1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

111 4,9K 55

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3

1 Sự cần thiết phải xây dựng đề án 3

2 Căn cứ pháp lý 4

2.1 Các văn bản của Chính phủ về việc lập quy hoạch 4

2.2 Các văn bản khác về việc lập quy hoạch 4

2.3 Các quy hoạch khác có liên quan: 5

3 Đối tượng, phạm vi quy hoạch, phương pháp nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng 5

3.2 Phạm vi quy hoạch 7

3.3 Phương pháp nghiên cứu 8

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU VIỆT NAM 9

1 Bối cảnh quốc tế 9

1.1 Tổng quát về việc sử dụng sản phẩm từ tự nhiên 9

1.2 Hợp tác Việt Nam với các nước trong lĩnh vực dược liệu 9

1.3 Nhu cầu sử dụng dược liệu, thuốc từ dược liệu trên thế giới 10

2 Bối cảnh trong nước 11

2.1 Giới thiệu chung về tình hình phát triển của ngành Dược Việt Nam 11

2.2 Tiềm năng nguồn dược liệu Việt Nam 13

3 Dự báo nhu cầu dược liệu trong nước và trên thế giới trong thời gian tới 17

3.1 Dự báo về thị trường và khả năng cạnh tranh của dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu trong nước và thế giới 17

3.2 Dự báo khả năng công nghệ 19

3.3 Dự báo nhân lực, vật lực cho phát triển dược liệu 20

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU Ở VIỆT NAM 24

1 Quản lý nhà nước 24

1.1 Cơ cấu tổ chức 24

1.2 Hệ thống văn bản pháp qui 25

2 Thực trạng phát triển dược liệu ở Việt Nam 30

2.1 Thực trạng về nguồn dược liệu thiên nhiên 30

2.2 Tình hình phát triển nuôi trồng dược liệu 33

2.3 Tình hình chế biến, thị trường, xuất nhập khẩu và chất lượng dược liệu 46

2.4 Tình hình sử dụng dược liệu phục vụ YHCT và công nghiệp dược 50

2.5 Đánh giá chung và sự cần thiết phải quy hoạch phát triển dược liệu 53

3 Mô hình quản lý dược liệu ở một số nước trên thế giới 55

CHƯƠNG 4: QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 58

1 Quan điểm chỉ đạo xây dựng đề án 58

Trang 2

2 Mục tiêu quy hoạch 59

2.1 Mục tiêu tổng quát 59

2.2 Mục tiêu cụ thể 59

3 Nội dung quy hoạch 61

3.1 Quy hoạch các vùng bảo tồn và khai thác dược liệu bền vững 61

3.2 Quy hoạch vùng nuôi trồng cây thuốc và giống cây thuốc 68

3.3 Quy hoạch các cơ sở và nhà máy sơ chế, chế biến và chiết xuất dược liệu phục vụ công nghiệp dược 74

3.4 Quy hoạch các kênh cung ứng từ Trung ương đến địa phương 76

3.5 Quy hoạch nguồn lực 77

4 Đánh giá nhu cần về vốn đầu tư 77

5 Danh mục các dự án ưu tiên trong giai đoạn 2011 – 2030 78

6 Một số định hướng chính cho giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 79

CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 81

1 Đánh giá chung về tác động môi trường 81

2 Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường 82

CHƯƠNG 6: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH 83

PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU 83

1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách phát triển dược liệu 83

2 Nhóm giải pháp về đầu tư, tài chính và tín dụng 83

3 Nhóm giải pháp về nghiên cứu, chuyển giao và tiếp nhận KH công nghệ 84

4 Nhóm giải pháp về phát triển và đào tạo nguồn nhân lực 85

5 Nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế 85

CHƯƠNG 7: TỔ CHỨC THỰC HIỆN 86

1 Các đơn vị thực hiện 86

1.1 Trách nhiệm của Bộ Y tế 86

1.2 Trách nhiệm của các Bộ nghành khác 86

2 Tổ chức thực hiện 88

2.1 Giai đoạn đến 2015 88

2.2 Giai đoạn đến năm 2020 89

2.3 Giai đoạn đến năm 2030 89

Trang 3

CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết phải xây dựng đề án

Việt Nam vốn được đánh giá là nước có nguồn dược liệu tự nhiên phong phú và đa dạng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc Đất đai và khí hậu phù hợp với nhiều loài cây trồng, trong đó có nhiều loài cây thuốc quý xuất xứ từ các nguồn khác nhau

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đang ngày một cạn kiệt, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, cây dược liệu nuôi trồng đang bị thu hẹp hoặc phát triển một cách tự phát mất cân đối Sự giảm sút nguồn dược liệu có nhiều nguyên nhân, có thể chủ quan lẫn khách quan như chiến tranh, sự khai thác tràn lan, trình độ nhận thức con người còn hạn chế nhất là tại vùng miền núi nơi có nhiều tài nguyên sinh vật Hơn nữa trước yêu cầu của phát triển kinh

tế, xã hội đời sống chúng ta đang phải đối mặt mâu thuẫn giữa cung và cầu, bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này

Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và nguồn cây dược liệu nói riêng đang là vấn đề cấp bách được đặt lên hàng đầu Bởi vì bảo vệ tài nguyên sinh vật là chúng ta đang bảo vệ sự cân bằng sinh thái, bảo vệ sự đa dạng sinh học và môi trường, bảo vệ chính chúng ta về sức khỏe, kinh tế, văn hóa, Hơn nữa, phát triển dược liệu trong giai đoạn tới cũng mở ra cơ hội rất lớn cho việc giao thương, tham gia thị trường quốc tế về dược liệu và dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên

Trước yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước, đồng thời để thực hiện được chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng của nguồn nguyên liệu làm thuốc ở nước ta, cần

thiết xây dựng “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu Việt Nam giai đoạn

từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” như một chương trình hành

động có tính chiến lược Đề án Quy hoạch này nhằm mục đích tăng cường quản

lý của Nhà nước trong lĩnh vực dược liệu; nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả

và bền vững nguồn tài nguyên dược liệu, bảo tồn và phát triển sự đa dạng sinh

Trang 4

học; và xây dựng kế hoạch phát triển thuốc từ nguồn dược liệu trong nước góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập cho người dân tại các vùng khó khăn; từng bước và chủ động đáp ứng đủ nhu cầu dược liệu cung cấp cho công nghiệp dược và Y học cổ truyền trong nước.

2 Căn cứ pháp lý

2.1 Các văn bản của Chính phủ về việc lập quy hoạch

- Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020;

- Quyết định số 43/2007/QĐ-TTg ngày 29 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và tầm nhìn đến năm 2020”;

- Chỉ thị 24/CT-TW ngày 04 tháng 7 năm 2008 của Ban Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền đông y Việt nam và Hội Đông y trong tình hình mới;

- Quyết định số 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ Tướng Chính phủ

về việc ban hành kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020;

2.2 Các văn bản khác về việc lập quy hoạch.

- Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22 /9/2006 của Chính phủ quy định một số điều chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;

- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;

- Nghị định 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ về sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP;

Trang 5

- Căn cứ Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 của Bộ Kế hoạch Đầu tư về việc ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch các sản phẩm.

2.3 Các quy hoạch khác có liên quan:

- Quyết định số 61/2007/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia phát triển công nghiệp Hóa dược đến năm 2020”

- Quyết định 81/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/05/2009

về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp Hoá dược đến năm

2015 tầm nhìn 2025

3 Đối tượng, phạm vi quy hoạch, phương pháp nghiên cứu.

3.1 Đối tượng.

a Các vùng dược liệu tự nhiên

Vùng dược liệu tự nhiên là nơi nhiều loài dược liệu sinh trưởng và phát triển mọc tự nhiên trong các quần xã rừng

+ Vùng dược liệu tự nhiên phân bổ theo loại rừng:

- Vùng rừng đặc dụng có 2.002.276 ha, chia thành 164 khu gồm: 30 Vườn Quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 10 khu bảo tồn loài, 46 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu khoa học

- Vùng rừng phòng hộ (4.846.196 ha), rừng sản xuất (6.373.491 ha) và loại rừng khác không có quy hoạch vào 3 loại rừng trên (166.112 ha)

+ Vùng dược liệu tự nhiên phân bổ theo vùng miền, địa hình:

- Ở các tỉnh miền núi phía Bắc (độ cao từ 1000m trở lên) và ở phía Nam (độ cao từ 1300m trở lên);

- Các tỉnh ở phía Nam có những loại cây thuốc quý khác, mang tính chất vùng nhiệt đới điển hình

b Hệ thống các vùng trồng cây dược liệu:

Trang 6

- Nghiên cứu vùng trồng, sản xuất cây dược liệu có tính chuyên canh như: Ở Sa Pa, Bắc Hà (Lào Cai); Sìn Hồ (Lai Châu); Quyết Tiến, Phó Bảng (Hà Giang); Hà Quảng, Thông Nông (Cao Bằng); Hang Kia – Pà Cò (Hòa Bình); Son Bá Mười (Thanh Hóa); Mường Lống (Nghệ An) và Đà lạt (Lâm Đồng) hiện đang trồng các cây thuốc bắc nhập nội (Bạch Chỉ, Bạch Truật, Đương quy, Huyền sâm, Đỗ trọng, Hoàng bá, Xuyên khung, Tam thất ), cây thuốc nhập nội làm nguyên liệu cho Công nghiệp Dược (Artisô) và cây thuốc bản địa có tính chất ôn đới (Thảo quả, Tục đoạn, Táo mèo ).

- Một số tỉnh thuộc vùng núi thấp như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, trồng một số cây đặc sản có giá trị xuất khẩu cao như: Hồi, Quế, Thảo quả, Sa nhân,

- Ở các tỉnh vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ và khu 4 cũ: Là nơi sản xuất đại trà một số cây thuốc bắc nhập nội nhưng hạt giống lấy từ vùng núi cao như: Bạch Chỉ, Đương quy, Địa hoàng, Ngưu tất, Cát cánh, Trạch tả ; Là nơi trồng chủ yếu của các loài cây như Hòe, Bạc hà và nhiều loại cây thuốc nam truyền thống khác

- Tại một số tỉnh ở Miền trung, Tây nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long: Từng là nơi trồng sản xuất nhiều loài cây thuốc có tinh dầu như: Bạc hà, Sả, Hương nhu trắng

c Hệ thống sản xuất chế biến, bào chế và chiết xuất dược liệu phục vụ sản xuất thuốc

Nghiên cứu một số cơ sở sản xuất dược liệu và thuốc dược liệu thuộc các doanh nghiệp lớn trên cả nước: Tổng Công ty dược (có Nông trường dược liệu Eakao (Đắc Lắc); Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười (Long An); Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất dược liệu Long Thành (Đồng Nai); Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất dược liệu Tuy Hòa (Phú Yên); Trung tâm giống dược liệu Đà Lạt (Lâm Đồng); Công ty TNHH Traphaco;

d Hệ thống kinh doanh (buôn bán, xuất nhập khẩu) dược liệu

Trang 7

Nghiên cứu hệ thống kinh doanh dược liệu tại một số thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, ), các cơ sở sản xuất đăng ký hộ kinh doanh thuốc tại một số khu vực trên cả nước.

Tình hình xuất nhập khẩu tại các cảng hải quan, các khu cửa khẩu có đường biên giới giáp với Trung Quốc, Campuchia,

e Hệ thống cung ứng dược liệu phục vụ công tác khám chữa bệnh

Nghiên cứu số liệu thống kê đến năm 2011 của hệ thống các bệnh viện YHCT công lập, bệnh viện YHCT tư nhân; bệnh viện YHHĐ có khoa hoặc tổ YHCT; Trạm y tế xã có hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT điển hình trên cả nước và nghiên cứu theo thống kê của Vụ Y Dược cổ truyền

3.2 Phạm vi quy hoạch

Dược liệu bao gồm các loài thực vật và nấm lớn; loài tảo biển; loài động vật

và loại khoáng sản có công dụng làm thuốc Trong phạm vi cho phép, đề án chỉ tập trung vào các loài thực vật và nấm lớn, là những loài chiếm tỷ trọng lớn và phổ biến trong dược liệu

Pham vi quy hoạch đề cập đến toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và được phân chia theo 8 vùng địa lý như sau:

- Vùng Đông Bắc: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai và một phần của Thái Nguyên, Bắc Giang

- Vùng Tây Bắc: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình

- Vùng Đồng bằng Sông Hồng: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Bắc Giang và Vĩnh Phúc

- Vùng Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: Các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận)

- Vùng Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng

Trang 8

- Vùng Tây Nam Bộ: An Giang, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang.

- Vùng Đông Nam Bộ: Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh

3.3 Phương pháp nghiên cứu.

- Khảo sát điều tra thu thập số liệu bằng các hình thức: đi khảo sát thực tế; dùng phiếu điều tra; văn bản đề nghị báo cáo và cung cấp thông tin;

- Tổng hợp các tài liệu tham khảo: Nghiên cứu các chính sách, luật, báo cáo nghiên cứu, khảo sát và các tài liệu khác có liên quan đến phát triển ngành dược của Việt Nam và một số nước trên thế giới;

- Dự báo về phát triển thị trường, tiềm năng và các nguồn lực cho ngành dược nói chung và dược liệu nói riêng: Thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng về kinh tế, xã hội; Nghiên cứu thị trường dược liệu; Tình hình xuất nhập khẩu dược; Hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp; Từ đó đưa ra các dự báo về nhu cầu, thị trường, tốc độ phát triển, hướng phát triển của ngành dược trong giai đoạn tới;

- Thu thập các ý kiến chính thức và không chính thức của các bên liên quan, đặc biệt là cán bộ và chuyên gia của cơ quan nhà nước thuộc các bộ, ngành liên quan, cán bộ quản lý của Bộ Y tế, chuyên gia trong nước: Thông qua tổ chức các hội nghị báo cáo đề án, gửi tài liệu xin ý kiến các bộ ngành, chuyên gia, Trên cơ

sở ý kiến đóng góp của các bên, nhóm thực hiện đề án tổ chức thảo luận để tiếp thu các ý kiến đóng góp;

- Tổ chức các cuộc thảo luận của các nhóm công tác trên cơ sở đề xuất các vấn đề và ý kiến thảo luận, thu thập ý kiến đóng góp cho các chủ đề chính: Trong quá trình xây dựng Đề án, nhóm tổ xây dựng đề án thường xuyên tổ chức thảo luận thống nhất ý kiến để thống nhất hoàn chỉnh các nội dung có trong đề án

Trang 9

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY

HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU VIỆT NAM.

1 Bối cảnh quốc tế.

1.1 Tổng quát về việc sử dụng sản phẩm từ tự nhiên

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 80% dân số ở các nước đang phát triển việc chăm sóc sức khỏe ít nhiều vẫn còn liên quan đến YHCT hoặc thuốc từ dược thảo truyền thống để bảo vệ sức khỏe Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, bào chế và sản xuất các chế phẩm có nguồn gốc thiên nhiên từ cây thuốc để hỗ trợ, phòng ngừa và điều trị bệnh Theo thống

kê của WHO, ở Trung Quốc doanh số thị trường thuốc từ dược liệu đạt 26 tỷ USD (2008, tăng trưởng hàng năm đạt trên 20%), Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản đạt 1,1 tỷ USD (2006), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004), Tính trên toàn thế giới, hàng năm doanh thu thuốc từ dược liệu ước đạt khoảng trên 80 tỷ USD

Những nước sản xuất và cung cấp dược liệu trên thế giới chủ yếu là những nước đang phát triển ở Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Bangladesh ở Châu Phi như Madagasca, Nam Phi ở Châu Mỹ La tinh như Brasil, Uruguay

Những nước nhập khẩu và tiêu dùng chủ yếu là những nước thuộc liên minh châu Âu (EU), chiếm 60% nhập khẩu của Thế giới Trung bình hàng năm các nước EU nhập khoảng 750 triệu đến 800 triệu USD dược liệu và gia vị Nguồn cung cấp dược liệu chính cho thị trường EU là Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Brazil, Đức

1.2 Hợp tác Việt Nam với các nước trong lĩnh vực dược liệu.

Cho đến nay đã có nhiều hình thức hợp tác quốc tế với các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài trong việc nghiên cứu sàng lọc cây thuốc (về mặt hóa học) cũng như cung cấp giống cây thuốc mới để sản xuất nguyên liệu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài

Hợp tác với Trung Quốc: Ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, bằng đường ngoại giao chúng ta đã nhập nội các giống cây thuốc quý như: Đương quy, Bạch chỉ, Bạc hà, Ngưu tất Đây là một điển hình cho công cuộc hợp tác quốc tế

Trang 10

trong lĩnh vực trồng và chế biến dược liệu với một nước láng giềng rộng lớn và giàu tiềm năng, có kinh nghiệm và sử dụng YHCT có truyền thống như Trung Quốc (Nhập nội giống cây con làm thuốc, học tập kinh nghiệm, trao đổi chuyên gia, nhập khẩu dược liệu )

Với Nhật Bản: Từ những năm 1990 Nhật Bản bắt đầu quan tâm đưa cây thuốc vào trồng ở Việt Nam thông qua hợp tác giữa Bộ Y tế với Công ty dược phẩm của Nhật Bản Hàng chục giống dược liệu được nhập nội từ Nhật, có nhiều cây đã trồng thành công ở Việt Nam để thành hàng hoá xuất khẩu đi Nhật Bản như: Đương quy Nhật Bản, Lão quan thảo, Chè xanh, Long đờm thảo, Đương quy dại, Sâm nhật

Với Ấn Độ: Bằng nhiều con đường khác nhau mà hiệu quả nhất là trao đổi sinh viên, đã nhập nội từ Ấn Độ về một số cây quan trọng như củ Nêm, Sả hoa hồng, Húng chanh, Diếp cá, Rau má

Với các nước khác: Việt Nam đã thông qua nhiều con đường để nhập nội giống và trao đổi sinh viên cũng như thực tập sinh và nghiên cứu sinh khoa học với các nước trên toàn thế giới

Về xuất khẩu nước ta chủ yếu xuất dược liệu thô, ước tính 10.000 tấn/năm bao gồm các loại như: Sa nhân, Quế, Hồi, Thảo quả, Cúc hoa, Dừa cạn, Hòe, và một số loài cây thuốc mọc tự nhiên khác Bên cạnh đó một số hoạt chất được chiết xuất từ dược liệu cũng từng được xuất khẩu như Berberin, Palmatin, Rutin, Artemisinin, tinh dầu và một vài chế phẩm đông dược khác sang Đông Âu và Liên bang Nga

1.3 Nhu cầu sử dụng dược liệu, thuốc từ dược liệu trên thế giới

Nhu cầu về dược liệu cũng như thuốc từ dược liệu (thuốc được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiện từ động vật, thực vật hoặc khoáng chất) có xu hướng ngày càng tăng, nhất là ở các quốc gia đang phát triển Xu thế trên thế giới con người bắt đầu sử dụng nhiều các loại thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe

có nguồn gốc từ thảo dược hơn là sử dụng thuốc tân dược vì nó ít độc hại hơn và

ít tác dụng phụ hơn Hơn nữa hiện còn nhiều triệu chứng và bệnh hiểm nghèo chưa có thuốc đặc hiệu để chữa trị, người ta hi vọng rằng từ nguồn động thực vật

tự nhiên hoặc từ vốn trí tuệ bản địa của các cộng đồng, qua nghiên cứu sàng lọc

có thể cung cấp cho nhân loại những hợp chất có hoạt tính sinh học cao để làm ra các loại thuốc mới có hiệu quả chữa bệnh như mong muốn Nghiên cứu sàng lọc

Trang 11

cây thuốc hiện cũng được chú trọng ở nhiều quốc gia, nhiều lĩnh vực như dược liệu, công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm

Theo thống kê hiện nay tỷ lệ số người sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh ngày càng tăng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Các nước Châu phi, Ở Trung Quốc chi phí cho sử dụng YHCT khoảng 10 tỷ USD, chiếm 40% tổng chi phí cho y tế, Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc khoảng trên

500 triệu USD

Biểu đồ 01: Tỉ lệ dân số dùng dược liệu một số nước trên thế giới

(Nguồn: Báo cáo hội thảo dược liệu-Đà Lạt)

Theo thống kê của WHO, những năm gần đây, nhiều nhà sản xuất đã có hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương liệu… Chính vì vậy, sản xuất dược liệu đã và đang mang lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc

2 Bối cảnh trong nước.

2.1 Giới thiệu chung về tình hình phát triển của ngành Dược Việt Nam.

Sau hơn hai mươi năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, ngành dược đã có những bước tiến nhất định Dược phẩm là sản phẩm đặc biệt, do vậy sự cạnh tranh trên thị trường cũng luôn quyết liệt và được sự quan tâm của toàn xã hội Ngành dược đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển Bên cạnh thuận lợi về mặt môi trường đầu tư và tiếp cận công nghệ mới, thì phát triển dược liệu còn có thuận lợi về nguồn nguyên liệu đa dạng và phong phú sẵn có tại các khu rừng tự nhiên trên cả nước Trong những năm gần đây, ngành dược Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đảm bảo đủ thuốc cho nhân dân có chất lượng với giá hợp lý và đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý

Trang 12

Theo thống kê của Cục quản lý dược, năm 2011 giá trị thuốc sản xuất trong nước ước tính đạt khoảng 1.140 triệu USD, tăng 24,04% so với năm 2010; tổng giá trị tiền thuốc ước sử dụng năm 2011 là 2.432,5 triệu USD tăng 27,45% so với năm 2010; nhập khẩu thuốc cả năm 2011 là: 1.337 triệu USD tăng 22,33% so với năm 2010 (1.038,46 triÖu USD); Trị giá nguyên liệu nhập khẩu: 190 triệu USD giảm 11,26% so với năm 2010 (214,110 triÖu USD).

Bảng 01: Thống kê sản xuất, nhập khẩu thuốc từ năm 2007- 2011

Năm Tổng trị giá tiền thuốc sử dụng trong nước Trị giá SX Trị giá thuốc nhập khẩu*

Bình quân tiền thuốc đầu người

Bảng 02: Số lượng các doanh nghiệp đạt GPs qua các năm

Năm 200 0 200 1 200 2 200 3 200 4 200 5 200 6 200 7 200 8 2009 201 0 2011

Nguồn: Cục quản lý Dược

Về sản xuất thuốc: các doanh nghiệp dược quan tâm nhiều đến chất lượng thuốc, đổi mới và cải tiến công nghệ, đưa ra phân phối ngoài thị trường những thuốc có chất lượng tốt Dược liệu là thành phần có hoạt tính trong công thức các

Trang 13

thuốc tân dược mặc dù thuốc đông dược chiếm tỷ trọng trong đăng ký thuốc chiếm

Bảng 03: Phân loại SĐK thuốc tân dược, đông dược sản xuất trong nước

Nguồn: Cục quản lý Dược

2.2 Tiềm năng nguồn dược liệu Việt Nam.

2.2.1 Tiềm năng dược liệu tự nhiên.

a Những tiềm năng nổi bật:

Điều kiện tự nhiên ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc, thể hiện thông qua:

- Sự đa dạng về chủng loại cây thuốc: Theo số liệu báo cáo của hội nghị phát triển dược liệu và sản phẩm thuốc quốc gia tại Bình Dương năm 2010 đã ghi nhận 3.948 loài thực vật, nấm lớn có công dụng làm thuốc Trong đó có hơn 200 loài đã được giới thiệu và cho khai thác, cung cấp cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu (mỗi năm khai thác từ 10.000 – 20.000 tấn dược liệu các loại)

- Vùng phân bố rộng: Các loài cây thuốc được phân bố rộng khắp trên toàn lãnh thổ đất nước, trải dài trên 7 vùng sinh thái nông nghiệp, 9 vùng sinh thái lâm nghiệp, từ khí hậu nhiệt đới núi cao đến vùng trung du phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, vùng núi cao Tây Nguyên, Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long

- Nhiều loài dược liệu quý: Trong các loài cây thuốc hiện đã được công bố, nước ta có nhiều loài cây thuốc được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới (như Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phú )

Trang 14

Với hệ thực vật phong phú về thành phần loài và khả năng cung cấp các dược liệu quý Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về mặt cây thuốc trong khu vực Đông Nam Á.

b Những hạn chế, khó khăn, thách thức, cơ hội:

- Với nhu cầu sử dụng các loài dược liệu làm thuốc ngày càng tăng, do khai thác liên tục trong nhiều năm không chú ý tới bảo vệ tái sinh, cộng với nhiều nguyên nhân khác đã làm cho nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Theo điều tra dược liệu của Viện Dược liệu từ năm 1970 – 1990 đã phát hiện nhiều vùng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bị mất đi như núi Hàm Rồng (Sapa – Lào Cai) có nhiều loại cây thuốc quý Sâm Vũ Diệp, Tam Thất Hoang, Hoàng Liên Gai ; Các vùng rừng ở tiểu cao nguyên An Khê (thuộc tỉnh Gia Lai và Bình Định) là trung tâm phân bố lớn nhất Việt Nam của cây Vàng Đắng hiện đã nằm dưới lòng hồ chứa nước của thủy điện Vĩnh Sơn Bên cạnh đó còn rất nhiều vùng phân bố tự nhiên của các loài cây thuốc quý như Sâm Ngọc linh, Thiên niên kiện, Cốt khí củ, Ba kích, Đảng sâm, Hoàng đằng, Ngũ gia bì chân chim cũng bị thu hẹp do nạn phá rừng và mất rừng

- Nguồn dược liệu cung cấp cho YHCT và nguyên liệu cho công nghiệp dược đang bị mất cân đối và tái phụ thuộc ngày càng nhiều vào dược liệu nhập khẩu Trong đó là sự suy giảm nghiêm trọng nguồn cây thuốc mọc tự nhiên, nhiều loài cây có giá trị sử dụng và kinh tế cao trước kia khai thác được nhiều nhưng hiện đã mất khả năng khai thác, thậm chí một số loài như Hà thủ ô đỏ, Sa nhân, Vàng đắng, đã phải nhập khẩu

- Sự giảm sút nhanh chóng khả năng khai thác những loài cây thuốc và động vật làm thuốc có nhu cầu sử dụng cao: Việc khai thác ồ ạt, nạn phá rừng làm nương rẫy dẫn đến tình trạng nguồn cây thuốc ở Việt Nam ngày càng cạn kiệt, theo thống kê gần đây của Viện Dược liệu (2007), trong nước có 144 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn (trong

đó có các loài cây thuốc quý như Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Hoàng liên, Bách hợp, Biến hóa núi cao, Thanh mộc hương, Đảng sâm )

Trang 15

- Công tác điều tra cơ bản dược liệu ở Việt Nam đã được thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ năm 1961 đến 1965 Từ năm 1986 đến nay công tác điều tra vẫn được tiếp tục tiến hành ở những vùng trước kia chưa tiến hành điều tra và tiến hành phúc tra ở các tỉnh mới được tái lập hoặc chia tách mới

Có thể nói rằng tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam là phong phú và đa dạng Tuy nhiên, sự phong phú này cũng chỉ có giới hạn Chúng chỉ có thể thực sự trở thành tiềm năng lâu dài nếu biết giữ gìn và khai thác một cách hợp lý

2.2.2 Tiềm năng dược liệu nuôi trồng

a Những thành tựu nổi bật

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng, thuận lợi cho việc nuôi trồng và phát triển trong nước Trong quá trình khai thác cây thuốc hoang dại, một số loài

do nhu cầu cao, tái sinh tự nhiên không đáp ứng nhu cầu sử dụng đã được nghiên cứu và thuần hóa đưa vào trồng

- Ngay từ những năm 1960 để phục vụ cho chương trình phòng chống giun sán ở miền Bắc, Viện Dược liệu đã triển khai nghiên cứu và đưa vào trồng trên 30 loài cây thuốc ở các mức độ khác nhau như Dầu giun, Ích mẫu, Địa liền, Mã đề, Cốt khí củ, Diệp hạ châu, Hoài sơn, Táo mèo, Tục đoạn, Nhiều loài đã thay thế hoàn toàn cho việc khai thác hoang dại như Địa liền, Dừa cạn, Chè đắng, Thanh cao, Sài đất, Sâm ngọc linh, Có loài có khả năng cho sản lượng cả ngàn tấn/năm, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp dược (Kim tiền thảo, Diệp hạ châu, Tỏi, Gấc, Ích mẫu, Nghệ…) hoặc chuyên phục vụ xuất khẩu (Địa liền, Dừa cạn, Mã đề, Lão quan thảo, Bụp giấm, Nghệ, Ý dĩ, Gấc, Quế, Hồi )

- Song song với việc trồng cây thuốc bản địa, từ năm 1956 đến nay, Việt Nam chủ động nhập nội trên 100 loài và giống cây thuốc từ Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Cu Ba, Qua nghiên cứu di thực đã có khoảng 30 loài được đưa vào sản xuất lớn Trong đó đáng chú ý có tới 20 loài là cây thuốc bắc đầu vị (Bạch chỉ, Bạch truật, Cát cánh, Địa hoàng, Xuyên khung, Huyền Sâm, Ngưu tất, Đương quy, Vân mộc hương, Đỗ trọng, Hoàng bá ), cây nguyên liệu công

Trang 16

nghiệp dược (Bạc hà, Ba gạc bốn lá, Actisô, Sả hoa hồng, Xuyên tâm liên ) hoặc chủ yếu để tái xuất khẩu (Chè xanh Nhật, Lão quan thảo, Phan tả diệp, )

- Bên cạnh đó nhiều địa phương, công ty kinh doanh, các đơn vị nghiên cứu đã xây dựng được vùng trồng một số loài cây thuốc để tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất như tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đầu tự phát triển Sâm Ngọc Linh; tỉnh Thanh Hóa xây dựng được 7 quy trình trồng 7 cây thuốc tạo nguyên liệu cho sản xuất thuốc: Angelin từ Đương qui Nhật Bản, Morantin từ Mướp đắng; Xây dựng vùng trồng Hòe xen canh với cây nông nghiệp ở Tây Nguyên; xây dựng vùng trồng Tràm để chưng cất tinh dầu ở Đồng Tháp Mười; xây dựng vùng trồng Artisô và Chè dây tại SaPa – Lào Cai; Lâm Đồng,; trồng Kim tiền thảo tại Bắc Giang,

- Tổng sản lượng dược liệu trồng hàng năm trên cả nước ước tính khoảng 3.000 – 5.000 tấn Trong đó đáng kể nhất là Thanh hao hoa vàng gần 500 tấn /năm, Quế trên 300 tấn/năm, Kim tiền thảo gần 300 tấn/năm, Artisô khảng 850 tấn/năm, Nghệ khoảng 1000 tấn/năm, Gừng 500 tấn/năm, Tỏi 100 tấn/năm, Gấc

3000 tấn/năm… Về diện tích trồng một số cây truyền thông như Quế, Cúc hoa, Hồi, Hòe, Kim tiền thảo gần đây đã tăng lên khá nhiều

b Những hạn chế, khó khăn, thách thức, cơ hội

- Tình trạng nuôi trồng và khai thác dược liệu ở nước ta hiện nay còn tự phát, qui mô nhỏ, chưa có định hướng nên dẫn đến sản lượng dược liệu không ổn định, giá cả biến động

- Dược liệu không được sản xuất theo quy trình, quy hoạch cụ thể: Dược liệu được trồng lẫn với vùng trồng lúa và hoa màu; Kỹ thuật trồng và chăm sóc các cây dược liệu chủ yếu theo kinh nghiệm; Việc sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo

vệ thực vật, nguồn nước tưới… còn tùy tiện Điều này không những gây ảnh hưởng tới môi trường mà còn ảnh hưởng tới chất lượng dược liệu

- Vùng trồng dược liệu liệu trong cộng đồng hiện đã bị thu hẹp đáng kể, thậm chí một số vùng trồng cây thuốc truyền thống đã không còn Nhiều cây thuốc Nam như Hương nhu tía, Đậu ván trắng, Ngải máu,… đang có xu hướng bị lãng quên Nhiều giống, loài cây thuốc nước ngoài đã từng được đưa vào sản xuất

Trang 17

đại trà ở nước ta, nay trở lại tình trạng phụ thuộc vào nhập khẩu như Bạch chỉ, Bạch truật, Đương qui, Huyền sâm, Ngưu tất, Xuyên khung

- Công tác tuyển chọn giống cây thuốc chưa được quan tâm và thiếu chuyên gia nên năng suất và chất lượng chưa tốt;

- Cán bộ làm công tác dược liệu thiếu trầm trọng, chưa chú trọng công tác đào tạo và chính sách ưu đãi khác

- Tổng khối lượng dược liệu thuốc bắc hiện đã phải nhập khẩu từ Trung Quốc mỗi năm lên tới trên 20.000 tấn, với giá trị nhập khẩu khoảng 16 - 18 triệu USD/năm,

cụ thể như:

Bảng 04 Số liệu nhập khẩu dược liệu trong năm 2010-2011

Năm Tổng khối lượng dược liệu thô

(Nguồn: Cục Quản lý dược)

3 Dự báo nhu cầu dược liệu trong nước và trên thế giới trong thời gian tới.

3.1 Dự báo về thị trường và khả năng cạnh tranh của dược liệu và các sản

phẩm từ dược liệu trong nước và thế giới.

Dựa trên các nhân tố tích cực như: Các chỉ số kinh tế (Tăng trưởng GDP, bình quân thu nhập đầu người), xu hướng chẩn đoán và điều trị sớm, đầu tư mạnh

về hạ tầng y tế công lập và tư nhân, mức độ tăng trưởng đầu tư trong nước và nước ngoài vào lĩnh vực dược và nghiên cứu một số dự báo của các tổ chức trong và ngoài nước Đề án xây dựng một số dự báo chiến lược cho ngành dược nói chung

và dược liệu nói riêng như sau:

- Dự báo thị trường dược phẩm Việt Nam và khả năng cung ứng thuốc đến năm 2020:

Thị trường dược phẩm Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh với tốc độ tăng trưởng khoảng 25% mỗi năm và đạt giá trị (sản xuất trong nước và xuất khẩu) trên 2 tỷ USD vào năm 2013 theo dự đoán của hãng nghiên cứu thị trường Business Monitor International Ltd (BMI) của Anh Quốc

Trang 18

BMI dự báo, trong 5 năm tới thị trường dược phẩm Việt Nam sẽ là mảnh đất giàu tiềm năng cho các công ty nước ngoài do thị trường bắt đầu mở cửa rộng hơn cho các doanh nghiệp và thị trường Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng: 17%-19%/năm và tiền thuốc tăng gấp đôi sau 5 năm

Theo cam kết của WTO, các công ty dược phẩm nước ngoài có quyền mở chi nhánh tại Việt Nam và được tham gia nhập khẩu trực tiếp dược phẩm, mặc dù chưa được quyền phân phối Thêm vào đó, Việt Nam sẽ giảm thuế cho sản phẩm

y tế là 5% và 2,5% cho thuốc nhập khẩu trong vòng 5 năm sau khi gia nhập WTO

Biểu đồ 02: Dự báo nhu cầu sử dụng thuốc của Việt Nam

Biểu đồ 03: Biểu đồ Dự báo thị trường dược phẩm Việt Nam

(Dự báo quy hoạch)

- Dự báo về cung cầu thị trường dược liệu trong nước, khả năng xuất khẩu dược liệu của Việt Nam đến các thị trường Quốc tế:

Nhu cầu trong nước: Với trên 86 triệu dân Việt Nam, hứa hẹn cho dược liệu một thị trường tiềm năng khi nhu cầu sử dụng mặt hàng này của mặt hàng này ngày càng lớn, có tốc độ tăng trưởng bình quân cao 11,7%/năm Không chỉ là

Trang 19

thuốc, xu thế mỹ phẩm dùng nguyên liệu từ thiên nhiên thay thế nguyên liệu tổng hợp đã chiếm 90% tổng số mỹ phẩm được sản xuất

Khả năng xuất khẩu dược phẩm: Trong những năm gần đây cũng có nhiều khởi sắc, tuy nhiên, so với giá trị sản xuất thuốc trong nước, con số này còn quá khiêm tốn Thị trường xuất khẩu dược phẩm chủ yếu của Việt Nam trong những năm gần đây là châu Phi, Nga, một số nước láng giềng Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của các công ty là thuốc từ dược liệu, thuốc kháng sinh, một số loại Vitamin tổng hợp và một số mặt hàng khác theo yêu cầu của đối tác

Với tiềm năng sẵn có về nguồn dược liệu tự nhiên, kết hợp với quy hoạch nuôi trồng dược liệu, đồng thời xây dựng một số nhà máy chế biến và chiết xuất thì khả năng cung ứng và xuất khẩu dược liệu và thuốc từ dược liệu trong giai đoạn tới là rất có khả năng Hàng năm khối lượng dược liệu xuất khẩu có thể đạt tới 15.000 – 20.000 tấn nguyên liệu/năm, cung ứng cho sản xuất trong nước khoảng 20.000 tấn/năm, các sản phẩm từ dược liệu đảm bảo sức cạnh tranh với thị trường quốc tế

3.2 Dự báo khả năng công nghệ.

- Dự báo về khả năng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất dược liệu; giống cây thuốc chất lượng cao, biện pháp, kỹ thuật canh tác mới Cơ khí hóa trong canh tác và thu hoạch dược liệu để tăng khả năng cạnh tranh về giá cả, đầu tư công nghệ chọn lọc giống cây thuốc chất lượng cao

+ Dược liệu là sản phẩm của nông nghiệp, gắn với nông thôn ở giai đoạn tạo nguồn nguyên liệu và sau đó là sang giai đoạn chế biến bào chế, chiết xuất, tức là công nghệ sau thu hoạch Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đòi hỏi các khâu từ trồng trọt, thu hái, bào chế, bảo quản để đảm bảo dược liệu có đủ các tiêu chuẩn: đúng, tốt, sạch tinh khiết cũng khắt khe hơn

+ Với địa vị là một nước vừa thoát qua ngưỡng thu nhập thấp, việc đầu tư các cơ sở nghiên cứu khoa học không thể chỉ trông chờ vào đầu tư công mà cần

có chính sách khuyến khích và tăng cường đầu tư từ khu vực tư nhân và doanh nghiệp Tuy nhiên, cần chú ý tình trạng hiện nay, các doanh nghiệp dược Việt Nam có quy mô nhỏ, khó có đủ nguồn lực tài chính để đầu tư vào các cơ sở nghiên cứu khoa học dược đòi hỏi nguồn vốn đầu tư khá lớn Vì vậy, cần nghiên cứu đưa ra các mô hình kết hợp công - tư và khuyến khích sự hợp tác giữa các

Trang 20

doanh nghiệp dưới nhiều hình thức, để trong một thời gian hợp lý có thể nâng cao tiềm lực nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dược liệu.

- Dự báo về công nghệ và thiết bị nhằm phục vụ quá trình sơ chế, chế biến dược liệu sau thu hoạch trong thời gian tới

Hiện nay một vài doanh nghiệp nắm bắt được sự phát triển của thị trường đã bắt đầu đầu tư các nhà máy chiết xuất ở các vùng nguyên liệu Tuy nhiên, phần lớn các trang thiết bị của các nhà máy này vẫn chỉ dùng để “nấu cao” ở quy mô lớn có

sự hỗ trợ của máy móc Một số cơ sở nhỏ có thiết bị hiện đại hơn (chiết có gia nhiệt với các dung môi cồn, cồn – nước, cô thu hồi dung môi dưới áp suất giảm…) nhưng lại thiếu những quy trình chiết, các sản phẩm chiết có chất lượng cao đặc trưng cho cơ sở, có sản lượng đủ lớn cạnh tranh với nước ngoài

Giai đoạn tới cần tập trung đầu tư thiết bị sấy khô dược liệu để có sản phẩm dược liệu đạt chất lượng tốt; đầu tư cho chưng cất các loại tinh dầu; công nghệ sản xuất bao bì; công nghệ cao hơn như chiết xuất dược liệu bằng dung môi xăng cho các nhà sản xuất lớn;

- Dự báo khả năng đầu tư xây dựng mới các xưởng chế biến, chiết xuất dược liệu trong vùng nguyên liệu

Theo số liệu thống kê, hiện nay các cơ sở sản xuất dược tập trung ở Khu vực Đông nam bộ và đồng bằng sông Hồng, chỉ có một cơ sở sản xuất dược phẩm ở khu vực Tây Bắc

Chính vì thế trong giai đoạn thực hiện đề án, cần chú trọng xây dựng một

số nhà máy chế biến dược phẩm đạt chuẩn GMP ở khu vực Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên để giảm thiểu chi phí vận chuyển nguyên liệu và đảm bảo chất lượng nguyên liệu sản xuất Bên cạnh đó, tại các vùng nguyên liệu cần bố trí các nhà máy sơ chế dược liệu sau khi thu hái để đảm bảo chất lượng đầu vào cho nguyên liệu sử dụng bào chế thuốc Đồng thời khuyến khích và kêu gọi đầu tư (trong nước và nước ngoài) xây dựng nhà máy sản xuất các dạng bào chế với công nghệ cao ở bất kỳ vùng, tỉnh nào thuận lợi cho nhà đầu tư

3.3 Dự báo nhân lực, vật lực cho phát triển dược liệu.

a Dự báo phát triển dân số:

Hiện dân số Việt Nam đang đứng thứ 13 trên thế giới với gần 90 triệu người

và là nước có dân số trẻ 60% dưới 30 tuổi,63% trong độ tuổi lao động, 40% ở khu

Trang 21

vực thành thị Theo dự báo năm 2020, dân số Việt Nam sẽ vượt qua Nhật Bản (nước

đang có số dân giảm) và đứng thứ tư châu Á chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia và với tốc độ tăng trưởng dân số trung bình 1.3%/năm thì dân số Việt Nam đạt 100 triệu vào 2025.Tỷ lệ phát triển dân số sẽ có những thay đổi trong vòng

10 năm tới Trong đó, việc chuyển dịch dân số vào khu thành thị và tăng mạnh lực lượng lao động (những người đưa ra quyết định tiêu thụ) và kiểu hộ gia đình nhỏ sẽ kích thích việc tiêu dùng Nền kinh tế tiêu thụ sẽ trở thành một yếu tố lớn trong tổng quan kinh tế Dự báo sự phát triển dân số và sự di dân vào đô thị sẽ đưa nền kinh tế tiêu dùng tại Việt Nam đạt đến những tầm cao mới

Biểu đồ 04: So sánh dân số các nước trong khu vực

Biểu đồ 05: Dự báo dân số Việt nam đến 2030

(Dự báo quy hoạch)

Trang 22

Bảng 05: Thống kê lượng dược sĩ đại học tại các địa phương

(Nguồn: Tổng hợp theo báo cáo của 63 Sở Y tế)

Cho đến nay trong cả nước đạt tỷ lệ bình quân số DSĐH/vạn dân là 1,92 (ước tính khoảng 86 triệu dân) cao hơn so với năm 2010 Bên cạnh đó, theo báo cáo của các Sở Y tế, trong năm vừa qua số lượng dược sỹ ĐH, dược sỹ sau ĐH

đều tăng hơn so với năm 2010, do nhu cầu thực tế về nhân lực dược tại địa phương thiếu trầm trọng nhiều năm nay, nên trong giai đoạn vừa qua các trường đại học đã mở rộng hình thức, quy mô và số lượng đào tạo DS ĐH Nhân lực ngành dược tại Việt Nam hiện phân bố không đồng đều giữa

các vùng/miền, tỉnh/thành; chủ yếu nhân lực dược tập trung ở các thành phố lớn

như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, tình trạng thiếu dược sĩ đang xảy ra khá trầm trọng ở nhiều tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa Điều này tạo ra sự mất cần

bằng về nguồn lực phục vụ cho các địa phương

Nhân lực dược còn có sự phân bổ không đều giữa giữa cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở sản xuất kinh doanh Nhiều dược sĩ có trình độ không muốn làm việc ở những nơi độc hại mà thường chọn những doanh nghiệp có thu nhập cao để làm việc bởi chế độ chính sách tiền lương và thu nhập hiện hành trong khối các cơ quan Nhà nước chưa thỏa đáng, không có chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ có năng lực làm việc lâu dài trong các cơ sở y

tế công lập đặc biệt trong các cơ sở kiểm nghiệm của nhà nước.

Để phát triển ngành dược, từ nay đến năm 2020 dự báo sẽ cần thêm khoảng trên 10.000 nhân lực dược và 1/3 trong số đó sẽ phục vụ trực tiếp cho ngành dược liệu ở Việt Nam

Trang 23

Biểu đồ 06: Dự báo dược sỹ sau đại học đến năm 2030

(Dự báo quy hoạch)

Trang 24

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU Ở VIỆT NAM

1 Quản lý nhà nước.

1.1 Cơ cấu tổ chức.

Căn cứ, chức năng nhiệm vụ được giao hiện nay, Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong đó có lĩnh vực dược Theo quy định của Luật dược thì dược

là thuốc và hoạt động liên quan đến thuốc; Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng Như vậy, dược liệu dùng làm thuốc thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế Tuy nhiên trong thực tế việc quản lý nhà nước về “Dược liệu” không đơn thuần thuộc thẩm quyền của Bộ

Y tế mà còn liên quan đến nhiều Bộ, ngành khác, cụ thể như: Tổng Cục Lâm nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, có chức năng quản lý nhà nước về lâm nghiệp trong phạm vi cả nước (Quyết định số 04/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Tổng Cục Lâm nghiệp) trong đó có nhiệm vụ quản lý rừng, trong các vùng rừng có các cây, con dùng làm thuốc sống và mọc tự nhiên trong

cả nước Khi cây và con đang sinh trưởng và phát triển trong tự nhiên, được thu hái (thu hoạch), sơ chế và chế biến, bảo quản để làm nguyên liệu phục vụ cho các ngành nghề khác nhau thì vẫn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, khi nguyên liệu này được lưu thông trên thị trường (không

sử dụng để làm thuốc) thì thuộc thẩm quyển quản lý của Bộ Công Thương, chỉ khi nguyên liệu đó được sử dụng vào mục đích chữa bệnh, sản xuất thuốc chữa bệnh dùng cho người theo quy định của Luật dược được gọi chung là “Dược liệu” thì thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế

Như vậy, hiện nay việc quản lý nhà nước về dược liệu vẫn đang có sự chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển

Trang 25

nông thôn và Bộ Công Thương, điều này đã gây rất nhiều khó khăn, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về dược liệu nói chung và hiện chưa có Bộ ngành nào nhận trách nhiệm làm đầu mối để quản lý dược liệu thống nhất trong cả nước

Hệ thống văn bản pháp qui đã ban hành nhưng chưa cụ thể hóa bằng hành động do thiếu các văn bản dưới luật để cụ thể hóa và phối hợp thực hiện trong thực tế Đồng thời thiếu các văn bản pháp qui hỗ trợ về tài chính, thuế, hỗ trợ sản phẩm mới từ thiên nhiên

Do vậy, cần thiết và đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành chặt chẽ, thống nhất giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp phát triển Nông thôn, Bộ Tài chính (Tổng Cục Hải quan), Bộ Công Thương (Cục Quản lý thị trường), Bộ Quốc phòng (Bộ đội Biên phòng) Thực tế hiện nay có nhiều Bộ, ngành theo dõi, quản lý “dược liệu” như:

1 Bộ Y tế: Quản lý dược liệu dùng làm thuốc (Thuốc từ dược liệu):

2 Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn: Quản lý nuôi trồng cây thuốc, quản lý rừng (trong đó có động vật, thực vật làm thuốc);

3 Bộ Công Thương quản lý việc buôn bán, xuất nhập khẩu “dược liệu” dùng cho các lĩnh vực khác thuốc như: Thực phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, công nghiệp hóa dược, tinh dầu, chất thơm…

4 Bộ Khoa học & Công nghệ: Quản lý về nghiên cứu, công nghệ và tiêu chuẩn hóa;

5 Bộ Tài chính (Tổng Cục Hải quan): Quản lý và giám sát việc nhập khẩu

“dược liệu” tại các cửa khẩu;

6 Bộ Quốc phòng (Bộ đội biên phòng): Phối hợp quản lý dược liệu nhập lậu qua đường tiểu ngạch tại các vùng biên giới

7 UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc TW: quy hoạch vùng nuôi trồng, chỉ đạo nuôi trồng và khai thác cây thuốc trên địa bàn

1.2 Hệ thống văn bản pháp qui.

1 Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới:

Trang 26

Phát triển ngành dược thành một ngành kinh tế -kỹ thuật mũi nhọn Phát triển mạnh công nghiệp dược, nâng cao năng lực sản xuất thuốc trong nước, ưu tiên các dạng bào chế kỹ thuật cao, quy hoạch và phát triển các vùng dược liệu, các cơ sở sản xuất nguyên liệu hóa dược.

2 Luật dược năm 2005 và trong Nghị định số 79/2006/NĐ-CP ngày 08/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật dược:

Phát triển ngành dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn, ưu tiên phát triển công nghiệp dược: Dự án ứng dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc chủ yếu, thuốc thay thế thuốc nhập khẩu, thuốc phòng chống các bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông y được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật; Khuyến khích nghiên cứu, kế thừa các bài thuốc và kinh nghiệm của đông y, kết hợp hài hòa đông y với y dược học hiện đại; tìm kiếm, khai thác, sử dụng dược liệu mới, xuất khẩu dược liệu; thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ nuôi trồng dược liệu, khai thác dược liệu thiên nhiên hợp lý, bảo đảm lưu giữ và phát triển nguồn gen dược liệu; hiện đại hóa sản xuất thuốc từ dược liệu

3 Quyết định 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020:

Phát triển ngành dược thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn Phát triển mạnh công nghiệp dược, nâng cao năng lực sản xuất thuốc trong nước, ưu tiên các dạng bào chế công nghệ cao Quy hoạch và phát triển các vùng dược liệu, các cơ sở sản xuất nguyên liệu hoá dược Củng cố và phát triển mạng lưới lưu thông, phân phối và cung ứng thuốc để chủ động cung ứng thường xuyên, đủ thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý và ổn định thị trường thuốc phòng và chữa bệnh cho nhân dân

4 Quyết định 154/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Quản lý nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm giai đoạn 2006-2015”:

Các nhiệm vụ trọng tâm:

Trang 27

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm thống nhất

từ trung ương đến địa phương

- Kiện toàn và nâng cao năng lực cơ quan quản lý nhà nước về dược phẩm,

an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm từ trung ương đến địa phương:

+ Ở trung ương: kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động của Cục Quản lý dược Việt Nam, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, ban hành cơ chế phối hợp giữa các đơn vị liên quan thuộc Bộ Y tế trong việc thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm

+ Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: sắp xếp, kiện toàn Phòng quản lý dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm; xây dựng và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ Trung tâm kiểm nghiệm dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm

+ Hoàn thiện tổ chức, tăng cường năng lực của thanh tra về dược và vệ sinh an toàn thực phẩm

Giải pháp thực hiện về bảo đảm chất lượng và an toàn trong lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm:

- Ban hành và áp dụng các nguyên tắc Thực hành tốt (GPs) theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới trong các khâu sản xuất, kiểm tra chất lượng, bảo quản

và lưu thông phân phối ở tất cả các cơ sở sản xuất và kinh doanh dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm, để đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, hiệu quả và an toàn khi sử dụng

- Ban hành tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất đối với thuốc đông dược và tiêu chuẩn Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái và chế biến dược liệu để đảm bảo cung cấp nguồn dược liệu đạt tiêu chuẩn phục vụ sản xuất thuốc

- Tiêu chuẩn hoá dược liệu và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu phù hợp với tiêu chuẩn chung của quốc tế và khu vực

5 Quyết định 43/2007/QĐ-TTg ngày 29/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và tầm nhìn đến 2020”:

Trang 28

Phát huy tiềm năng, thế mạnh về dược liệu và thuốc y học cổ truyền, đẩy mạnh công tác quy hoạch, nuôi trồng và chế biến dược liệu, xây dựng ngành công nghiệp bào chế thuốc từ dược liệu và thuốc y học cổ truyền trở thành một phần quan trọng của ngành dược Việt Nam; bảo đảm số lượng thuốc có nguồn gốc từ dược liệu và thuốc y học cổ truyền chiếm 30% số thuốc được sản xuất trong nước vào năm 2015 và 40% vào năm 2020.

6 Quyết định số 61/2007/QĐ-TTg ngày 07/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia phát triển công nghiệp hóa dược đến năm 2020:

Nghiên cứu khai thác và sử dụng hiệu quả các hoạt chất thiên nhiên chiết tách, tổng hợp hoặc bán tổng hợp dược từ các nguồn dược liệu và tài nguyên thiên nhiên quí giá là thế mạnh của nước ta, phục vụ tốt công nghiệp bào chế một

số loại thuốc đặc thù của Việt Nam, đáp ứng nhu cầu chữa bệnh trong nước và xuất khẩu

7 Chỉ thị số 24-CT/TW ngày 4/7/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

về phát triển nền Đông Y Việt Nam và nền Đông Y Việt Nam trong tình hình mới:

Xây dựng quy hoạch tổng thể vùng chuyên môn nuôi trồng dược liệu; đẩy mạnh nghiên cứu, điều tra, bảo tồn nguồn quỹ gen về dược liệu Việt Nam, xác định nhu cầu sử dụng dược liệu phục vụ công tác khám, chữa bệnh và xuất khẩu Kết hợp chặt chẽ giữa việc khuyến khích “trồng cây thuốc thuốc tại vườn, tại nhà” với việc hình thành các vùng chuyên nuôi trồng, chế biến cây, con làm thuốc theo hướng công nghiệp;

8 Quyết định số 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển Y, dược

cổ truyền Việt Nam đến năm 2020:

Bảo đảm, nâng cao chất lượng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu: Xây dựng, ban hành chính sách ưu đãi xây dựng các cơ sở sản xuất thuốc đông y, thuốc từ dược liệu đạt tiêu chuẩn sản xuất thuốc tốt theo khuyến cáo của Tổ chức

Y tế Thế giới (GMP-WHO), theo lộ trình phù hợp với điều kiện của Việt Nam;

Trang 29

khuyến khích phát triển thị trường kinh doanh dược liệu và thuốc đông y, thuốc

từ dược liệu để đáp ứng tốt nhu cầu khám, chữa bệnh bằng y dược cổ truyền; Xây dựng Đề án tổ chức các vùng nuôi, trồng dược liệu theo tiêu chuẩn về thực hành tốt nuôi trồng, thu hoạch dược liệu theo quy mô công nghiệp, gắn liền với đẩy mạnh công tác quy hoạch, đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho các cơ sở chế biến dược liệu, sản xuất thuốc từ dược liệu trong nước và xuất khẩu, ưu tiên các loại cây, con có hiệu quả chữa bệnh tốt, giá trị kinh tế cao, nhu cầu sử dụng lớn; Củng cố và phát triển các trung tâm nghiên cứu, nuôi trồng dược liệu tại các vùng sinh thái phù hợp có tiềm năng phát triển dược liệu; Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng thuốc nam, thuốc dân gian, thuốc gia truyền để đưa vào sản xuất với quy mô lớn đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu; Phát triển công tác cung cấp giống dược liệu đạt tiêu chuẩn chất lượng cao Bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu, xây dựng dấu vân tay hóa học và gen cho dược liệu Việt Nam; chú trọng tái sinh, phát triển nhân giống các dược liệu quý, hiếm; Tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, điều tra, sưu tầm, thống kê các loại cây, con làm thuốc;

sự phân bố, hệ sinh thái và trữ lượng cây, con làm thuốc hiện có trên cơ sở đó có

kế hoạch tổ chức bảo vệ, khai thác, tái sinh hợp lý và phát triển bền vững; Xây dựng và phát triển vườn cây thuốc tại các bệnh viện y dược cổ truyền, khoa y dược cổ truyền tại các bệnh viện, các cơ sở đào tạo y dược cổ truyền và trạm y tế

xã, phường, thị trấn; Xây dựng đề án phát triển dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 phù hợp với quy định hiện hành; Tăng cường kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu

9 Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;

10 Thông báo số 164/TB-VPCP ngày 16/06/2010 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị phát triển dược liệu và sản phẩm thuốc quốc gia năm 2010;

11 Kế hoạch số 886/KH-BYT ngày 29/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại

Trang 30

Hội nghị Phát triển dược liệu và sản phẩm thuốc quốc gia theo Thông báo số 164/TB – VPCP ngày 16/06/2010 của Văn phòng Chính phủ;

2 Thực trạng phát triển dược liệu ở Việt Nam.

2.1 Thực trạng về nguồn dược liệu thiên nhiên.

- Số lượng loài, vùng phân bố tập trung, số lượng các loài

+ Trong số hơn 12.000 loài thực vật ở Việt Nam, thì có gần 4.000 loài cho công dụng làm thuốc Trong đó có nhiều loài dược liệu quý về công dụng chữa bệnh lẫn giá trị về mặt kinh tế

+ Vùng phân bố tập trung: Cây thuốc được phân bố rộng khắp trên cả nước, vùng phân bố chịu nhiều ảnh hưởng yếu tố khí hậu và đặc tính sinh trưởng phát triển của các loài cây thuốc Tuy nhiên, tập trung nhiều nhất vẫn là nơi có địa hình núi cao, nơi tập trung nhiều quần thể rừng (khu vực miền núi phía Bắc; phía tây các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, ; Các tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng, An Giang; )

+ Số lượng các loài khai thác: Theo số liệu điều tra sơ bộ, do tình trạng khai thác tràn lan và ồ ạt trước đây hiện trên cả nước số lượng loài cây thuốc có khả năng khai thác tự nhiên còn rất ít Trên cả nước hiện còn khoảng 206 loài cây thuốc có giá trị có thể khai thác tự nhiên, điều đó cho thấy sự giảm sút nghiêm trọng về số lượng loài và khả năng khai thác dược liệu trên cả nước

- Công tác bảo tồn ở Việt Nam

Với các nguồn thông tin có được về sự phân bố và tình trạng khai thác sử dụng, hiện nay đã có danh sách những loài cây thuốc diện quí hiếm hoặc đang bị suy giảm nghiêm trọng ở Việt Nam Trong nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã ghi nhận 144 loài, thuộc 55 họ thực vật là những cây thuốc cần được bảo

vệ ở Việt Nam, bởi các lý do sau:

+ Là những cây thuốc thuộc diện vừa quí về giá trị sử dụng, vừa quí về giá trị nguồn gen do hiếm gặp hoặc là loài đặc hữu

+ Do giá trị sử dụng cao nên thường xuyên bị tìm kiếm khai thác, dẫn tới tình trạng bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí có nguy cơ bị tuyệt chủng cao

+ Một số loài hiếm gặp, hiện chưa bị sức ép bỏi khai thác sử dụng, nhưng môi trường sống đang bị hủy hoại nên nguy cơ bị rủi ro cũng rất cao

Xét theo tiêu chuẩn của IUCN,2001 về các tiêu chí để đánh giá tình trạng

bị đe dọa đối với các loài với các cấp độ: CR (Critically Endangered)- Đang cực

Trang 31

kỳ bị nguy cấp; EN (Endangered)- Đang bị nguy cấp; VU (Vulnerable)- Sắp bị nguy cấp Thì mức độ các loài cần được bảo tồn của Việt Nam được đánh giá như sau:

+ CR: 18 loài Điển hình là sâm vũ điệp (Panax bipinnatifidus), tam thất hang (P stipuleanatus), hoàng liên (Coptis Chnensis và C quinquesecta), thanh mộc hương (Aristolochia tuberosa), biến hóa núi cao (Asarum Balansae), ba gạc (Rauvolfia Serpentina)…

+ EN: 42 loài Tiêu biểu là các loài Sâm ngọc linh (Panax Vietnamensis), Hoàng liên gai (Berberis Julianae và B.wallichiana), Hoàng tinh vòng (Polygonatum kingianum), bát giác liên (Podophyllum tonkinense), các loài mọt

lá (Nervilia spp)…

+ VU: 84 loài Tiêu biểu là các loài trong nhóm bảy lá một hoa (Paris spp), đảng sâm (Codonopsis javanica), tục đoạn (Dípacus asper), một số loài trong nhóm loài bình vôi (Stephania spp)…

- Thực trạng công tác bảo tồn, khai thác dược liệu tự nhiên.

Nhằm đẩy lùi nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên dược liệu trong tự nhiên, trong 10 năm trở lại đây, với nhiều cơ chế, chính sách phù hợp tạo điều kiện để các cơ quan, các nhân, tổ chức chủ động thực hiện chủ trương nghiên cứu khoa học gắn với phát triển nguồn dược liệu, tiêu biểu có một số nghiên cứu đã có tác động tích cực đến phát triển dược liệu như:

+ Cục bảo vệ môi trường (2004) đã xuất bản tài liệu “Đa dạng sinh học và bảo tồn” trong đó có đề cập nhiều tới sự suy thoái đa dạng sinh học và phân tích các nguyên nhân, với nhiều nguyên nhân do con người gây ra Đồng thời công trình cũng đề cập nhiều tới công tác bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học, đưa ra chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam, xác định các hành động ưu tiên cho bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học

+ Trong báo cáo kỹ thuật của Trung tâm Đa dạng sinh học và An toàn sinh học thuộc Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (2009) về “Bảo tồn

và phát triển nguồn gen quý hiếm của hệ sinh thái núi đá vôi ở xã Thái Phìn Tùng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang” triển khai từ năm 2003-2009 đã điều tra phát hiện làm tiêu bản được 17 loài quý hiếm, nhân giống bằng hạt cho 3 loài, thử nghiệm nhân giống bằng hom thành công cho 7 loài

Trang 32

+ Về phía Viện dược liệu: Đã phối hợp các địa phương đánh giá tiềm năng

và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu được triển khai hiệu quả, qua đó phát triển một số dược liệu, bài thuốc và xây dựng danh lục cây thuốc cho các tỉnh làm căn cứ quy hoạch phát triển Đến nay đã giúp địa phương xây dựng được danh lục cây thuốc (gần 4.000 loài) và động vật làm thuốc (408 loài); Danh lục các loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng (144 loài) và danh lục cây thuốc có khả năng khai thác Đây là những dẫn liệu quan trọng phục vụ công tác khai thác, sử dụng và quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên Tiêu biểu như: khôi phục cây Sâm Ngọc Linh ở Quảng Nam và Kon Tum; phát triển

và hướng dẫn khai thác bền vững loài Ngũ vị tử mọc hoang ở Kon Tum; phát triển loài Sa nhân tại Quảng Nam và Thái Nguyên tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc; Phát triển cây Chè đắng tạo ra các mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản; nghiên cứu sử dụng cây Mắc mật, phát triển cây Hồi; xây dựng vùng trồng năm cây thuốc (Đương quy, Ba kích, Thảo quả, Bạch truật, Diệp hạ châu đắng) tại Cao Bằng

Thông qua các dự án bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc đã được xây dựng, mạng lưới bảo tồn được phát triển trong cả nước, trải dài trên bảy vùng sinh thái nông nghiệp, chín vùng sinh thái lâm nghiệp Đưa một số cây thuốc có nguy cơ bị mất giống và bị tuyệt chủng về mức độ an toàn, thậm chí đã phát triển thành hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

- Tình hình tổ chức khai thác, thu mua dược liệu và vấn đề quản lý

+ Tình trạng khai thác quá mức đang đặt nguồn dược liệu quý trong nước đứng trước nguy cơ cạn kiệt: Một trong những nguyên nhân cạn kiệt là do việc khai thác chưa đi đôi với bảo tồn Trong khai thác truyền thống, việc thu hái dược liệu không tuân thủ theo mùa, vụ và tuổi của cây Những cây chưa đủ tiêu chuẩn bao giờ cũng được để lại cho mùa sau Thế nhưng, có thể vì tính thương mại, hối thúc từ thị trường và sự thiếu kiến thức, thiếu sự hướng dẫn đầy đủ khiến người dân hiện mới chỉ chú trọng việc thu hái mà quên mất việc tái tạo, bảo tồn dược liệu Tại một số tỉnh như Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Thanh Hóa… tình trạng người dân đổ xô vào rừng tìm cây dược liệu quý mang đi bán cho tư thương sau

đó bán sang Trung Quốc ngày càng gia tăng mạnh làm nguồn dược liệu bị suy giảm nghiêm trọng

+ Thu mua dược liệu: Đối với dược liệu trong nước, việc thu mua chủ yếu tập trung thông qua các thương lái, một số ít theo đơn đặt hàng của các nhà máy

Trang 33

sản xuất dược liệu; Đối với dược liệu nhập nội thông qua cửa khẩu thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, và một số hợp đồng nhập khẩu nguyên liệu của các bệnh viện trên cả nước.

+ Quản lý khai thác và thu mua dược liệu: Thực tế cho thấy công tác quản

lý khai thác dược liệu hiện còn lỏng lẻo, các dược liệu quý hiếm đang bị khai thác bừa bãi, hiện chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu; Dược liệu vốn rất khó khăn trong kiểm soát chất lượng, chủ yếu dựa vào cảm quan, kinh nghiệm Nhưng việc thu mua chủ yếu thông qua lái buôn làm trung gian vì thế rất khó khăn cho kiểm soát chất lượng vì sẽ không biết rõ được nguồn gốc chính xác

2.2 Tình hình phát triển nuôi trồng dược liệu.

2.2.1 Thực trạng nghiên cứu nuôi trồng dược liệu.

a Những thuận lợi và khó khăn

* Những thuận lợi:

- Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng, thuận lợi cho việc nuôi trồng và phát triển Có tiềm năng và khả năng phát triển nuôi trồng nhiều loại cây con thuốc bản địa và nhiều cây thuốc di thực Môi trường thiên nhiên, thổ nhưỡng thuận lợi cho nuôi trồng, phát triển nhiều loại dược quý hiếm, các vùng dược liệu phân bố rộng rãi trong cả nước

- Thị trường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu rất lớn do thói quen và truyền thống phòng và chữa bệnh bằng YHCT của nhân dân Cùng với quá trình công nghiệp hóa của đất nước, rất nhiều dược liệu đã trở thành nguyên liệu đầu vào của Công nghiệp dược và có nhu cầu xuất khẩu cao làm gia tăng nhu cầu sử dụng dược liệu

- Dược liệu, thuốc từ dược liệu được sử dụng rất phổ biến và thông dụng từ lâu đời, hàng ngàn năm tại Việt Nam

- Các doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất thuốc từ dược liệu được kế thừa nền Y học cổ truyền từ cha ông để lại, đã đúc kết thành những bài thuốc cổ truyền

- Kết hợp Y học cổ truyền với những tiến bộ của nền Y- Dược học hiện đại, sử dụng trang bị máy móc hiện đại để cho ra đời những loại thuốc có dạng

Trang 34

bào chế phù hợp vừa giữ được những đặc tính tự nhiên của dược liệu, vừa thuận tiện cho việc sử dụng của người bệnh.

- Xu hướng của người dân trong và ngoài nước vẫn có niềm tin trong việc

sử dụng các sản phầm thuốc có nguồn gốc từ tự nhiên

- Công tác phát triển dược liệu đang được Đảng, nhà nước, Chính phủ và các Bộ ngành quan tâm ủng hộ

* Những khó khăn:

- Việc nuôi trồng, thu hoạch còn manh mún, mang tính tự phát Nhà nước chưa có cơ chế chính sách đồng bộ và phù hợp để đẩy mạnh và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng, sơ chế, chế biến và bảo quản dược liệu trong nước Chưa có cơ chế và giải pháp đảm bảo đầu ra cho dược liệu cũng như quyền lợi của các nhà đầu tư

- Việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất giống cây thuốc, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng giống cây thuốc chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn (giống cây trồng không đạt chuẩn, năng suất cây trồng còn thấp ) Kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và chế biến sau thu hoạch; bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong việc chế biến, bảo quản dược liệu và sản xuất thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu chưa được chú trọng đổi mới để có những sản phẩm thương mại Chính vì thế năng suất và tính cạnh tranh các sản phẩm dược liệu của nước ta trên địa bàn còn thấp

- Việc tổ chức và quản lý khai thác, thu mua dược liệu ở Việt Nam trong những năm vừa qua còn nhiều bất cập, đặc biệt từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng tham gia khai thác và thu hái dược liệu trong tự nhiên, việc thu hái nhiều năm không có ý thức bảo tồn, tái sinh đã làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên cây thuốc

- Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất giống cây thuốc, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng giống cây thuốc, kỹ thuật nuôi trồng, bảo tồn và phát triển nguồn gien cây thuốc, tiêu chuẩn hóa, sản xuất thành phẩm chưa được được quan tâm và đầu tư đủ mạnh (giống cây thuốc không chuẩn, thoái hóa, năng suất dược liệu trồng trong nước còn thấp, công nghệ sản xuất, dạng bào chế, ) Việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong việc

Trang 35

thu hái, sơ chế, bảo quản và chế biến sau thu hoạch dược liệu, sản xuất thuốc đông y, thuốc từ dược liệu chưa được chú trọng đổi mới.

- Việc nghiên cứu phát triển giống cây làm thuốc phục vụ công tác phát triển dược liệu còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được hết thế mạnh tiềm năng vốn có về tài nguyên dược liệu cùng các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng do thiên nhiên ưu đãi

b Những tồn tại và hạn chế, nguyên nhân chủ yếu

- Đầu tư: Chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng

- Nghiên cứu khoa học: Chưa áp dụng nhiều vào thực tiễn, chưa thương mại hóa thành sản phẩm dược liệu từ các công trình nghiên cứu

- Quản lý thị trường (tiền kiểm/hậu kiểm): Cơ chế quản lý thị trường dược liệu chưa đồng bộ, nhiều sản phẩm chưa rõ xuất xứ chưa đảm bảo tính đúng, nguồn gốc và chất lượng

- Khai thác tiềm năng: Chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh về dược liệu

- Quy hoạch phát triển: Chưa có quy hoạch tổng thể để bảo tồn, phát triển bền vững

- Nuôi trồng, khai thác, sản xuất: Còn manh mún, tự phát, có nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên

- Quản lý chất lượng: công tác tiêu chuẩn hóa, kiểm tra chất lượng chưa thật sự được thực thi một cách nghiêm túc từ nguyên liệu đến thành phẩm

- Công nghệ: Chưa áp dụng đúng mức thành tựu của khoa học, công nghệ vào việc hiện đại hóa sản xuất thuốc từ dược liệu

- Tuyên truyền, giáo dục: Chưa tuyên truyền đúng mức và cần nâng cao dân trí về thuốc từ dược liệu

- Sử dụng: chưa bảo đảm triệt để tính an toàn và hiệu quả cho người tiêu dung

- Thiếu cán bộ làm công tác dược liệu, thiếu đào tạo cho cán bộ làm công tác bảo tồn, thiếu trao đổi học tập kinh nghiệm, tham quan nước ngoài

Trang 36

- Nhận thức về việc phát triển một giống cây thuốc (loài cây thuốc) trong ngành dược còn đơn giản, nên chưa làm sáng tỏ hết các đặc điểm sinh học của loài cây thuốc dẫn đến trong sản xuất chưa tạo được giống tốt có năng suất cao, không tạo được sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

có các quy định đặc thù);

- Chưa có một chính sách vĩ mô về phát triển dược liệu Việc đầu tư phát triển dược liệu chưa tương xứng với tiềm năng hiện có do chưa có một cơ chế tài chính thực sự mạnh để tập trung đầu tư phát triển các vùng trồng dược liệu ổn định, đặc biệt là các dược liệu trọng tâm có tính cạnh tranh và giá trị kinh tế cao

- Công tác quản lý nhà nước liên quan đến dược liệu còn chồng chéo, thiếu

sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương; Chưa có bộ, ngành nào đóng vai trò

là nhạc trưởng trong công tác quản lý dược liệu

- Các bộ, ngành và địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác bảo tồn

và duy trì phát triển các cây thuốc tự nhiên ở trong nước, hơn nữa cùng với nạn phá rừng, đốt nương làm rẫy ở nhiều địa phương đã làm suy giảm và thu hẹp nhiều diện tích rừng tự nhiên trong đó có mọc nhiều cây thuốc Việc thu hái dược liệu từ tự nhiên theo kiểu tận thu, không chú ý đến bảo tồn đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên dược liệu trong nước

- Chưa có chính sách phù hợp khuyến khích về bảo tồn nguồn gen, phát triển dược liệu, nhất là đối với các nguồn gen quý, nghiên cứu di thực và phát triển các dược liệu trong nước và nước ngoài

c Công tác thuần hóa, nhập nội, chọn tạo giống, khả năng cung cấp giống cây thuốc cho các vùng sản xuất dược liệu

Trong suốt 50 năm qua, Viện Dược liệu là cơ quan đi đầu trong việc thuần hoá, nhập nội và chọn tạo giống cây Đồng thời cũng là cơ quan, cơ sở duy nhất cung cấp giống dược liệu đạt tiêu chuẩn cho các vùng sản xuất dược liệu

Gần 200 loài và giống cây thuốc được nhập nội từ Trung Quốc như: Đương quy, Bạch truật, Bạch chỉ, Ngưu tất, Huyền sâm, Đẳng sâm, Hoàng kỳ,

Trang 37

Hoàng cầm, Xuyên khung, Vân mộc hương, Tam thất, Hoàng bá, Đỗ trọng, Xuyên tâm liên, Sinh địa, Địa liền Hàng loạt giống dược liệu được nhập từ Nhật bản, rất nhiều lần đã được nhập nội thành công và trồng với quy mô lớn để lấy nguyên liệu sản xuất thuốc trong nước vừa đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sang Nhật bản Ngoài ra còn có nhiều giống cây thuốc quý hiếm đều được nhập nội từ một số nước khác nhau trên thế giới Trong nhiều cây thuốc nhập nội tư nước ngoài vào Việt nam, một số cây đã được khí hậu hoá cho thích nghi với điều kiện sống từng vùng miền và nhiều cây trở thành cây bản địa của Việt Nam Trong số

đó có các cây đầu vị thuốc bắc và hàng năm đều có diện tích trồng lớn như cây Đương quy, Bạch chỉ, Huyền sâm, Vân mộc hương, Xuyên khung, Hoàng bá, Đỗ trọng

Cùng với việc di thực nhập nội giống cây thuốc, thời gian qua mạng lưới Trung tâm, Trạm, Trại đóng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau đã chọn lọc được những giống cây thuốc có năng suất cao, hàm lượng hoạt chất vượt trội và đặc biệt là khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết khắc nghiệt của nước ta Điển hình như các giống Địa liền, Húng quế, Đương quy, Bạch chỉ, Bạc hà, Ngưu tất, Sả hoa hồng, Sả chanh, Dương cam cúc, Artichaut, Mạch môn

2.2.2 Tình hình tổ chức triển khai nuôi trồng.

Trên cơ sở các vùng tự nhiên, người ta quy hoạch thành các vùng có quản lý, nuôi trồng thêm và di thực các giống mới đến

+ Tại Hưng Yên:

- Xã Bình Minh, huyện Khoái Châu có trồng: Ngưu tất, Bạch chỉ, Địa liền, Bạch Truật, Hương nhu, Húng quế, Bạc hà, Mạch môn…

- Xã Tân Quang, huyện Văn Lâm trồng các loài như: Hoài sơn, Nga truật, Địa liền, Cúc hoa, Cốt khí củ, Bạch chỉ, Bạc hà, Hương nhu, Sài đất, Sinh địa, Kinh giới, Ích mẫu, Mã đề, Nhân trần, Kim tiền thảo…

+ Tại Sapa: nuôi trồng Đương quy, Xuyên khung, Artisô, Bạch truật, Đỗ trọng, Hoàng bá, và một số cây thuốc khác

+ Tại Lâm Đồng: cũng có quy hoạch nuôi trồng nhiều loại dược liệu, trong

đó nổi bật nhất là Artisô và Dương cam cúc

+ Tại Quảng Nam, Gia Lai, Phú Yên: cũng có các vùng nuôi trồng dược liệu, nổi bật là sâm Ngọc Linh, Bụp giấm, Gừng, Sả chanh

Trang 38

+ Các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Hà Nội cũng có các vùng nuôi trồng cây thuốc: Ngưu tất, Địa liền, Đương quy, Bạch chỉ, Mã đề, Húng quế, Bạc hà, Sinh địa, Diệp hạ châu, Kim tiền thảo, Hoài sơn…

+ Tại Đồng Nai: Nghệ, Xuyên tâm liên, Râu mèo

+ Tại Bình Phước: Nghệ

+ Tại Tây Ninh: Kim tiền thảo, Nhân trần, Tràm, Bá bệnh, Hoàn ngọc.+ Tại Khánh Hòa: Mã đề

+ Tại Bình Thuận, Ninh Thuận: Dừa cạn, Bụp dấm, Lô hội, Tỏi

+ Tại Tp.HCM, Long An, Tiền Giang: Mã đề, Râu mèo, Tràm, Tần dầy lá (Húng chanh)

+ Tại Đắc Lắc, Đắc Nông: Gừng, Nghệ, Ý dĩ , Hòe

+ Tại An Giang, Đồng Tháp: Xuyên tâm liên, Lược vàng, Gừng, Nghệ, Sen

+ Trung tâm nghiên cứu Bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười:

sở hữu 1.041 ha, trung tâm đã tuyển chọn và phục tráng trên 50 giống thực vật và

20 giống động vật, di thực 6 giống thực vật từ nước ngoài vào Việt Nam Trung tâm đang áp dụng Thực hành nông nghiệp tốt (GAP) để nuôi trồng dược liệu Hiện trung tâm đã sản xuất được 45 mặt hàng dạng bột, 1 mặt hàng dược liệu khô, 1 dạng Extract (cao) và 7 loại tinh dầu Có nhiều loại nguyên liệu để sản xuất TPCN như: Garlic (tỏi), bột Morinda (trái Nhàu), bột Linh chi, Bột Nghệ, Bột Gừng, bột Nadygan (rau Má, Nghệ), bột Ích mẫu, bột Centas (rau Má, Bụp dấm)…

Về thực trạng GACP: Viện dược liệu đã xây dựng quy trình trồng cây thuốc sạch cho 5 loài dược liệu (Đương quy, Bạch chỉ, Artisô, Ngưu tất và Cúc hoa vàng), ngoài ra một số công ty xí nghiệp đã tự đầu tư kinh phí để xây dựng quy trình trồng dược liệu sạch như: Trinh nữ hoàng cung, Diệp hạ châu…

Về cơ chế quản lý: đề xuất Viện Dược liệu là nơi quản lý và giám sát việc thực hiện tiêu chí GACP của các đơn vị sản xuất dược liệu trong cả nước

Trang 39

Biểu 06: Hiện trạng các vùng trồng dược liệu

TT Vùng trồng sản xuất dược liệu Dược liệu nuôi trồng

1 Vùng Đông Bắc: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn và một phần của Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang

Quế, Địa liền, Bạch truật, Sả, Ý dĩ,

Ba kích, Hồi, Kim tiền thảo, Nhân trần, Kim tiền thảo, Bình vôi, Táo mèo.

2 Vùng Tây Bắc: Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn

La và Hòa Bình.

Mộc hương, Xuyên khung, Đỗ trọng, Đương quy, Bạch truật, Bạch chỉ, Độc hoạt, Hoàng bá, Sa nhân, Thảo quả, Artisô, Nghệ, Táo mèo.

3

Vùng Đồng bằng Sông Hồng: Hà Nội, Hưng Yên,

Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc

Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ và Vĩnh Phúc.

Bạc hà, Hương nhu, Bạch chỉ, Bạch truật, Đương quy, Sinh địa, Ích mẫu, Cúc hoa, Ngưu tất, Trạch tả, Hòe, Thanh cao, Mã đề, Hoắc hương, Đinh Lăng, Nghệ, Gừng, Cốt khí củ, Gấc, Mướp đắng, Kim tiền thảo, Diệp hạ châu, Hoài sơn.

4 Vùng Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà

5 Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: Các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận.

Quế, Đậu ván trắng, Râu mèo, Dừa cạn, Bụp dấm, Trinh nữ hoàng cung, Nghệ, Mã đề, Diệp hạ châu, Tỏi, Lô hội, Thanh cao.

6 Vùng Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai,Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng

Artiso, Gừng, Sả, Nghệ, sâm Ngọc linh, Đảng sâm, Ngũ vị tử, Thông

đỏ, Diệp hạ châu, Hoài sơn, Ý dĩ, Dương cam cúc, Đinh lăng, Bình vôi, Gấc, Táo mèo.

7

Vùng Tây Nam Bộ: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu,

Cà Mau, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu

Giang, Kiên Giang, Long An, Cửu Long, Sóc Trăng,

Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long.

Bụp dấm, Sả, Nghệ, Xuyên tâm liên, Tràm, Sen, Hoài sơn, Diệp hạ châu, Trinh nữ hoàng cung, Gừng, Mã đề, Chùm ngây, Bạc hà, Râu mèo, Thủy xương bồ, Rau má, Diếp cá, Gấc, Tần dầy lá, rau Ngổ, Nhàu

8

Vùng Đông Nam Bộ: Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình

Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Bụp dấm, Sả, Nghệ, Xuyên tâm liên, Nhân trần, Dừa cạn, Trinh nữ hoàng cung, Kim tiền thảo, Bá bệnh, Mã

đề, râu mèo, Tràm, Nhàu, Chùm ngây, Nhân trần tía

- Thực trạng áp dụng nguyên tắc tiêu chuẩn Thực hành tốt trồng và thu hái dược liệu (GACP) trong việc nuôi trồng và thu hái dược liệu tự nhiên và nuôi trồng.

Tiêu chuẩn GACP có thể áp dụng chung cho cả cây lương thực, cây rau, cây

ăn quả, … và đặc biệt cây làm thuốc Xuất phát từ tiêu chuẩn của thuốc là phải có chất lượng tốt, an toàn và hiệu quả, nên nguồn nguyên liệu làm ra thuốc cũng phải

Trang 40

đạt các yêu cầu này GACP có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra nguồn nguyên liệu làm thuốc đạt các tiêu chuẩn Nó bao gồm hai nội dung chính (thực hành tốt trồng cây thuốc (GAP), thực hành tốt thu hái cây thuốc hoang dã (GCP)

Tính đến nay, Việt Nam mới chỉ có một vài doanh nghiệp thực hiện theo tiêu chuẩn GACP, điển hình có công ty Thiên Dược đã thực hành trồng trọt, thu hái, chế biến dược liệu từ cây Trinh nữ hoàng cung tại vùng trồng Long Thành – Đồng Nai Tuy nhiên Bộ Y tế đã có Thông tư số 14/2009/TT-BYT ngày 3/9/2009 “Hướng dẫn triển khai áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc” theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, trong tương lai không xa,

qua thực hiện GACP, chất lượng dược liệu sẽ được giải quyết cơ bản, nhất là tình trạng không kiểm soát được tính đúng và không có khả năng truy nguyên nguồn gốc xuất xứ.

- Công tác nuôi trồng và phát triển dược liệu ở Việt Nam và các chính sách tác động đến việc nuôi trồng và phát triển dược liệu.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, công tác trồng cây thuốc luôn được quan tâm Một số cây thuốc có tiềm năng đã được đầu tư và tổ chức thành công các vùng trồng để tạo nguyên liệu phục vụ trong nước và xuất khẩu, như trồng Thanh cao hoa vàng, Lão quan thảo, Mã đề, Ngưu tất, Sa nhân, Đương qui Nhật bản, Lô hội, Hoè, Sả, Địa liền, Gừng, Tỏi, Cúc hoa, Diệp hạ châu, Trinh nữ hoàng cung, Kim tiền thảo, Artisô, Râu mèo, Quế, Hồi, Hương nhu trắng, Hương nhu tía, Bạc hà, Thảo quả, Cốt khí

củ, Hoắc hương, Bạch truật, Nga truật, Nhân trần, Bồ bồ, Thảo quyết minh, Xuyên khung, Mạch môn, Ngải cứu, Xạ can, Quế, Sen Bên cạnh đó, nhiều địa phương, công ty kinh doanh, các đơn vị nghiên cứu đã trực tiếp đầu tư xây dựng vùng trồng một số loài cây thuốc để tạo nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất như: Tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đầu tư phát triển Sâm ngọc linh; quy hoạch vùng trồng tràm (Melaleuca anternifolia) để chưng cất tinh dầu của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười; nghiên cứu xây dựng qui trình trồng cây thuốc theo tiêu chuẩn GAP-WHO 5 loài cây thuốc Đương qui, Artisô, Ngưu tất, Cúc hoa, Bạch chỉ của Viện dược liệu; xây dựng vùng trồng Bạc hà Nhật bản tại Hưng Yên và Nam Định của Công ty cổ phần dược Mediplantex; xây dựng vùng trồng Kim tiền thảo tại Bắc Giang của Công ty OPC; xây dựng vùng trồng Artisô và Chè dây tại Sa Pa-Lào Cai, trồng Đinh lăng tại Hưng Yên của Công ty Traphaco; xây dựng vùng nguyên liệu Trinh nữ hoàng

Ngày đăng: 13/04/2015, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 02: Số lượng các doanh nghiệp đạt GPs qua các năm - Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 02 Số lượng các doanh nghiệp đạt GPs qua các năm (Trang 12)
Bảng 03: Phân loại SĐK thuốc tân dược, đông dược sản xuất trong nước - Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 03 Phân loại SĐK thuốc tân dược, đông dược sản xuất trong nước (Trang 13)
Bảng 05:  Thống kê lượng dược sĩ đại học tại các địa phương - Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 05 Thống kê lượng dược sĩ đại học tại các địa phương (Trang 22)
Bảng 7: Tổng hợp số ĐKT còn hiệu lực SĐK tính tới 31/12/2011 - Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 7 Tổng hợp số ĐKT còn hiệu lực SĐK tính tới 31/12/2011 (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w