Lý do chọn đề tài Định hướng chung về đổi mới phương pháp dạy học là phương phápGiáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tựhọc, kĩ năng vận dụng vào t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ THỊ NAM
TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC PHẦN HOÁ HỌC HỮU CƠ
LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HOÁ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HOÁ HỌC)
Mã số: 60 14 10
HÀ NỘI – 2012
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường
Phản biện 1: PGS.TS Đặng Thị Oanh
Phản biện 2: PGS.TS Vũ NGọc Ban
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại
………
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận văn tai:
-Trung tâm Thông tin – Thư viện , Đại học Quốc gia Hà Nội
-Phòng Tư liệu Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Định hướng chung về đổi mới phương pháp dạy học là phương phápGiáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tựhọc, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,môn học, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tậpcho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất, khắc phục lối dạy truyềnthống truyền thụ một chiều thông báo các kiến thức có sẵn
Là một môn khoa học vừa lý thuyết, vừa thực nghiệm, hóa học có rấtnhiều khả năng trong việc phát triển những năng lực nhận thức cho học sinh
Nó cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản về cácchất, sự biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môitrường và con người
Giải bài tập hóa học là lúc học sinh hoạt động tự lực để củng cố và traudồi kiến thức hóa học của mình Thông qua việc giải những bài tập có nhữngđiều kiện và yêu cầu thường gặp trong thực tiễn (bài tập gắn với thực tiễn) sẽlàm tăng lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyếtvấn đề ở học sinh
Tuy nhiên thực trạng dạy và học hoá học ở trường phổ thông cho thấyđôi khi lí thuyết chưa gắn liền với thực tiễn, xa rời thực tiễn, nặng về líthuyết, nhẹ về thực hành Chính vì những thực trạng trên mà hạn chế sự pháttriển tư duy và khả năng sáng tạo của học sinh Trong các sách giáo khoa hoáhọc ở Việt Nam, số lượng các bài tập gắn với thực tiễn chưa đa dạng, chưanhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu giải thích những vấn đề liên quan hóa họctrong đời sống và sản xuất của GV cũng như học sinh
Trên quan điểm đó cùng với sự mong muốn xây dựng được hệ thốngbài tập hóa học có chất lượng tốt, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóahọc phổ thông, phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy và học, tôi đã chọn
Trang 4đề tài “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn trong dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 12 ở trường trung học phổ thông”.
2 Mục đích nghiên cứu
- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống các dạng bài tập hoá học gắn vớithực tiễn
- Nghiên cứu cách sử dụng bài tập hoá học gắn với thực tiễn sao cho cóhiệu quả nhất
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Hoá học ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Bài tập hoá học dạng trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
có nội dung gắn với thực tiễn phần hóa học hữu cơ 12
4 Phạm vi nghiên cứu
- Các bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn phần hóa học hữu
cơ 12
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 10/04/2011 đến 19/12/2011
5 Nhiệm vụ của đề tài
- Điều tra thực trạng việc sử dụng các bài tập hóa học thực tiễn trongdạy hoc Hóa học ở trường THPT
- Tìm hiểu nội dung của các bài có trong chương trình hóa học hữu cơ,đồng thời quan sát và tìm hiểu các hiện tượng hóa học trong đời sống để nêu
ra được kiến thức hóa học gắn với thực tiễn
- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học gắn với thực tiễndùng trong dạy học ở trường THPT
- Nghiên cứu cách sử dụng hệ thống bài tập hoá học gắn với thực tiễntrong dạy học
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đãxây dựng
Trang 56 Giả thuyết khoa học
Nếu GV xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học gắn với thực tiễnthì sẽ giúp học sinh giải đáp được những tình huống có vấn đề nảy sinh trongđời sống, trong lao động, sản xuất, làm tăng lòng say mê học hỏi, phát triển tưduy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu lí luận dạy học để biết được vai trò của bài tập hóa họctrong dạy học Hóa học
- Nghiên cứu lí luận về bài tập hóa học, bài tập hóa học thực tiễn vàcách sử dụng các bài tập này để mang lại hiệu quả cao
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Dự giờ và điều tra để biết được thực trạng dạy và học Hóa học cũngnhư thực trạng việc sử dụng các các bài tập Hóa học thực tiễn ở trường THPT
- Điều tra về hứng thú của học sinh với các hiện tượng hóa học trongđời sống
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm được hiệu quả của
đề tài
7.3 Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng toán học thống kê xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Góp phần làm sáng tỏ tác dụng của bài tập trong việc
phát triển năng lực tư duy và hứng thú học tập cho học sinh
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng một hệ thống bài tập hoá học có nội
dung gắn với thực tiễn phần hóa học hữu cơ 12 giúp học sinh giải quyết cáchiện tượng trong đời sống bằng kiến thức hóa học
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục, và tài liệu tham khảo, luậnvăn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Trang 6Chương 2: Hệ thống bài tập gắn với thực tiễn phần Hóa học hữu cơ 12
ở trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Để phần nào đáp ứng nhu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy
và học tập môn hóa học phổ thông theo hướng gắn bó với thực tiễn, đã có một
số sách tham khảo đã được xuất bản
Bên cạnh đó, một số học viên cao học cũng đã nghiên cứu và bảo vệ luậnvăn theo hướng đề tài này
Ngoài ra còn một số bài báo về dạng bài tập này được đăng trên tạp chíHóa học & Ứng dụng
1.2 Bài tập Hóa học
1.2.1 Khái niệm về bài tập hóa học
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông [40]: “Bài tập là bài ra cho HS làm đểtập vận dụng những điều đã học”
BTHH là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồngthời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thành chúng,
HS nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định
1.2.2 Ý nghĩa của bài tập Hóa học
1.2.2.1 Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất
- Rèn luyện kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình hóa học củaphản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học…
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống laođộng sản xuất bảo vệ môi trường
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy
1.2.2.2 Ý nghĩa phát triển
Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độclập thông minh và sáng tạo
1.2.2.3 Ý nghĩa giáo dục
Trang 8Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tưtưởng đạo đức.
1.2.3.Phân loại bài tập hóa học
Có nhiều cách phân loại bài tập hóa học, tuy nhiên, căn cứ vào hìnhthức người ta có thể chia bài tập hoá học thành hai nhóm lớn: bài tập tự luận(trắc nghiệm tự luận) và bài tập trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan)
1.2.4 Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
1.2.4.1 Trắc nghiệm tự luận
TNTL đòi hỏi HS phải nhớ lại kiến thức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ýkiến của mình một cách chính xác rõ ràng
a) Câu hỏi tự luận có sự trả lời mở rộng
b) Câu tự luận với sự trả lời có giới hạn
Có 3 loại câu trả lời có giới hạn
Loại câu điền thêm và trả lời đơn giản
Loại câu từ trả lời đoạn ngắn trong đó HS có thể trả lời bằng hai hoặc
3 câu trong giới hạn của GV
Giải bài toán có liên quan tới trị số có tính toán số học để ra một kếtquả cụ thể đúng theo yêu cầu của đề bài
1.2.4.2 Trắc nghiệm khách quan
a) Câu trắc nghiệm "đúng- sai”
b) Câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn
c) Câu trắc nghiệm ghép đôi
d) Câu trắc nghiệm điền khuyết
e) Câu hỏi bằng hình vẽ
Trang 91.3 Bài tập hóc học gắn với thực tiễn
1.3.1 Khái niệm BTHH gắn với thực tiễn
BTHH gắn với thực tiễn (BTHH thực tiễn) là những bài tập có nội dunghoá học (những điều kiện và yêu cầu) xuất phát từ thực tiễn Quan trọng nhất
là các bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất, góp phần giảiquyết một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn
1.3.2 Vai trò, chức năng của BTHH thực tiễn
BTHH thực tiễn cũng có đầy đủ các vai trò, chức năng của một BTHH.Các chức năng đó là:
a) Về kiến thức
Thông qua giải BTHH thực tiễn, HS hiểu kĩ hơn các khái niệm, tínhchất hoá học, củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hoá kiếnthức
BTHH thực tiễn giúp HS thêm hiểu biết về thiên nhiên, môi trườngsống, ngành sản xuất hoá học, những vấn đề mang tính thời sự trong nước vàquốc tế
Ngoài ra, còn giúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức để lí giải vàcải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
b) Về kĩ năng
Rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhận thức, năng lực thích ứng,năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác và làm việc theonhóm
Rèn luyện và phát triển các kĩ năng học tập
Rèn luyện kĩ năng thực hành hoá học
Bồi dưỡng và phát triển các thao tác tư duy: quan sát, so sánh, phântích, suy đoán, tổng hợp
c) Về giáo dục tư tưởng
Rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác, sáng tạotrong học tập và trong quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn
Trang 10Thông qua nội dung bài tập giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học mônhoá học từ đó tạo động cơ học tập tích cực.
Ngoài ra, vì các BTHH thực tiễn gắn liền với đời sống của chính bảnthân HS, của gia đình, của địa phương và với môi trường xung quanh nêncàng góp phần tăng động cơ học tập của HS
d) Giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Những vấn đề của kĩ thuật của nền sản xuất yêu cầu được biến thànhnội dung của các BTHH, lôi cuốn HS suy nghĩ về các vấn đề của kĩ thuật
BTHH còn cung cấp cho HS những số liệu lý thú của kĩ thuật, những
số liệu mới về phát minh, về năng suất lao động, về sản lượng ngành sảnxuất hỗn hợp đạt được giúp HS hòa nhịp với sự phát triển của khoa học, kĩthuật thời đại mình đang sống
1.3.3 Phân loại BTHH thực tiễn
1.3.3.1 Cơ sở phân loại BTHH nói chung
1.3.3.2 Phân loại BTHH thực tiễn
BTHH thực tiễn cũng được phân loại tương tự cách phân loại BTHH nóichung
Dựa vào hình thái hoạt động của HS khi giải bài tập, có thể chiathành: Bài tập lý thuyết, bài tập thực nghiệm
Dựa vào tính chất của bài tập, có thể chia thành: Bài tập định tính,Bài tập định lượng, Bài tập tổng hợp
Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập, có thểchia thành:
Bài tập có nội dung gắn với sản xuất công nghiệp và nông nghiệp
Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập
Bài tập gắn với môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường
Bài tập hoá học có nội dung gắn với sự phát triển kinh tế, du lịch ,quốc phòng
Trang 11 Dựa vào mức độ nhận thức của HS Căn cứ vào chất lượng của quátrình lĩnh hội và kết quả học tập, GS Nguyễn Ngọc Quang đã đưa ra 4 trình
độ lĩnh hội (4 mức độ)
1.3.4 Một số nguyên tắc khi xây dựng BTHH thực tiễn
1.3.4.1 Nội dung BTHH thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại
1.3.4.2 BTHH thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của HS
1.3.4.3 BTHH thực tiễn phải dựa vào nội dung học tập
1.3.4.4 BTHH thực tiễn phải đảm bảo logic sư phạm
1.3.4.5 BTHH thực tiễn phải có tính hệ thống, logic
1.4 Tình hình sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học Hóa học
ở trường THPT
Qua số liệu thu được từ quá trình điều tra tôi thấy
- Về phía giáo viên, việc sử dụng bài tập hoá học có nội dung gắn vớithực tiễn còn rất hạn chế đa số các giáo viên chỉ sử dụng trong bài bài thaogiảng Nguyên nhân chính được đưa ra là tốn nhiều thời gian để tìm hiểu vàbiên soạn các bài tập
- Hầu hết các ý kiến của giáo viên và học sinh cho rằng cần thiết phải
có bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn trong dạy và học hoá học ởtrường trung học phổ thông
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP THỰC TIỄN PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ 12 Ở TRƯỜNG THPT
Trang 122.1 Phân tích nội dung kiến thức và cấu trúc phần hoá học hữu cơ trong chương trình THPT
2.1.1 Nội dung kiến thức phần hoá học hữu cơ
Phần hoá học hữu cơ trong chương trình THPT gồm 61 tiết, trong đó có
38 tiết lí thuyết, 13 tiết luyện tập, 6 tiết thực hành và 4 tiết kiểm tra Nội dungnày được phân bố học kì II lớp 11 và kì I lớp 12
1 Các khái niệm mở đầu – đại cương về hóa hữu cơ
2 Nghiên cứu các loại chất hữu cơ cơ bản
3 Kiến thức về ứng dụng thực tiễn và phương pháp điều chế các loạihợp chất hữu cơ cơ bản:
2.1.2 Đặc điểm về nội dung kiến thức và cấu trúc phần hoá học hữu cơ
Trong chương trình hoá học phổ thông các kiến thức về hoá học hữu cơđược sắp xếp trong chương trình hoá học lớp 9 THCS và chương trình hoáhọc lớp 11, 12 trường THPT
1 Nội dung kiến thức phần hoá học hữu cơ được xây dựng và nghiêncứu trên cơ sở các quan điểm lí thuyết hiện đại, đầy đủ, phong phú và toàndiện Hệ thống lí thuyết này đủ để cho học sinh suy lí, dự đoán lí thuyết, giảithích tính chất dựa vào sự phân tích đặc điểm cấu trúc phân tử của hợp chấthữu cơ
2 Nội dung kiến thức đảm bảo tính phổ thông, cơ bản hiện đại, toàndiện và thực tiễn, phản ánh được sự phát triển mạnh mẽ của hoá học hữu cơtrong thập niên cuối thế kỉ XX
3 Chương trình phần hoá học hữu cơ được xây dựng theo nguyên tắcđồng tâm, nghiên cứu hai lần, mang tính kế thừa và phát triển hoàn chỉnh trên
cơ sở lí thuyết chủ đạo của chương trình
4 Hệ thống kiến thức được sắp xếp theo logic chặt chẽ mang tính kếthừa và phát triển, đảm bảo tính sư phạm, phù hợp với khả năng nhận thức củahọc sinh
Trang 132.2 Hệ thống bài tập thực tiễn phần hóa học hữu cơ 12
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng
- Cơ sở lí thuyết: Trên cơ sở các định luật, khái niệm, học thuyết, các
nguyên lí Các kiến thức hoá học cần truyền thụ, rèn luyện, kiểm tra đánh giá
mà ta phải thiết kế các bài tập phù hợp
- Cơ sở thực tiễn: Dựa vào các ứng dụng, các quá trình sản xuất, đời
sống lao động sản xuất, các hiện tượng về thiên nhiên, thực tế hàng ngày, cácquy trình sản xuất
2.2.2 Hệ thống bài tập tự luận
ESTE – LIPIT
Câu 1 Dầu thực vật và dầu bôi trơn thông thường có thành phần hóa học
giống hay khác nhau?
Câu 2 Một học sinh điều chế etyl axetat bằng cách đun nóng ancol etylic với
giấm có axit sunfuric làm xúc tác Thí nghiệm có thành công không? Vì sao?
Câu 3 Hãy cho biết chất béo nào dễ bị ôi hơn : dầu thực vật hay mỡ lợn? Vì
sao các dầu thực vật bán trên thị trường không bị ôi trong thời hạn bảo quản?
Câu 4 Vì sao khi đi qua các nơi phun sơn thường ngửi thấy mùi gần giống
mùi dầu chuối?
CACBOHIĐRAT
Câu 5 Anđehit và glucozơ đều có phản ứng tráng bạc Cho biết tại sao trong
thực tế người ta chỉ dùng glucozơ để tráng ruột phích và tráng gương ?
Câu 6 Để bảo quản mật ong phải đổ đầy mật ong vào các chai sạch, khô, đậy
nút thật chặt và để nơi khô ráo, như vậy mật ong mới không bị biến chất Hãygiải thích việc làm trên
Câu 7 Mật ong để lâu thường thấy có những hạt rắn xuất hiện ở đáy chai,
nếu nếm thấy có vị ngọt Chất tạo nên vị ngọt đó có phải đường kính haykhông? Nếu không, theo em đó là chất gì?
Câu 8 Có thể dùng saccarozơ để sản xuất ancol được không? Vì sao?