1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách thúc đẩy TNCs hỗ trợ doanh nghiệp nội địa phát triển năng lực công nghệ ở Trung Quốc kinh nghiệm và bài học

62 357 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 744,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu: chương này đề cập đến phương pháp được đề tài sử dụng để nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc trong việc thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ vào doan

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG i

DANH MỤC HÌNH ii

GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 2: KHUNG KHỔ LÝ THUYẾT 9

CHƯƠNG 3: 3.1 Các khái niệm cơ bản 9

3.1.1 Khái niệm về công ty xuyên quốc gia – Transnational Corporations (TNCs) 9

3.1.2 Khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ 10

3.1.2.1 Khái niệm công nghệ: 10

3.1.2.2 Khái niêm chuyển giao công nghệ: 11

3.2 Vai trò của TNCs đối với phát triển công nghệ ở các nước nhận đầu tư 13

3.2.1 TNCs là chủ thể chính trong phát triển công nghệ thế giới 13

3.2.2 Vai trò TNCs với hoạt động chuyển giao công nghệ 15

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19

CHƯƠNG 4: 4.1 Sự phát triển của chính sách chuyển giao công nghệ ở Trung Quốc 20

4.2 Chiến lược của Trung Quốc trong việc thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ trong cho doanh nghiệp trong nước 20

4.2.1 Các cải cách thương mại và chiến lược thu hút FDI 21

4.2.2 Các công cụ chính sách của Chiến lược TTEDM 22

4.2.2.1 Các ưu đãi đối với nhà đầu tư: 22

4.2.2.2 Các yêu cầu đối với đầu tư 24

4.2.2.3 Chính sách của Trung Quốc về quyền sở hữu trí tuệ 25

4.3 Tác động của chiến lược thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa Trung Quốc – trường hợp ngành ô tô, điện tử viễn thông 30

4.3.1 Nhập khẩu công nghệ 31

4.3.2 Sự hài lòng của khu vực với hiệu ứng liên kết 32

Trang 2

4.3.3 Những tiến bộ của công nghệ được chuyển giao bởi TNCs 33

4.3.4 Mở rộng nhanh chóng của công nghệ cao xuất khẩu sản phẩm và sự đóng góp của FFEs 35

4.3.5 Chiến lược phát triển công nghệ mới của Trung Quốc 37

4.3.5.1 Giảm sự phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài 38

4.3.5.2 Thu hút các công ty đa quốc gia cho hoạt động R&D 39

4.3.5.3 Kích thích xuất khẩu công nghệ cao 44

4.3.5.4 Tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 45

4.3.6 Trường hợp ngành ô tô, điện tử viễn thông 46

4.3.6.1 Các chính sách cụ thể đối với ô tô, điện tử và ngành Viễn thông Xe hơi 46

4.3.6.2 Tác động chính sách 48

4.4 Bài học kinh nghiệm 51

4.4.1 Bài học cho các nước đang phát triển: 51

4.4.2 Bài học cho Việt Nam 51

4.4.2.1 Tạo lập đối tác đầu tư trong nước có năng lực và biết làm ăn với nước ngoài là một nhân tố hấp dẫn đối với các TNCs 53

4.4.2.2 Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà Nước và xây dựng hệ thống pháp luật về chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ 53

4.4.2.3 Phát triển cơ cấu hạ tầng kinh tế – kĩ thuật 55

4.4.2.4 Phát triển nguồn nhân lực 55

KẾT LUẬN 57

CHƯƠNG 5: TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Chi phí cho việc nhập khẩu công nghệ (1991 – 2000) (ĐVT: tỷ $) 31Bảng 2: Cấu trúc Nhập khẩu công nghệ theo loại (1993 – 1997) 32Bảng 3: Công nghệ đƣợc áp dụng bởi các TNCs tại Trung Quốc (% trên tổng số) 34Bảng 4: Mở rộng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao (1996 – 2000) 35Bảng 5: Chi tiêu cho hoạt động R&D của Trung Quốc (Nguồn: OECD) 41

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu công nghệ (Nguồn: WB) 36

Biểu đồ 2: Tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao (Nguồn: WB) 36

Hộp 1: Cải cách giáo dục ở Trung Quốc 43

Biểu đồ 3: Thương mại công nghệ cao của Trung Quốc (Nguồn: OECD) 45

Trang 5

GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1:

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trung Quốc là một quốc gia lớn nắm giữ vai trò quan trọng trong quan hệ kinh

tế thế giới Việc điều chỉnh chính sách, đặc biệt là chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài, tác động rất lớn đến thu hút dòng vốn và hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như sự phát triển kinh tế của Trung Quốc và các quốc gia khác trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ Việt Nam là một quốc gia láng giềng với Trung Quốc và có mối quan hệ mật thiết không chỉ về chính trị, quân sự mà còn cả về kinh tế Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Những bài học kinh nghiệm được tổng kết từ Trung Quốc là cần thiết với Việt Nam trong quá trình ban hành và thực thi chính sách thu hút đầu tư nước ngoài

Với mục tiêu trở thành cường quốc về kinh tế trên thế giới, Trung Quốc rất chú trọng phát triển công nghệ nền thông qua hoạt động R&D (nghiên cứu và triển khai) Trong khi đó hoạt động R&D lại do các TNCs (công ty xuyên quốc gia) nắm giữ Chính vì vậy, trong điều chỉnh chính sách FDI, Trung Quốc đặc biệt coi trọng việc thu hút các TNC đầu tư và góp phần đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tại nước này Trung Quốc khuyến khích các TNC thành lập các trung tâm nghiên cứu, đào tạo; coi đổi mới công nghệ đồng nghĩa với nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giữ thế độc quyền Hiện nay, Trung Quốc đang trở thành địa bàn thu hút các công ty tập trung nhiều công nghệ Các hãng nổi tiếng thế giới như Microsoft, Motorola, General Motors, Simens đang đầu tư hoạt động R&D tại Trung Quốc Đến năm 2013, tổng số trung tâm R&D tại Trung Quốc lên tới hơn 500 và do các công ty nước ngoài tham gia thành lập Có thể thấy việc thu hút đầu tư công nghệ của Trung Quốc dang ngày một mạnh mẽ, do nhận thức được đây là một trong những nguồn lực có khả năng làm thay đổi cơ bản cơ cấu và trình độ phát triển của nền kinh tế Để tìm hiểu các chính sách

Trang 6

thúc đẩy TNCs trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nội địa phát triển năng lực công nghệ và rút ra các bài học cho các nước đang phát triển, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu:

“Chính sách thúc đẩy TNCs hỗ trợ doanh nghiệp nội địa phát triển năng lực công nghệ

ở Trung Quốc: kinh nghiệm và bài học”

2 Mục đích và câu hỏi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm rõ những chiến lược của Trung Quốc trong việc thúc đẩy hỗ trợ phát triển công nghệ từ TNCs đến các doanh nghiệp nội địa, trên

cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tiếp nhận công nghệ và thúc đẩy hỗ trợ của TNCs đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Câu hỏi nghiên cứu: nghiên cứu tiến hành nhằm trả lời câu hỏi: “Trung Quốc có những chính sách gì để thúc đẩy TNCs tiến hành chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước” và “chính sách đó có hiệu quả hay không?”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vấn đề thúc đẩy hỗ trợ phát triển công nghệ của TNCs cho các doanh nghiệp nội địa của Trung Quốc

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn nghiên cứu quá trình chuyển giao công nghệ của các TNCs vào Trung Quốc từ năm 1995 trở lại đây (20 năm trở lại đây)

4 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu kết hợp sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, logic để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu gồm các nội dung chính:

Chương 1: Khái quát chung: chương này đề cập đến các khái niệm chung nhất

về công ty xuyên quốc gia TNCs, công nghệ, chuyển giao công nghệ

Trang 7

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu: chương này đề cập đến phương pháp

được đề tài sử dụng để nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc trong việc thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ vào doanh nghiệp nội địa

Chương 3: Kết quả nghiên cứu: chương này đưa ra các chính sách của Trung

Quốc trong việc thúc đẩy các TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa

và các kết quả đạt được cùng bài học kinh nghiệm rút ra

Chương 4: Kết luận

Trang 8

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2:

Nghiên cứu về vấn đề này, có một số công trình trong và ngoài nước đã đề cập, tiêu biểu có thể kể đến như:

“Ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế các nước ASEAN”- Luận án Phó tiến sĩ khoa học Kinh tế của Nguyễn Khắc Thân - Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1991 Luận án tập trung nghiên cứu đặc trưng cắm nhánh của TNCs và ảnh hưởng do sự cắm nhánh của chúng đối với những nền kinh tế thuộc ASEAN

“Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển”

do Nguyễn Ngọc Diên, Bùi Thanh Sơn, Nguyễn Thái Yên Hương đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 Nhóm tác giả nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp đối với các nước đang phát triển, qua đó đề ra một số giải pháp chung, cơ bản nhằm thu hút vốn đầu tư của TNCs vào các quốc gia này

Cuốn "Công Ty Xuyên Quốc Gia Của Các Nền Kinh Tế Công Nghiệp Mới Châu Á" của tác giả Hàn Hồng Vân được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản 02/2003

tập trung đề cập quá trình hình thành, mô hình tổ chức quản lý, chiến lược hoạt động

và vai trò của các công ty xuyên quốc gia ở các nước và vùng lãnh thổ: Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapo Sách còn trình bày một số kinh nghiệm từ sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia và qua đó đưa ra một số gợi ý về sự phát triển các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế lớn ở nước ta, kiến nghị các biện pháp thu hút, sử dụng các công ty xuyên quốc gia nói chung và của các nền kinh tế công nghiệp mới châu Á nói riêng vào phát triển nền kinh tế đất nước

“Các Công Ty Xuyên Quốc Gia: Khái Niệm - Đặc Trưng Và Những Biểu Hiện Mới”, Nguyễn Thiết Sơn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003 là một phần quan trọng

của đề tài khoa học cấp nhà nước KHXH.06.05, thuộc chương trình KHXH.06 “Những vấn đề về chủ nghĩa tư bản hiện đại” Nội dung của cuốn sách tập trung trình bày những khái niệm và định nghĩa theo tiến trình phát triển của các công ty xuyên quốc

Trang 9

gia; nguồn gốc, bản chất và đặc điểm, đặc trưng hoạt động; vai trò và tác động của các công ty xuyên quốc gia thông qua việc trình bày hoạt động thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, phát triển R – D và chuyển giao công nghệ của các công ty xuyên quốc gia, đặc biệt là hoạt động của các công ty xuyên quốc gia Mỹ, Nhật, Tây Âu và các NIE châu Á Nội dung về chính sách của Việt Nam đối với các công ty xuyên quốc gia được trình bày qua hai phần quan trọng: hoạt động của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam, những đặc điểm và tác động của chúng; chính sách và định hướng chính sách quan hệ đối với các công ty xuyên quốc gia

Nghiên cứu “Multinational Corporations and Technology tranfers in Developing countries: evidence from China” của Zhongxiu Zhao and Kevin Honglin

Zhang đã nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và chuyển giao công nghệ thông qua các TNCs vào Trung Quốc Kết quả cho thấy, sự đóng góp của các MNCs để chuyển giao công nghệ ở Trung Quốc có vẻ là chủ yếu thông qua tác động gián tiếp (lan tỏa) Trong tất cả các trường hợp, các thông số cho các hiệu ứng lan tỏa FDI hạn (S) được mạnh

mẽ tích cực, như nhiều học giả đã báo cáo (ví dụ, Blomstrom và Sjoholm, 1999) Các tác động tích cực lớn và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Các Kết quả cho thấy các ngành công nghiệp Trung Quốc thực sự được hưởng lợi từ sự hiện diện của nước ngoài công ty thông qua trình diễn, đào tạo lao động, chuyển tiếp và liên kết ngược, và cạnh tranh gia tăng

Tác giả Xiaoling Huang trong nghiên cứu “Trade and Technology transfer: the case of automobile, electronic and telecommunication sectors in China” đã chỉ ra các

chính sách mà chính phủ Trung Quốc áp dụng trong quá trình thu hút FDI và thúc đẩy các doanh nghiệp TNCs tiến hành chuyển giao công nghệ Với việc hoàn thiện các quy định về sở hữu trí tuệ và gia nhập WTO, Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu trong chiến lược thu hút FDI cũng như khuyến khích các công ty xuyên quốc giao đầu tư công nghệ vào các công ty nội địa Nghiên cứu này đã chỉ ra nhiều thành tựu mà Trung Quốc đạt được Tuy nhiên, các số liệu đề cập là những số liệu cũ và chưa được cập nhật

Trang 10

Luận văn thạc sỹ của tác giả Xiaoying Qiu “Technology transfer in Chinese automobile industry” nghiên cứu về quá trình chuyển giao công nghệ trong ngành công

nghiệp ô tô của Trung Quốc thị trường ô tô của Trung Quốc là một thị trường tiềm năng, thu hút nhiều hãng ô tô của nước ngoài Trong khi đó, ngành công nghiệp sản xuất ô tô của nước này vẫn chưa phát triển như mong đợi Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ các nghiên cuộc nghiên cứu và phỏng vấn, đánh giá sự phụ thuộc và khả năng học hỏi của Trung Quốc trong công nghệ sản xuất của ngành này Kết quả cho thấy, mặc dù có những chính sách thu hút FDI và khuyến khích chuyển giao công nghệ, song khả năng học tập và hấp thụ công nghệ của Trung Quốc vẫn còn nhiều yếu kém Ngành chế tạo ô tô của Trung Quốc vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào các công ty liên doanh và chính điều này ảnh hưởng đến việc hình thành một ngành công nghiệp sản xuất ô tô vững chắc, có sức cạnh tranh cao với các nước khác của Trung Quốc

Nghiên cứu về vấn đề chuyển giao công nghệ của các TNCs vào doanh nghiệp nội địa Trung Quốc và các chính sách của chính phủ nhìn chung đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này còn chưa đề cập sâu và chưa có nhiều công trình trực tiếp đề cập đến Mặc khác, các đề tài đi trước đã tiến hành từ lâu

và số liệu chưa được cập nhật Trong khi đó, thế giới biến động không ngừng và thay đổi từng ngày, từng giờ Do vậy, việc cập nhật tình hình phát triển của các TNCs vào Trung Quốc nói chung cũng như nghiên cứu lại các chính sách, thành tựu của Trung Quốc trong việc thúc đẩy các doanh nghiệp TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước nói riêng là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn

Trang 11

KHUNG KHỔ LÝ THUYẾT CHƯƠNG 3:

3.1 Các khái niệm cơ bản

3.1.1 Khái niệm về công ty xuyên quốc gia – Transnational Corporations (TNCs)

Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay TNCs đã có sự phát triển bùng nổ

cả về quy mô, về phương thức hoạt động và ảnh hưởng ngày càng sâu sắc đến nền kinh

tế thế giới

Trong các tài liệu về TNCs các nhà khoa học đã đề cập tới nhiều thuật ngữ như: Công ty quốc tế ( International Enterprise/Firm), Công ty đa quốc gia (Multinational Corporation/ Enterprise- MNC/MNE) và Công ty xuyên quốc gia ( Transnational Corporation - TNC) và gần đây thuật ngữ Công ty toàn cầu (Global Firm) được sử dụng khá phổ biến Vậy giữa những thuật ngữ này có sự khác biệt nào? Sử dụng thuật ngữ nào là hợp lý nhất?

Trong những năm 1960, thuật ngữ công ty quốc tế cà công ty đa quốc gia được

sử dụng với ý nghĩa như nhau, nhưng nhìn chung thuật ngữ công ty quốc tế được sử dụng phổ biến hơn nhằm phản ánh sự lớn mạnh của công ty đã vượt khỏi lãnh thổ quốc gia và có hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều nền kinh tế trên thế giới

Đầu thập niên1970, khái niệm “công ty đa quốc gia” được các nhà nghiên cứu bàn thảo nhiều hơn và trong chừng mực nhất định có ý định phân định khái niệm này với khái niệm “công ty quốc tế” Đa số các ý kiến trong giai đoạn này thiên về khái niệm “công ty đa quốc gia” vì khái niệm này phản ánh đầy đủ hơn những xu thế mới và thực tiễn phát triển của công ty đa quốc gia Trong thời kỳ này, cơ cấu tổ chức và hoạt động của MNE chuyển sang cơ chế phi tập trung, kinh doanh đa ngành của MNE Quá trình ra quyết định về các hoạt động của công ty không còn độc quyền từ một chủ sở hữu ở chính quốc mà người nước ngoài cũng được tham gia quản lý, điều hành Vì vậy

cơ cấu tổ chức và hoạt động của MNE không chỉ mang tính quốc tế mà còn mang đậm nét đa quốc gia

Trang 12

Gần đây nhất, năm 1998, trong Báo cáo Đầu tư thế giới 1998, Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển đã nêu một định nghĩa về TNC cụ thể hơn: Công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm các công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng ở nước sở hữu và các công ty con của chúng ở nhiều nước trên thế giới.Như vậy, theo các thuật ngữ đã nêu, bản chất của TNCs và MNEs là giống nhau, đều là những công ty có quy mô lớn về tài sản, phạm vi hoạt động ở nhiều nước và tìm kiếm lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu Sự khác nhau về tên gọi chỉ là sự phản ánh đặc điểm phát triển trong từng thời kỳ tăng trưởng của TNCs

Một TNC là một công ty có quyền lực để phối hợp và quản lý hoạt động tại nhiều hơn một quốc gia, ngay cả khi công ty này không sở hữu các hoạt động đó" (Peter Dicken, 1998)

3.1.2 Khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ

3.1.2.1 Khái niệm công nghệ:

Công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể Công nghệ cũng có thể chỉ đến một tập hợp những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động

Trang 13

vật khác vào môi trường tự nhiên của mình Thuật ngữ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể, ví dụ như "công nghệ xây dựng", "công nghệ thông tin"

Theo Luật Chuyển giao Công nghệ (2006): “Công nghệ là giải pháp, quy trình,

bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”

UNCTAD (1972) đưa ra định nghĩa “công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hoá được thể hiện

ở những dạng sau:

+ Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn vớí các quyết định đầu tư

+ Nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình

độ cao và chuyên môn sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin

+ Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền

3.1.2.2 Khái niêm chuyển giao công nghệ:

Chuyển giao công nghệ (theo luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam) là chuyển giao quyền sở hữu hay sử dụng một phần hay toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao sang bên nhận Trong đó:

Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: là việc chủ sở hữu công nghệ chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ cho tổ chức, cá nhân khác Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

Trang 14

Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ: tổ chức, cá nhân cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ của mình

Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm: + Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ

+ Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệ cho bên thứ ba

+ Lĩnh vực sử dụng công nghệ

+ Quyền được cải tiến công nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến công nghệ + Độc quyền hoặc không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra

+ Phạm vi lãnh thổ được bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra + Các quyền khác liên quan đến công nghệ được chuyển giao

Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

Tuy nhiên, hiện nay, chưa có định nghĩa thống nhất về chuyển giao công nghệ Ngay trong hiệp định về sở hữu trí tuệ TRIPS cũng không đưa ra được rõ ràng và cụ thể thế nào là chuyển giao công nghệ Trong 22 quốc gia cung cấp báo cáo cho hội đồng TRIPS, chỉ có 5 quốc gia (23%) đưa ra được định nghĩa về chuyển giao công nghệ Ví dụ, New Zealand đưa ra định nghĩa trong bản báo cáo cho hội đồng TRIPS về chuyển giao công nghệ bao gồm: cả đào tạo, giáo dục, phương thức và cách thức cùng với thành phần vốn Nước này đưa ra 4 dạng về chuyển giao công nghệ bao gồm: vật thể vật lý hay các thiết bị; kỹ năng và các khía cạnh liên quan đến con người trong quản lý và học hỏi công nghệ; những bản thiết kế, kế hoạch tạo nên kiến thức dựa trên tài liệu về thông tin và công nghệ; sản phẩm liên quan đến công nghệ được sản xuất, vận hành

Trang 15

Như vậy, định nghĩa về chuyển giao công nghệ hiện nay đã được mở rộng ra rất nhiều, bao gồm: mua bán về công nghệ, liên quan đến FDI, liên kết kinh doanh giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển và kém phát triển về đào tạo kỹ năng

và nâng cao tay nghề, bao gồm cả cung cấp học bổng và cơ hội học tập trong lĩnh vực

về công nghệ, các chương trình hỗ trợ giáo dục, cung cấp vốn kinh doanh và bảo hiểm rủi ro kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ, xây dựng các chương trình công nghệ và các dự án phụ trợ, gửi các tình nguyện viên có kỹ năng trong lĩnh vực công nghệ tới nước khác…

3.2 Vai trò của TNCs đối với phát triển công nghệ ở các nước nhận đầu tư

Các TNCs đã có những tác động to lớn đối với sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung cũng như các nền kinh tế của các quốc gia nói riêng Những tác động đó được thể hiện qua hoạt động thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ Trong chiến lược cạnh tranh, các công ty xuyên quốc gia luôn coi công nghệ là yếu tố quan trọng, giữ vị trí hàng đầu Do đo, thúc đẩy đổi mới công nghệ bằng hoạt động Nghiên cứu và phát triển (R&D) là nhiệm vụ sống còn của các công ty Đi đầu trong đổi mới công nghệ đồng nghĩa với nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giữ vị trí độc quyền

3.2.1 TNCs là chủ thể chính trong phát triển công nghệ thế giới

Ngày nay, nhận thức của các TNCs về khoa học công nghệ đã chuyển biến Nếu như trước đây, các TNCs thường đầu tư lớn cho các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu để các cơ sở này tạo ra các phát minh sáng chế này Tại các TNCs đang diễn ra quá trình quốc tế hoát hoạt động R&D một cách mạnh mẽ Công nghệ mới ra đời không chỉ

từ các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu, các trường đại học mà còn từ chính các

cơ sở sản xuất của TNCs Thí dụ Motorola đã thiết lập hệ thống R&D của mình bao gồm 14 cơ quan tại 7 quốc gia, tập đoàn Bristol Myer Squibb có 12 cơ sở hoạt động R&D tại 6 quốc gia

Trang 16

Bước chuyển quan trọng trong chính sách hoạt động R&D của công ty đã có những thay đổi căn bản Nếu trước đây các công ty đầu tư cao cho công tác R&D tại công ty mẹ thì nay đang thực hiện chính sách phi tập trung hoá do một số lý do sau:

Thứ nhất: tiềm năng về tri thức không chỉ bó hẹp trong một vài công ty hoặc một nước nào đó Như vậy, để tiếp cận với tiềm năng này các công ty phải thiết lập thêm nhiều cơ sở hoạt động R&D mới Tại những khu vực đó, các công ty có thể làm giầu thêm nguồn tri thức bằng việc mở rộng hoạt động R&D, đồng thời tiếp thu thành quả

từ các đối thủ cạnh tranh

Thứ hai: Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu để chiếm lĩnh thị trường các công ty buộc phải đưa sản phẩm ra thị trường càng nhanh càng tốt nên buộc các TNCs phải thực hiện R&D ở nước ngoài Ví dụ, hoạt động R&D của Mỹ đối với các chi nhánh ở nước ngoài tăng rất nhanh Từ năm 1985 đến 1995 tăng 3-4 lần trong khi doanh số tăng 2,5 lần và lao động tăng 1,7 lần

Các hoạt động R&D thường tập trung tại những khu vực dồi dào nguồn tri thức

Ví dụ năm 1994 khoảng 90% các nghiên cứu do các chi nhánh TNCs của Mỹ thực hiện

ở những nước công nghiệp phát triển.Microsoft đã thành lập một phòng nghiên cứu tại Anh để thuê lao động khoa học với chi phí rẻ hơn

Bước vào thiên niên kỷ mới, tầm quan trọng của khoa học công nghệ đối với việc phát triển kinh tế xã hội một lần nữa lại thu hút sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia và các doanh nghiệp sự thay đổi mau chóng của công nghệ đang tạo ra nền sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn Trong năm 1985-1998 hàng hoá chế tạo có hàm lượng khoa học cao tăng 21.4%, hàng hoá có hàm lượng khoa học công nghệ trung bình tăng 14.3% Như vậy, nhờ tiếp thu khoa học công nghệ mà giá trị gia tăng của hàng hoá xuất khẩu qua chế biến của các nước đang phát triển đạt tỷ lệ tăng trưởng cao Muốn có lợi nhuận cao, các quốc gia đã tăng cường đầu tư cho R&D Các quốc gia như Mỹ và Nhật Bản đầu tư cho hoạt động R&D 3% GDP, Đức và Pháp là 2.3% ; Singapore là 1.1% Mức đầu tư bình quân đầu người cho R&D cao nhất là Nhật Bản (1.200USD),

Mỹ (680USD), Đức (625USD), Pháp (575USD), Singapore (262 USD) Hàn Quốc là

Trang 17

quốc gia theo đuổi chiến lược công nghệ cao và đặt mục tiêu đến năm 2010 trở thành 1 trong 10 nước đứng đầu về khoa học công nghệ

Trong các ngành hưởng lợi từ các hoạt động R&D thì ngành công nghệ thông tin đứng hàng đầu Mức đầu tư cho công nghệ thông tin của Mỹ hàng năm là 8% GDP, Nhật Bản là 7%, Hàn Quốc 6%, Pháp và Đức là 4%

Các TNCs không chỉ đầu tư cho hoạt động R&D bằng chính sức lực của mình

mà chúng còn nhận được sự hỗ trợ về nhiều mặt từ chính phủ của các nước tư bản Ví

dụ chính phủ Nhật Bản giúp 6 công ty lớn là Fujisu, Hitachi, Mitshubishi, Kinzonku, Nihondenki và Toshiba cùng nghiên cứu kỹ thuật siêu mạch Trong khuôn khổ chiến lược phát triển công nghệ, TNCs cũng thiết lập các mối liên kết với các trung tâm nghiên cứu và viện nghiên cứu

3.2.2 Vai trò TNCs với hoạt động chuyển giao công nghệ

Ngày nay, công nghệ đóng vai trò quyết định đối với sự sống còn của các công

ty Các công ty nói chung, đặc biệt là các TNCs luôn coi công nghệ là yếu tố giữ vị trí hàng đầu Công nghệ là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giữ thế độc quyền Do đó, trong quá trình thực hiện đầu tư ra nước ngoài các TNCs thường có những phương thức và những kênh riêng để thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ của mình

 Phương thức chuyển giao

Không chỉ nắm giữ trong tay phần lớn công nghệ tiên tiến của thế giới TNCs còn biết cách sử dụng và khai thác các công nghệ đó một cách có hiệu quả nhất nhằm duy trì vị trí độc quyền trên thị trường, mở rộng phạm vi ảnh hưởng và khả năng lũng đoạn thị trường Mục tiêu đó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của TNCs và được thể hiện rất rõ trong chính sách chuyển giao công nghệ của chúng Phương thức chuyển giao của TNcs thường phân làm nhiều cấp độ, cụ thể như sau:

+ Thứ nhất: Các công nghệ hiện đại nhất

Trang 18

Đối tượng chuyển giao công nghệ này thường là các chi nhánh trong nội bộ hệ thống TNCs tại các nước phát triển Các chi nhánh này có đủ điều kiện về trình độ công nghệ, cơ sở vật chất và nhân sự để tiếp thu va khai thác có hiệu quả công nghệ hiện đại Mặt khác, mặt bằng công nghệ của đối thủ cạnh tranh tại các nước phát triển

ở mức cao Do đó, chỉ với công nghệ tiên tiến nhất các TNCs mới có thể chiếm được lợi thế cạnh tranh Với chính sách này, công nghệ mới được khai thác triệt để nhằm thiết lập vị trí độc quyền cho toàn bộ hệ thống TNCs trên khắp các thị trường Đồng thời công nghệ hiện đại được kiểm soát chặt chẽ, tránh được nguy cơ rò rỉ

Tuy nhiên, loại công nghệ này lại tuỳ thuộc vào việc chi nhánh đó có tham gia vào hoạt động R&D hay không Nếu các chi nhánh không tham gia hoạt động R&D thì công nghệ được chuyển giao chỉ liên quan đến hoạt động sản xuất và một số hoạt động khác như marketing, tổ chức…Nếu chi nhánh có tham gia hoạt động R&D ở mức độ tích hợp hoá sản phẩm với thị trường địa phương thì công nghệ được chuyển giao dưới dạng các thông số kỹ thuật tức là các chỉ dẫn cụ thể cho việc đưa sản phẩm vào thị trường cụ thể Nếu chi nhánh thực hiện hoạt động R&D với tư cách là một bộ phận cấu thành của mạng lưới R&D toàn cầu của TNCs thì công nghệ được chuyển giao là những công nghệ thiết yếu với đặc trưng của hoạt động chuyển giao là sự trao đổi thông tin hai chiều

+ Thứ hai: Công nghệ hạng hai

Những công nghệ hạng hai không còn mới, không còn đem lại lợi thế cạnh tranh cho các TNCs thường được chuyển giao cho các công ty liên doanh hoặc các công ty nằm ngoài hệ thống TNCs tại các nước đang phát triển Lý do mà các TNCs chuyển giao công nghệ hạng hai này cho các nước đang phát triển không chỉ bắt nguồn từ chiến lược của TNCs trong việc khai thác lợi ích của công nghệ mà còn vì các công nghệ đó phù hợp với khả năng tài chính và trình độ của các nước này Ngay cả khi các TNCs có công nghệ hiện đại để chuyển giao thì nhiều nước đang phát triển này cũng không có khả năng khai thác hiệu quả công nghệ đó Hơn nữa, do mặt bằng công nghệ

Trang 19

của các đối thủ cạnh tranh tại các quốc gia này chưa cao nên cũng không đòi hỏi công nghệ hàng đầu

Trong chính sách này, ngay cả khi công nghệ đã hao mòn vô hình, không còn mới nữa thì TNCs vẫn duy trì chính sách chuyển giao cầm chừng nhằm duy trì sự phụ thuộc của đối tác và giữ quyền kiểm soát đối với công nghệ Với chính sách đó, TNCs chỉ chuyển giao từng phần một và luôn giữ lại những yếu tố quan trọng nhất trong dây truyền công nghệ như những bí quyết cơ bản để khống chế nước chủ nhà Ví dụ các TNCs Nhật Bản thường chuyển giao những công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu sang các nước NICs Do đó, dù các doanh nghiệp của các nước NICs không thể phát triển vượt xa các TNCs của Nhật Bản và giúp cho nước này luôn giữ vị trí là “con nhạn đầu đàn” trong mô hình “đàn nhạn bay” ở châu Á

 Các kênh chuyển giao công nghệ:

Các TNCs thường chuyển giao công nghệ qua các kênh chính sau:

+ Đầu tư trực tiếp: FDI chính là công cụ quan trọng nhất phục vụ cho hoạt động chuyển giao công nghệ bởi nó cho phép các TNCs thực hiện chuyển giao công nghệ ở mọi cấp độ một cách hiệu quả nhất mà vẫn đảm bảo được quyền kiểm soát công nghệ Chuyển giao công nghệ thông qua việc xây dựng các công ty liên doanh với nước ngoài là một trong những phương thức tồn tại của TNCs

+ Đầu tư phi cổ phần: Các hình thức như cấp phép, hoạt động quản lý và marketing… cho phép TNCs khai thác công nghệ mà không cần phải tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất đồng thời bên nhận công nghệ có được công nghệ mà không ảnh hưởng đến quyền điều hành hoạt động sản xuất Đây là hình thức chuyển giao công nghệ phổ biến tại các nước đang phát triển tại Châu Ávà Mỹ La Tinh Đặc biệt là từ những năm

80 trở lại đây khi các nước này thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư

+ Liên minh liên kết: Ngày nay, do chi phí và lợi ích từ việc trao đổi song phương giữa các TNCs nên các TNCs thường liên kết với nhau trong hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ Trong các ngành công nghiệp mới như: công nghệ sinh học, điện tử,

Trang 20

hàng không, vũ trụ… Mức độ rủi ro cao, chi phí cho hoạt động R&D lớn khiến các TNCs đơn lẻ khó có thể thực hiện được Do đó, chúng đã thiết lập quan hệ hợp tác với các công ty nằm ngoài hệ thống sản xuất của mình để nghiên cứu, triển khai và chuyển giao công nghệ Có thể lấy liên minh IBM với các TNCs khác trong việc phát triển máy tính cá nhân: trong liên minh đó, công ty Lotus Corporation cung cấp phần mềm ứng dụng, Microsoft thiết kế hệ thống điều hành cho bộ vi xử lý còn Intel thực hiện hoạt động sản xuất Hitachi của Nhật Bản đã liên minh với Golstar của Hàn Quốc…Trong một liên minh như vậy sự phối hợp các công nghệ đặc trưng của từng TNCs đã tạo ra những sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh rất cao Cũng chính qua đó mà các TNCs đã chuyển giao công nghệ cho nhau

Có thể nói liên minh liên kết công nghệ là kênh chuyển giao của những công nghệ cao giữa các TNCs có đẳng cấp tương đồng Đây cũng là kênh chuyển giao rất an toàn, đảm bảo sự bảo vệ của một tập thể các TNCs trong liên minh

Ngoài các kênh chuyển giao công nghệ trên còn có một số kênh không chính thức chẳng hạn do rò rỉ thông tin từ việc thuyên chuyển nhân sự (những người đã được đào tại tại các TNCs có công nghệ cao chuyển sang làm cho các đối thủ cạnh tranh, chuyển từ các công ty có vốn nước ngoài sang công ty trong nước hay tự thành lập công ty riêng…)

Như vậy TNCs đóng vai trò rất to lớn trong việc phát triển kinh tế thế giới thông qua việc phát triển công nghệ Thông qua hoạt động sản xuất, thương mại các TNCs đã không ngừng có những phát minh, sáng chế và phổ biến những kinh nghiệm về quản

lý, các ý tưởng mới, và các sáng tạo khác trên phạm vi toàn cầu Có thể nói tính sáng tạo là đặc trưng riêng của TNCs mà không tổ chức nào có được Tuy nhiên, quá trình chuyển giao công nghệ thường đi kèm với quá trình độc quyền hoá Do đó, các nước đang phát triển trong quá trình tiếp nhận TNCs cần nhận thức rõ vai trò của TNCs đồng thời có những đối sách thích hợp để vừa phát huy tối đa tác dụng tích cực của TNCs đối với nền kinh tế vừa hạn chế sự kìm hãm của chúng

Trang 21

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4:

Trong nền kinh tế toàn cầu dựa trên tri thức, công nghệ đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế Các mối quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với với tăng cường chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển, cũng như công nghệ của mình khả năng, đã tăng lên WTO đã thành lập một nhóm công tác chuyên trách nghiên cứu về mối quan hệ giữa Thương mại và Chuyển giao công nghệ năm 2001 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, gần như tất cả các chính phủ trên thế giới đã áp dụng một số loại chính sách công nghệ với mục tiêu thúc đẩy đổi mới trong nước và tăng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài Và chuyển giao công nghệ thường thành công nhất khi thực hiện thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài Và các chính sách tích cực, năng động của mỗi quốc gia chính là những yếu tố xúc tác quan trọng nhất mang lại sự thành công của quá trình chuyển giao công nghệ thông qua FDI

Từ những năm 1980, Trung Quốc đã chuyển sang một chiến lược quốc tế hóa với định hướng thúc đẩy chuyển giao công nghệ nước ngoài vào trong nước (Technology Transfer in Exchange for Domestic Market - TTEDM) Chính sách này thực hiện thông qua hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhắm vào việc thu hút nước ngoài doanh nghiệp có vốn (FFEs) để chuyển giao công nghệ tiên tiến cho Trung Quốc, và gặt hái được lợi ích lan toả

Chiến lược này đã giúp Trung Quốc gặt hái được nhiều thành công Nền công nghiệp trong nước cảu Trung Quốc được tăng cường khả năng tự lực cánh sinh Chiến lược quốc tế hóa với định hướng đựa công nghệ tiên tiến từ các TNCs vào để nâng cấp ngành công nghiệp truyền thống và từng bước xây dựng ngành công nghệ mới đạt được nhiều thành công

Với sự phát triển của các cuộc đàm phán đa phương trong khuôn khổ WTO, các hiệp định TRIPs, TRIMS liên quan tới chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ đã ra đời và buộc chính phủ các nước thành viên phải có những nỗ lực hơn nữa để can thiệp trực tiếp vào sự tiến bộ công nghệ mỗi nước Trước bối cảnh đó, Trung Quốc hiện nay

Trang 22

nghệ thông qua cả thương mại và FDI, và dự định sẽ xây dựng tại địa phương về công nghệ khả năng để nâng khả năng hấp thụ và phổ biến công nghệ trong phạm vi cả nước

4.1 Sự phát triển của chính sách chuyển giao công nghệ ở Trung Quốc

Trước năm 1978, khi Trung Quốc chưa thực hiện chính sách mở cửa với nguồn vốn FDI, kênh chính phục vụ chuyển giao công nghệ từ nước ngoài được thông qua việc nhập khẩu các dự án, dây chuyền lắp ráp từ nước ngoài mà chủ yếu là mua từ Liên

Xô cũ trong những năm 1950, từ Tây Âu và Nhật bản trong những năm 1960 và 1970

Từ những năm 1980, Trung Quốc thực thi chính sách mở cửa và FDI dần dần trở thành kênh chủ đạo của quá trình chuyển giao công nghệ So với công nghệ chuyển từ thị trường một cánh tay, được gọi là công nghệ ra ngoài chuyển giao, hợp đồng chuyển giao công nghệ vào nội bộ thông qua FDI của TNCs có một số lợi thế:

- Thứ nhất, nó có thể tránh được những hạn chế của sự khan hiếm ngoại hối

- Thứ hai, chuyển giao công nghệ vào nội địa tốt hơn so với việc cung cấp kỹ thuật ngầm

- Thứ ba, công nghệ nhất định, đặc biệt là công nghệ mới, có thể chỉ đạt được thông qua việc chủ sở hữu công nghệ bán các công nghệ đó theo các thỏa thuận mà họ

có thể có kiểm soát chặt chẽ hơn những công nghệ được bán ra

Nhận thức được lợi ích của FDI và phải đối mặt với sự thật rằng Trung Quốc vẫn khan hiếm tài nguyên ngoại hối trong suốt những năm 1980, và thực tế là phần lớn các công nghệ áp dụng trên toàn ngành công nghiệp ở Trung Quốc đã quá lỗi thời và cần mở rộng nâng cấp, vào cuối năm 1980, chính phủ Trung Quốc đã thông qua chiến lược "khuyến khích TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa" Nó khuyến khích chuyển giao công nghệ tiên tiến từ các TNC, bằng cách trao đổi các điều kiện có lợi cho họ khi tham gia vào thị trường trong Trung Quốc

4.2 Chiến lược của Trung Quốc trong việc thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ trong cho doanh nghiệp trong nước

Trang 23

Chiến lược thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước được xây dựng nhằm thu hút mạnh mẽ công nghệ tiên tiến của và khai thác các hiệu ứng lan tỏa của FDI

4.2.1 Các cải cách thương mại và chiến lược thu hút FDI

Dòng vốn FDI vào Trung Quốc có thể được phân thành hai loại: định hướng xuất khẩu và nhập khẩu thay thế

FDI định hướng xuất khẩu đề cập đến những khoản đầu tư được thu hút chủ yếu bằng lao động dồi dào của Trung Quốc giá rẻ và các đầu vào khác như đất đai, và sử dụng Trung Quốc là một nền tảng xuất khẩu với thị trường quốc tế như thị trường mục tiêu của họ Nhóm này bao gồm nhiều doanh nghiệp nhỏ từ nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) của Đông Nam Á, Hồng Kông nói riêng Họ thường tập trung vào các ngành công nghiệp thâm dụng lao động Công ty mẹ của loại hình này thường không đi đầu trong đổi mới cũng như chuyển giao công nghệ, sản xuất theo định hướng xuất khẩu và cung cấp công nghệ ở một mức độ vừa phải cho mạng lưới sản xuất trong nước được đầu tư FDI định hướng xuất khẩu có đóng góp hạn chế chuyển giao công nghệ tiên tiến và nâng cấp cơ cấu kinh tế của Trung Quốc

FDI định hướng thay thế nhập khẩu chủ yếu là từ các TNC lớn có trụ sở tại các nước phát triển Sự hấp dẫn của Trung Quốc cho các loại hình FDI này dựa trên tiềm năng to lớn của thị trường Trung Quốc Các công ty liên doanh được thành lập với chiến lược sản xuất cung cấp cho thị trường trong nước và tăng cạnh tranh với các đối thủ Nhóm này đầu tư có xu hướng đầu tư vào các ngành thâm dụng vốn và đòi hỏi công nghệ cao

Chiến lược thúc đẩy TNCs chuyển giao công nghệ vào trong nước nhắm vào các nguồn vốn FDI theo định hướng thay thế nhập khẩu Nguyên nhân là vì các nguồn vốn này sẽ mang lại hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế Trung Quốc nói chung và cho việc cải tiến công nghệ nói riêng Chuyển giao công nghệ vào trong nước giúp các doanh nghiệp nội địa tiếp cận công nghệ nhanh hơn, đặc biệt là các công nghệ mới, sáng tạo Hơn nữa, nó cho phép doanh nghiệp nội địa tiếp cận trự tiếp các cải tiến công nghệ từ

Trang 24

công ty mẹ, khi công nghệ của công ty mẹ thay đổi, các công ty con cũng được cập nhật nhanh chóng

Thứ hai, mặc dù chuyển giao công nghệ vào trong doanh nghiệp trong nước không có thể dẫn đến việc nâng cấp công nghệ ngay lập tức nhưng bằng việc tham gia vào mạng lưới sản xuất của các TNCs, doanh nghiệp trong nước có thể phát triển năng lực trên diện rộng và tăng cường sưc mạnh công nghiệp địa phương Sự lan truyền công nghệ vào các nền kinh tế địa phương có thể lớn hơn như một hệ quả của tác động này

Thứ ba, khi tiến hành chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa, các TNCs có cơ hội tiếp cận thị trường nội địa rộng lớn của Trung Quốc và có thể giành được thị phần lớn hơn trong thị trường khổng lồ này

4.2.2 Các công cụ chính sách của Chiến lược TTEDM

Các công cụ chính sách của chiến lược thúc đẩy các TNCs chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước bao gồm một số chính sách chủ yếu:

4.2.2.1 Các ưu đãi đối với nhà đầu tư:

Ưu đãi trực tiếp theo hướng công nghệ cao bao gồm FDI ưu đãi về thuế và các đặc quyền Ưu đãi thuế chủ yếu là trong các hình thức giảm thuế thu nhập doanh

nghiệp và giảm thuế, miễn thuế hải quan, miễn giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) cho nhập khẩu Ngoài việc giảm thuế và miễn thuế thường được cấp cho FFEs (Foreign Funder Enterprises), công ty nước ngoài giới thiệu công nghệ tiên tiến được cho thêm

ưu đã về thuế suất và thời hạn miễn thuế, được phép bán sản phẩm của mình đến địa phương người sử dụng thông qua một chương trình thay thế nhập khẩu, và được tiếp cận tốt hơn với các khoản vay ngân hàng và các nguồn lực địa phương Tiền bản quyền được nhận bởi FFEs trong việc cung cấp công nghệ được trích thuế suất thấp hơn Thiết bị nhập khẩu như là một phần không thể thiếu của chuyển giao công nghệ thỏa thuận được miễn thuế VAT và hải quan Ngoài ra, Trung Quốc còn có các ưu đãi về

Trang 25

thuế, bao gồm cả khấu hao nhanh các khoản đầu tư vào các cơ sở R&D và giảm thuế trên lợi nhuận từ đầu tư vốn mạo hiểm ở dựa trên công nghệ mới

Mặt khác, Trung Quốc đã gia tăng chi tiêu trong 17 lĩnh vực mà các tổ chức nghiên cứu của nhà nước và các doanh nghiệp của hợp tác, ngân hàng cung cấp các khoản vay giá rẻ, và tài trợ đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của công nghệ trong nước có thể thay thế nhập khẩu

Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung Quốc là chính sách thuế Trung Quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: Hợp tác liên doanh, 100% vốn nước ngoài cho 14 thành phố ven biển Liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho các địa phương Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì thuế lợi tức

từ 20 – 40% và 10% cho địa phương

Trung Quốc có chính sách ưu đãi về thuế suất đối với doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp công nghệ cao mới theo đó, thuế suất đối với doanh nghiệp nhỏ là 20% Chính sách ưu đãi căn cứ theo tiêu chí về số lao động, doanh thu và tổng tài sản

Về thuế xuất nhập khẩu, Trung Quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như: máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa và góp vốn liên doanh hoặc các máy móc, thiết bị, vật liệu do bên nước ngoài đưa vào khai thác dầu khí, đưa vào xây dựng phát triển năng lượng, đườngsắt, đường bộ, đưa vào các khu chế xuất…

Trung Quốc cũng cho phép: (i) miễn thuế trong 1 năm đầu có lãi và giảm 50%

số thuế phải nộp trong 2 năm tiếp theo đối với các ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, các liên doanh góp vốn cổ phần hoạt động tại các khu phát triển công nghệ mới và công nghệ cao, hoặc tại các đặc khu kinh tế có thời gian hoạt động từ 10 năm trở lên; (ii) miễn thuế trong 2 năm đầu có lãi và 50% số thuế phải nộp cho 3 năm tiếp theo đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 10 năm trở lên trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc tại các địa bàn có điệu kiện kinh tế khó khăn, hoặc các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; (iii) miễn thuế trong 5 năm đầu có lãi và giảm 50%

số thuế phải nộp cho 5 năm tiếp theo đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động

Trang 26

từ 15 năm trở lên trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cảng, cầu tàu, giao thông vận tải, năng lượng, hoạt động trong các đặc khu kinh tế

Trong chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, Trung Quốc vừa khuyến khích thu hút nguồn vốn vừa và nhỏ, vừa đặt trọng điểm vào thu hút nguồn vốn lớn đầu

tư của TNCs

Trên cơ sở chính sách “Lấy thị trường đổi lấy kỹ thuật”, Chính phủ cho phép TNCs chiếm lĩnh một phần thị trường trong nước thông qua các hình thức thâm nhập: liên doanh, mua bán, sáp nhập… Trên cơ sở Hệ thống luật được thống nhất, Chính phủ Trung Quốc cho phép các địa phương độc lập trong cách triển khai thực hiện luật trên tiêu chí khuyến khích luồng vốn đầu tư của TNCs Trung Quốc thực hiện phân cấp cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp phép đầutư

Cùng với việc nâng cao trình độ phát triển kinh tế, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, các biện pháp thu hút nguồn vốn nước ngoài của Trung Quốc dần chuyển hướng từ dựa vào chính sách ưu đãi thuế sang dựa vào môi trường đầu tư

và thị trường mở

Bên cạnh những động lực trực tiếp ở trên để khuyến khích chuyển giao công nghệ của các TNCs, Trung Quốc nỗ lực cải thiện hệ thống văn bản pháp luật mà quan trọng nhất là tăng cường pháp luật về sở hữu trí tuệ Trung Quốc bắt đầu xây dựng hệ

thống pháp luật về sở hữu trí tuệ từ đầu những năm 1980, và nhanh tiến độ vào cuối năm 1980 và đầu những năm 1990 khi thực hiện chuẩn bị cho việc gia nhập WTO Các sửa đổi và cải tiến theo yêu cầu của TRIPs cũng được Trung Quốc tiến hành ngay cả khi chưa là thành viên của WTO cho đến năm 2001 Việc sửa đổi luật, quy định và quy tắc tạo ra một phạm vi bảo vệ rộng lớn hơn, bảo vệ mạnh mẽ hơn cho các chủ sở hữu quyền SHTT Những sửa đổi phù hợp đã đảm bảo tính thống nhất của nó với TRIPs của WTO Ngoài ra, Trung Quốc cũng tham gia một các công ước quốc tế lớn về các hiệp định bảo hộ sở hữu trí tuệ ngay từ những năm 1980

4.2.2.2 Các yêu cầu đối với đầu tư

Trang 27

Đối với các doanh nghiệp đầu tư vào thị trường nội địa, Trung Quốc cũng đặt ra những yêu cầu nhất định:

Với mục tiêu khai thác công nghệ tiên tiến nhằm đạt hiệu ứng lan tỏa từ FDI,

các TNCs đầu tư vào Trung Quốc phải tuân theo những yêu cầu về vốn chủ sở hữu của địa phương, yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, cân bằng nhu cầu thương mại và hạn chế ngoại hối, chuyển giao một số công nghệ theo yêu cầu cho doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc… Nhiều công ty nước ngoài với lo sợ rò rỉ bí quyết công nghệ thường tránh các quy định này và chỉ đầu tư vào các công ty con của họ ở nước nhận đầu tư Do vậy, Trung Quốc quy định nghiêm ngặt về tỷ lệ vốn chủ sở hữu tại địa phương Các yêu cầu

về ngoại hối và cân bằng thương mại nhằm mục đích yêu cầu các TNCs tiến hành mua sắm tại địa phương Với những yêu cầu bắt buộc như vậy, FFEs phải phần tìm kiếm nguồn cung cấp từ các nguồn địa phương Để mua sắm các yếu tố đầu vào có chất lượng, FFEs thường sẵn sàng để cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà cung cấp địa phương với chi phí thấp hoặc cho miễn phí Như vậy bằng cách khuyến khích các mối liên kết giữa FFEs và địa phương sản xuất, công nghệ tiên tiến được cung cấp cho địa phương với chi phí thấp bởi các FFEs, tạo ra sự chuyển giao công nghệ và đạt được hiệu ứng lan tỏa nhất định

Hệ thống hành chính: Nhằm khuyến khích đầu tư và chuyển giao công nghệ, hệ

thống hành chính và các văn bản quy định về đầu tư nước ngoài của Trung Quốc cũng được điều chỉnh Nó có chức năng trong quá trình ra quyết định liên quan đến cấp phép các hợp đồng đầu tư nước ngoài bằng cách chọn lọc và hạn chế Các dự án FDI của các TNCs có cung cấp công nghệ tiên tiến thường được ưu tiên cấp phép

4.2.2.3 Chính sách của Trung Quốc về quyền sở hữu trí tuệ

Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, về phía Hiệp định TRIPs, Trung Quốc

đã đưa ra nhiều cam kết thực hiện các điều khoản của Hiệp định Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO vào tháng 12 năm 2001, có nhiều đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về tình hình thực hiện quyền SHTT ở nước này Song, nhìn chung, Trung

Trang 28

Quốc đã có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT nhằm thực hiện các cam kết của mình thông qua các biện pháp khác nhau

- Tăng phổ bao quát các quy định về SHTT

Xét về tính đầy đủ trong thực thi Hiệp định TRIPs, Trung Quốc đã tham gia vào tất cả các điều ước quốc tế liên quan trong khuôn khổ Hiệp định này Để hỗ trợ cho đàm phán gia nhập WTO về lĩnh vực quyền SHTT, Trung quốc đã củng cố cơ chế về quyền SHTT của mình Từ năm 1991, nước này đã cải thiện đáng kể chế độ bảo hộ quyền SHTT bằng việc ban hành những luật lệ mới về bản quyền, phát minh sáng chế, nhãn hiệu thương mại và bí mật thương mại Trung Quốc cũng gia nhập một số công ước về quyền SHTT như Công ước Berne và Công ước về Bản quyền quốc tế, Công ước Gieneva, Hiệp định về hợp tác phát minh và Thỏa ước Madrid về Bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa Ngoài ra, Trung quốc và Mỹ cũng đã ký một loạt hiệp định trong giai đoạn 1992-1996 nhằm tăng cường nghĩa vụ của Trung Quốc về bảo vệ quyền tác giả như Hiệp định về tăng cường bảo hộ phát minh và bản quyền năm 1992, Hiệp định về tăng cường quyền SHTT năm 1995,… Trong các cuộc đàm phán đa phương với các Nhóm Công tác của WTO, Trung quốc cũng đưa ra các cam kết sẽ thực hiện các yêu cầu của Hiệp định TRIPs ngay khi gia nhập mà không cần có giai đoạn chuyển tiếp

Sau khi trở thành thành viên của WTO, Trung Quốc đã tiến hành bổ sung và chỉnh sửa toàn diện các luật có liên quan đến bảo vệ quyền SHTT và ban hành một số quy định mới nhằm cung cấp nền tảng pháp lý mạnh hơn cũng như nêu bật lên vấn đề quyền SHTT trong phát triển khoa học- công nghệ và trong sự nghiệp đổi mới đất nước Trong 5 năm 2001-2005, Trung quốc đã tiến hành sửa đổi và xây dựng rất nhiều luật và quy định liên quan đến quyền SHTT như Luật Sáng chế, Luật Bản quyền tác giả, Luật Nhãn hiệu thương mại, các quy định về bảo hộ SHTT hải quan, bảo hộ phần mềm máy tính, bảo hộ thiết kế mạch tích hợp, biểu tượng Olympic, Những văn bản pháp quy này đã cho phép Trung quốc tạo ra một hệ thống pháp luật quyền SHTT hoàn chỉnh phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và là cơ sở quan trọng cho việc thiết lập hệ thống thực thi quyền SHTT của nước này

Trang 29

- Tăng cường hiệu lực thực thi các quy định về quyền SHTT

Xét về tính hiệu lực, để thực thi có hiệu quả Hiệp định TRIPS, Trung quốc đã cho sửa đổi Luật Hình sự, đưa vấn đề vi phạm quyền SHTT vào trong Bộ Luật này, cung cấp khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hải quan trong việc bảo vệ quyền SHTT

và tăng thêm quyền hạn cho Phòng Công nghiệp và Thương mại (IAC) và các văn phòng ủy viên công tố trong việc phát hiện các sản phẩm sao chép Bên cạnh đó, nước này còn thành lập một bộ phận phụ trách về quyền SHTT trong Tòa án tối cao Trung Quốc cũng đã tiến hành nhiều đợt ra quân chống nạn vi phạm bản quyền tác giả và buôn lậu qua biên giới Tuy vậy, hiệu quả thu được không cao Trung Quốc hiện nay cũng đồng thời là nước đứng đầu thế giới về vi phạm quyền tác giả Tính đến nay đã 5 năm kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO và thực thi Hiệp định TRIPS theo các điều khoản đã cam kết, tỷ lệ vi phạm bản quyền tác giả Trung Quốc vẫn ở mức báo động

Số liệu thống kê của cơ quan quản lý bản quyền qua các năm 2002, 2003, 2004 và

2005 cho thấy mức độ vi phạm bản quyền của Trung Quốc lên tới 90%, nghĩa là cứ 10 bản sao chép trên thị trường thì có tới 09 bản là trái phép

Chính phủ Trung Quốc nhận thức rất rõ việc vi phạm bản quyền tràn lan không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh của nước này trên thương trường quốc tế, mà còn làm hại tới sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước Vì vậy, cùng với những áp lực thực thi các điều khoản của Hiệp định TRIPS và để hạn chế các tổn thất về kinh tế do các vi phạm quyền SHTT gây ra, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng trong việc bảo hộ quyền SHTT Để tăng cường hiệu lực thực thi hiệp định TRIPS của mình, bên cạnh việc hoàn thiện một hệ thống pháp luật đầy đủ và chặt chẽ về SHTT, Trung Quốc đã đưa ra một loạt biện pháp:

- Tăng cường công tác tuyên truyền, bồi dưỡng nhận thức SHTT cho công chúng

Quyền SHTT dường như vẫn là một khái niệm tương đối mới ở Trung Quốc và hầu hết người dân không có kiến thức về vấn đề này Hơn 50% sinh viên đại học Trung Quốc dùng các sản phẩm vi phạm bản quyền tác giả vì những lý do về giá cả Không chỉ giới trẻ mà giới doanh nghiệp, các nhà quản lý cũng như lãnh đạo các cấp, các

Trang 30

ngành cũng chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo hộ quyền SHTT Một khi như vậy, Chính phủ hiểu rằng, các doanh nhân, các nhà quản lý, các công dân của mình sẽ chịu nhiều thiệt thòi khi mà Trung Quốc đã gia nhập vào sân chơi thế giới Vì vậy, Chính phủ Trung quốc trong những năm qua đã đặc biệt chú trọng tới việc tuyên truyền những kiến thức và pháp luật về quyền SHTT Trong suốt kế hoạch 5 năm 2001-2005, các chương trình đào tạo trên phạm vi rộng tiến hành cho các cán bộ ở các cấp, các ngành trên toàn quốc, cho những người dân về quyền SHTT được khuyến khích rất nhiều Từ năm 2004, Chính phủ quyết định tài trợ cho tuần lễ quyền SHTT từ 20-26/4 hàng năm để tuyên truyền phổ biến kiến thức về quyền SHTT, bao gồm: các hội thảo, các cuộc thi hiểu biết về quyền SHTT, các báo cáo chuyên môn và các quảng cáo công cộng về quyền SHTT trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như các phương tiện khác

Bên cạnh đó, Trung Quốc là nước đi tiên phong trên thế giới về giáo dục bảo vệ quyền SHTT cho học sinh tiểu học Dạy cho học sinh tiểu học về bảo vệ quyền SHTT

có thể giúp ngăn các em không phạm luật và khuyến khích các em trở thành những nhà sáng chế và nhà khoa học khi chúng lớn lên Môn học về quyền SHTT cũng đã được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học để hỗ trợ việc đào tạo những chuyên gia trong lĩnh vực này Ngoài ra, Trung Quốc còn tăng cường tuyên truyền về quyền SHTT thông qua các hoạt động tuyên truyền tập trung quy mô lớn: triệu tập hội nghị công bố tin tức; chế tác tiết mục đặc biệt

(Chương trình truyền hình đặc biệt về quyền SHTT); xuất bản sách và in tờ rơi; tăng cường tuyên truyền trên mạng; tổ chức hội thảo, hội nghị chuyên đề và hội nghị nghiên cứu thảo luận

- Thiết lập hệ thống bảo vệ quyền SHTT hải quan

Vấn đề này được Chính phủ Trung Quốc đặc biệt quan tâm bởi lẽ, song hành cùng nạn hàng giả, hàng nhái, hàng sao chép lậu thì việc chuyển những luồng hàng này qua biên giới tiêu thụ đang là một vấn nạn Thị trường các sản phẩm nghe nhìn được quan tâm trước nhất vì đây là thị trường có số vụ vi phạm bản quyền nhiều nhất

Trang 31

Hải quan Trung Quốc, bên cạnh việc ngăn chặn các hoạt động xuất nhập khẩu trái phép còn đảm đương nghĩa vụ bảo vệ các nhãn hiệu thương mại, bản quyền và các quyền có liên quan, bằng sáng chế và nhãn hiệu Olympic theo các bộ luật và quy định liên quan Sau khi Trung quốc gia nhập WTO, công tác bảo vệ quyền SHTT càng được tăng cường, kể từ năm 2001 số hàng hoá bị bắt giữ hàng năm trung bình tăng 30% Theo con số chính thức, trong nửa đầu năm 2006, hải quan nước này đã giải quyết 1.076 vụ vi phạm quyền SHTT với tổng trị giá hơn 68 triệu nhân dân tệ, thu giữ 39 triệu món hàng giả, qua đó lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu Trung Quốc và người nước ngoài được bảo vệ một cách hiệu quả

Nhận thức được rằng cần có sự ủng hộ và hỗ trợ từ phía xã hội, Hải quan Trung quốc luôn trung thành với nguyên tắc công khai và minh bạch, cả trong các hoạt động thực thi cụ thể cũng như trong quá trình soạn luật Nguyên tắc này được cụ thể hoá bằng các hoạt động như: i- giới thiệu tới công chúng các bộ luật và quy định liên quan đến công tác thực thi bảo vệ quyền SHTT, cung cấp dịch vụ thông tin và trả lời thắc mắc qua mạng nhằm hướng dẫn và khuyến khích chủ sở hữu tìm đến sự bảo vệ của ngành Hải quan; ii- khuyến khích người dân tham gia vào công tác soạn luật, mời đại diện của các doanh nghiệp đóng góp ý kiến trong quá trình sửa đổi các quy định về Bảo vệ quyền SHTT của Hải quan; và iii- giáo dục cộng đồng về bảo vệ quyền SHTT thông qua việc tổ chức nhiều hoạt động giáo dục khác nhau nhằm giới thiệu kiến thức liên quan đến bảo vệ quyền SHTT cho các doanh nghiệp đang tham gia vào thị trường thương mại quốc tế

- Thiết lập các trung tâm khiếu kiện về quyền SHTT và một đường dây nóng để người dân có thể gọi đến khi có những vi phạm quyền SHTT Thông qua các trung tâm khiếu kiện và đường dây nóng, các vi phạm về quyền SHTT nhanh chóng được phát hiện và giải quyết Biện pháp này đang tỏ ra rất hiệu quả và được Trung quốc tiến hành nhân rộng trên phạm vi lớn Tính đến cuối tháng 8/2006, có khoảng 50 thành phố có các trung tâm như vậy ở Trung Quốc

Ngày đăng: 13/04/2015, 06:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Diên, Bùi Thanh Sơn, Nguyễn Thái Yên Hương , “Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển”, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
2. Hàn Hồng Vân, "Công Ty Xuyên Quốc Gia Của Các Nền Kinh Tế Công Nghiệp Mới Châu Á", Nxb Chính trị Quốc gia, 02/2003. ào phát triển nền kinh tế đất nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công Ty Xuyên Quốc Gia Của Các Nền Kinh Tế Công Nghiệp Mới Châu Á
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
3. Nguyễn Thiết Sơn, “Các Công Ty Xuyên Quốc Gia: Khái Niệm - Đặc Trƣng Và Những Biểu Hiện Mới”, Nxb Khoa học xã hội, 2003. PGS.TS. Nguyễn Khắc Thân, luận án “Ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế các nước ASEAN”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Công Ty Xuyên Quốc Gia: Khái Niệm - Đặc Trƣng Và Những Biểu Hiện Mới”, Nxb Khoa học xã hội, 2003. PGS.TS. Nguyễn Khắc Thân, luận án “Ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế các nước ASEAN
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
4. PGS.TS. Nguyễn Khắc Thân, luận án “Ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế các nước ASEAN”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1991.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế các nước ASEAN
5. GENTILE-LU¨DECKE SIMONA (University of Bremen, Germany) and GIROUD AXE`LE (University of Manchester), UK, “Knowledge Transfer from TNCs and Upgrading of Domestic Firms: The Polish Automotive Sector”, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge Transfer from TNCs and Upgrading of Domestic Firms: The Polish Automotive Sector
6. Hongjun Guo and Reinhilde Veugelers, “MNEs, internationalization of R&D and the impact on local firms: Evidence from China’s high-tech industries”, Katholieke Universiteit Leuven, Belgium, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MNEs, internationalization of R&D and the impact on local firms: Evidence from China’s high-tech industries
7. Nannan Lundin, Fredrik Sjửholm, Ping He and Jinchang Qian, “FDI, Market Structure and R&D Investments in China”, Research Institute of Industrial Economics, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI, Market Structure and R&D Investments in China
8. Peter J. Buckley, Jeremy Clegg and Hui Tan, “Knowledge transfer to China: policy lessons from foreign affiliates” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge transfer to China: policy lessons from foreign affiliates
9. Xiaolan Fu, “FOREIGN DIRECT INVESTMENT, ABSORPTIVE CAPACITY AND REGIONAL INNOVATION CAPABILITIES: EVIDENCE FROM CHINA”, Department of International Development University of Oxford, 10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FOREIGN DIRECT INVESTMENT, ABSORPTIVE CAPACITY AND REGIONAL INNOVATION CAPABILITIES: EVIDENCE FROM CHINA
11. Xiaoling Huang, “Trade and Technology transfer: the case of automobile, electronic and telecommunication sectors in China” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade and Technology transfer: the case of automobile, electronic and telecommunication sectors in China
12. Xiaoying Qiu “Technology transfer in Chinese automobile industry”, KTH Industrial Engineering and Management, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technology transfer in Chinese automobile industry
10. Zhongxiu Zhao and Kevin Honglin Zhang, “Multinational Corporations and Technology tranfers in Developing countries: evidence from China Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Cấu trúc Nhập khẩu công nghệ theo loại (1993 – 1997) - Chính sách thúc đẩy TNCs hỗ trợ doanh nghiệp nội địa phát triển năng lực công nghệ ở Trung Quốc kinh nghiệm và bài học
Bảng 2 Cấu trúc Nhập khẩu công nghệ theo loại (1993 – 1997) (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w