1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bảo vệ tài nguyên rừng tại VQG Tam Đảo

31 1,9K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá được thực trạng quản lý, bảo vệ rừng trong những năm vừa qua tại VQG Tam Đảo Chỉ ra thuận lợi, khó khăn trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại VQG TamĐảo.Trên cơ sở những biện pháp quản lí,bảo vệ rừng đã có sẵn tại địa phương đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí, bảo vệ và phát triển rừng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Rừng là tài nguyên quý giá và có thể tái tạo được của nước ta Rừng có

vai trò to lớn đối với con người không chỉ ở Việt Nam mà toàn thế giới như cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nước, chống xói

mòn, rửa trôi Bảo vệ môi trường, là nơi cư trú của động thực vật và tàng trữ

các nguồn gen quý hiếm Mất rừng gây ra hậu quả nghiêm trọng, những

diện tích đất trống đồi núi trọc tăng, là nguyên nhân gây ra hiện tượng xói

mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn hán, mất diện tích canh tác, mất đi sự đa dạng

sinh học Mặc dù diện tích rừng trồng cũng tăng trong những năm gần đây, song rừng trồng thường có cấu trúc không ổn định, vai trò bảo vệ môi trường,

phòng hộ kém Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giới có 11 triệu ha

rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8 triệu

ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới Ở

Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng Năm 1943 độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26% Nguyên

nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương

làm rẫy.Vì vậy trong những năm qua đã có nhiều các chương trình, dự án nhằm hỗ trợ và giúp đỡ người dân trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Rừng đối với đời sống chúng ta có vai trò to lớn như vậy, nhưng với sự

phụ thuộc quá mức của người dân vào rừng nhất là dân số ngày càng tăng gây

nên một sức ép làm tàn phá nguồn tài nguyên này ngày một lớn, một số nơi rừng

đã không còn khả năng để tự phục hồi Bên cạnh vấn đề rừng bị tàn phá thì một

nhiệm vụ cấp thiết được đặt ra là làm như thế nào để khôi phục được nguồn tài

nguyên rừng đồng thời làm giàu thêm những giá trị của rừng Muốn vậy chúng

ta cần có những giải pháp tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn tài

nguyên rừng Từ những vấn đề thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý và bảo vệ rừng ở VQG Tam

Đảo” nhằm góp một phần nhỏ vào công tác lâm

nghiệp xã hội tại địa phương và để rừng xanh ngày một phát triển

•Tính cấp thiết của chuyên đề thực tập đối với sinh viên ngành Quản lý Tài nguyên

Trang 2

và Môi trường:

-Trong học tập và nghiên cứu khoa học:

Thông qua việc nghiên cứu đề tài giúp củng cố và nâng cao kiến thức

thực tế cho bản thân để áp dụng những gì đã học được đưa

vào thực tiễn Qua đề tài cũng nâng cao được năng lực nhận biết tiếp cận thông tin từ cộng đồng Để sau này làm việc sẽ phát huy được hết khả năng của mình và những kiến thức đã học tập, rèn luyện

-Trong thực tế :

Thông qua đề tài giúp cho mọi người hiểu thêm phần nào tầm quan trọng của rừng và công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Thu thập nhiều hình ảnh,thông tin sát thực về hiện trạng của VQG Tam Đảo nhằm đề xuất được những ý kiến và biện pháp hợp lí,có hiệu quả để nâng cao chất lượng công tác bảo vệ và quản lý rừng

• Mục tiêu của chuyên đề thực tập:

-Đánh giá được thực trạng quản lý, bảo vệ rừng trong những năm vừa qua

tại VQG Tam Đảo

- Chỉ ra thuận lợi, khó khăn trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại VQG TamĐảo.Trên cơ sở những biện pháp quản lí,bảo vệ rừng đã có sẵn tại địa phương đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí, bảo vệ và

phát triển rừng

• Các nội dung thực hiện của chuyên đề thực tập :

Chuyên đề thực tập có 2 phần lớn:

Thứ nhất là Nghiên cứu về hiện trạng của VQG Tam Đảo

Thứ hai là đề xuất biện pháp quản lý và bảo vệ rừng ở VQG Tam Đảo

Phần 1 Lộ trình, điểm khảo sát và các nội dung thực tập :

• Bản đồ thể hiện các tuyến hành trình và các điểm khảo sát

-Các tuyến hành trình:

7h00:Bắt đầu từ sân trường ĐH Tài nguyên và Môi trường

Lộ trình: (66.5km) Theo đường Hồ Tùng Mậu rẽ lên Phạm Văn Đồng rồi qua cầu Thăng Long đi thẳng sang thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, rẽ vào đường 28 đi thêm 25km nữa

là lên đến Tam Đảo

8h45: Đến thị trấn Tam Đảo

Trang 3

Vườn quốc gia Tam Đảo là một vườn quốc gia của Việt Nam, nằm trọn trên dãy núi Tam Đảo, một dãy núi lớn dài trên 80 km, rộng 10–15 km chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Vườn trải rộng trên ba tỉnh Vĩnh Phúc (huyện Tam Đảo), Thái Nguyên(huyện Đại Từ) và Tuyên Quang (huyện Sơn Dương), cách Hà Nội khoảng 75 km về phía Bắc Dãy núi Tam Đảo có trên 20 đỉnh cao từ 1000 m trở lên so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc 1592 m.

Tọa độ địa lý của Vườn quốc gia Tam Đảo: 21°21'-21°42' vĩ Bắc và 105°23'-105°44' kinh Đông

Địa giới hành chính của VQG được giới hạn như sau:

+Phía Bắc là đường quôc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua đèo Khế

+Phía Đông – Bắc bởi đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp quốc lộ 13A tại

xã Phú Xuyên huyện Đại Từ

+Phía Nam bởi ranh giới các huyện Tam Đảo,Mê Linh thuộc Vĩnh Phúc ;Phổ Yên,Đại Từ thuộc Thái Nguyên

+Phía Tây-Nam bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy nối từ đường 13A tại xã Kháng

Trang 4

Nhật ,qua mỏ thiếc Sơn Dương,dọc theo chân Tam Đảo gặp sông Bà Hanh tại

xã Mỹ Khê bên hồ Đại Lải

-Các điểm khảo sát:

Ngày thứ 1:

Trang 5

+ Tháp truyền hình: cao 93 m trên đỉnh Thiên Nhị với độ cao 1.375 m Ðường đi lên tuy vất vả nhưng lãng mạn, nên thơ Dọc đường lên là hoa phong lan, hoa cúc quỳ và các loài hoa dại không tên khác nở đầy lối đi, tỏa hương thơm lạ, mầu sắc rực rỡ Ở nơi đây nhiều loại bướm đủ mầu rập rờn trên hoa lá, đậu, bay theo du khách như các sứ giả đón khách ghé thăm Lên tới đỉnh, phóng tầm mắt ra bốn phía là mênh mông trời, đất, gió, mây

Trang 6

Đường lên tháp truyền hình

Ngày thứ 2:

+ Nhà thờ cổ Tam Đảo: Được xây dựng vào năm 1937, giáo xứ nơi đây đã xây dựng ngôi thánh đường hiện nay theo lối kiến trúc Pháp với chiều dài 26m, rộng 11m Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” đã làm cho toàn bộ những ngôi biệt thự tại Tam Đảo bị phá hủy hoàn toàn, nhà thờ là công trình kiến trúc duy nhất được bảo toàn Đây là một điểm tham quan khá lý thú, đứng trên nhà thờ cổ bạn cũng có thể nhìn thấy toàn cảnh thiên nhiên Tam đảo rất mộng mơ Ta có thể chụp ảnh lưu niệm với bạn bè và người thân của mình Rất nhiều cặp tình nhân chọn nơi này làm nơi chụp ảnh cưới cho mình.

Trang 7

Nhà thờ đá cổ Tam Đảo

+ Thác Bạc: Từ trung tâm thị trấn Tam Đảo, rẽ phải theo lối mòn, hút xuống thung lũng sâu, thác Bạc giấu mình trong núi, bí ẩn đổ xuống dòng nước trắng bạc, lóng lánh ánh mặt trời phản chiếu sắc cầu vồng Một dòng suối nhỏ từ trên cao 50 m ào

ào tuôn nước, thả vào gió tiếng suối, tiếng rừng, tiếng lá dội vào vách đá nghe thâm u như tiếng ngàn xưa

Nước trong và mát lạ thường, đôi chân trần của du khách cứ thoải mái đùa nghịch với nước Thanh niên nam nữ tụ hội quây quần dưới thác, còn các bậc trung niên cũng không thể cưỡng nổi sức hút của thác Bạc Con đường lên xuống thác không quá dài nhưng cheo leo với những bậc đá dựng đứng Du khách mặc dù mệt nhoài nhưng vẫn tươi cười đắc ý vì vừa chinh phục được đoạn đường gian khổ.

Trang 8

THÁC BẠC

Phần 2 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa :

• Trong quá trình thực địa ,ta cần biết một số kĩ năng cơ bản để tiếp cận thông tin

mà quan trong hơn cả là kĩ năng chụp ảnh và ghi chép

-Phương pháp và chú ý khi chụp ảnh vùng rừng núi:

+ Sử dụng chân máy để lấy sáng lâu hơn giúp bức ảnh sắc nét và màu sắc rõ hơn +Thường xuyên chụp ảnh tại cùng một địa điểm sẽ thu được những kết quả mỹ mãn hơn.

+ Hiểu biết các điểm khác thường của khu vực bạn chụp ảnh, chẳng hạn như: thời tiết bất thường, thú hoang, côn trùng gây hại và nấm độc, thực vật nguy hiểm… +Quan sát qua ống kính máy ảnh để quan sát đúng hình ảnh 2 chiều qua khung ảnh Xem hình ảnh qua ống kính: chi tiết nào thể hiện, chi tiết nào thiếu Những gì nhìn thấy qua ống kính khác với những gì bạn nhìn thấy.

+Ghi nhớ rằng hình ảnh quan sát qua ống kính mới chính là bức ảnh của sau này,

Trang 9

không phải những gì nhìn thấy.

+Đưa vào khung hình những gì mình thấy thú vị và loại bỏ những gì không đáng Một số máy ảnh và ống kính cho phép người chụp có thể lấy cận các vật thể nhỏ Càng gần càng tốt là thường là cách tốt nhất khi chụp cảnh thiên nhiên

+Nếu chủ thể có bố cục dọc, hãy xoay máy lại cho tương thích.

+Thử các góc nhìn mới lạ và tập trung vào tiêu điểm.

+Dùng các động từ để hình dung về các bức ảnh sẽ chụp, chứ không chỉ là các danh

từ gọi tên chủ thể.Người cầm máy nên hòa nhập vào sự việc và dự đoán những gì sắp xảy ra tiếp theo và chờ đợi nắm bắt ngay những khoảnh khắc ấy Chẳng hạn như một chú ong hút mật, gió thổi qua cánh đồng…

+Chọn đúng độ phơi sang, giữ chắc tay máy, sử dụng chế độ chụp tay

- Phương pháp ghi chép khi tiếp nhận thông tin từ giáo viên,hướng dẫn viên:

+Phương pháp cornell.

+Phương pháp lập bảng.

+Phương pháp ghi theo dàn ý

+Phương pháp lập bản đồ.

+Phương pháp chép nguyên câu.

*Lưu ý khi ghi chép:

-Ghi ngày tháng.

-Viết rõ ràng.

-Không viết tất cả những gì giáo viên,hướng dẫn viên nói,chỉ ghi những ý chính -Ghi chép ngắn gọn bằng cách ghi cụm từ thay vì câu hoàn chỉnh.Sử dụng cách viết tắt và kí hiệu riêng.

-Dùng từ ngữ riêng nhưng không thay đổi nghĩa.

-Một số nội dung cần ghi chính xác:Công thức,định nghĩa,sự kiện cụ thể (địa

điểm,năm,tên người……)

-Nếu nghe không kịp thì ghi từ khóa và để trống rồi bổ sung sau.

Phần 3 Giới thiệu khái quát đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, KTXH các khu vực nghiên cứu

•Về địa hình:

Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo Đây là dãy núi

có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Nord 1.592m Địa hình ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính Núi Tam Đảo từ xưa đã được che phủ bởi một lớp thảm thực vật dày đặc, nhiều tầng và đa dạng về loài, đa dạng về quần xã

Trang 10

sinh học và hệ sinh thái Các yếu tố chính đã góp phần tạo nên sự đa dạng này là đất đai, khí hậu

•Về yếu tố đất đai, đã điều tra được 4 loại đất chính gồm:

- Đất Feralit mùn vàng, phát triển trên đá Macma axit, loại đất này xuất hiện ở độ cao từ

700 m trở lên, có diện tích là 8968ha, chiếm 24,31% diện tích của Vườn

- Đất Feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp, phát triển trên đá Macma kết tinh, loại đất này có diện tích 9292ha, chiếm 25,19% diện tích và xuất hiện ở độ cao từ 400m

( 700m

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, loại đất này thường thấy ở

độ cao từ 100 ( 400m, có diện tích là 17606ha, chiếm 47,33% diện tích Vườn

- Đất dốc tụ và phù sa, loại đất này ở độ cao từ 100m trở xuống, thường thấy ở ven chân núi, thung lũng hẹp, ven sông suối lớn, có diện tích là 1017ha, chiếm 2,76% diện tích Vườn

Do có sự khác nhau về đất đai và khí hậu giữa các vùng cộng với sự tác động của con người đã tạo ra các hoàn cảnh lập địa khác nhau Đây là nguyên nhân chính để tạo ra sự

đa dạng về các hệ sinh thái rừng, các quần xã sinh học và đa dạng về loài của rừng Tam Đảo

•Về thực vật

Theo kết quả điều tra cho thấy ở Tam Đảo có 8 loại rừng và thực bì khác nhau, mà mỗi kiểu rừng đó thường đại diện cho một loại hình lập địa và tương ứng có một tổ thành loài cây nhất định như:

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Kiểu rừng này bao phủ phần lớn dãy núi Tam Đảo và phân bố ở độ cao dưới 800m, với nhiều tầng tán và những loài cây có giá trị kinh

tế như: Chò chỉ (Shorea chinensis), giổi (Michelia SP), re (Cinamomum Ital), trường mật (Pavviesia annamensis) …

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp: Kiểu rừng này phân bố từ độ cao 800m trở lên và trong quần hệ thực vật của kiểu rừng này không còn các loài thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae) Thực vật ở đây gồm các loài trong họ re (Lauraceae), họ dẻ

(Fagaceae), họ chè (Theaceae), họ mộc lan (Magroliaceae), họ sau sau (Hamamelidocene)

… Từ độ cao 1000m trở lên xuất hiện một số loài thuộc ngành hạt trần như: Thông nàng (Dacrycarpus imbrricatus), pơ mu (Fokieria hodginsii), thông tre (Podocarpus neriifolicy), kim giao (Nageia fleuryi) … Dưới tán kiểu rừng này thường có các loài như: Vầu đắng, sặt gai, Các loài cây bụi thuộc họ cà phê (Rubiaceae), đơn nem (Myrsiraceae), họ thầu dầu (Euphorbiaceae) …

Trang 11

- Rừng lùn trên đỉnh núi: Là kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp mà thực vật chủ yếu là các loài cây thuộc họ đỗ quyên (Ercaceae), họ re (Lauraceae), họ dẻ (Fagaceae), họ hồi (Illiciaceae), họ thích (Aceraceae) … Kiểu rừng này xuất hiện ở các đỉnh núi cao khoảng 1000m trở lên.

- Rừng tre nứa: ở Vườn quốc gia Tam Đảo rừng tre nứa không có nhiều (chỉ có 884 ha) và thường phân bố ở độ cao trên 800 m, có các loài tiêu biểu là: Vầu, sặt gai ở độ cao 500 ( 800m là cây giang và dưới 500m là nứa

- Rừng phục hồi sau nương rẫy, sau khai thác: Trước khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo, rừng ở đây chỉ được bảo vệ từ độ cao 400m trở lên, dưới 400m là rừng kinh tế, nên rừng ở đây các lâm trường đã khai thác gỗ với cường độ cao và một phần diện tích ở đây được dân làm nương rẫy Ngày nay diện tích này được bảo vệ phục hồi rừng với các loài cây: Dung (Symplocos SP), màng tang (Litsea cubeba), dền (Xylopia vielana), ba soi (Macarauga denticulata)

- Rừng trồng: Rừng trồng ở Tam Đảo đã có từ thời Pháp thuộc, loài cây chủ yếu của thời

kỳ này là thông đuôi ngựa (Pinus Massoniana), lim xanh (Erythropholenm fordii) Sau này được trồng thêm các loài: Bạch đàn, keo, thông Caribee và một số loài cây bản địa có nguồn gốc tại Tam Đảo

- Trảng cây bụi: Loại này thường xuất hiện ở nơi đất chưa có rừng, khô hạn, nhiều ánh sáng, điển hình là: Thẩu tấu (Aporosa dioica), thổ mật (Bridelia tomentosa), thao kén (Helicteres SP), me rừng (Phyllanthus embrica)…

- Trảng cỏ: Loại này được hình thành trên các kiểu rừng đã bị khai thác, đất bị thoái hoá mạnh và được phân ra thành 2 loại hình: Trảng cỏ cao, có chiều cao khoảng 2m và mọc thành từng bụi như: Lách (Saccharum spontaneum), cỏ chít (Thysamolema maxima), cỏ lào (Chromolaena odorata) … Trảng cỏ thấp, gồm các loài cỏ thấp dưới 2m, mọc thành thảm cỏ dày đặc hoặc rải rác, điển hình là cỏ tranh (Imperata cylindrica), cỏ đắng

(Paspalum scrobiculatum), cỏ sâu róm (Setaria viridis)…

Nhìn chung hệ thực vật Tam Đảo khá phong phú và phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau từ trảng cỏ, cây bụi đến các loài cây gỗ trên núi đất, núi đá Theo GS TSKH

Nguyễn Nghĩa Thìn (Đại học khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội) thì Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2000 loài thực vật Đến nay tổng hợp số liệu điều tra của Viện sinh thái tài nguyên sinh vật (Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia); Đại học khoa học tự nhiên (Đại học quốc gia Hà Nội); Đại học lâm nghiệp, Viện điều tra qui hoạch rừng và một số cơ quan, tổ chức khác cho thấy đã thống kê được 904 cây có ích

ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành dương xỉ, hạt trần và hạt kín Các loài cây này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Hiện đã xác định được tên và có mẫu

Trang 12

tiêu bản 1.282 loại thuộc 660 chi của 179 họ thực vật Trong đó có 379 loài cây gỗ, 109 loài cây cho quả ăn, 158 loài cây cho sợi, 361 loài cây làm dược liệu, 86 loài cây cho rau

ăn, 152 loài làm cảnh, 32 loài cho tinh dầu và 5 loài cây cho tinh bột Đặc biệt ở Tam Đảo hiện có 44 loài cây đặc hữu và 66 loài quý hiếm cần được bảo vệ như Hoàng Thảo Tam Đảo, Tra Hoa đài, Trà Hoa vàng

Một số nông sản của người dân

Thành phần thực vật VQG Tam Đảo

Trang 13

I Cây lấy gỗ 379 41,92

Trong số 840 loài động vật trên thì có 39 loài đặc hữu, gồm:

- Những loài đặc hữu hẹp chỉ có ở Vườn quốc gia Tam Đảo gồm 11 loài: Rắn sãi angen (Amphiesma angeli); rắn dáo thái dương (Boiga multitempolaris); cá coóc Tam Đảo (Paramerotriton deloustali) và 8 loài côn trùng

Trang 14

- Những loài đặc hữu miền Bắc Việt Nam có ở Vườn quốc gia Tam Đảo : 22 loài và phân loài, trong đó: Chim có 9 loài; bò sát có 4 loài; ếch nhái có 3 loài; côn trùng có 6 loài.

- Những loài đặc hữu của Việt Nam , ở Vườn quốc gia Tam Đảo có 6 loài, trong đó chim

5 loài; ếch nhái 1 loài

Trong số động vật ở Tam Đảo hiện có: 8 loài đang nguy cấp, 17 loài sẽ nguy cấp, 13 loài hiếm có và 18 loài đang bị đe dọa

Cá cóc – một loài sinh vật đặc hữu của Tam Đảo

Trang 15

Vườn quốc gia Tam Đảo là tài sản quý của quốc gia, có nhiều lợi ích cho cộng đồng cư dân trong khu vực Vườn còn đem lại giá trị to lớn trong việc bảo vệ môi trường, điều tiết

và cung cấp nước, phục vụ nghiên cứu khoa học và phục vụ cho du lịch và nghỉ dưỡng, cung cấp lâm sản, dược liệu Đồng thời Tam Đảo là khu vực có tính đa dạng sinh học cao, là kho dự trữ các nguồn gen động thực vật quý hiếm của nước ta Nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá này cần được bảo vệ để góp phần làm phong phú tính đa dạng sinh học của Việt Nam và thế giới

•Về khí hậu:

Sương mù vây quanh thị trấn

Dãy núi Tam Đảo tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700–800 m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt

đới mưa mùa, cũng như một số khu vực có nhiệt độ, lượng mưa rất khác nhau của Tam Đảo Tất cả tạo nên một Vườn quốc gia Tam Đảo được che phủ bởi một lớp thảm thực vật dày đặc, nhiều tầng và đa dạng về loài, đa dạng về quần xã sinh học và hệ sinh thái

•Về hoạt động phát triển KTXH:

Ở đây chủ yếu là kinh doanh khách sạn và các dịch vụ phục vụ cho khách du lịch.Ngoài

ra trồng susu cũng là một nghề rất phổ biến

Ngày đăng: 13/04/2015, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w