1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội

124 982 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học chất lượng luôn hướng tới mục đích phát triển năng lực giải quyết vấn đề, đặc biệt là năng lực sáng tạo từ người học, đề cao vai trò người học bằng hoạt động cụ thể thông qua sự động não để tự chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức. Thế kỉ XXI mở ra nhiều cơ hội cho giáo dục nước nhà để tiến tới hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII xác định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của Giáo dục là nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi”. Yêu cầu này được nhấn mạnh hơn rất nhiều trong đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” để báo cáo Ban cán sự Đảng Chính phủ, trình Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 (khóa XI). BGDĐT yêu cầu các tổ chức giáo dục triển khai áp dụng phương pháp dạy và học tích cực vào các trường phổ thông và đã có những thành quả chuyển biến bước đầu. Tuy nhiên trong thực tế, công tác đổi mới chất lượng dạy và học không hề dễ dàng, trôi chảy đối với tất cả giáo viên, đặc biệt là với chương trình học tập và cơ sở vật chất của các trường THCS hiện nay.Bên cạnh đó các HT các trường THCS còn gặp nhiều khó khăn trong công tác đảm bảo chất lượng dạy học trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, khi nhu cầu về đổi mới toàn diện nền giáo dục đang là yêu cầu cấp bách hiện nay.Dự án THCS giai đoạn 2 (20052010) đã triển khai công tác dạy học theo PHBM và BGD và ĐT đã ban hành quyết định 372008QĐBGDĐT, theo đó trường đạt chuẩn phải xây dựng phòng học bộ môn (PHBM) dành riêng cho từng môn học. Mỗi tiết, các em sẽ học tại một phòng khác nhau, thay vì chỉ ngồi cố định một chỗ như hiện nay. Các yêu cầu trên của ngành Giáo dục đưa đến một nhu cầu của các nhà quản lý trong việc đổi mới phương pháp quản lý PHBM nhằm mục tiêu xây dựng, triển khai sử dụng một cách hiệu quả, chất lượng, khai thác tối đa CSVC và các TBDH trong trường, từ đó từng bước cải cách và đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dạy học trong đó có PHBM. Hiện nay chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng phòng học bộ môn cho các môn Công nghê, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin. Hàng năm SGDĐT Hà Nội và PGDĐT Từ Liêm đưa về các trường trong địa bàn các hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học với rất nhiều yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau cần được triển khai, trong đó có yêu cầu về việc đẩy mạnh dạy học có sử dụng PHBM trong nhà trường. Chính vì vậy, HT cần nhận thức rõ đâu là nhiệm vụ chủ chốt phù hợp với tình hình của trường mình, đâu là yếu tố có tính chất then chốt trong việc đẩy mạnh chất lượng dạy học có sử dụng PHBM để có những quyết định đúng đắn trong việc tập trung nguồn lực vào đúng các công tác cần thiết của trường. Việc HT xác định được các nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa rất lớntrong công tác quản lý cũng như triển khai hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của trường, tránh lan man thiếu định hướng. Câu hỏi đặt ra là, với nhiệm vụ đẩy mạnh công tác sử dụng PHBM hiệu quả trong giảng dạy, đâu là nhân tố then chốt, có ảnh hưởng lớn cần phải đầu tư đẩy mạnh để mỗi NT nhanh chóng đạt được mục tiêu? Đây hẳn là một câu hỏi mà các nhà quản lý thực sự rất quan tâm trong bối cảnh hiện nay.Với những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý Phòng học bộ môn tại các trường Trung học cơ sở huyện Từ Liêm, Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình. Tôi hy vọng nghiên cứu này của mình sẽ góp phần làm rõ hơn sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong đảm bảo chất lượng dạy học có sử dụng PHBM tại các trường THCS trong địa bàn huyện Từ Liêm, từ đó đưa ra một số biện pháp mà các HT có thể lựa chọn sử dụng trong quản lý PHBM nhằm đảm bảo chất lượng dạy học trong trường mình.

Trang 1

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- Ban lãnh đạo, cán bộ các khoa, phòng ban của Học viện Quản lý giáo dục; các thầy cô giáo đã quản lý và trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện

- Hội đồng khoa học, Hội đồng đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục Học viện Quản lý giáo dục

- Các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Phước Minh - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục huyện Từ Liêm, các trường THCS trong huyện Từ Liêm đã tạo điều kiện về mọi mặt giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu song luận văn không tránh khỏi sai sót, kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Tác giả luận văn

Đinh Thúy Hằng

Trang 2

BGH Ban giám hiệu

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Những đóng góp mới của luận văn 5

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TRONG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6

1.1 Phòng học bộ môn 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Các loại PHBM 8

1.1.3 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng và quản lý PHBM 9

1.1.4 Những khó khăn khi triển khai hệ thống PHBM ở trường THCS 11

1.2 Quản lý PHBM trong đảm bảo chất lượng dạy học ở các trường THCS 13

1.2.1 Chất lượng dạy học 13

1.2.2 Đảm bảo chất lượng dạy học 15

1.2.3 Vai trò của PHBM trong đảm bảo chất lượng dạy học ở các trường THCS 16

1.2.4 Quản lý PHBM nhằm đảm bảochất lượng dạy học ở các trường THCS 20

1.3 Kinh nghiệm về Quản lý PHBM ở Việt Nam trong đảm bảo chất lượng dạy học ở trường THCS 27

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TRONG ĐẢM BẢOCHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TỪ LIÊM, HÀ NỘI 33

2.1 Khái quát chung các trường THCS huyện Từ Liêm, Hà Nội 33

2.1.1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội huyện Từ Liêm 33

Trang 4

2.2.1 Ưu điểm 37

2.2.2 Hạn chế 39

2.3 Đánh giá tác động của các nhân tố đảm bảo chất lượng dạy học khi sử dụng PHBM 40

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu 40

2.3.2 Nội dung và kết quả nghiên cứu 46

2.3.3 Một số lưu ý khi sử dụng kết quả nghiên cứu, khảo sát 70

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TRONG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN TỪ LIÊM, HÀ NỘI 73

3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 73

3.1.1 Định hướng về đảm bảo chất lượng dạy học sử dụng PHBM của PGD huyện Từ Liêm 73 3.1.2 Căn cứ đề xuất biện pháp .75

3.1.3 Kết quả nghiên cứu ở chương 2 77

3.2 Các biện pháp quản lý PHBM nhằm đảm bảo chất lượng dạy học khi sử dụng PHBM 78

3.2.1 Nhóm biện pháp 1 79

3.2.2 Biện pháp 2 87

3.2.3 Biện pháp 3 90

3.2.4 Biện pháp 4 93

3.3 Thử nghiệm sư phạm 95

Do thời gian triển khai nghiên cứu đề tài có hạn nên tôi chỉ tiến hành thử nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất ở trên với hình thức xin ý kiến một số cán bộ quản lý và giáo viên bằng các phiếu xin ý kiến và bản nhận xét Tổng số người tham gia nhận xét là 108 Kết quả đánh giá được thể hiện ở bảng sau: 95

STT 97

TÊN BIỆN PHÁP 97

MỨC ĐỘ CẦN THIẾT 97

TÍNH KHẢ THI 97

Rất cần thiết 97

Cần thiết 97

Không cần thiết 97

Trang 5

Không khả thi 97

SL 97

% 97

SL 97

% 97

SL 97

% 97

SL 97

% 97

SL 97

% 97

SL 97

% 97

1 97

Tạo cơ hội nâng cao năng lực cho GV – Vệ sinh, an toàn PHBM và có KH nắm bắt nhu cầu của GV về PHBM 97

62 97

57,4% 97

44 97

40,7% 97

2 97

1,9% 97

74 97

68,5% 97

31 97

28,7% 97

3 97

27,8% 97

2 97

Trang 6

33 97

30,6% 97

0 97

0% 97

37 97

34,3% 97

43 97

39,8% 97

28 97

25,9% 97

3 97

Bồi dưỡng CB phụ trách PHBM 97

54 97

50% 97

51 97

47,2% 97

3 97

2,8% 97

78 97

72,2% 97

29 97

26,9% 97

1 97

0,1% 97

4 97

Xây dựng KH đổi mới TB DH; bảo trì, bảo dưỡng PHBM định kì 97

43 97

39,8% 97

Trang 7

13,9% 97

83 97

76,8% 97

25 97

23,2% 97

0 97

0% 97

Thông qua kết quả khảo nghiệm trên, có thể thấy rằng các biện pháp đề xuất của luận văn có mức độ cần thiết được đánh giá cao và có tính khả thi .98

Tôi cũng đã xin ý kiến nhận xét, đánh giá của lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Từ Liêm, các trường THCS trong huyện, GVBM Vật Lý, Hóa học, Sinh học về các giải pháp đã đề xuất: 98

a) Phòng Giáo dục và Đào tạo: 98

PGD&ĐT huyện Từ Liêm đánh giá cao vai trò của đề tài với những nhận xét cụ thể: 98

- Đề tài đã lựa chọn được vấn đề cấp bách đặt ra đó là việc triển khai việc dạy học theo PHBM 98

- Đề tài đã đưa ra được các giải pháp đồng bộ hữu hiệu trong đó nhận mạnh vai trò quản lý giáo dục của PGD&ĐT Từ đó mà đôi ngũ cán bộ lãnh đạo phòng Giáo dục nhận thức thấu đáo hơn vai trò quan trọng của việc triển khai dạy học theo PHBM 98

- Đề tài đã chỉ ra được các hướng kết hợp biện chứng của các vấn đề liên quan tạo cơ sở và hướng đi cần thiết góp phần thúc đẩy thực hiện có hiệu quả việc triển khai dạy học theo PHBM 98 b) Các nhà trường: 98

- Nhận thức rõ vai trò và ý nghĩa của đề tài này, coi đó là phương châm cách thức tiến hành triển khai một cách hiệu quả nhất PHBM 98

- Có cơ sở để tranh thủ sự lãnh đạo quản lý của Phòng, sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí tạo ra các điều kiện hạ tầng cơ bản giúp cho việc triển khai dạy học theo PHBM thu được hiệu quả tích cực và ý nghĩa nhất 98

- Có thêm nhiều cơ sở trong công tác chủ đạo và triển khai một cách hiệu quả dạy học theo PHBM 98

c) Giáo viên: 98

- Đánh giá cao ý nghĩa của đề tài và coi đó là định hướng cơ bản lâu dài và có ý nghĩa lớn đối với việc giáo dục toàn diện nâng cao chất lượng giáo dục 98

Trang 8

- Coi đề tài là cẩm nang giúp việc thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao 98

Tiểu kết chương 3 99

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100

1 Kết luận 100

2 Kiến nghị 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 9

Bảng 2 Cấu trúc bảng hỏi và thang đo 44

Bảng 3 Bảng kí hiệu các biến đo lường trong thang đo SERVPERF 44

Bảng 4 Đặc điểm của mẫu khảo sát 46

Bảng 5 Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố CB phụ trách PHBM 47

Bảng 6 Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố CSVC PHBM 48

Bảng 7 Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố Công tác quản lý của Nhà trường 49

Bảng 8 Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố Cơ hội bồi dưỡng năng lực GV 50

Bảng 9 Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố Sự hài lòng chung của GV 51

Bảng 10 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 52

Bảng 11 Bảng phân tích nhân tố ứng với các biến quan sát 52

Bảng 12 Bảng tóm tắt nhân tố tương ứng với các biến quan sát sau khi phân tích nhân tố 55

Bảng 13 Ma trận hệ số nhân tố 61

Bảng 14 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 97

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF 24

Sơ đồ 2 Quy trình nghiên cứu 41

Sơ đồ 3 Mô hình chất lượng PHBM 43

Trang 11

thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII xác định: “Nhiệm vụ và

mục tiêu cơ bản của Giáo dục là nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học

và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi” Yêu

cầu này được nhấn mạnh hơn rất nhiều trong đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” để báo cáo Ban cán sự Đảng Chính phủ, trình Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 (khóa XI) BGD&ĐT yêu cầu các tổ chức giáo dục triển khai áp dụng phương pháp dạy

và học tích cực vào các trường phổ thông và đã có những thành quả chuyển biến bước đầu Tuy nhiên trong thực tế, công tác đổi mới chất lượng dạy và học không hề dễ dàng, trôi chảy đối với tất cả giáo viên, đặc biệt là với chương trình học tập và cơ sở vật chất của các trường THCS hiện nay.Bên cạnh đó các HT các trường THCS còn gặp nhiều khó khăn trong công tác đảm bảo chất lượng dạy học trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, khi nhu cầu về đổi mới toàn diện nền giáo dục đang là yêu cầu cấp bách hiện nay

Dự án THCS giai đoạn 2 (2005-2010) đã triển khai công tác dạy học theo PHBM và BGD và ĐT đã ban hành quyết định 37/2008/QĐ-BGD&ĐT, theo đó trường đạt chuẩn phải xây dựng phòng học bộ môn (PHBM) dành

Trang 12

riêng cho từng môn học Mỗi tiết, các em sẽ học tại một phòng khác nhau, thay vì chỉ ngồi cố định một chỗ như hiện nay Các yêu cầu trên của ngành Giáo dục đưa đến một nhu cầu của các nhà quản lý trong việc đổi mới phương pháp quản lý PHBM nhằm mục tiêu xây dựng, triển khai sử dụng một cách hiệu quả, chất lượng, khai thác tối đa CSVC và các TBDH trong trường, từ đó từng bước cải cách và đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại

1.2 Tính cấp thiết của đề tài

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dạy học trong đó có PHBM Hiện nay chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng phòng học bộ môn cho các môn Công nghê, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin Hàng năm SGD&ĐT Hà Nội và PGD&ĐT Từ Liêm đưa về các trường trong địa bàn các hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học với rất nhiều yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau cần được triển khai, trong đó có yêu cầu về việc đẩy mạnh dạy học

có sử dụng PHBM trong nhà trường Chính vì vậy, HT cần nhận thức rõ đâu

là nhiệm vụ chủ chốt phù hợp với tình hình của trường mình, đâu là yếu tố có tính chất then chốt trong việc đẩy mạnh chất lượng dạy học có sử dụng PHBM để có những quyết định đúng đắn trong việc tập trung nguồn lực vào đúng các công tác cần thiết của trường Việc HT xác định được các nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa rất lớntrong công tác quản lý cũng như triển khai hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của trường, tránh lan man thiếu định hướng Câu hỏi đặt ra là, với nhiệm vụ đẩy mạnh công tác sử dụng PHBM hiệu quả trong giảng dạy, đâu là nhân tố then chốt, có ảnh hưởng lớn cần phải đầu tư đẩy mạnh để mỗi NT nhanh chóng đạt được mục tiêu? Đây hẳn là một câu hỏi mà các nhà quản lý thực sự rất quan tâm trong bối cảnh hiện nay

Với những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý Phòng học bộ môn tại các trường Trung học cơ sở huyện Từ Liêm,

Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình Tôi hy vọng nghiên cứu này

Trang 13

của mình sẽ góp phần làm rõ hơn sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong đảm bảo chất lượng dạy học có sử dụng PHBM tại các trường THCS trong địa bàn huyện Từ Liêm, từ đó đưa ra một số biện pháp mà các

HT có thể lựa chọn sử dụng trong quản lý PHBM nhằm đảm bảo chất lượng dạy học trong trường mình

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu thực hiện với mục đích đưa ra biện pháp quản

lý PHBM nhằm đảm bảo chất lượng dạy học tại các trường THCS huyện Từ Liêm, Hà Nội Cụ thể là:

- Xác định yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dạy học của các tiết dạy có

sử dụng PHBM Giới hạn nghiên cứu: xác định các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng của GV khi dạy học sử dụng PHBM

- Đề xuất một số biện pháp và kiến nghị trong quản lý PHBM đối với hiệu trưởng nhằm đảm bảochất lượng dạy học trong các trường học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu lý luận về khái niệm PHBM, vai trò của PHBM và quản lý PHBM, cơ sở pháp lý xây dựng và quản lý PHBM

- Nghiên cứu thực trạng: Nghiên cứu thực trạng xây dựng và quản lý PHBM ở các trường THCS huyện Từ Liêm, các kinh nghiệm thực tiễn quản

lý PHBM trong nước

- Nghiên cứu giải pháp: Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả PHBM trong đảm bảo chất lượng dạy học

4 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý PHBM của HT nhằm đảm bảo chất lượng dạy học

5 Phạm vi nghiên cứu

- Các trường THCS ở huyện Từ Liêm và khách thể nghiên cứu là các giáo viên THCS dạy các môn học có sử dụng PHBM (Vật lý, Hóa học, Sinh

Trang 14

học, Công nghệ) tại các trường này.

- Nghiên cứu các yếu tố liên quan tới PHBM trong rất nhiều nhân tố có ảnh hưởng tới chất lượng dạy học

6 Phương pháp nghiên cứu

a) Phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ có liên quan tới đề tài

- Nghiên cứu các văn bản, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước

về Giáo dục và đào tạo, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo

TP Hà Nội, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Từ Liêm

b) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát (hoạt động dạy và học của GV và HS)

- Phương pháp điều tra, khảo sát, lấy mẫu: Thiết kế chọn mẫu phi xác suất với hình thức chọn mẫu thuận tiện, dùng bảng câu hỏi

c) Phương pháp thống kê: Thống kê lại các kết quả thu thập được từ

mẫu bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0

d) Phương pháp phân tích nhân tố EFA: xác định các nhân tố ẩn chứa

đằng sau các biến số được quan sát

e) Phương pháp phân tích quy hồi tuyến tính: xác định các nhân tố

thực sự ảnh hưởng đến môi trường dạy học tích cực cũng như hệ số của các nhân tố này trong phương trình hồi quy tuyến tính

f) Quy trình phân tích dữ liệu:

Trang 15

- Phân tích hồi quy và kiểm định sự phù hợp của mô hình nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dạy học.

7 Những đóng góp mới của luận văn

- Xác định các yếu tố liên quan tới PHBM có ảnh hưởng tới chất lượng dạy học của các tiết dạy sử dụng PHBM và mức độ ảnh hưởng mạnh nhẹ của chúng

- Đề xuất một số biện pháp và kiến nghị trong quản lý PHBM đối với

HT nhằm đảm bảochất lượng dạy học trong các trường học dựa theo kết quả nghiên cứu

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn này bao gồm 3 chương:

Chương 1 Lý luận và thực tiễn về quản lý phòng học bộ môn trong

đảm bảochất lượng dạy học ở các trường Trung học cơ sở

Chương 2 Thực trạng quản lý phòng học bộ môn trong đảm bảochất

lượng dạy học tại các trường Trung học cơ sở huyện Từ Liêm, Hà Nội

Chương 3 Biện pháp tăng cường quản lý phòng học bộ môn trong

đảm bảo chất lượng dạy học ở các trường Trung học cơ sở huyện Từ Liêm,

Hà Nội.

Trang 16

Chương 1

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TRONG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Phòng học bộ môn

Ở Singapore: PHBM là phòng học cho từng môn với những môn có nhiều thiết bị dạy học hoặc cho một vài môn với những môn có ít PHBM hoặc những môn có nội dung gần nhau, cách dạy và cách học tương tự như nhau…;

Ở Hoa Kỳ: PHBM là phòng học chuyên dùng cho từng môn học;

Ở Việt Nam: theo quan điểm của TS.Trần Doãn Quới, Viện Khoa học Giáo dục, PHBM là sự kết hợp của phòng học và phòng thí nghiệm hay phòng trang thiết bị theo từng môn học

Tại thời điểm hiện nay ở Việt Nam thì:

- PHBM là phòng học được trang bị hệ thống thiết bị dạy học bộ môn

và hệ thống các phương tiện kĩ thuật được lắp đặt phù hợp với bộ môn để giáo viên và học sinh sử dụng thuận lợi, đảm bảo chất lượng giáo dục;

Trang 17

- Phòng thí nghiệm thực hành bộ môn được trang bị và sử dụng như phòng học bộ môn;

- PHBM là phòng học cho từng bộ môn hoặc liên môn, tại phòng đó được trang bị hệ thống phương tiện nghe nhìn, hệ thống thiết bị dạy học, hệ thống bàn ghế phù hợp đặc trưng bộ môn

Theo nội dung quy định về PHBM ban hành kèm theo quyết định số Quyết định 37/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 7 năm 2008 của BGD &

ĐT thì:

Phòng học bộ môn là phòng học được trang bị, lắp đặt các thiết bị và phương tiện hỗ trợ phù hợp để dạy học, chuyên dùng cho một môn học hoặc một số môn học khác nhau.

Phòng chuẩn bị là phòng để chứa, bảo quản thiết bị và chuẩn bị thiết

bị, thí nghiệm dạy học.

Chúng ta dễ dàng nhận biết PHBM qua một số đặc điểm cơ bản sau:

- TBDH được bố trí sẵn theo yêu cầu của môn học

- Có tủ (giá) đựng TBDH để ngay trong lớp học; có nơi chuẩn bị thí nghiệm, thực hành của GV và HS

- Phòng học và bàn ghế đươc thiết kế theo các yêu cầu của việc học kết hợp với sử dụng TBDH Hệ thống chỗ ngồi được bố trí cơ động, thuận tiện cho việc học tập theo hướng tăng cường sự hoạt động của HS Bàn học có thể vừa là nơi ghi chép những kiến thức lí thuyết nhưng cũng là nơi thực hiện các thí nghiệm (với bài học dạy lí thuyết có thực hành thí nghiệm)

- HS không học ở một phòng cố định mà thay đổi theo từng bộ môn Hoạt động dạy và học của thầy và trò được xây dựng theo hướng gắn với việc

sử dụng TBDH bộ môn GV là người tổ chức cho HS tự chiếm lĩnh tri thức thông qua các hoạt động với TBDH dưới các hình thức học lý thuyết kết hợp với thí nghiệm, thực hành

Trang 18

Trước đây, người ta thường nghĩ các môn học đòi hỏi tính thực nghiệm cao, có nhiều TBDH như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Công nghệ mới cần có PHBM Nhưng qua thực tiễn, có thể thấy các môn khoa học xã hội như Ngoại ngữ, Lịch sử, Địa lí … cũng cần được tổ chức dạy học ở PHBM.

1.1.2 Các loại PHBM

Theo Trần Đức Vượng & các cộng sự, PHBM có 3 loại sau:

- PHBM là loại phòng dùng để dạy kiến thức lí thuyết kết hợp với

thí nghiệm, thực hành (thường có ở môn Vật lí, Ngoại ngữ, Âm nhạc) Mỗi

môn học có phòng học riêng biệt được trang bị các phương tiện, TBDH phù hợp với kiến thức và hình thức tổ chức dạy học của môn học đó Mục đích chủ yếu của việc dạy học theo PHBM là tạo điều kiện tốt nhất cho HS sử dụng TBDH và phát huy tối đa hiệu quả TBDH trong quá trình lĩnh hội kiến thức Học ở PHBM, HS không chỉ nghe GV giảng giải mà còn được quan sát

“tri thức” đã trực quan hóa bằng hệ thống TBDH TBDH là một kênh thông tin, không chỉ truyền tải mà còn minh chứng cho kiến thức lí thuyết.Nhờ vậy, người học không chỉ chấp nhận mà còn thừa nhận, tin tưởng những kiến thức của bài học

- Phòng thực hành bộ môn là loại phòng chỉ dùng để tổ chức dạy học

các bài thực hành theo yêu cầu của chương trình môn học Các môn học cần thiết phải có phòng thực hành là Vật lí, Sinh học, Hóa học, Công nghệ, Giáo dục công dân, Nhạc, Họa, Thể dục Ở phòng thực hành bộ môn, hình thức dạy học được tổ chức rất phong phú: theo lớp, theo nhóm nhỏ hoặc học tập

cá nhân Vì vậy, nguyên tắc thiết kế và trang bị cũng dựa trên nhu cầu của các hình thức dạy học này Chẳng hạn, phòng thực hành môn Thể dục phải

có diện tích đủ rộng và những trang thiết bị cần thiết để thực hiện những động tác kĩ thuật của các bài chạy, nhảy, bóng chuyền, bóng rổ, bóng đá…; phong thực hành của môn Nhạc phải có hệ thống cách âm, tránh gây tiếng

Trang 19

ồn cho môi trường xung quanh; phòng thực hành Sinh học phải có những trang thiết bị để thực hiện quy trình sinh học diễn ra trong một thời gian dài

và có những đòi hỏi khắt khe về nhiệt độ, ánh sáng,… Học tập trong phòng thực hành bộ môn là dịp HS đem những kiến thức lí thuyết đã học vào thực hiện trên một đối tượng cụ thể, một điều kiện cụ thể Phương pháp thực hành không chỉ giúp HS kiểm nghiệm kiến thức lí thuyết mà quan trọng hơn là nắm vững được quy trình, cách thức tổ chức một hoạt động nhận thức.Và cũng chính vì vậy, qua bài thực hành, những kiến thức lí thuyết được củng

cố và khắc sâu hơn

- Phòng thí nghiệm bộ môn là loại phòng chỉ dành riêng cho các hoạt

động thí nghiệm Hoạt động chủ yếu ở phòng thí nghiệm là HS thực hiện các thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của GV Các môn học cần có phòng thí nghiệm

là Vật lí, Hóa học, Sinh học Cấu trúc và trang bị của phòng thí nghiệm đảm bảo yêu cầu sao cho ở đó hoạt động dạy học được tổ chức dưới hình thức nghiên cứu khoa học GV sẽ tổ chức cho HS làm các thí nghiệm trong những điều kiện cụ thể để quan sát, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh những vấn

đề được nêu ra trong các bài học lí thuyết Mục đích của việc dạy học trong phòng thí nghiệm là thông qua các hoạt động thí nghiệm, HS không chỉ lĩnh hội kiến thức qua việc kiểm nghiệm bằng thí nghiệm và còn học tập và rèn luyện để hình thành các kĩ năng, kĩ xảo khi thực hiện các thao tác thí nghiệm

1.1.3 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng và quản lý PHBM

Hiện tại ở nước ta, quy định về PHBM được ban hành bởi Bộ Giáo dục

và Đào tạo theo Quyết định 37/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 7 năm 2008 Nội dung của Quyết định có quy định rõ về khái niệm PHBM, số lượng, cách đặt tên, quy cách về diện tích kích thước của PHBM, các yêu cầu kĩ thuật, quy định về quản lý và sử dụng PHBM Theo đó có thể thấy có các quy định theo từng điều như sau:

Trang 20

- Điều 1 Quy định về phạm vi điểu chỉnh và đối tượng áp dụng.

- Điều 2 Giải thích các từ ngữ: Giải thích khái niệm PHBM, phòng chuẩn bị, diện tích làm việc tối thiểu

- Điều 3 Mục đích ban hành Quy định về PHBM: Thống nhất trên phạm vi toàn quốc các điều kiện cần thiết về cở sở vật chất kĩ thuật của PHBM và làm căn cứ để các trường trung học xây mới hoặc cải tạo PHBM

- Điều 4 Quy định về cách xác định số lượng PHBM

- Điều 5 Quy định về cách đặt tên cho PHBM

- Điều 6 Quy định về diện tích làm việc tối thiểu của PHBM, cách tính này được dựa trên cơ sở diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh nhân với số lượng học sinh được quy định trong Điều lệ trưởng cộng với diện tích tối thiểu cần sắp đặt các phương tiện và thiết bị dạy học

- Điều 7 Quy định về kích thước PHBM

- Điều 8 Quy định về nền và sàn nhà của PHBM

- Điều 9 Quy định về cửa ra vào, cửa sổ PHBM

- Điều 10 Quy định về chiếu sáng tự nhiên trong PHBM

- Điều 11 Quy định về chiếu sáng nhân tạo trong PHBM

- Điều 12 Quy định về việc bố trí bàn ghế trong PHBM

- Điều 13 Quy định về trang bị nội thất của PHBM

- Điều 14 Quy định về trang thiết bị dạy học của PHBM trong đó có quy định trang thiết bị dạy học của PHBM được sắp xếp hợp lý trong hệ thống tủ, giá, kệ chuyên dụng, thuận tiện cho việc sử dụng và bảo quản, số lượng trang thiết bị dạy học của PHBM phải đảm bảo theo quy định ban hành tại danh mục thiết bị dạy học tối thiểu do Bộ trưởng BGD & ĐT ban hành

- Điều 15 Quy định về an toàn và kỹ thuật của PHBM trong đó có yêu cầu về việc lắp đặt các trang thiết bị đúng kỹ thuật, phù hợp với yêu cầu khai

Trang 21

thác, vận hành theo từng bộ môn; đường cấp điện khí ga, thoát nước, thoát mùi hơi độc đảm bảo vận hành thuận thiện trong sử dụng và bảo trì sửa chữa.

- Điều 16 Quy định về quản lý và hoạt động của PHBM trong đó có Hiệu trưởng NT phải chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động PHBM hoặc phân công một lãnh đạo trường trực tiếp phụ trách công tác này Cụ thể: cần có hệ thống hồ sơ sổ sách theo dõi sử dụng PHBM, có KH sử dụng PHBM định kì,

có nội quy và lịch hoạt động của PHBM và đảm bảo thực hiện đầy đủ thí nghiệm của GV và HS theo nội dung, yêu cầu quy định trong chương trình môn học

- Điều 17 Yêu cầu đối với viên chức làm công tác thiết bị dạy học: có trình độ chuyên môn về thực hành thí nghiệm; có trách nhiệm cùng tổ chuyên môn và GV chuẩn bị thiết bị dạy học, hỗ trợ hướng dẫn HS sử dụng thiết bị; cập nhật sổ sách, phân loại và sắp xếp khoa học và hệ thống các thiết bị dạy học theo môn học; có kết hoạch kiểm tra định kì các trang thiết bị trong PHBM để duy tu, bảo dưỡng hoặc đề xuất sửa chữa, mua sắm bổ sung; tham gia học tập bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

- Điều 18 Quy định về việc sử dụng và bảo quản PHBM trong đó ghi

rõ PHBM được sử dụng để dạy các thiết học có tiến hành thí nghiệm thực hành và việc bảo quản PHBM được tiến hành thường xuyên, khắc phục kịp thời khi có hỏng hóc; hàng năm các thiết bị trong PHBM phải được kiểm kê thanh lý theo quy định kiểm kê tài sản của Nhà nước

1.1.4 Những khó khăn khi triển khai hệ thống PHBM ở trường THCS

a) Xây dựng PHBM phải có vốn đầu tư lớn

- Xây dựng PHBM đòi hỏi một diện tích đủ rộng, trong khi quỹ đất dành cho việc xây dựng trường THCS còn rất hạn hẹp

Trang 22

- Trang bị cho PHBM phải đồng bộ từ hệ thống điện, nước, phòng chống cháy nổ, phòng chống độc hại đến hệ thống thiết bị phục vụ hoạt động dạy học.

- Phần lớn các trường THCS công lập ở huyện Từ Liêm đã xây dựng từ rất lâu nên việc quy hoạch nâng cấp, cải tạo một phòng học truyền thống với thiết kế cổ điển, diện tích hẹp thành PHBM cũng là khó khăn rất lớn

b) PHBM phải được thiết kế kĩ thuật đồng bộ

Kiến trúc cho PHBM là khâu khó đạt tới sự hoàn chỉnh Kiến trúc của PHBM tuy không thật phức tạp nhưng cũng đòi hỏi phải được tính toán kĩ lưỡng trên cơ sở những kiến thức khoa học về xây dựng cũng như sư phạm Đối với bộ môn có sử dụng hóa chất như Hóa học, Sinh học, việc xử lí chất thải độc hại cần được chú ý nhiều hơn, tránh làm ảnh hưởng tới sức khỏe HS

ở PHBM còn rất thiếu, cần phải có kế hoạch phát triển lâu dài Đối với công tác quản lí, việc xếp TKB như thế nào cho khoa học và phù hợp với điều kiện của từng trường cũng đang là những trở ngại cần được tháo gỡ

d) Khó khăn về phân phối chương trình

Trang 23

Nội dung dạy học có những thay đổi cơ bản, yêu cầu đổi mới PPDH rất cao đòi hỏi sự chủ động, linh hoạt của các người dạy và người học Nhưng cách thức thực hiện chương trình như hiện nay (phân phối theo tiết, theo tuần chặt chẽ) khiến cho việc triển khai dạy học thường bị gò bó, nhất là đối với những bài học có thí nghiệm phức tạp, đòi hỏi phải có sự linh hoạt về thời gian.

1.2 Quản lý PHBM trong đảm bảo chất lượng dạy học ở các trường THCS

1.2.1 Chất lượng dạy học

1.2.1.1 Dạy học

Theo GS Phạm Minh Hạc: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân”

Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: “Quá trình dạy học là một quá trình

sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển giáo dục và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy

và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành”

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “dạy học được hiểu là một hoạt động bao gồm hai quá trình đó là quá trình dạy của thày và quá trình học của trò Hai quá trình này có mối quan hệ biện chứng, tồn tại vì nhau, sinh ra vì nhau

và thúc đẩy nhau phát triển.”

Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học mộtcách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh

Trang 24

Theo cách tiếp cận hệ thống, quá trình dạy học là một hệ bao gồm các thành tố cơ bản như: mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, giáo viên học sinh, kết quả dạy học … các thành tố này quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình dạy học.

1.2.1.2 Chất lượng dạy học

Chất lượng là thuật ngữ có nhiều quan niệm khác nhau Theo PGS.TS Trần Kiểm, có nhiều cách đánh giá chất lượng giáo dục từ trước đến nay Chất lượng có thể được đánh giá bằng “đầu vào” (HS giỏi, đội ngũ giỏi, CSVC tốt sẽ có chất lượng cao), “đầu ra” (đo bằng chất lượng giáo dục HS, khả năng cung ứng hoạt động giáo dục), “giá trị gia tăng” (được xác định bằng giá trị “đầu ra” trừ đi giá trị “đầu vào”), “giá trị học thuật” (đánh giá qua năng lực học thuật của đội ngũ giáo viên) Tuy nhiên mỗi một cách đều có vấp phải những khó khăn trong việc đo lường

Nói đến “chất lượng dạy học” chính là nói đến “chất lượng thể hiện ở người học ”hay “tri thức, kỹ năng, thái độ” mà người học có được trong quá trình học, đào tạo Vốn học vấn toàn diện và vững chắc công việc, kỹ năng, thái độ ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học Đó chính là kết qủa của quá trình đào tạo (người học đã học như thế nào, họ biết gì, có thể làm gì

và phẩm chất nhân cách của họ ra sao nhờ kết quả tương tác giữa người học với giáo viên và nhà trường)

Khi đánh giá chất lượng dạy học phải cần căn cứ vào mục tiêu của từng cấp học, bậc học đối chiếu sản phẩm giáo dục - đào tạo được đối chiếu với mục tiêu của cấp học, bậc học Chất lượng dạy học càng cao càng làm phong phú thêm kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị và hành vi của con người

1.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dạy học

Trang 25

Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố, mỗi thành tố có

vị trí xác định, có chức năng riêng, tác động qua lại với nhau và vận động theo quy luật chung, tạo nên chất lượng toàn diện của hệ thống Chúng ta thường xuyên nghiên cứu để hoàn thiện từng thành tố của quá trình dạy học, nâng cao chất lượng của chúng, góp phần hoàn thiện chất lượng của toàn bộ

hệ thống mà tựu chung là chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục

Dạy học có chất lượng chính là việc thực hiện tốt các nhiệm vụ: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ Thực hiện tốt 3 nhiệm

vụ đó sẽ làm cho hiệu quả dạy học ngày càng cao, chất lượng dạy học ngày càng được nâng lên

Chất lượng dạy học được quy tụ bảo đảm ở những yếu tố sau:

1- Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo

2- Đội ngũ giáo viên

3- Hoạt động dạy của giáo viên

4- Hoạt động học của học sinh

5- Cơ sở vật chất - trang thiết bị dạy học

6- Đánh giá kết quả hoạt động của học sinh

Trên cơ sở đó các nhà quản lý cần tìm ra các biện pháp khả thi để quản

lý hoạt động giáo dục trong nhà trường, mà trọng tâm là hoạt động dạy học

1.2.2 Đảm bảo chất lượng dạy học

Theo ISO 9000 thì “Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và có hệ thống, được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể sẽ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng”

Theo tác giả Nguyễn Đức Chính (2002) “đây là quá trình xảy ra trước

và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm

có thể xảy ra ngaytừ bước đầu tiên Chất lượng của sản phẩm được thiết kế

Trang 26

ngay trong quá trình sản xuấtra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào ĐBCL phần lớn là trách nhiệm của người lao động, thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể có vai trò nhất định trong ĐBCL”.

Trong đào tạo, khái niệm đảm bảo chất lượng có thể được coi như là

“một hệ thống các biện pháp, các hoạt động có kế hoạch, được tiến hành trong và ngoài nhà trường và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo

ra sự tin tưởng thoả đáng rằng các hoạt động và sản phẩm đào tạo (Học sinh) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu về chất lượng đào tạo theo mục tiêu đào tạo dự kiến”.

1.2.3 Vai trò của PHBM trong đảm bảo chất lượng dạy học ở các trường THCS

Theo TS.Trần Đức Vượng và các cộng sự, hầu như các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đều tổ chức dạy học theo PHBM vì dạy học theo PHBM đem lại hiệu quả cao về nhiều mặt: tổ chức dạy học, nhận thức, rèn luyện kĩ năng, kinh tế…cụ thể như sau:

a) Về tổ chức dạy học

PHBM tạo ra không gian linh hoạt cho các hình thức dạy học khác nhau.Nhiều hình thức học tập được tổ chức sẽ tránh được sự nhàm chán, tẻ nhạt, tạo được niềm vui, hứng thú của HS đối với nội dung bài học Cho đến nay, chưa có một không gian lớp học nào lại có thể giúp cho GV chủ động tạo

ra được các hình thức học tập phong phú hơn PHBM Tại đây, GV dễ dàng triển khai cho HS học tập theo lớp, theo nhóm hoặc học tập cá nhân dưới sự giám sát của GV HS vừa có thể học lí thuyết lại có thể học thực hành thông qua việc sử dụng TBDH Ở PHBM, GV và HS còn có thể tổ chức các hoạt

Trang 27

động nghiên cứu khoa học độc lập trong một khoảng thời gian nhất định mà ở phòng học truyền thống không thể thực hiện được.

PHBM là phòng học được thiết kế nhằm tạo điều kiện tối ưu để HS được làm việc, tự chiếm lĩnh tri thức thông qua các hoạt động học tập khác nhau HS có thể tiếp nhận kiến thức qua việc đọc tài liệu, quan sát thí nghiệm, thực hành trên TBDH; tiếp nhận kiến thức bằng việc trao đổi, tranh luận qua việc học tập hợp tác theo nhóm nhỏ; tiếp cận kiến thức thông qua các hoạt động sinh hoạt chuyên đề, tập làm nghiên cứu khoa học… Khi học tập trong PHBM, HS được học trong các không khí học tập khác nhau, do chính GV và

HS tạo ra Đến PHBM, HS có tâm thế là được quan sát thí nghiệm do GV làm hoặc được trực tiếp sử dụng máy móc làm thí nghiệm Các thí nghiệm khó hoặc có thể gây nguy hiểm thì HS được quan sát qua thí nghiệm ảo nhờ phần mềm dạy học hoặc qua phim ảnh Ví dụ, đối với môn Địa lí, khi học bài “Núi lửa”, các em được xem phim về núi lửa, hiện tượng núi lửa, các nguyên nhân gây ra núi lửa, các tác hại và lợi ích của núi lửa, cách dự báo và khắc phục hậu quả của núi lửa…

Dạy học trong PHBM còn tạo được bầu không khí khoa học của bộ môn PHBM Vật lí với những TBDH về cơ, nhiệt, điện, quang sẽ làm cho HS được sống trong bầu không khí Vật lí thực sự; PHBM Hóa học với những thiết bị thí nghiệm về hóa vô cơ, hóa hữu cơ; PHBM Sinh học với những TBDH có liên quan nhiều đến sự sống Ngay cả những bộ môn khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân cũng có điều kiện tương tự, bước đầu tạo tâm thế cho HS chủ động đến với kiến thức môn học Hoạt động dạy học ở PHBM chủ yếu là hoạt động dạy học gắn với TBDH Việc sử dụng bất

cứ một TBDH nào cũng tuân thủ một quy trình từ việc đặt vấn đề, diễn biến hoạt động của thiết bị và những kết luận cần thiết được rút ra Như vậy, một quy trình nghiên cứu khoa học được hình thành và hoàn thiện Chính logic

Trang 28

của quy trình nghiên cứu khoa học này sẽ có sức hút mãnh liệt với người học, làm cho các em say mê, sáng tạo trong học tập Với không gian học là PHBM, giờ học mang sắc thái của một hoạt động nghiên cứu khoa học, cả GV và HS đều hòa mình vào không khí khoa học của bộ môn Dạy học ở PHBM góp phần xóa bỏ thói quen “dạy chay”, “học chay” Đây cũng là một giải pháp hữu hiệu trong việc chuyển đổi PPDH theo hướng tăng tính thực hành và giảm lí thuyết hàn lâm Các hình thức tổ chức dạy học như vậy sẽ có tác dụng nhất định đến hiệu quả nhận thức của HS.

b) Về hiệu quả nhận thức

Hiệu quả nhận thức có được ở PHBM trước hết là tạo được niềm hứng thú học tập của HS Ở đây, HS tự mình đi tìm lời giải cho các đơn vị kiến thức (dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV) Vì vậy, HS từ vị thế bị động chuyển sang vị thế chủ động trong nhận thức Bước vào học tập trong PHBM

là bước vào một quá trình đi tìm kiếm kiến thức, giải đáp những băn khoăn, thắc mắc không chỉ bằng lí thuyết mà cả bằng thực nghiệm Tâm thế của người học thay đổi, học tập không còn là công việc “khổ sai” mà là niềm vui đối với người học

Trong quá trình nhận thức, HS vừa được nghe giảng lí thuyết vừa được thực hành với TBDH HS lĩnh hội tri thức bằng nhiều kênh (SGK, GV, TBDH, các tài liệu khác…), nhiều đường (âm thanh, hình ảnh, trực quan, ), ở các trạng thái khác nhau (động, tĩnh, thực, ảo,…), bằng tất cả các giác quan

Do vậy, HS sẽ học tập một cách hứng thú, chủ động, sáng tạo

Hiệu quả nhận thức còn được khẳng định bằng chính hoạt động của người học Không ở môi trường học tập nào HS có cơ hội hoạt đọng nhiều như ở PHBM HS không chỉ quan sát, nhận xét, tranh luận… mà còn thực hành bài học qua các TBDH Chính những hoạt động này góp phần không

Trang 29

nhỏ vào hiệu quả nhận thức, giúp HS khắc phục những thói quen xấu như thụ động, chờ đợi, ỷ lại, tiếp thu một chiều trong học tập.

Dạy học ở PHBM giúp trình độ chuyên môn của GV được nâng cao, năng lực thực hành, năng lực tư duy logic, tư duy sáng tạo của HS không ngừng được phát triển Khi tiếp xúc và sử dụng TBDH nhiều lần, chính bản thân GV sẽ gắn bó với bài giảng, không ngại làm thí nghiệm, qua đó tự bồi dưỡng trình độ chuyên môn.HS được làm nhiều thí nghiệm, tư duy logic có điểm tựa chắc chắn, kĩ năng thực hành cũng ngày một thành thục Đó chính là nguồn nuôi dưỡng quý báu cho lòng say mê, trí sáng tạo không ngừng của người học

c) Về hiệu quả rèn luyện kĩ năng

Dạy học theo PHBM là dạy học có tính chuyên môn hóa cao Nhờ vậy,

cả GV và HS đều có điều kiện hoàn thiện thêm các kĩ năng tổ chức lao động khoa học, quan sát, nhận biết, thực hành và hợp tác trong quá trình giáo dục Chẳng hạn khi học Hóa học, HS vừa tiếp thu kiến thức qua lời giảng của GV, vừa tự mình thực hành, thí nghiệm Qua từng bài học, HS sẽ biết lắp ráp dụng

cụ thí nghiệm và sử dụng hóa chất, thực hiện các thao tác cơ bản của thí nghiệm Hóa học, có được kĩ năng quan sát thí nghiệm, giải thích những điều

đã quan sát

Cũng qua các thí nghiệm, HS dần dần làm quen với việc lập chương trình thí nghiệm, lập kế hoạch giải các bài tập thực nghiệm, vẽ sơ đồ, dụng cụ, thiết bị thí nghiệm, theo dõi, ghi chép quá trình nghiên cứu, biết so sánh đối chiếu và rút ra kết luận từ những hiện tượng thí nghiệm, biết trình bày kết quả thí nghiệm…

Dạy học ở PHBM là quá trình làm việc với các phương tiện dạy học, các TBDH Vì vậy, HS dần dần có thói quen làm việc khoa học, bảo đảm sự

Trang 30

sạch sẽ, ngăn nắp nơi làm việc, biết giữ gìn dụng cụ, TBDH, tiết kiệm vật tư, thời gian và biết tuân theo nguyên tắc trong thực hiện thí nghiệm.

Dạy học ở PHBM tạo điều kiện cho HS có cơ hội gắn kết kiến thức sách vở và kiến thức thực tiễn.HS dễ dàng vận dụng những kiến thức lí thuyết

và giải đáp những hiện tượng thường gặp trong cuộc sống.Khi giải được những “bài tập” của cuộc sống, HS sẽ thấy nội dung học tập có ý nghĩa hơn

d) Về hiệu quả kinh tế

Có PHBM nghĩa là có cơ sở để xây dựng kế hoạch trang bị đồng bộ và chuyên sâu các loại TBDH cho môn học.PHBM là điều kiện bảo quản tốt nhất các TBDH, vì vậy không những giảm chi phí đầu tư mà còn là cơ sở tạo điều kiện cho việc đầu tư thường xuyên có chiều sâu Nhờ vậy, hệ thống TBDH của môn học ngày càng được hoàn thiện và nâng cao hơn

PHBM vừa là nơi bảo quản vừa là nơi sử dụng TBDH, do đó GV không phải mang TBDH đến từng lớp, tránh được việc di chuyển TBDH từ nơi này sang nơi khác Nhờ vậy, TBDH đảm bảo được độ chính xác đồng thời cũng giảm bớt tình trạng hỏng hóc khi phải di chuyển Dạy học ở PHBM là điều kiện để TBDH được sử dụng tốt nhất TBDH được lắp đặt sẵn tại phòng, việc sử dụng TBDH cũng trở nên dễ dàng hơn, vì vậy tần suất sử dụng TBDH

sẽ tăng lên, hạn chế tình trạng TBDH “nhàn rỗi”, lãng phí

1.2.4 Quản lý PHBM nhằm đảm bảochất lượng dạy học ở các trường THCS

1.2.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tiết dạy có sử dụng PHBM

Qua phân tích vai trò của PHBM, có thể nhận thấy quá trình dạy học có

sử dụng PHBM được cấu thành bởi nhiều thành tố cơ bản liên quan chặt chẽ

và tương tác lẫn nhau, đó là các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp (phụ thuộc rất nhiều vào việc GV có sử dụng PHBM hay không), GV, nhân viên quản lý phục vụ, HS và CSVC trong đó có PHBM Tuy nhiên để điều khiển tối ưu quá trình vận hành, nâng cao hiệu quả sử dụng PHBM đối với

Trang 31

quá trình dạy học, cần phải xác định vai trò quan trọng của công tác quản lý PHBM của NT Đặc biệt trong thời điểm mà yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng hơn bao giờ hết trong các trường trung học hiện nay,

HT phải có nhận thức đầy đủ, có những quyết định đúng đắn, có ý đồ chuyên môn rõ rệt, biết dựa vào các lực lượng đội ngũ nhân viên, giáo viên, biết phát huy tính chủ động sáng tạo của họ, phải có kế hoạch chi tiết cụ thể và hợp lý

về việc xây dựng, trang bị, phân công tổ chức bảo quản, theo dõi kiểm tra thiết bị định kì Cụ thể, theo Trần Đức Vượng và các cộng sự, NT cần chú trọng đến các yếu tố then chốt:

- Xây dựng, trang bị các thiết bị cho PHBM đáp ứng nhu cầu giảng dạy của GV và học tập của HS

- Tổ chức hoạt động dạy học ở PHBM theo mục đích, tính chất về nội dung và hình thức dạy học trên lớp Ngoài ra còn tổ chức nghiên cứu khoa học, hoạt động ngoại khóa hay sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn ở PHBM

- Tổ chức quản lý PHBM đảm bảo đồng bộ từ Ban giám hiệu NT đến

GV và CB phụ trách PHBM Việc phân công và điều hành cụ thể phải đảm bảo các nguyên tắc:

+ CB phụ trách PHBM là người quản lý chung về PHBM, sau mỗi tuần phải có báo cáo về tình hình hoạt động của mỗi PHBM; cuối tháng, cuối kì, cuối năm học đều có báo cáo kinh nghiệm và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả Người phụ trách phải tạo điều kiện đề GV sử dụng PHBM đạt hiệu quả cao nhất

+ GV bộ môn là người phải nắm vững về TBDH - PHBM mà mình phụ trách giảng dạy, thường xuyên kiểm tra số lượng, chất lượng các TBDH trong PHBM, chuẩn bị TBDH cần dạy trước một tuần

Trang 32

+ Có đội ngũ GV thực hành giúp GV bộ môn trong cac giờ dạy có nhiều thí nghiệm, nhiều bài tập thực hành Hiện nay tại các trường học đội ngũ này thường do CB phụ trách PHBM kiêm nhiệm.

+ NT chú ý xếp TKB sao cho PHBM được chuẩn bị đầy đủ các TBDH, nhất là đối với PHBM kết hợp nhiều môn học

1.2.4.2 PHBM - Hình thức dịch vụ phục vụ quá trình dạy học

Có thể nói cho tới nay, hầu như các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đều tổ chức dạy học theo PHBM, vì dạy học theo PHBM đem lại hiệu quả cao về nhiều mặt: tổ chức dạy học, nhận thức, rèn luyện kĩ năng, kinh tế… Mặc dù điều kiện kinh tế của nước ta còn chưa cho phép xây dựng được nhiều PHBM theo chuẩn, tuy nhiên việc triển khai dạy học theo hướng PHBM (theo Dự án phát triển giáo dục THCS II (2005 - 2010)) vẫn được thực hiện theo từng giai đoạn cho thấy đây là xu thế tất yếu trong quá trình dạy học

và sử dụng PHBM trong mỗi tiết dạy là một yêu cầu sẽ dần mang tính bắt buộc trong các trường học trong tương lai

Hơn nữa, theo Trần Kiểm, cần phải thay đổi nhận thức về vị trí người

dạy và người học Trong nhà trường, người học là “khách hàng” bên trong

quan trọng nhất, NT là cơ quan cung cấp dịch vụ học tập cho “khách hàng”

này Tương tự như vậy trong quản lý giáo dục, mỗi bộ phận trong NT cần xác

định mình có trách nhiệm cung ứng sản phẩm cho ai và mình là “khách hàng” của ai Như vậy để đảm bảochất lượng giáo dục, nghĩa là đảm bảo quyền lợi của “khách hàng”học sinh, NT cần đảm bảo quản lý hiệu quả tất cả các giai đoạn của quá trình giáo dục, trong đó có quản lý việc sử dụng PHBM vào quá trình giảng dạy của GV

Trang 33

Trong giai đoạn này, có thể coi GV là “khách hàng”, thụ hưởng các gói dịch vụ khác nhau trong đó có gói “dịch vụ PHBM” do NT cung cấp

“Khách hàng” này được trải nghiệm và sử dụng CSVC trong PHBM để phục

vụ cho nhu cầu dạy học của mình, sử dụng dịch vụ hỗ trợ về thời khóa biểu, cán bộ hỗ trợ sử dụng TBDH trong PHBM, được đào tạo kĩ năng sử dụng TBDH và bổi dưỡng nâng cao khả năng lên một giờ dạy có sử dụng PHBM hiệu quả… Đối tượng “khách hàng” này hài lòng với dịch vụ PHBM do NT cung cấp sẽ góp phần quan trọng đẩy mạnh chất lượng dạy học sử dụng PHBM trong NT, từ đó góp phần cung cấp dịch vụ học tập tốt nhất có thể cho “khách hàng” học sinh

1.2.4.3 SERVPERF- Mô hình chất lượng dịch vụ PHBM a) Sơ lược về mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF

Trên cơ sở mô hình SERVQUAL của Parasuraman (1985) dùng để đo lường chất lượng dịch vụ cảm nhận của khách hàng, Cronin và Taylor (1992)

đã khắc phục và cho ra đời mô hình SERVPERF, một biến thể của mô hình SERVQUAL Theo mô hình SERVPERF thì:

Chất lượng dịch vụ = Chất lượng cảm nhận

Kết luận này đã được sự đồng tình bởi các nghiên cứu của Lee và cộng

sự (2000), Brady và cộng sự (2002) Bộ thang đo SERVPERF có 22 phát biểu với 5 năm thành phần cơ bản, đó là:

- Tin cậy (reliability): Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên

- Đáp ứng (responsiveness): Thể hiện qua sự mong muốn, sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng

Trang 34

- Năng lực phục vụ (assurance): Thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sử, niềm nở với khách hàng.

- Sự cảm thông (empathy): Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc đến từng

cá nhân, khách hàng

- Phương tiện hữu hình (tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên, các trang thiết bi phục vụ cho dịch vụ

Sơ đồ 1 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF

b) Bộ câu hỏi thang đo theo mô hình chất lượng SERVPERF

Trên cơ sở mô hình SERVPERF, bộ thang đo chất lượng cần được xây dựng gồm đầy đủ các biến quan sát thuộc 05 thành phần trên và cần phải tham khảo các mô hình nghiên cứu đã được thừa nhận có giá trị hiện nay

c) Một số khái niệm quan trọng

Theo PGS.TS Trần Thị Kim Thu, các khái niệm quan trọng trong thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này được định nghĩa như sau:

- Thang đo định danh: Thang đo định danh là thang đo đánh số các

biểu hiện cùng loại của tiêu thức, thường dùng với các tiêu thức thuộc tính mà

Trang 35

các biểu hiện của nó là một hệ thống các loại khác nhau không theo một trật

tự xác định nào như: giới tính, khu vực địa lý, nghề nghiệp, tôn giáo…

- Thang đo Likert: Thang đo Likert hay còn gọi là thang đo thứ bậc là

thang đo định danh nhưng giữa các biểu hiện của tiêu thức có quan hệ hơn kém Thang đo thức bậc được dùng để do các tiêu thức thuộc tính mà biểu hiện có quan hệ thức tự như đo thái độ đối với một hành vi nào đó (hoàn toàn đồng ý, đồng ý, chưa quyết định, hoàn toàn không đồng ý)

- Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) và hệ số Bartlett's: là hệ số được

tính toán nhằm kiểm tra phương pháp phân tích nhân tố là phù hợp hay không(hay thỏa mãn điều kiện cho phân tích nhân tố) Với 0.5 ≤ KMO ≤ 1và

hệ số Bartlett's có mức ý nghĩa quan sát 0.000% < 0.05 thì phương pháp phân tích nhân tố là phù hợp

- Cronbach’s Alpha: Phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

dùng xác định độ tin cậy của thang đo Thang đo được chấp nhận khi khi Cronbach Alpha ≥ 0.6 và hệ số tương quan biến-tổng > 0.3 Nếu các biến

có hệ số tương quan biến tổng < 0.3 thì được xem là biến rác và loại khỏi thang đo

- Hệ số tải nhân tố (Factor Loading): Hệ số tải nhân tố của một biến

quan sát > 0.5 (với cỡ mẫu > 100) thì biến quan sát đó có ý nghĩa thống kê Nếu biến quan sát nào có hệ số tải nhân tố ≤ 0.5 sẽ bị loại nhằm đảm bảo tập

dữ liệu đưa vào là có ý nghĩa cho phân tích nhân tố

- Sig.: Trong quá trình phân tích dữ liệu, cần kiểm định mối quan hệ

giữa các biến định tính với nhau Khi thực hiện kiểm định, ta có 2 giả thuyết:

phù hợp

Trang 36

Dựa vào giá trị P (p-value) (SPSS viết tắt p-value là sig.) để kết luận là

mối quan hệ có ý nghĩa giữa các biến cần kiểm định

hệ giữa các biến cần kiểm định

- Hệ số phóng đại phương sai (Variance inflation factor - VIF) được

dùng để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến Quy tắc là khi VIF vượt quá 10

là dấu hiệu của đa cộng tuyến, khi đó thì hàm hồi quy bội tuyến tính không phù hợp

- Mean: Là giá trị trung bình số học của một biến, được tính bằng tổng

các giá trị quan sát chia cho số quan sát Đây là dạng công cụ thường được dùng cho dạng đo khoảng cách và tỷ lệ Giá trị trung bình có đặc điểm là chịu

sự tác động của các giá trị ở mỗi quan sát, do đó đây là thang đo nhạy cảm nhất đối với sự thay đổi của các giá trị quan sát Giá trị trung bình được tính bằng công thức sau:

- Phương sai (Variance): Dùng để đo lường mức độ phân tán của một

tập các giá trị quan sát xung quanh giá trị trung bình của tập quan sát đó Phương sai bằng trung bình các bình phương sai lệch giữa các giá trị quan sát đối với giá trị trung bình của các quan sát đó Người ta dùng phương sai

để đo lường tính đại diện của giá trị trung bình tương ứng, các tham số trung bình có phương sai tương ứng càng lớn thì giá trị thông tin hay tính đại diện của giá trị trung bình đó càng nhỏ Phương sai của mẫu được tính bằng công thức sau:

1

) (

1

2 2

n

i i

n X

Trang 37

1.3 Kinh nghiệm về Quản lý PHBM ở Việt Nam trong đảm bảo chất lượng dạy học ở trường THCS

Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là đưa chuẩn kiến thức,

kĩ năng vào thành phần của chương trình giáo dục phổ thông đã tạo nhiều thuận lợi cho công tác chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá, đặc biệt là việc đổi mới phương pháp dạy học Để khắc phục tình trạng “dạy chay, học chay”, chống đọc- chép đang còn phổ biến ở trường Trung học, làm thế nào để việc

sử dụng các PHBM có hiệu quả, một số NT đã xây dựng một số quy định và giao trách nhiệm cho các thành viên như sau:

Quản lý hoạt động của phòng học bộ môn

HT phân công phó hiệu trưởng phụ trách dạy- học trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra việc sử dụng PHBM Có kế hoạch chỉ đạo sử dụng PHBM thường xuyên, sắp xếp thời khoá biểu các môn, lớp để các tiết học các môn Tin học, Vật lý, Công nghệ, Hoá học, Sinh học… được học ở các PHBM không trùng nhau

Cùng với Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn có trách nhiệm lập kế hoạch, quản lý, theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh tại các PHBM và báo cáo với lãnh đạo trường hằng tuần, tháng, học kỳ, năm học Trong điều kiện nhà trường chỉ có một viên chức thiết bị không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ ở các PHBM nên lãnh đạo trường giáo cho tổ chuyên môn phân công giáo viên trực từng buổi tại PHBM do tổ phụ trách

Viên chức làm công tác thiết bị phối hợp với tổ trưởng chuyên môn lập

kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch hằng tuần để hoạt động của PHBM có tần suất cao nhất

Trang 38

PHBM có niêm yết nội quy, lịch hoạt động hằng tuần theo thời khoá biểu, cập nhật hồ sơ, sổ sách, mô tả sắp xếp khoa học và hệ thống các thiết bị dạy học (TBDH) theo đúng chương trình môn học.

Ngoài ra, cần có kế hoạch kiểm tra định kỳ TBDH, các yêu cầu đảm bảo kỹ thuật, an toàn sử dụng trong PHBM để duy tu, bảo dưỡng hoặc đề xuất sửa chữa, mua sắm bổ sung kịp thời Bên cạnh đó, có kế hoạch đào tạo, tổ chức tập huấn cho giáo viên sử dụng phòng học bộ môn theo định kỳ

Đối với viên chức phụ trách thiết bị dạy học và giáo viên phụ trách

bộ môn

Cần nhận thức đúng về hiệu quả dạy học và tầm quan trọng của PHBM đối với việc đổi mới phương pháp dạy học Trước khi đến lớp giáo viên phải chuẩn bị nội dung các tiết dạy, chuẩn bị thiết bị dạy học (TBDH) Đối với các tiết thí nghiệm thực hành giáo viên phải tiến hành thí nghiệm trước khi tổ chức lớp học

Viên chức phụ trách thiết bị dạy học, giáo viên trực PHBM và giáo viên giảng dạy phải phối hợp chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học, làm trước thí nghiệm thì khi giảng dạy chất lượng giờ dạy sẽ đạt hiệu quả

Mỗi lớp học giáo viên cần tổ chức phân nhóm học tập, rèn luyện: phân công nhóm học sinh theo các chức vụ khác nhau sao cho em nào cũng có nhiệm vụ riêng của mình Ví dụ 1 nhóm 5 người thì có nhóm trưởng, nhóm phó, phụ trách kỷ luật, phụ trách phát ngôn viên và phụ trách hậu cần Mỗi tiết học giáo viên yêu cầu các nhóm trưởng, nhóm phó đến PHBM cùng giáo viên chuẩn bị tiết học, các học sinh khác chuẩn bị sách vở, dụng cụ học tập, ngồi đúng vị trí quy định

Để học sinh học tập tốt giáo viên cần rèn luyện học sinh có ý thức, tác phong học tập trong các PHBM Khi dạy hướng dẫn học sinh sử dụng TBHD đảm bảo kết quả, phát huy tính tích cực, tự giác tìm hiểu kiến thức bài học,

Trang 39

phát huy tinh thần hợp tác hỗ trợ nhóm học tập của học sinh Sau mỗi tiết học, giáo viên hướng dẫn học sinh thu dọn, sắp xếp lại đồ dùng, dụng cụ học tập, dọn vệ sinh đảm bảo PHBM an toàn, sạch sẽ.

Một việc không thể thiếu đó là giáo viên phải tham gia học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo kế hoạch định kỳ của trường và sở tổ chức

Nhà trường yêu cầu giáo viên lập kế hoạch giảng dạy trong PHBM ngay từ đầu năm, đăng kí soạn số tiết giảng có sử dụng công nghệ thông tin/học kỳ; lập kế hoạch sử dụng thiết bị dạy học cho mỗi tiết học; khuyến khích giáo viên tự làm những thiết bị dạy học còn thiếu; sử dụng hợp lí hệ thống điện, máy chiếu, nước sạch

Đối với học sinh

Để đạt được kết quả cao trước hết phải rèn luyện cho học sinh có ý thức

kỷ luật.Thực hiện nghiêm túc nội quy PHBM, đảm bảo trật tự, không đùa nghịch làm hư hại tài sản

Trước khi đến lớp có ý thức tự giác học tập, chuẩn bị đầy đủ sách vở, dụng cụ học tập theo hướng dẫn của giáo viên, các nhóm trực nhật đến sớm

để phụ giúp giáo viên chuẩn bị và thu dọn sau mỗi tiết học Trong giờ học ghi chép đầy đủ nội dung tiến trình buổi học, mạnh dạn trao đổi thảo luận nhóm

về những kiến thức trong bài học Tổ chức thí nghiệm thực hành an toàn Khi

có sự cố xảy ra phải bình tĩnh theo hướng dẫn của giáo viên

Nhà trường có kế hoạch hoạt động của PHBM cho học sinh trước một tuần, tập luyện cho học sinh cách di chuyển đến PHBM một cách nhanh nhất Rèn luyện cho học sinh thái độ tích cực khi học ở PHBM như chú ý các thao tác thí nghiệm, tích cực tham gia và đưa ra những thắc mắc…

Không ở môi trường học tập nào, học sinh có cơ hội hoạt động nhiều như ở PHBM, tránh được tình trạng dạy chay - học chay Ở đây các em không chỉ được rèn luyện kĩ năng thực hành mà còn được quan sát, nhận xét, tranh

Trang 40

luận những vấn đề nẩy sinh trong thực tế Chính nhờ đó, khắc phục được những thói quen xấu cho học sinh trong học tập như: thụ động, ỉ lại, tiếp thu một chiều… Hoạt động của PHBM không chỉ tác động tích cực đến học sinh

về khả năng tư duy, sáng tạo mà ngay cả giáo viên cũng được “hưởng lợi” từ PHBM như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm được nâng cao Khi tiếp xúc với công nghệ thông tin và sử dụng thiết bị dạy học nhiều lần, chính bản thân giáo viên sẽ gắn bó với bài giảng, hứng thú với việc thiết kế bài giảng điện tử, không ngại làm thí nghiệm Đối với thí nghiệm khó, giáo viên còn có thể dùng công nghệ thông tin để mô phỏng lại…qua đó tự bồi dưỡng được chuyên môn

Ngoài các loại đồ dùng hiện có, nhà trường đã chỉ đạo giáo viên tổ chức dạy học theo nhóm qua đó phân công học sinh làm các đồ dùng tự tạo, các nhóm đã làm được nhiều đồ dùng có giá trị thiết thực: môn sinh học, các thí nghiệm Vật lý,…Giáo viên đã huy động học sinh sưu tầm được nhiều loại tranh ảnh, hiện vật, học sinh tham gia làm các mô hình, đắp vẽ mẫu vật để phục vụ cho bài giảng Qua đó giáo viên có nhiều sáng kiến kinh nghiệm đạt giải thành phố, kĩ năng thực hành của các giáo viên tương đối tốt cho nên các tiết dạy ở PHBM đã mang lại niềm say sưa, hứng thú cho học sinh, chất lượng giờ dạy luôn được xếp loại giỏi

Từ cách thực tế quản lý và sử dụng đó, các PHBM của nhà trường luôn được khai thác có hiệu quả.Giáo viên có tinh thần trách nhiệm chuẩn bị giờ dạy, học sinh có ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo quản đồ dùng, kĩ năng sử dụng các loại đồ dùng học tập đã được nâng lên

Tiểu kết chương 1

Như vậy, PHBM là một khái niệm khá rộng, tùy thuộc vào các định nghĩa của từng quốc gia khác nhau.Trong giới hạn nghiên cứu này tôi đề cập

Ngày đăng: 13/04/2015, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo. Một số khái niệm về quản lý giáo dục. Trường cán bộ quản lý giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
2. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NxbĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NxbĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
4. Vũ Cao Đàm (2005), Nghiên cứu khoa học - Phương pháp luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học - Phương pháp luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
5. Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề giáo dục học và khoa học giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục học và khoa học giáo dục
6. Bùi Nguyên Hùng &amp; Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2010), Quản lý Chất lượng, NXB ĐHQG TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Chất lượng
Tác giả: Bùi Nguyên Hùng &amp; Nguyễn Thúy Quỳnh Loan
Nhà XB: NXB ĐHQG TP.HCM
Năm: 2010
7. Trần Kiểm - Nguyễn Xuân Thức, Giáo trình Đại cương khoa học và quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư Phạm, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đại cương khoa học và quản lý giáo dục
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
8. Nguyễn Thành Long (2006), Sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đào tạo ĐH tại trường ĐH An Giang, Báo cáo nghiên cứu khoa học, trường ĐH An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đào tạo ĐH tại trường ĐH An Giang
Tác giả: Nguyễn Thành Long
Năm: 2006
9. Phạm Văn Nam-Trần Đức Vượng-Đặng Thị Thu Thủy &amp; ctg (2012), Một số vấn đề về phòng học bộ môn, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phòng học bộ môn
Tác giả: Phạm Văn Nam-Trần Đức Vượng-Đặng Thị Thu Thủy &amp; ctg
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
10. Phan Văn Ngọc (2004), Các biện pháp quản lý Cơ sở vật chất - Thiết bị dạy học ở các trung tâm Kỹ thuật hướng nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp quản lý Cơ sở vật chất - Thiết bị dạy học ở các trung tâm Kỹ thuật hướng nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Phan Văn Ngọc
Năm: 2004
11. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học, Tập 1, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Thế Ngữ", Đặng Vũ Hoạt" (1987), Giáo dục học, Tập
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
12. Nguyễn Đình Phan (2005), Quản lý chất lượng trong các tổ chức, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng trong các tổ chức
Tác giả: Nguyễn Đình Phan
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2005
13. Nguyễn Ngọc Quang, (1986).“ Lý luận dạy học đại cương”, tập 1, Trường Cán bộ quản lý giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại cương”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1986
14. Nguyễn Thanh Quang (2012), Chuyên đề Phân tích nhân tố khám phá - Lý thuyết và ứng dụng, Cao học Tài Chính Ngân hàng - ĐH Quốc tế Hồng Bàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Phân tích nhân tố khám phá - Lý thuyết và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Thanh Quang
Năm: 2012
15. Trần Doãn Quới, Nhóm cộng sự (1990), Xây dựng và sử dụng tối ưu cơ sở vật chất - kỹ thuật giáo dục trong các loại hình trường học, Đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng tối ưu cơ sở vật chất - kỹ thuật giáo dục trong các loại hình trường học
Tác giả: Trần Doãn Quới, Nhóm cộng sự
Năm: 1990
16. Vũ Trọng Rỹ (2004), Quản lý Cơ sở vật chất - Thiết bị dạy học ở nhà trường phổ thông, Giáo trình dùng cho học viên cao học QLGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Cơ sở vật chất - Thiết bị dạy học ở nhà trường phổ thông
Tác giả: Vũ Trọng Rỹ
Năm: 2004
17. Vũ Hải Việt (2012), Những giải pháp cơ bản để triển khai dạy học theo phòng học bộ môn cấp THCS huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp cơ bản để triển khai dạy học theo phòng học bộ môn cấp THCS huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Vũ Hải Việt
Năm: 2012
18. Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2008
19. Trần Thị Kim Thu (2012), Lý thuyết thống kê, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết thống kê
Tác giả: Trần Thị Kim Thu
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2012
3. Chỉ thị số 3004/CT-BGDDT của BGD &amp; ĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học, (2013), BDG&amp;ĐT Khác
20. Quy định về PHBM được ban hành bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Quyết định 37/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 7 năm 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Sơ đồ 1. Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF (Trang 34)
Sơ đồ 3. Mô hình chất lượng PHBM - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Sơ đồ 3. Mô hình chất lượng PHBM (Trang 53)
Bảng 2. Cấu trúc bảng hỏi và thang đo - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 2. Cấu trúc bảng hỏi và thang đo (Trang 54)
Bảng 4. Đặc điểm của mẫu khảo sát - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 4. Đặc điểm của mẫu khảo sát (Trang 56)
Bảng 5. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố CB phụ trách PHBM - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 5. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố CB phụ trách PHBM (Trang 57)
Bảng 6. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố CSVC PHBM - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 6. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố CSVC PHBM (Trang 58)
Bảng 7. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 7. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố (Trang 59)
Bảng 8. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 8. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố (Trang 60)
Bảng 9. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 9. Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố (Trang 61)
Bảng 12. Bảng tóm tắt nhân tố tương ứng với các biến quan sát sau khi - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 12. Bảng tóm tắt nhân tố tương ứng với các biến quan sát sau khi (Trang 65)
Bảng 15. Bảng kết quả hồi quy đa biến - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 15. Bảng kết quả hồi quy đa biến (Trang 78)
Bảng 14. Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất - Biện pháp quản lý phòng học bộ môn tại các trường trung học cơ sở huyện từ liêm, Hà Nội
Bảng 14. Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w