như mong muốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốncấp bách Điều này đặc biệt cần thiết khi nền kinh tế có lạm phát Các trái phiếu,
kỳ phiếu ngân hàng được phát hành ra vừa có tác dụng duy trì khối lượng huyđộng vừa có tác dụng chống lạm phát Các Ngân hàng Thương mại phải trả lãisuất cao hơn cho các hình thức huy động này so với lãi suất tiền gửi huy động.Như vậy, khi thực hiện huy động vốn dưới các hình thức này, các ngân hàngphải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất vàthời hạn, phương pháp huy động vốn Vốn này chỉ được huy động trong mộtthời gian nhất định, khi đã đủ khối lượng vốn theo dự kiến các ngân hàng sẽngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu
Trang 11 Huy động vốn thông qua việc vay các Ngân hàng Thương mại, các
tổ chức tín dụng và ngân hàng trung ương (huy động thông qua các hình thức vay vốn khác trên thị trường ):
Các Ngân hàng Thương mại khi xuất hiện trên thị trường để vay vốnthường do một số nguyên nhân cấp thiết như thiếu hụt dự trữ tại ngân hàng trungương, thiếu tiền mặt nên ngoài việc phát hành phiếu nợ, các Ngân hàngThương mại có thể đi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng tại những khoản dự trữtại ngân hàng trung ương hoặc phát hành RPs thoả thuận mua lại Đây là cáckhoản mua bán chứng khoán mà Ngân hàng Thương mại đang kinh doanh bêntài sản Có đối với các tổ chức trung gian tài chính khác Thời hạn vay mượngiữa các Ngân hàng Thương mại rất linh hoạt có thể ít ngày cũng có thể dài hạnphù hợp với nhu cầu về vốn của Ngân hàng Thương mại trong từng giai đoạn cụthể
Trong trường hợp vốn vay trên tiếp tục không đáp ứng được đủ nhu cầu sửdụng của Ngân hàng Thương mại thì Ngân hàng Thương mại sẽ đi vay của ngânhàng trung ương Trong quan hệ với ngân hàng trung ương, các Ngân hàngThương mại đóng vai trò là khách hàng thường xuyên và ngân hàng trung ươngvới tư cách là ngân hàng của các ngân hàng đồng thời là người “cứu cánh cuốicùng” đối với các Ngân hàng Thương mại
2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn:
Điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của Ngân hàng Thương mại vớicác doanh nghiệp phi tài chính là: Ngân hàng Thương mại kinh doanh chủ yếubằng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế còn các doanh nghiệp khác hoạt độngdựa trên vốn tự có là chính Vì vậy đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn làcông tác không thể thiếu trong nghiên cứu nguồn vốn của các ngân hàng
Khi đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn, các nhà nghiên cứu thườngtập trung vào một số tiêu chí sau đây:
Tỉ lệ quỹ đảm bảo khả năng thanh toán:
Trang 12Cỏc Ngõn hàng Thương mại phải chấp hành tỷ lệ này nhằm đảm bảo antoàn cho cỏc khoản huy động Ngõn hàng nào cú tỷ lệ này đỳng theo quy địnhchứng tỏ ngõn hàng đú rất coi trọng cụng tỏc huy động vốn bởi vỡ bờn cạnh huyđộng vốn - mục tiờu của ngõn hàng thỡ ngõn hàng cũng đảm bảo được an toàncho khỏch hàng, tạo được tõm lý yờn tõm cho khỏch hàng khi họ “gửi gắm ”tiền cho ngõn hàng.
Sở dĩ cỏc ngõn hàng phải chấp hành tỷ lệ này vỡ khụng phải cỏc khoản huyđộng nào cũng cú tớnh ổn định, cỏc ngõn hàng phải cú khả năng thanh toỏn đểđảm bảo cho cỏc nhu cầu rỳt tiền mặt bất thường của khỏch hàng nhằm khụngảnh hưởng đến khả năng thanh toỏn của ngõn hàng, từ đú gúp phần làm ổn địnhnguồn vốn kinh doanh của ngõn hàng, đảm bảo an toàn cho hoạt động kinhdoanh ngõn hàng
Tỉ lệ tiền gửi tiết kiệm bỡnh quõn đầu người :
Để đỏnh giỏ mức độ huy động được từ dõn cư, ta xột hệ số
Nếu tỉ lệ này càng cao chứng tỏ hoạt động huy động vốn đạt kết quả tốt,bởi vỡ ngõn hàng đó tỏc động vào ý thức tiết kiệm, ý thức gửi tiền vào ngõn hàng
và đó thu hỳt được một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ dõn cư để phục vụ cho
sự nghiệp phỏt triển kinh tế
So sỏnh nguồn vốn huy động và việc sử dung vốn:
Nếu một Ngõn hàng Thương mại cú nguồn sử dụng vốn tương xứng vớinguồn vốn huy động, chứng tỏ nguồn vốn huy động đó được sử dụng cú hiệuquả và cụng tỏc huy động vốn của ngõn hàng đó thành cụng Bởi vỡ phần lớn thunhập từ hoạt động sử dụng vốn sẽ bự đắp phần nào chi phớ huy động và đem lạilợi nhuận chủ yếu cho ngõn hàng Hơn nữa việc sử dụng vốn tốt sẽ thỳc đẩy hoạtđộng huy động vốn Cho nờn khi đỏnh giỏ hiệu quả hoạt động của cụng tỏc huyđộng vốn người ta thường xem xột đến cụng tỏc sử dụng vốn của ngõn hàng đú
Tổng số tiền gửi tiết kiệm của địa bànTổng số dân c của địa bàn
Trang 13 Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hàng năm:
Sự phỏt triển của cỏc ngõn hàng đều tập trung vào mục tiờu lợi nhuận
và tăng trưởng dư nợ Để tăng trưởng được dư nợ thỡ ngõn hàng phải mở rộngdoanh số cho vay và điều này cú liờn quan đến nguồn vốn kinh doanh của ngõnhàng lớn hay nhỏ Việc gia tăng nguồn vốn biểu hiện qua nghiệp vụ huy độngvốn Nếu huy động vốn cú hiệu quả sẽ làm tăng nguồn vốn kinh doanh, tăngdoanh số cho vay, tăng lợi nhuận Điều đú cũng cú nghĩa là nguồn vốn của ngõnhàng đưcợ bổ sung như thế nào tuỳ thuộc chủ yếu vào hoạt động huy động vốncủa ngõn hàng đú
- Chỉ tiờu đỏnh giỏ cơ cấu cỏc khoản huy động:
Mỗi loại tiền gửi cú cỏc yờu cầu khỏc nhau về chi phớ, thanh khoản,thời hạn Do đú, việc xỏc định rừ cơ cấu vốn huy động sẽ giỳp cho ngõn hànghạn chế rủi ro cú thể gặp phải và tối thiểu hoỏ chi phớ đầu vào
Chỳng ta sẽ so sỏnh những khoản vốn cú tớnh thời hạn dài so với cỏc khoảnvốn cú tớnh thời hạn thấp để xem xột sự ổn định của nguồn vốn huy động Từ đútỡm ra nguyờn nhõn và biện phỏp để tăng cỏc khoản huy động cú thời hạn dài.Chi phớ huy động là vấn đề mà cỏc ngõn hàng đều quan tõm Để cú được chi phớđầu vào hợp lý, cú lợi cho ngõn hàng thỡ cỏc ngõn hàng phải xem xột khoảnmục nào cú tỷ trọng lớn nhất Trong thực tế cỏc khoản huy động từ cỏc doanhnghiệp, tổ chức kinh tế cú tớnh ổn định tương đối cao, chi phớ vừa phải rất cú lợicho hoạt động kinh doanh của ngõn hàng Cho nờn để đẩy mạnh hiệu quả cụngtỏc huy động vốn thỡ cỏc ngõn hàng phải tỡm cỏch nõng cao tỷ trọng của nhúmnày lờn hơn nữa trong cơ cấu vốn huy động của mỡnh Bờn cạnh đú cỏc khoảnvốn huy động từ khu vực dõn cư rất tiềm tàng giỳp Ngõn hàng mở rộng kinh
Tổng vốn huy động
Trang 14doanh tín dụng tiêu dùng, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệmchi phí lưu thông có lợi cho nền kinh tế.
3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác huy động vốn:
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ kinh doanh truyềnthống của các ngân hàng Nó có ý nghĩa quan trọng với hoạt động của bất cứNgân hàng Thương mại nào vì nó cung cấp vốn cho hoạt động kinh doanh củangân hàng Do đó để nghiệp vụ này mang lại kết quả cao nhất thì bên cạnh việctìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng huy động vốn, các Ngân hàngThương mại cũng phải xem xét tới các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huyđộng vốn, để tìm cách hạn chế chúng
3.1 Nhóm nhân tố khách quan:
Ý thức tiết kiệm của dân cư:
Xu hướng hiện nay của các Ngân hàng Thương mại ở các nước phát triển
là đẩy mạnh công tác huy động vốn trong khu vực dân cư, nơi mà tầng lớp trunglưu đang tăng lên nhanh chóng, có nhiều tiền nhàn rỗi và tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm
ở các nước này chiếm một tỷ trọng khá cao trong vốn huy động( thường là :80%) Đây là lượng tiền tạm thời nhàn rỗi có được trong dân cư và ngân hàng cóthể dùng cho vay Thực tế đã chứng minh : nếu quốc gia nào có tỷ lệ tiết kiệmcao thì quy mô và chất lượng công tác huy động vốn của ngân hàng sẽ tăng lên
và do đó công tác tín dụng cũng rất phát triển
Nhân tố thu nhập của dân cư:
Khả năng huy động vốn của ngân hàng tỷ lệ thuận với thu nhập của dân
cư, có nghĩa là thu nhập của dân cư càng cao thì tiền gửi tiết kiệm càng tăng lên.Tuy nhiên khối lượng tiền trong dân cư không thể xác định một cách dễ dàng
Do vậy, muốn dân chúng gửi tiền vào ngân hàng thì phải có chính sách lãi suấtthích hợp cùng với sự hấp dẫn về các dịch vụ ngân hàng
Lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng vào đồng bản tệ:
Khi nền kinh tế phát triển không ổn định, có lạm phát hay có nguy cơ xuấthiện lạm phát thì người dân phần lớn không thích gửi tiết kiệm, họ thích tích trữvàng, hoặc ngoại tệ mạnh như đô la, với kỳ vọng là bảo toàn được giá trị Trong
Trang 15hoàn cảnh này nếu ngân hàng không có chính sách huy động vốn thích hợp vàhấp dẫn như tiền gửi đảm bảo bằng vàng, tiền gửi có tính đến trượt giá thì sẽkhông huy động được tiền gửi tiết kiệm và lạm phát có thể bị đẩy lên cao hơn.
Nhân tố thời vụ tiêu dùng:
Thời vụ tiêu dùng cũng có ảnh hưởng lớn đến tình hình huy động tiền gửitiết kiệm của một Ngân hàng Thương mại trong một thời gian nhất định Vàothời vụ tiêu dùng thì nói chung tiền gửi tiết kiệm giảm xuống Chẳng hạn vàodịp Tết Nguyên đán chẳng những tiền gửi tiết kiệm không tăng mà còn có thểgiảm do dân chúng rút tiền để sắm Tết
- Nhân tố môi trường pháp lý
Trong hoạt động ngân hàng đòi hỏi phải có hệ thống luật điều chỉnh thìhoạt động kinh doanh mới có thể an toàn, đồng thời các Ngân hàng Thương mạituân thủ nghiêm chỉnh luật pháp cũng là một hình thức tạo niềm tin đối vớikhách hàng của mình, có vậy xã hội mới đi vào trật tự, kỷ cương Hoạt động huyđộng vốn của ngân hàng cũng phải tuân theo sự điều hành của các chính sáchtiền tệ do chính phủ và ngân hàng nhà nước ban hành
- Nhân tố môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh đó là các điều kiện kinh tế - xã hội nơi ngân hànghoạt động và sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại trên cùng một địabàn Môi trường kinh doanh có thể tạo điều kiện hoặc hạn chế khả năng huyđộng vốn của bản thân ngân hàng, do vậy ngân hàng phải linh hoạt bám sát thịtrường, quyết đoán trong khi quyết định áp dụng các hình thức huy động vốncho thích hợp nhằm huy động tối đa lượng tiền tiết kiệm trong dân chúng
- Bảo hiểm tiền gửi :
Các tổ chức kinh tế và dân cư gửi tiền vào ngân hàng đều tin tưởng ngânhàng là nơi giữ tiền an toàn nhất Nhưng do sự phát triển của nền kinh tế có thể
có biến động ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và tác động đến tâm lý ngườidân Để xoá đi tâm lý lo lắng về sự an toàn của các khoản tiền gửi, các Ngânhàng Thương mại nên phối hợp với công ty bảo hiểm để mở bảo hiểm tiền gửi.Nếu có rủi ro xảy ra, ngân hàng không có khả năng thanh toán thì công ty bảo
Trang 16hiểm sẽ thanh toán thay Làm tốt bảo hiểm tiền gửi, các ngân hàng sẽ hạn chếđược một nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn góp phần tăng cườngcông tác huy động vốn tại ngân hàng.
Trang 173.2 Nhân tố chủ quan:
- Chính sách lãi suất cạnh tranh
Chính sách lãi suất cạnh tranh( bao gồm lãi suất cạnh tranh huy động và lãisuất cạnh tranh cho vay) là một chính sách quan trọng của ngân hàng Việc duytrì lãi suất cạnh tranh huy động đặc biệt cần thiết khi lãi suất thị trường đã ở mứctương đối cao Các Ngân hàng Thương mại không chỉ cạnh tranh giành vốn vớinhau mà còn với các tổ chức tiết kiệm và người phát hành các công cụ khácnhau của thị trường vốn Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, dù chonhững khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng thúc đẩy người gửi tiết kiệm vànhà đầu tư chuyển vốn từ một công cụ mà họ đang có sang tiết kiệm hoặc đầu tưhay từ một tổ chức tiết kiệm này sang một tổ chức hay một công ty khác
- Chính sách khách hàng:
Trong công tác khách hàng, ngân hàng thường chia khách hàng ra làmnhiều loại để có cách ứng xử phù hợp Với những khách hàng lâu năm, giao dịchthường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm cho bản thân ngân hàngthì ngân hàng sẽ có một chính sách thích hợp về lãi suất, kỳ hạn của món vaycũng như việc bảo lãnh các hợp đồng
- Công tác cân đối vốn của ngân hàng :
Một chiến lược huy động vốn đúng đắn, phù hợp với kế hoạch sử dụngvốn trong từng thời kỳ sẽ tạo điều kiện cho các Ngân hàng Thương mại đạtđược mục tiêu lợi nhuận tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh Sự hàihoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn của ngânhàng Công tác cân đối vốn là hết sức quan trọng và cần thiết đối với hoạt độngcủa bất kỳ ngân hàng nào Đó là một biện pháp nghiệp vụ, là một công cụ quản
lý của các nhà lãnh đạo ngân hàng, thông qua bảng cân đối vốn đã lập, các cán
bộ ngân hàng xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các nguồn vốn và từng khoản
sử dụng để dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương lai, từ đó co chính sáchhuy động vốn thích hợp
- Các hình thức huy động vốn của ngân hàng :
Trang 18Đây cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huyđộng vốn của ngân hàng Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng đa dạng,phong phú bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế sẽ càng lớn bấynhiêu Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu tâm lý của các tầnglớp dân cư Mức độ đa dạng các hình thức càng cao thì càng dễ dàng đáp ứngmột cách tối đa nhu cầu của dân cư, vì họ đều tìm thấy cho mình một hình thứcgửi tiết kiệm phù hợp mà lại an toàn Do vậy các Ngân hàng Thương mạithường cân nhắc rất kỹ trước khi đưa vào áp dụng một hình thức huy động mới.
- Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng:
Một ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có nhiều lợi thế hơn cácngân hàng có các dịch vụ hạn chế Trong điều kiện thành phố thiếu bãi đậu xe,ngân hàng có bãi đậu xe rộng rãi cũng là một lợi thế, hoặc ngân hàng có quầygiao dịch mặt đường trên các phố chính, có hệ thống rút tiền tự động làm việcngày đêm có cán bộ giao dịch niềm nở, có trách nhiệm tạo được niềm tin vớikhách hàng cũng là những lợi thế đáng quan tâm của các Ngân hàng Thươngmại Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ ngân hàng không
có giới hạn, do vậy đây là điểm mạnh để các ngân hàng thắng thế trong cạnhtranh
- Chính sách Marketing
Không một ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của ngành quảng cáo trongthời đại ngày nay Trong hoạt động ngân hàng hiện đại quảng cáo luôn được đềcao và cần phải có một chi phí nhất định cho công tác này Đồng thời ngânhàng cũng phải có chiến lược quảng cáo đặc biệt không chỉ trên truyền hình mànên dùng cả panô, áp phích nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn
III SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM :
1 Đối với ngân hàng:
Trong môi trường kinh doanh ngày nay sự cạnh tranh diễn ra gay gắt thìvốn là một yếu tố giúp các ngân hàng thắng thế trong cạnh tranh Ngân hàng nàotrường vốn sẽ có khả năng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, có khả
Trang 19năng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng thêm thu nhập và củng cố vị thế trênthị thương trường Nhận thức được vai trò to lớn của vốn trong hoạt động kinhdoanh, các Ngân hàng Thương mại luôn tìm cách phát triển nguồn vốn củamình, tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh hiệu quả của công tác huy động vốn.Huy động vốn là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng Từ khi có cácngân hàng ra đời thì nghiệp vụ huy động vốn đã gắn liền với các hoạt động của
nó, trải qua quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng thì nghiệp vụ huy độngvốn cũng được đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Hiệu quả côngtác huy động vốn được các ngân hàng quan tâm không chỉ vì nó là một nghiệp
vụ truyền thống của ngân hàng ma còn vì nó là một trong những hoạt động chủyếu và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Do đó trong mọi giai đoạn,nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn luôn là vấn đề được các Ngân hàngThương mại chú trọng
Nhu cầu phát triển của xã hội ngày càng tăng kéo theo nhu cầu về vốn củacác thành phần kinh tế, của dân cư Để đáp ứng được mọi yêu cầu này thì cácngân hàng phải có một nguồn vốn đủ lớn để có thể phục vụ cho sự phát triểnchung của nền kinh tế, mà nguồn vốn tự có của ngân hàng luôn là quá “nhỏ bé”trước yêu cầu phát triển của xã hội Do đó để có thể có một lượng vốn cần thiết
để thực hiện sứ mệnh “bà đỡ” cho nền kinh tế thì các Ngân hàng Thương mạiphải tìm cách tăng trưởng nguồn vốn hiện có của mình và vấn đề nâng cao hiệuquả công tác huy động vốn được đặt ra rất bức thiết
Các Ngân hàng Thương mại hoạt động trên thị trường với tư cách là cáctrung gian tài chính với chức năng chủ yếu là phân phối lại tiền tệ trong xã hội,thúc đẩy nền kinh tế không ngừng phát triển Hoạt động huy động vốn chính làviệc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để rồi sau đó ngân hàng phânphối đến nơi thiếu vốn (bằng các hoạt động cho vay, đầu tư) Làm tốt công táchuy động vốn cũng đồng nghĩa với ngân hàng làm tốt nhiệm vụ quan trọng nhấtcủa mình Cho nên mọi Ngân hàng Thương mại đều ý thức được sự cần thiếtcủa việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động huy động vốn
Trang 202 Đối với khách hàng:
Đối với dân cư:
Nghiệp vụ huy động vốn đã cung cấp cho mọi người dân các phương thứctiết kiệm tiền hợp lý và an toàn Nguồn tiền tiết kiệm trong dân cư rất dồi dào,
có nhiều điều kiện thuận lợi để ngân hàng sử dụng kinh doanh Để thu hút đượccác nguồn vốn này các ngân hàng đã sử dụng nhiều hình thức huy động vốnphong phú và tiện lợi Điều này giúp người dân dễ dàng lựa chọn một hình thứcgửi tiền phù hợp với đặc điểm khoản tiền của mình Do đó tâm lý người dânluôn mong ngân hàng đưa ra được các hình thức huy động vốn hiệu quả, có lợicho cả hai bên: vừa ích nước vừa lợi nhà, vừa an toàn tài sản
Đối với các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp :
Nghiệp vụ huy động vốn đã giúp cho các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệpthuận tiện trong thanh toán giao dịch thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán.Nếu ngân hàng đẩy mạnh công tác huy động vốn thì sẽ giúp các doanh nghiệprất nhiều trong hoạt động kinh doanh, làm cho hoạt động của doanh nghiệp vàcác tổ chức kinh tế luôn trôi chảy Hơn nữa, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tếđều có quan hệ tín dụng với ngân hàng và huy động vốn có hiệu quả sẽ giúp chodoanh nghiệp có vốn kịp thời bất cứ lúc nào mà doanh nghiệp cần vốn Do đóđứng ở góc độ doanh nghiệp thì nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn ởmỗi ngân hàng là cần thiết
3 Đối với nền kinh tế :
Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hộiđược tập trung về một mối, thuận tiện cho việc phân phối lại chúng Tránh đượctình trạng lãng phí nguồn vốn, một số người tổ chức “hụi”, “họ” gây mất ổnđịnh trong xã hội.Với nền kinh tế thì hoạt động huy động vốn là không thể thiếunhất là khi nền kinh tế có lạm phát, lúc đó huy động vốn là một trong nhữngcông cụ để kìm chế lạm phát
Khi nền kinh tế trong giai đoạn phát triển, huy động vốn giúp cho nó pháttriển nhịp nhàng, hiệu quả hơn Vì thế đẩy mạnh công tác huy động vốn ở mỗiNgân hàng Thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế
Trang 21Tóm lại, qua cơ sở lý luận chung về công tác huy động vốn ở các Ngânhàng Thương mại được trình bày ở trên đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về tầmquan trọng, vị trí và sự cần thiết phải nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác huyđộng vốn không chỉ với bản thân ngân hàng mà còn với các tổ chức kinh tế, dân
cư và toàn xã hội Những hiểu biết này là cơ sở để chúng ta hiểu sâu sắc hơn khinghiên cứu tình hình huy động vốn của riêng chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Từ Liêmở chương II dưới đây
Trang 22CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN TỪ LIÊM.
I TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NHN0 &PTNT TỪ LIÊM
NHN0 &PTNT Từ Liêm được thành lập ngày 01/07/1963 với tên gọi đầutiên là chi điếm ngân hàng huyện Từ Liêm ( gọi tắt là ngân hàng Từ Liêm).Thời kì này ngân hàng Từ Liêm chỉ là một ngân hàng cơ sở đảm nhận nhiệm
vụ huy động vốn tiết kiệm và thực hiện chức năng cung ứng vốn tiền mặt chotoàn bộ các cơ quan hành chính sự nghiệp và các đơn vị sản xuất trên địa bànhuyện Lúc này hoạt động của ngân hàng thực chất là thay ngân sách Nhà Nướccấp phát vốn tiền mặt cho các đơn vị theo kế hoạch Hoạt động tín dụng mangtính chất bao cấp, đồng vốn cho vay không tính đến hiệu quả kinh tế
Sau đại hội Đảng VI (1986), nền kinh tế Việt Nam được chuyển đổi từ cơchế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nướcthì nền kinh tế nước ta bắt đầu có sự thay đổi lớn Từ đây hoạt động ngân hàngcũng có sự thay đổi, phát triển mạnh về qui mô và số lượng, các Ngân hàngThương mại đã thực sự ra đời và phát triển Cùng với sự phát triển chung củađất nước và của hệ thống ngân hàng, ngân hàng Từ Liêm đã có sự chuyển mìnhquan trọng Năm 1988 theo quyết định số 53/QĐ/HĐBT, ngân hàng Từ Liêmđổi tên thành NHN0 &PTNT Từ Liêm với nhiệm vụ chủ yếu của một tổ chứcchuyên doanh tiền tệ , tín dụng và dịch vụ ngân hàng Ban đầu hình thức chovay đơn giản, sau đó hình thức cho vay đa dạng hơn và dần dần ngân hang thựchiện thêm các dịch vụ khác như chuyển tiền thanh toán quốc tế Đến nay NHN0
&PTNT Từ Liêm đã trở thành một ngân hàng kinh doanh tiền tệ, tín dụng vàdịch vụ ngân hàng với tổng số 80 cán bộ nhân viên trong đó hơn 80% có trình
độ đại học ,cao đẳng và gần 20% trình độ trung cấp Trụ sở chính của ngân hàngđược đặt tại thị trấn Cầu Diễn
Chi nhánh đựợc chia làm 4 phòng: phòng hành chính, phòng kinh doanh,phòng kế toán và ngân quĩ, phòng thanh toán quốc tế
Trang 23Về hạch toán: chi nhánh là đơn vị hạch toán độc lập, không phụ thuộc chinhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, chi nhánh đượcphép quản lý vốn tự có.
Về vốn để hoạt động: Do làm tốt công tác huy động vốn nên ngân hàngnông nghiệp Từ Liêm luôn đáp ứng tốt mọi yêu cầu của hoạt động kinh doanh,giúp cho tình hình kinh doanh của ngân hàng luôn ổn định
Về chức năng, nhiệm vụ: Chi nhánh làm đầy đủ chức năng của một ngânhang thương mại từ huy động vốn ngắn hạn và dài hạn, đến cho vay vốn đối vớicác thành phần kinh tế
Về nghiệp vụ huy động vốn: Mở tài khoản tiền gửi cho các doanh nghiệp,
cá nhân ; huy động bằng trái phiếu, kì phiếu
Về nghiệp vụ sử dụng vốn : Chi nhánh thực hiện đầy đủ các loại yêu cầutín dụng ngắn, trung ,dài hạn, có quĩ tiền mặt riêng để phục vụ khách hàng.Ngoài ra ngân hàng còn có 3 ngân hàng cở sở (ngân hàng cấp 4): Ngânhàng Mỗ, Nhổn, Chèm
II KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TRONG THỜI GIAN QUA
1 Hoạt động huy động vốn:
Bất cứ một ngân hàng nào, chiến lược huy động vốnlà nhiệm vụ cực kỳquan trọng và hết sức cần thiết, nó khẳng định khả năng của một ngân hàngtrong cơ chế thị trường thực hiện phương châm” đi vay để cho vay” và tập trungvốn để phục vụ phát triển kinh tế xã hội Vì huy động vốn là nhằm giải quyết
“đầu vào” tạo nguồn vốn cho hoạt động ngân hàng đồng thời nguồn vốn cũng làđiểm khởi đầu quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, Cho nênngân hàng phải tính toán sao cho lượng vốn huy động phù hợp với kế hoạch sửdụng vốn trong năm, tránh tình trạng thừa vốn ,ứ đọng vốn và thiếu vốn
Số liệu cho thấy tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng liên tục quacác năm: năm 1999 tăng hơn so với năm1998 là 8,4%, số tuyệt đối là +20159triệu, năm 2000 tăng hơn so với năm 1999 là 20% tương đương với +52105triệu Phân tích số liệu trên ta thấy nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng có mức
Trang 24tăng trưởng khá, tuy có sự chênh lệch giữa các năm (năm 1999 tăng so với năm
1998 chỉ có 8,4% và năm 2000 tăng 20% so với năm 1999) nhưng đây vẫn là cơ
sở vững chắc cho việc mở rộng đầu tư, mở rộng qui mô tín dụng của ngân hàng.Không những đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn của khách hàng trên địa bàn mà ngânhàng còn thường xuyên đóng góp với Trung Ương hàng trăm tỷ đồng để đầu tưcho các vùng kinh tế khác
Như vậy với tư cách là Ngân hàng Thương mại chuyển sang kinh doanh đanăng tổng hợp nhưng với chức năng hoạt động chủ yếu là phục vụ sự nghiệpphát triển nông nghiệp - nông thôn, Ngân hàng đã tích cực huy độngvốn trongđịa bàn bằng nhiều hình thức Ngân hàng đã kịp thời và thường xuyên điềuchỉnh lãi suất huy động bám sát thị trường, đồng thời đẩy mạnhhuy động vốntrong nước bằng nhiều biện pháp để khai thác tiềm lựcvốn của các tổ chức kinh
tế, triển khai nhiều hình thức huy động dân cư như đa dạng cách phát hành kìphiếu trả lãi trước và ta có thể thấy nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng liêntục trong các năm qua bảng 1
2 Hoạt động tín dụng - đầu tư:
Bên cạnh việc coi trọng công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn làcông việc có tính chất sống còn của ngân hàng Thực hiện định hướng tiếp tụcđổi mới toàn diện sâu sắc, đáp ứng cao nhất yêu cầu của công nghiệp hoá- hiệnđại hoá đất nước, kinh doanh đa năng tổng hợp lấy hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa khách hàng làm mục tiêu kinh doanh của ngân hàng
Bước sang hoạt động theo cơ chế của một Ngân hàng Thương mại và thựchiện chức năng của một ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, chinhánh NHN0 &PTNT Từ Liêm đã tập trung cho các Doanh nghiệp quốc doanh,các hộ sản xuất vay phần lớn vốn để phát triển sản xuất, xây dựng cơ bản và hạtầng cơ sở Chính vì vậy hoạt động đâù tư - tín dụng của chi nhánh rất đa dạng,phong phú
Qua từng thời kì thì vấn đề sử dụng vốn hay công tác đấu tư tín dụng cónhiều biến động do nhiều nguyên nhân gây ra Bảng 2 cho thấy dư nợ của ngânhàng không ngừng tăng lên qua các thời điểm Công tác sử dụng vốn có hiệu
Trang 25quả rõ rệt, dư nợ tín dụng tăng trưởng khá đặc biệt là dư nợ ngắn hạn, vì chinhánhcho vay chủ yếu với các hộ sản xuất thường với mục đích tiêu dùng hay
mở rộng sản xuất nhưng với qui mô nhỏ
Trang 26Bảng 1: Biến động nguồn vốn của NNN0 &PTNT Từ Liêm
Từ năm 1998 đến 2000
Đơn vị: triệu đồng
Thời điểmChỉ tiêu
Nguồn:phòng kế toán và ngân quĩ
Trang 27
Bảng 2: Tỷ trọng các khoản mục cho vay trong tổng nguồn sử dụng
Đơn vị tính :triệu đồng
Thời điểmChỉ tiêu
Nguồn: phòng kinh doanh NHN0 &PTNT Từ Liêm
Trang 28Cụ thể là: năm 1999 dư nợ ngắn hạn là 69250 triệu tăng +9395 triệu về
số tương đối là +15.7% và năm 2000 là 113709 tăng +44459 triệu, về sốtương đối tăng +64,2% Dư nợ ngắn hạn thường xuyên chiếm một tỷ trọnglớn trong tổng dư nợ tuy về mặt tỷ trọng thì có xu hướng giảm sút nhưng về
số tuyệt đối vẫn tăng trưởng mạnh.Dư nợ dài hạn có chiều hướng gia tăng quacác năm: năm 1998 tỷ lệ cho vay trung hạn là 34%, dài hạn là 0%, năm 1999
và năm 2000 tỷ lệ cho vay dài hạn là 12% Điều này cho thấy nhu cầu về vốntrung ,dài hạn của các doanh nghiệp ngày càng tăng Đây là chuyển biến tíchcực trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Song song với việc tăng trưởng tín dụng và đầu tư, Ngân hàng còn chútrọng nâng cao chất lượng tín dụng Tổng dư nợ quá hạn đến năm 2000 là
1100 triệu chiếm tỷ trọng0,56% dư nợ giảm rất nhiều so với năm 1999, dongân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp thu hồi nợ quá hạn cũ và tăng cườngđảm bảo an toàn cho những khoản tín dụng mới Ngân hàng đã sử dụng một
số biện pháp để không ngừng nâng cao hiệu quả tín dụng như :
Thông qua các hợp đồng kinh tế( hợp đồng thi công,tín dụng ngắn hạn,hợp đồng cung ứng vật tư thiết bị cho dự án, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, tíndụng trung và dài hạn) chi nhánh đã xác định chính xác nhu cầu vay vốn chotừng doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho vay an toàn Đối với tín dụng trung vàdài hạn, chi nhánh sử dụng các quá trình thẩm địng đàu tư để xác định kháchhàng tốt, đáng tin cậy cũng như sự cần thiết đầu tư và nhu cầu vay vốn củatừng doanh nghiệp Quan trọng hơn nó giúp các cán bộ ngân hàng xác địnhđược hiệu quả của các phương án, dự án đầu tư
Thành lập tổ định giá tài sản thế chấp và ban hành qui chế làm việc của
tổ định chế để định giá tìi sản theo đúng chế độ
Thông qua nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, cán bộ tín dụng đã đi sâu phântích để nắm tình hình năng lực tài chính của từng đơn vị, thường xuyên nắmchắc tình hình thanh toán, thu hồi vốn thông qua khả năng tiêu thụ sản phẩm
Trang 29của các doanh nghiệp, dự đoán khả năng trả nợ để hạn chế rủi ro Mặt kháctăng cường
công tác kiểm tra, kiểm soát sau khi phát tiền vay để ngăn chặn cáckhoản tiền vay bị sử dụng sai mục đích, nhất là cho vay bằng ngân phiếu vàtiền mặt
Tổ chức các đợt tổn kiểm tra, phân tích các doanh nghiệp có nợ quá hạn,xác định nguyên nhân chậm trả nợ và đề ra các biện pháp để thu hồi nợ
3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và dịch vụ thanh toán quốc tế:
Đối với NHN0 &PTNT Từ Liêm ,tín dụng ngoại tệ và thanh toán quốc tếmới được mở ra trong một số năm gần đây với tinh thần vừa học hỏi, vừa đúcrút kinh nghiệm Trong năm2000 tín dụng ngoại tệ đã có bước tăng trưởng vàphát triển Việc mở thêm tín dụng ngoại tệ và thanh toán quốc tế đã góp phầnthu hút thêm và giữ vững khách hàng quốc doanh giao dịch Tồng số L/C đãmở: 82 món tăng 57,6% so với năm 1999 Số tiền đạt 8,498 triệu USD và 6,8triệu EUR tăng +47,3% so với năm 1999.Số L/C đã thanh toán: 129 món tăng+78,3% so với năm 1999,số tiền đạt 6,745 triệu USD và 1,2 triệu EUR tăng34% so với năm 1999.Doanh số mua bán ngoại tệ đạt 9 triệu USD và 1,2 triệuEUR tăng lên +50% so với năm 1999
4 Hoạt động dịch vụ của ngân hàng:
Khi công nghệ hàng ngày càng phát triển thì hoạt động dịch vụ ngânhàng càng trở nên quan trọng, thông qua hệ thống dịch vụ do ngân hàng cungcấp, khách hàng được tạo mọi điều kiện thuận lợi trong hoạt động kinh doanhcủa mình; từ đó dịch vụ ngân hàng không chỉ là công cụ để thu hút kháchhàng mà còn là một động lực cho sự phát triển kinh tế Nhận thức được vấn
đề này, chi nhánh NHN0 &PTNT Từ Liêm đã coi dịch vụ ngân hàng là mộttrong các hoạt động rất cần thiết như bảo lãnh,chuyển tiền
Các hoạt động bảo lãnh chủ yếu của ngân hàng bao gồm: bảo lãnh dựthầu(trong xây dựng cơ bản),bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo đảm tiền ứngtrước Nghiệp vụ bảo lãnh của chi nhánh cũng tăng dần qua các năm,tu nhiên
Trang 30khối lượng phục vụ còn khiêm tốn song ngân hàng đã cố gắng đáp ứng tối đanhu cầu của bạn hàng.
Dịch vụ chuyển tiền mặt:chi nhánh đã dùng các phương tiện chuyêndùng và hiện đạiđể vận chuyển tiền từ chi nhánh đến tận khách hàng theo yêucầu của họ, đảm bảo an toàn trong vận chuyển tiền và được khách hàng tínnhiệm
Dịch vụ thanh toán chuyển tiền qua mạng vi tính, thanh toán bừ trừkhi kỹ thuật ngày càng tiên tiến,nó đã đem lại nhiều tiện ích cho con người
Vi tính phát triển giúp cho dịch vụ thanh toán qua mạng trở nên nhanhchóng,dễ dàng hơn Khách hàng rất hài lòng vì thời gian thanh toán được rútngắn Dịch vụ này cũng đem lại cho chi nhánh nguồn thu nhập đáng kể
Như vậy, với nhiều biện pháp tích cực,năng động,linh hoạt cùng với việcvận dụng công cụ lãi suất một cách mềm dẻo nên trong những năm qua ngânhàng thực hiện đa dạng hoá các sản phẩm, loại hình kinh doanh
III THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NNN0
&PTNT TỪ LIÊM
Các Ngân hàng Thương mại là một kênh dẫn vốn quan trọng đáp ứngnhu cầu đầu tư phát triển của nênf kinh tế để góp phần thực hiện được mụctiêu trên;công tác huy động vốn của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam cóvaii trò hết sức quan trọng và không thể thiếu được
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn của hệ thốngNgân hàng Thương mại Việt Nam trong những năm qua chi nhánh NHN0
&PTNT Từ Liêm đã không ngừng đẩy mạnh và tăng cường công tác này
1 Huy động từ tiền gửi của tổ chức kinh tế:
Các tổ chức kinh tế chủ yếu gửi các khoản tiền vào ngân hàng để hưởngcác dịch vụ thanh toán, chuyển khoản, thu và chi khi mua bán hàng hóa, dịch
vụ với các tổ chức kinh tế khác Do vậy, khoản tiền này thường có kì hạn ổnđịnh,gồm có:tiền gửi không kì hạn,tài khoản của các tổ chức kinh tế,tiền gửi
Trang 31có kì hạn Đây là loại tiền gửi có chi phí đầu vào tương đối rẻ và ổn định vìcác doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích để thuận tiện hơntrong giao dịch chứ không phải với mục đích hưởng lãi như tiền gửi dân cư.Cho nên, xu hướng ngày nay các ngân hàng chú trọng nâng cao loại tiền gửinày.Thời gian qua NHN0 &PTNT Từ Liêm đã chú trọng tới các biện pháptăng tiền gửi của các tổ chức kinh tế Chi hnánh đã có những biện pháp thựchiện chính sách khách hàng để giữu và phát triển khách hàng, đẩy mạnh vànâng cao chất lượng phục vụ khách hàng qua việc rýt ngắn thời gian xétduyệt, đơn giản hoá các thủ tục cho vay, thường xuyên có những buổi tiếpxúc với khách hàng lớn để nhanh chóng tiếp thu ý kiến đóng góp và nắm bắtkịp thời các yêu cầu mới của khách hàng Ngân hàng chủ yếu thu hút cáckhách hàng có tiềm năng tài chính tốt, do vậy cùng với nguồn tiền gửi thì sốlượng khách hàng của chi nhánh bước đầu có chuyển biến.
Đến ngày 31/12/2000 số dư tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 53870 triệu đồng, tiền gửi của các tổ chức kinh tế đã trở thành một nguồn huy động quan trọng của ngân hàng tuy rằng là nguồn ngắn hạn nhưng trong những năm qua chi nhánh đã duy trì được một tỉ lệ nhất định do đảm bảo được luồngtiền vào-ra ổn định và đều đặn Tuy nhiên nguồn tiền gửi các tổ chức kinh tế
có xu hướng tăng chậm hơn so voứi tiền gửi dân cư , nguyên nhân là do trên địa bàn có số lượng doanh nghiệp nhà nước , tổ chức kinh tế còn hạn chế, hơnnữa các tổ chức ngày làm ăn chưa thực sự hiệu quả nên số dư thường xuyên trên tài khoản tiền gửi hầu như không có hoặc có nhưng không đáng kể Chính vì vậy tiền gửi có kì hạn của các tổ chức kinh tế còn chiếm một tỉ trọngrất thấp ( trên 3% trong tổng nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế) Nhìn vào bảng 3 ta thấy: năm 1999 tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 44892 triệu tăng so với năm 1998 là +572 triệu, tăng 1,3%; năm 2000 là 53870 triệu tăng + 8978 triệu tương đương +20% Mặc dù tiền gửi của các tổ chức kinh tếcủa chi hnánh còn thấp: năm 1998 tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm 18,4% tổng nguồn, năm 1999 tỉ lệ này là17% và năm 2000 là 17,2% nhưng ta