Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt có vị trí hết sức quan trọng bởi vì: + Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt nghe, nói, đọc, v
Trang 1MỤC LỤC Trang
I Đặt vấn đề:………2
II Giải quyết vấn đề: ……… 3
1 Thực trạng: ……… 3
2 Giải pháp: ………4
3 Kết quả: ……… 12
4 Bài học kinh nghiệm:……… …12
5 Phương pháp: ……….13
III Kết luận – kiến nghị:……….13
1 Kết luận: ……….13
2 Kiến nghị: ……… 14
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
- Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những
cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt có vị trí hết sức quan trọng bởi vì:
+ Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy
+ Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết
sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
+ Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Ở tiểu học chính tả là phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn học “Tiếng Việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe cho học sinh, kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt và phát triển tư duy cho học sinh Mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người góp phần hình thành nhân cách con người mới Dạy tốt chính tả cho học sinh tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩ năng
cơ bản mà các em cần đạt tới Đó là kĩ năng viết đúng, muốn viết đúng được câu văn, đoạn văn thì trước hết học sinh cần viết đúng đơn vị từ
Việc rèn luyện các quy tắc chính tả hình thành kĩ năng viết đúng đơn vị từ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện học tốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt có hiệu quả Do vậy, khi dạy phân môn Chính tả người giáo viên cần nghiên cứu kĩ vị trí, tác dụng của từng bài trong mỗi bài học, trong mỗi phần của chương trình để giảng dạy cho hợp lí Song ở mỗi lớp mỗi trường, mỗi địa phương lại có những đặc điểm riêng
- Phân môn chính tả ở chương trình tiểu học có hai kiểu bài là chính tả đoạn bài và chính tả âm vần Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết đúng chữ ghi tiếng có
âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả Thời gian dành cho bài tập chính tả âm vần dù rất ngắn so với chính tả đoạn bài Song việc rèn kĩ năng qua bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh Qua các bài tập chính tả âm, vần các em được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn học
Trang 3Vì vậy muốn học sinh nắm vững các quy tắc về chính tả âm, vần, cách điền dấu chính xác thì cần phải dạy tốt phần chính tả âm vần
- Chính tả âm vần ở lớp 4 có những dạng bài sau:
+ Điền vào chỗ trống các vần đã cho trước
+ Chọn cách viết đúng từ đã cho trong ngoặc đơn
+ Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã
+ Tìm những chữ bị bỏ trống để hoàn chỉnh các đoạn văn dưới đây Biết rằng những chữ bị bỏ trống có vần … hoặc …
+ Thi tìm từ
+ Tìm tiếng thích hợp với mỗi ô trống để hoàn chỉnh mẩu chuyện dưới đây Biết rằng ô số 1 chứa âm đầu là … hay …, còn ô số 2 chứa tiếng có vần là … hay …
Chính vì những lí do nêu trên nên tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm :
“Giúp học sinh dân tộc thiểu số học tốt môn Chính tả bằng phương pháp trò chơi tại lớp 4A Trường Tiểu học Sơn Bình.”
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Thực trạng:
- Trong thực tế hiện nay, thói quen và kĩ năng viết đúng chính tả của học sinh
chưa tốt Các em thường viết sai âm, vần, dấu thanh và cả cách trình bày bài Vì viết sai nên dẫn đến chán nản không hứng thú với phân môn Chính tả Với những thực trạng như vậy trong lớp nên tôi đã tìm hiểu rõ nguyên nhân để đưa ra giải pháp khắc phục cho các
em tiến bộ hơn
- Nguyên nhân:
+ Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em mất căn bản từ lớp dưới, chưa nắm vững âm, vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên, chưa hiểu rõ nghĩa của
từ, chưa có ý thức tự học tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi viết chính tả
+ Các em là con em dân tộc thiểu số, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của các em nên các em ít khi sử dụng Phần lớn chỉ sử dụng khi các em tới lớp tới trường Còn về nhà hay đi làm rẫy gặp bạn bè ở thôn xóm thì các em đều nói tiếng Rag-lây Vì vậy tiếng Việt ít được các em sử dụng trong giao tiếp Việc ít sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp ảnh hưởng không nhỏ đến việc viết chính tả dẫn đến việc viết sai và thấy chán nản, không hứng thú với môn học
Trang 4+ Hầu hết các em đọc thế nào viết thế ấy nên khi đọc không chuẩn dẫn đến việc viết sai chính tả
+ Hầu hết các em chưa nắm được quy tắc của chữ quốc ngữ và luật chính tả khi viết với k, g/gh, ng/ ngh hoặc các em viết sai các vần khó như: uyên, uê,uy, uơ, uya…
Các em chỉ chú ý viết đúng chính tả trong giờ học chính tả Còn ở các môn khác
kể cả môn Tập làm văn học sinh viết rất hay nhưng lại sai quá nhiều lỗi chính tả mất hết
ý nghĩa bài văn Do giáo viên không quan tâm nhắc nhở thường xuyên việc hiểu nghĩa từ
để viết đúng chính tả các môn học khác
+ Trình độ nhận thức học sinh không đồng đều
+ Kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các quy tắc chính tả
+ Một số em nhà rất nghèo thỉnh thoảng nghỉ học đi rẫy để phụ giúp gia đình, làm việc để kiếm tiền mua gạo nên tiếp thu bài không đầy đủ dẫn đến không hiểu bài
+ Giáo viên dạy cho các em hầu hết từ nơi khác đến nên giọng nói của giáo viên rất khác so với các em dẫn đến các em nghe không kịp hoặc không chính xác để viết bài
+ Phụ huynh ít quan tâm nhắc nhở con em học bài ở nhà
2.Giải pháp:
- Đa số giáo viên khi dạy phân môn Chính tả đều chú trọng chính tả đoạn bài mà không chú trọng đến phần chính tả âm vần Họ quên đi rằng từ những bài tập âm vần đơn giản hay phức tạp nếu các em nắm vững và làm một cách thành thạo thì khi viết chính tả đoạn bài những lỗi đó sẽ được khắc phục Đa số học sinh khi viết xong chính tả đoạn bài thì đều có cảm giác mệt mỏi, chán nản không muốn tiếp tục làm bài tập Để giúp các em hứng thú với môn học, hoàn thành tốt phần bài tập chính tả âm vần trong giờ học tôi thường tổ chức các trò chơi
- Trò chơi có sức cuốn hút đối với mọi người, bất kể lứa tuổi Trong cuộc sống, không thể thiếu các tổ chức vui chơi, các hoạt động vui chơi Cuộc sống càng phát triển, đời sống càng được cải thiện thì nhu cầu vui chơi càng lớn Không chỉ ngày hôm nay, mà ngay từ xa xưa, vui chơi đã thâm nhập vào cả hoạt động mang tính chất linh thiêng như lễ hội Người dân đến lễ hội một phần vì phần lễ, nhưng không ít người lại hướng nhiều về phần hội Và phần này thường chiếm thời gian dài, gây nhiều ấn tượng cho người dự với những trò chơi vui, hào hứng, có sức hút mạnh mẽ đối với mọi tầng lớp
Trang 5- Đưa trò chơi vào lớp học tức là biến việc học trên lớp thành một cuộc chơi Và qua việc tổ chức vui chơi mà giúp cho học sinh tiếp nhận kiến thức một cách dễ dàng hơn, hào hứng hơn, giúp cho việc rèn luyện kĩ năng đạt hiệu quả cao hơn Đưa trò chơi vào lớp học đã đáp ứng được cùng lúc hai nhu cầu của con người : nhu cầu vui chơi và
nhu cầu học tập Đó chính là hình thức Chơi mà học đang được xã hội quan tâm.
Vì vậy để học sinh làm tốt phần bài tập cũng như hứng thú với môn học tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp:
* Giải pháp : Áp dụng một số trò chơi trong dạy học chính tả âm vần.
Muốn áp dụng có hiệu quả các trò chơi vào phần bài tập thì giáo viên cần tìm hiểu
rõ học sinh mình yếu những gì để lựa chọn bài tập phù hợp Việc lựa chọn các bài tập phù hợp để các em thực hành sẽ nâng được hiệu quả của phân môn Chính tả ngày càng cao hơn Với mỗi dạng bài tập có thể áp dụng một trò chơi phù hợp để tiết học nhẹ nhàng sinh động hơn
* Một trò chơi học tập thường được tiến hành:
- Giới thiệu trò chơi:
+ Nêu tên trò chơi
+ Hướng dẫn cách chơi luật chơi vừa mô tả vừa thực hành
+ Phân chia nhóm chơi
- Chơi thử:
+ Nhấn mạnh luật chơi nhất là những lỗi thường gặp ở phần chơi thử
- Chơi thật:
- Nhận xét kết quả trò chơi thái độ người chơi, thưởng phạt công bằng nhẹ nhàng mang tính khuyến khích, động viên
Ví dụ tặng hoa điểm 10 cho đội thắng cuộc, phạt vui nhẹ nhàng đối với đội thua hoặc phạm luật chơi như: bò nhúng dấm, bò lúc lắc, nhảy lò cò hoặc hát một bài hát trong chương trình đã được học
- Giáo viên có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai lầm cần tránh Cho học sinh đọc bài mình đã làm
* Đối với dạng bài tập : Điền vào chỗ trống các tiếng có chứa vần
*Áp dụng trò chơi : Tiếp sức
Trang 6Ví dụ bài: Tuần 9
Thợ rèn
(Nghe- viết) Tiếng Việt 4 tập 1 trang 86 Bài(2) Điền vào chỗ trống:
b) uôn hay uông ?
- … nước, nhớ ng…
- Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau m…, nhớ cà dầm tương
- Đố ai lặn x… vực sâu
Mà đo miệng cá, … câu cho vừa
- Người thanh tiếng nói cũng thanh Ch… kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu
Cách tiến hành:
+ Sau khi cho học sinh đọc yêu cầu của bài Giáo viên hướng dẫn cho học sinh ở
từng chỗ trống, dựa vào nghĩa của tiếng cho sẵn, tìm tiếng có vần uôn hoặc uông, sao
cho tạo ra từ có nghĩa
+ Cho học sinh thảo luận nhóm trong vòng 1 phút
+ Giáo viên gắn bảng phụ lớn lên bảng lớp để giới thiệu trò chơi
+ Giáo viên giới thiệu trò chơi mang tên Tiếp sức.
+ Hướng dẫn cho học sinh cách chơi luật chơi như sau: Các nhóm lần lượt cử từng người nối tiếp nhau lên thực hiện một thao tác trên bảng Mỗi nhóm chỉ có một viên phấn Từng người lên bảng ghi một từ dành cho nhóm mình Sau đó mau chóng về chỗ đem phấn cho bạn lên ghi tiếp Hết thời gian quy định, nhóm nào ghi được nhiều từ đúng
là nhóm đó thắng
+ Chia lớp thành 3 đội chơi mỗi đội cử 3 bạn lên bảng
+ Các nhóm cử đại diện lên chơi
+ Gọi học sinh nhận xét kết quả của các nhóm, cô và trò cùng đếm đáp án đúng + Nhận xét khen thưởng nhóm thắng bằng một tràng pháo tay hoặc bông hoa điểm
10 Đồng thời khuyến khích động viên nhóm thua cuộc
+ Gọi học sinh đọc lại kết quả của bài làm
Trang 7+ Giáo dục học sinh qua trò chơi cần phải nhanh nhẹn, khéo léo, đoàn kết và biết
phối hợp với đồng đội Ngoài việc ghi nhanh các em cần phải ghi chính xác thì đáp án đó mới được tính giúp các em rèn tính cẩn thận khi viết chính tả
- Ưu điểm của trò chơi: Tăng cường sự hứng thú trong môn học cho học sinh Giáo dục tính nhanh nhẹn và khéo léo cho các em Biết nhận xét đúng sai của nhóm bạn giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp Qua việc chơi trò chơi các em ghi nhớ những tiếng
có vần khó một cách hiệu quả
- Nhược điểm của trò chơi: Trò chơi này không thu hút được cả lớp tham gia mà chỉ là đại diện các nhóm tham gia
* Đối với dạng bài tập: Chọn cách viết đúng từ đã cho trong ngoặc đơn.
Áp dụng trò chơi: Ai nhanh ai đúng
Ví dụ bài: Tuần 2
Mười năm cõng bạn đi học
(Nghe- viết) Tiếng Việt 4 tập 1 trang 16 Bài tập 2: Chọn cách viết đúng từ đã cho trong ngoặc đơn:
Tìm chỗ ngồi
Rạp đang chiếu phim thì một bà đứng dậy len qua hàng ghế ra ngoài Lát (sau/xau), bà trở lại và hỏi ông đầu hàng ghế (rằng/rằn):
- Thưa ông ! Phải (chăng / chăn) lúc ra ngoài tôi vô ý giẫm vào chân ông ?
- Vâng, nhưng (sin / xin) bà đừng (băng khoăng / băn khoăn), tôi không (sao / xao)!
- Dạ không ! Tôi chỉ muốn hỏi để (xem / sem) tôi có tìm đúng hàng ghế của mình không
TRUYỆN VUI NƯỚC NGOÀI
Cách tiến hành:
+ Gọi học sinh đọc đề bài Tìm hiểu yêu cầu của bài
+ Giáo viên hướng dẫn mẫu cho học sinh gạch bỏ những từ không thích hợp + Giáo viên chia lớp thành các nhóm mỗi nhóm 4 em
+ Phát bảng phụ và bút dạ cho các nhóm
Trang 8+ Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi ai nhanh ai đúng Yêu cầu các nhóm trong
vòng một phút hoàn thành nhanh nhất và đúng nhất sẽ thắng cuộc Giáo viên chỉ gắn bảng 2 nhóm nhanh nhất Hiệu lệnh bắt đầu cho các nhóm chơi
Dạng bài : Đặt dấu hỏi hay dấu ngã trên những chữ in nghiêng.
Ví dụ bài: Tuần 3
Cháu nghe câu chuyện của bà
(Nghe - viết) Tiếng Việt 4 tập 1 trang 26
Bài tập (2) b: Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ?
Bình minh hay hoàng hôn
Trong phòng triên lam tranh, hai người xem nói chuyện với nhau Một người bao :
- Ông thư đoán xem bức tranh này ve canh bình minh hay canh hoàng hôn.
- Tất nhiên là tranh ve canh hoàng hôn
- Vì sao ông lại khăng định chính xác như vậy ?
- Là bơi vì tôi biết họa si ve tranh này Nhà ông ta ơ cạnh nhà tôi Ông ta chăng bao giờ thức dậy trước lúc bình minh.
Theo ĐỖ XUÂN LAN
Cách tiến hành:
+ Gọi học sinh đọc đề bài Tìm hiểu yêu cầu của bài
+ Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách làm
+ Giáo viên chia lớp thành các nhóm mỗi nhóm 4 em
+ Phát bảng phụ và bút dạ cho các nhóm
+ Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi ai nhanh ai đúng.
Yêu cầu các nhóm trong vòng một phút hoàn thành nhanh nhất và đúng nhất sẽ thắng cuộc Giáo viên chỉ gắn bảng 2 nhóm nhanh nhất Hiệu lệnh bắt đầu cho các nhóm chơi
+ Gắn bảng 2 nhóm nhanh nhất Gọi đại diện nhóm lên trình bày
+ Lớp nhận xét tuyên dương nhóm thắng cuộc
+ Gọi học sinh đọc lại bài
- Ưu điểm của trò chơi: Tăng cường sự hứng thú trong môn học cho học sinh Giáo dục tính nhanh nhẹn và khéo léo cho các em Biết nhận xét đúng sai của nhóm bạn
Trang 9giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp Học sinh cả lớp đều được tham gia chơi Qua việc chơi trò chơi các em ghi nhớ những từ đã chọn một cách hiệu quả
- Nhược điểm của trò chơi: Chưa phát huy tính tích cực của từng em Một số em còn trông chờ vào bạn chưa tự giác tham gia chơi cùng
* Đối với dạng bài tập: Thi tìm nhanh
Áp dụng trò chơi: Tăng tốc
Ví dụ bài: Tuần 6
Người viết truyện thật thà
(Nhớ - viết) Tiếng Việt 4 tập 1 trang 56
Bài tập(3) : Tìm các từ láy:
b) - Có tiếng chứa thanh hỏi M: nhanh nhảu
- Có tiếng chứa thanh ngã M: mãi mãi
Cách tiến hành:
+ Gọi học sinh đọc đề bài Tìm hiểu yêu cầu của bài
+ Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách làm
+ Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi tăng tốc
Yêu cầu các em làm việc cá nhân vào phiếu trong vòng 1 phút 30 giây em nào tìm được nhiều đáp án nhất em đó dành chiến thắng Khi các em tìm xong gắn phiếu lên bảng
để giáo viên chấm Giới hạn thu 7 bài nhanh nhất Hiệu lệnh bắt đầu cho các em chơi
+ Chấm đáp án các bài trên bảng Nhận xét tuyên dương bạn thắng cuộc Có thể theo hình thức tặng hoa điểm 10 hoặc thưởng cho bạn một tràng pháo tay
+ Gọi học sinh đọc lại bài
- Ưu điểm của trò chơi: Tăng cường sự hứng thú trong môn học cho học sinh Giáo dục tính nhanh nhẹn và khéo léo cho các em Cá nhân mỗi em đều được tham gia chơi để phát huy tính tích cực thi đua trog lớp Qua việc chơi trò chơi các em ghi nhớ những từ đã chọn một cách hiệu quả
- Nhược điểm của trò chơi: Những em học tốt hơn thì được gắn bài nhiều hơn Còn những em học yếu hơn thì ít khi được gắn bảng hoặc ít khi dành phần thắng Từ đó các em có thể mất tự tin khi thi đua với cả lớp
Trang 10* Đối với dạng bài tập: Tìm những chữ bị bỏ trống để hoàn chỉnh đoạn văn dưới đây.
Áp dụng trò chơi : Đưa thỏ về nhà
Ví dụ bài: Tuần 7
Gà Trống và Cáo
(Nhớ - viết) Tiếng Việt 4 tập 1 trang 67 Bài tập (2):Tìm những chữ bị bỏ trống để hoàn chỉnh các đoạn văn dưới đây Biết rằng:
b) Những chữ bị bỏ trống có vần ươn hoặc vần ương :
Nhà Trung ở gần sân bay Từ nhỏ, Trung đã rất ngưỡng mộ các chú phi công Em
mơ ước lớn lên sẽ trở thành phi công để được bay trên bầu trời, bay trên tược, làng mạc, thành phố quê , vượt qua các đại mênh mông Để chuẩn bị cho lai, Trung cố gắng học giỏi, tập thể dục xuyên cho cơ thể khỏe mạnh, tráng
Cách tiến hành:
+ Gọi học sinh đọc đề bài Tìm hiểu yêu cầu của bài
+ Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách làm
+ Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi đưa thỏ về nhà
Cô có một chú thỏ bị lạc đường Để giúp con thỏ tìm về được nhà của nó thì lớp chúng ta sẽ cùng tìm các chữ bị bỏ trống trong đoạn văn trên Mỗi lần giải đúng một chỗ trống thì thỏ sẽ nhảy một nhảy cho đến khi về đến nhà Trò này học sinh cả lớp đều tham gia Nếu bạn trả lời sai thì bạn khác giúp đỡ để giúp thỏ về nhà được nhanh nhất
+ Cho học sinh chơi Sau khi thỏ đã về đến nhà an toàn thì gọi học sinh đọc lại bài
để các em khắc sâu được kiến thức
- Ưu điểm của trò chơi: Tăng cường sự hứng thú trong môn học cho học sinh Cá nhân mỗi em đều được tham gia chơi để giải bài tập một cách tích cực nhất Qua việc chơi trò chơi các em ghi nhớ những từ đã chọn một cách hiệu quả Giáo dục các em biết yêu quý động vật, cũng như biết giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn
- Nhược điểm của trò chơi: Giáo viên phải chuẩn bị hình ảnh hoặc tranh vẽ một con thỏ và một ngôi nhà
Đối với dạng bài tập: Tìm tiếng thích hợp với mỗi ô trống để hoàn chỉnh mẩu chuyện dưới đây Biết rằng ô số 1 chứa tiếng có âm đầu, còn ô số 2 chứa tiếng có vần.