Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trongpháp luật HN & GĐ không chỉ trong pháp luật quốc gia mà còn trong phápluật quốc tế Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được cả cộngđồng quốc tế đặc biệt quan tâm vì đó là sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết đối vớinhững lợi ích tốt nhất cho trẻ em, những đối tượng không chỉ non nớt về mặtthể chất và trí tuệ mà còn có những hoàn cảnh éo le, mất mát lớn về tình cảm,không được hưởng mái ấm gia đình trên quê hương của mình
Đối với Việt Nam, một đất nước phải gánh chịu hậu quả nặng nề củacác cuộc chiến tranh thì việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó cóquyền được làm con nuôi, được chăm sóc nuôi dưỡng đối với những đứa trẻbất hạnh, là điều luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và bảo đảm thựchiện
Hiện nay do nhu cầu hội nhập, với chính sách khuyến khích, mở rộngquan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, việc nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài ở Việt Nam ngày càng gia tăng, song hiện tượng nuôi con nuôi cóyếu tố nước ngoài có những diễn biến đa dạng và phức tạp Ngoài bản chất vàmục đích cao đẹp của việc nuôi con nuôi là nhằm xây dựng mối quan hệ giađình, thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi với đứa trẻ đượcnhận làm con nuôi, bảo đảm cho đứa trẻ có cuộc sống tốt hơn, cũng còn xuấthiện những việc làm phi đạo đức, lợi dụng danh nghĩa cho trẻ em làm connuôi đÓ thu gom, môi giới, dẫn dắt mua bán trẻ em, nhằm mục đích kiếm lời.Những hiện tượng đó cần khắc phục, pháp luật cần có sự điều chỉnh sát thực,hiệu quả
Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn thiếu những quyđinh để điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi đầy phức tạp, nhiều biến động
và bộc lộ những điểm chưa phù hợp với pháp luật quốc tế Quy phạm điều
Trang 2chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định trong nhiều văn bảnnên thiếu đồng bộ và thống nhất, hiệu lực pháp lý không cao, khó áp dụng vàtiếp cận trong thực tế Đòi hỏi của cuộc sống hiện nay là phải có sự sửa đổi,
bổ sung để hoàn chỉnh pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằmđáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn khách quan
Từ những lý do khách quan về lý luận và thực tiễn trên, em đã suy nghĩ
và lựa chọn đề tài “Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam hiện nay ” làm luận văn tốt nghiệp Đại học.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
+ Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài
- Làm sáng tỏ thực trạng áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần hoànthiện quy định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tó nước ngoài, đáp ứngyêu cầu của thực tiễn khách quan và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của phápluật hiện hành
+ Luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau :
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài, tìm hiểu các quy định của pháp luật trong nước và pháp luật quốc tếliên quan đến điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, làm rõ những mặt thuậnlợi và những khó khăn, vướng mắc, tồn tại
- Tìm hiểu những nét đặc thù, thủ tục và vấn đề áp dụng pháp luật vềnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài diễn ra ở khu vực biên giới
- Trên cơ sở đó làm rõ sự cần thiết phải sửa đổi bổ sung hoàn thiệnpháp luật về nuôi con nuôi cho phù hợp với thực tiễn khách quan và tươngđồng với pháp luật quốc tế
Trang 33 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực tiễn áp dụng và thực hiện
pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, trên c¬ sënghiªn cøu quy định của pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế có liênquan đến lĩnh vực này
+ Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn áp
dụng pháp luật trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Namtrong thêi gian qua (2000-6/2008), bao gồm việc nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (cả việc nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài diễn ra ở khu vực biên giới), và việc nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam Luận văn có sự sosánh đối chiếu với pháp luật nước ngoài (cụ thể là một số nước có liên quantrong việc cho nhận con nuôi)
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
+ Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Phương pháp nghiên cứu gồm:
- Phương pháp lịch sử: Sử dụng để làm rõ sự hình thành và phát triểncủa pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trongtừng thời kỳ lÞch sử
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thông qua việc so sánh, đối chiếuvới pháp luật các nước, đưa ra nh÷ng nhận xét về sự phù hợp và chưa phù hợpcủa pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, làm cơ sở chocác kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu của thực tiễn kháchquan
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để phân tích những tàiliệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật
về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Qua đó rút ra những khó khăn, tồn tại
Trang 4của hệ thống pháp luật hiện nay về nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài.
5 Kết cấu cơ bản của luận văn.
Luận văn được trình bày theo bố cục gồm ba chương ngoài phần mởđầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo như sau :
Chương 1 : Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài
Chương 2 : Tình hình áp dụng pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của
pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Trang 5CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Theo quan điểm chung, nuôi con nuôi được hiểu là việc trẻ em đi làm connuôi ở một gia đình khác trong cùng một nước hay ở nước ngoài, nhằm mụcđích xác lập mối quan hệ cha mẹ với con giữa người nuôi và con nuôi vớimục đích đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôidưỡng, chăm sóc, phù hợp với đạo đức xã hội
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong các quan hệ Hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài Theo quy định tại điểm c khoản 14 Điều 8luật HN & GĐ năm 2000, thì nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có thể hiểulà:
- Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
- Việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở ViệtNam;
- Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ởnước ngoài;
- Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc
cả hai bên định cư ở nước ngoài
Như vậy, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi có ítnhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc việc nuôi con nuôi được xáclập ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài
Ngoài ra theo khoản 3 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Điều 1Thông tư 07/2002/TT-BTP cũng được coi là việc nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài trong trường hợp trẻ em là người không quốc tịch thường trú tạiViệt Nam
Trang 6Khỏi niệm này đó nờu lờn việc xỏc lập quan hệ giữa cha mẹ và con bằngcon đường nuụi dưỡng để phõn biệt với việc hỡnh thành quan hệ giữa cha mẹ
và con trờn cơ sở huyết thống Nếu như quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ là
quan hệ gia đỡnh “huyết thống” được hỡnh thành do việc sinh đẻ, thỡ quan hệ giữa cha mẹ nuụi và con nuụi là quan hệ “nhõn tạo” được xỏc lập về mặt phỏp
lý Một quan hệ nuụi con nuụi cú yếu tố nước ngoài chỉ được xỏc lập khi cú
sự tham gia cựng một lỳc của hai chủ thể, cú khả năng và điều kiện thực hiện
cỏc quyền chủ thể tương ứng, đú là “chủ thể nhận nuụi con nuụi” (cha mẹ
nuụi) và “chủ thể được nhận làm con nuụi” (con nuụi).
1.2 í nghĩa của việc nuụi con nuụi cú yếu tố nước ngoài.
Giải pháp nuôi con nuôi nớc ngoài là giải pháp cuối cùng và giải pháp này
có lợi là đem lại một gia đình ổn định cho trẻ em trong trờng hợp không thểtìm đợc gia đình thích hợp cho trẻ em ngay tại nớc mình
Việc trẻ em Việt Nam làm con nuôi ngời nớc ngoài giảm gánh nặng chocác cơ sở nuôi dỡng trẻ em mà vẫn đảm bảo đợc lợi ích tốt nhất cho trẻ; mặtkhác điều đó phù hợp với chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại của nớc ta,
đáp ứng nhu cầu hội nhập và giao lu quốc tế Vì vậy, việc nuôi con nuôi cóyếu tố nớc ngoài cũng thể hiện mục đích nhân đạo cao đẹp, đáp ứng nhu cầutình cảm của con ngời, dù khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán…
Đối với bản thân đứa trẻ, việc đợc nhận làm con nuôi có ý nghĩa sâu sắclàm thay đổi cơ bản số phận của đứa trẻ Đứa trẻ đợc làm con nuôi sẽ đợcsống trong môi trờng gia đình thuận lợi để phát triển hài hoà về thể chất, nhân
cách và tinh thần với sự “yêu thơng, thông cảm” trong một gia đình theo đúng
nghĩa của nó Đồng thời việc nuôi con nuôi tạo điều kiện cho trẻ đợc nhậnnuôi có điều kiện sống tốt hơn, đặc biệt đối với đứa trẻ bị tàn tật, khuyết tật,
có bệnh hiểm nghèo có điều kiện chữa trị phục hồi chức năng tốt hơn
Đối với ngời nhận nuôi, việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đemlại cho ngời nhận nuôi một đứa con phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình,
và tăng cờng đợc mối quan hệ gắn bó giữa họ với Việt Nam Đó là nhữngnguyện vọng chính đáng đối với những cặp vợ chồng vô sinh, với những ngờigiàu lòng nhân ái…
Nh vậy, nuôi con nuôi có yếu tố nớc ngoài là phơng thức thực hiệnquyền làm cha mẹ, làm con cái một cách hợp pháp, qua đó kết hợp hài hoà lợiích của các bên: Ngời nhận nuôi và ngời đợc nhận nuôi
Trang 71.3 Pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.3.1 Một số đặc trưng cơ bản của pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, việc nuôi con nuôi có những đặc điểmriêng, phản ánh các điều kiện về kinh tế xã hội, lịch sử của thời kỳ đó Phápluật điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có những đặc trưng cơ bảnsau:
Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoàiphức tạp bởi yếu tố nước ngoài: Yếu tố nước ngoài khác nhau tùy thuộc vàotừng trường hợp khác nhau, có thể là chủ thể, pháp luật áp dụng, sự kiện pháplý…
Việc xác định đúng yếu tố nước ngoài rất quan trọng, nhằm xác địnhthẩm quyền giải quyết viÖc nu«i con nu«i, gi¶i quyÕt c¸c tranh chấp phát sinh,xác định pháp luật cần áp dụng, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các bên
Thứ hai, Về phương pháp điều chỉnh, cũng như các quan hệ khác, quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng có hai phương pháp điều chỉnh
đó là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất
Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh giántiếp) là phương pháp sử dụng quy pham xung đột, không trực tiếp quy địnhquan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài này sẽ được điều chỉnh như thếnào, mà chỉ ấn định việc lựa chọn quy định pháp luật nước nào cần được ápdụng để điều chỉnh quan hệ cụ thể đó Quy phạm xung đột được ghi nhận cảtrong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, ví dụ Điều 30 Hiệp định tương
trợ tư pháp giữa Việt Nam và Balan quy định “Việc nhËn nuôi con nuôi phải
tuân theo pháp luật của nước mà người nhận nuôi là công dân”.
Phương pháp thực chất (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trựctiếp) là phương pháp sử dụng quy phạm thực chất, quy định trực tiếp quyền
và nghĩa vụ của các bên chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật nuôi con
Trang 8nuụi cú yếu tố nước ngoài Quy phạm thực chất cũng được quy định cả trongphỏp luật quốc gia và phỏp luật quốc tế.
Thứ ba, phỏp luật điều chỉnh quan hệ nuụi con nuụi cú yếu tố nước
ngoài luụn gắn chặt với chớnh sỏch đối ngoại Vỡ việc nuụi con nuụi mở rộngkhụng gian lónh thổ liờn quan đến yếu tố chủ quyền quốc gia cũng như mốiquan hệ về mặt tỡnh cảm giữa người với người; việc nuụi con nuụi cú yếu tốnước ngoài cũn ảnh hưởng rất lớn đến chớnh sỏch đối ngoại của mỗi quốc gia,
là quan hệ về mặt tỡnh cảm song lại cú ảnh hởng sâu sắc đến chớnh trị
Thứ tư, phỏp luật điều chỉnh quan hệ nuụi con nuụi cú yếu tố nước
ngoài đề cao vấn đề nhõn quyền, bảo vệ quyền con người trước hết là bảo vệquyền lợi của trẻ em Nhà nước ta đó ban hành nhiều văn bản phỏp luật để bảo
vệ lợi ớch của trẻ, quỏn triệt tư tưởng nhân loại phải dành cho trẻ em cỏi tốt
nhất mà mỡnh cú Điều 21 Cụng ước về quyền trẻ em quy định: “Cỏc quốc
gia thành viờn cụng nhận hoặc cho phộp chế độ nhận làm con nuụi phải đảm bảo rằng những lợi ớch tốt nhất của đứa trẻ phải là quan tõm cao nhất…”.
Phự hợp với tinh thần của Cụng ước, Luật HN & GĐ Việt Nam khẳng định,mục đớch của việc nuụi con nuụi nhằm xây dựng tỡnh cảm giữa người nuụi và
con nuụi trong việc xác lập quan hệ cha mẹ và con cỏi, “đảm bảo cho người
được nhận làm con nuụi được trụng nom, nuụi dưỡng, chăm súc, giỏo dục phự hợp với đạo đức xó hội” (Điều 67).
Tuy Việt Nam chưa tham gia Cụng ước Lahaye 1993, nhưng cỏc quyđịnh trong các văn bản pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nớcngoài đã tiếp cận, cố gắng thể hiện tinh thần và phù hợp với yêu cầu của Công
ớc Lahaye Những quy định đều hướng tới bảo vệ tốt nhất lợi ớch của trẻ em
Thứ năm, phỏp luật điều chỉnh nuụi con nuụi cú yếu tố nước ngoài điều
chỉnh quan hệ cha mẹ - con khụng dựa trờn cơ sở huyết thống với mục đớchhỡnh thành một gia đỡnh mới giống như gia đỡnh sinh thành của trẻ Đõy làquan hệ mang tớnh đặc thự vỡ cú sự khỏc biệt về ngụn ngữ, phong tục tậpquỏn…Yờu cầu đặt ra là sự điều chỉnh của phỏp luật phải rừ ràng, chặt chẽ, cụ
Trang 9thể; cần có cơ chế phối hợp và bảo vệ giữa các nước có liên quan bằng Hiệpđịnh song phương, đa phương Mục đích cốt yếu là bảo đảm lợi ích của cácbên, đặc biệt là cña trẻ em.
1.3.2 Hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
* Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề nuôi con nuôi giữa công dâncác nước ngày càng phát triển đòi hỏi sự quan tâm của chính phủ các nước.Pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật quốc tế đều thống nhất công nhận
rằng “ trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm
sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi
ra đời” [6] Do sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội,
quy định riêng biệt của pháp luật từng nước nên xung đột pháp luật trong quátrình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là điều không thểtránh khỏi Để khắc phục điều đó trong quá trình hợp tác và phát triển, đã cókhá nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương nhằm điều chỉnh kịpthời các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
Những văn bản pháp luật quốc tế về nuôi con nuôi bao gồm : Tuyên bốcủa Liên hiệp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việcbảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là thu xếp nuôi con nuôi ở trong và ngoàinước (thông qua ngày 3.12.1986); Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ
em (thông qua ngày 20.11.1989, có hiệu lực ngày 2.9.1990); Công ước LaHay
số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi nước ngoài (thôngqua ngày 29.5.1993, có hiệu lực ngày 1.5.1995)
Tuyên bố của liên hợp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liênquan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là việc thu xếp nuôi connuôi ở trong và ngoài nước Tuyên bố này đã nêu rõ : Mục đích hàng đầu củaviệc nuôi con nuôi là đem lại cho những trẻ em không thể được cha mẹ đẻ
Trang 10chăm sóc được một gia đình bền lâu (Điều 13) Tuyên bố này cũng khẳngđịnh việc cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế đểđảm bảo cho các em có một mái ấm gia đình khi không thể thu xếp cho các
em được nhận nuôi trong gia đình hay được chăm sóc phù hợp tại quốc giagốc của các em (Điều 17)
Công ước quốc tế về quyền trẻ em : Đây là văn bản quốc tế đầu tiênquy định một cách toàn diện nhất về quyền của trẻ em Công ước đã quy địnhcác nguyên tắc cơ bản mà các quốc gia thành viên phải thực hiện nhằm đảmbảo các quyền cơ bản của trẻ em Vấn đề nuôi con nuôi quốc tế được đề cậpđến tại Điều 20 và Điều 21 của Công ước Đây là những cơ sở pháp lý choviệc nuôi con nuôi quốc tế và là cơ sở để xây dựng các văn bản pháp luật vềnuôi con nuôi quốc tế, cũng như điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi ở các quốcgia thành viên
Công ước LaHay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực connuôi nứơc ngoài Đây là Công ước liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề nuôicon nuôi Công ước đã quy định những nguyên tắc chung, phạm vi của côngước; những yêu cầu đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thủ tục cho – nhậncon nuôi nước ngoài; vấn đề công nhận và hậu quả của việc nuôi con nuôi;quy định của các cơ quan trung ương có thẩm quyền và các tổ chức được uỷquyền; trách nhiệm của quốc gia thành viên…Công ước Lahay là Điều ướcquốc tế đa phương về nuôi con nuôi quốc tế Việc tham gia Công ước này tạođiều kiện thuận lợi cho các quốc gia trong việc bảo vệ trẻ em và hợp tác giảiquyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực con nuôi quốc tế
Bên cạnh đó, hiện tượng xung đột pháp luật trong quá trình giải quyếtviệc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là điều không tránh khỏi Để giảiquyết những xung đột pháp luật đó, để điều chỉnh tốt quan hệ nuôi con nuôigiữa nước ta với các nước, Việt Nam đã ký kết một số Hiệp định songphương về nuôi con nuôi với một số nước Ngoài ra, quan hệ nuôi con nuôi
Trang 11có yếu tố nước ngoài còn được điều chỉnh qua các Hiệp định tương trợ tưpháp và pháp lý, Hiệp định lãnh sự giữa nước ta với các nước
Hiệp định TTTP&PL liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi : Hiệp địnhtương trợ tư pháp là hình thức pháp lý ngày càng có vai trò quan trọng trongviệc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Các Hiệp địnhnày đều quy định việc xác định thẩm quyền giải quyết nuôi con nuôi; quyđịnh nguyên tắc áp dụng pháp luật để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi giữacông dân của các nước ký kết là nguyên tắc luật quốc tịch của người nhậnnuôi, ngoài ra một số Hiệp định điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi theonguyên tắc Luật quốc tịch của con nuôi
Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi phát huy hiệu quả cao nhất tronglĩnh vực nuôi con nuôi Hiện nay có 16 HĐHTNCN đã được ký kết, nội dung
cơ bản của các Hiệp định này là :
- Đảm bảo nguyên tắc bảo vệ trẻ em;
- Quy định về thủ tục giải quyết việc cho nhận con nuôi giữa các nước;
- Quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật và thẩm quyền quyết địnhviệc cho nhận con nuôi;
- Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi;
- Nghĩa vụ hợp tác: Các nước ký kết cam kết thực hiện các biện phápcần thiết để bảo vệ trẻ em, trao đổi thông tin và phối hợp thực hiện hợp định
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi nước ngoài ở Việt Namnhững năm qua đã mang lại hiệu quả cao Việc nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước có thẩmquyền và đảm bảo tuân thủ pháp luật của cả hai nước: nước gốc và nướcnhận Điều đó đã góp phần đảm bảo tính nhân đạo, lành mạnh của việc chonhận con nuôi, khắc phục hiện tượng lợi dụng việc nuôi con nuôi vào nhữngmục đích trục lợi
* Hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trang 12Sự hỡnh thành và phỏt triển của quan hệ nuụi con nuụi cú yếu tố nướcngoài gắn liền với điều kiện hoàn cảnh lịch sử, kinh tế – xó hội từng thời kỳ.
Từ khi Nhà nước phong kiến Việt Nam dõn chủ cộng hoà ra đời phỏp luật
về nuụi con nuụi về nuụi con nuụi cú yếu tố nước ngoài cú thể xem xột quacỏc giai đoạn sau:
- Giai đoạn từ 1945 – 1959.
Phỏp luật trong nước về quan hệ HN & GĐ cú yếu tố nước ngoài trong đú
cú quan hệ nuụi con nuụi cú yếu tố nước ngoài cũn hết sức đơn giản, chưa tậphợp thành hệ thống, chưa điều chỉnh đầy đủ cỏc quan hệ đú Quan hệ nuôi connuôi có yếu tố nớc ngoài cha đợc điều chỉnh riêng biệt
- Giai đoạn từ 1959 – 1986.
Xuất phỏt từ tỡnh hỡnh thực tế của quan hệ hụn nhõn và gia đỡnh trong thời
kỳ mới, luật hụn nhõn và gia đỡnh đó được Quốc hội thụng qua tại kỳ họp thứ
XI ngày 29/12/1959 và được Chủ tịch nước ký sắc lệnh số 02/SL cụng bốngày 13/01/1960 Vấn đề nuụi con nuụi được quy định ngay trong Luật HN &GĐ đầu tiờn của nước ta (Luật hụn nhõn và gia đỡnh năm 1959), nhưng nuụicon nuụi cú yếu tố nước ngoài vẫn chưa được ghi nhận trong luật
Sau khi thống nhất đất nước (1975), quan hệ hợp tỏc giữa Việt Nam vớicỏc nước ngày càng được mở rộng Việt Nam đó tiến hành đàm phỏn và kýkết cỏc hiệp định tương trợ tư phỏp với Cộng hũa dõn chủ Đức (1980), Liờn
Xụ (1981), Tiệp Khắc (1982), CuBa (1984), Hungary (1985), Bungari (1986).Cỏc Hiệp định tương trợ tư phỏp đó điều chỉnh khỏ toàn diện cỏc vấn đề hụnnhõn và gia đỡnh, trong đú cú vấn đề nuụi con nuụi có yếu tố nớc ngoài
- Giai đoạn 1986 – 2000.
Ngày 29/12/1986 Luật HN & GĐ Việt Nam đó được Quốc hội thụng qua.Lần đầu tiờn trong lịch sử phỏp luật hụn nhõn và gia đỡnh, nhà nước ta đódành 1 chương (chương IX) quy định về quan hệ hụn nhõn và gia đỡnh giữacụng dõn Việt Nam với người nước ngoài
Trang 13Trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1992, Quốc hội đã thông qua một sốvăn bản pháp lý cã liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài như Luật Quốc tịch 1988, Điều 14 quy định trẻ em là công dânViệt Nam làm con nuôi người nước ngoài không vì thế mà mất quốc tịch Việt
Nam; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) quy định: “Mọi
trường hợp đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào phải theo quy định của pháp luật Việt Nam” (Điều 7).
Ngày 29/4/1992, Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Quyết định số 145/QĐ-HĐBT, tuy nó mới chỉ điều chỉnh việc người nước ngoài xin trẻ em ViệtNam làm con nuôi đang sống trong các cơ sở nuôi dưỡng do ngành Lao độngthương binh - xã hội quản lý, song có thể thấy đây là văn bản pháp luật trongnước đầu tiên của Việt Nam cụ thể hoá việc nuôi con nuôi giữa công dân ViệtNam và người nước ngoài
Trong giai đoạn này Pháp lệnh HN & GĐ giữa công dân Việt Nam vớingười nước ngoài (1993) ra đời Sự ra đời của Pháp lệnh đánh dấu sự pháttriển quan trọng của Pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh quan hệ HN &
GĐ có yếu tố nước ngoài
- Giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển, mở rộng,trở thành một chế định pháp lý trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Luật
HN & GĐ năm 2000 dành một chương (chương XI) quy định quan hệ Hônnhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, việc nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài được quy định cụ thể tại Điều 105, cùng với đó là hệ thống các văn bảndưới luật
Việc ban hành các văn bản pháp luật đã đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thựctiễn về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Việc nuôi con nuôi cóyếu tố nước ngoài được quy định rõ ràng cụ thể, chặt chẽ hơn, các quy định
về điều kiện nuôi con nuôi, hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, thủ tục
Trang 14đăng ký, chấm dứt việc nuôi con nuôi …quy định một cách đầy đủ, toàn diện
và hệ thống hơn
Trang 15CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY2.1 Một số nhận xét chung về tình hình áp dụng pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay.
Nhìn chung, pháp luật Việt Nam chỉ tỏ rõ hiệu lực chủ yếu ở phần đầuquá trình cho nhận con nuôi, đó là xác định về điều kiện của người nhận nuôi,của con nuôi; thủ tục cho nhận… Đối với phần sau của quá trình nuôi connuôi nước ngoài (vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của đứa trẻ trong mối quan
hệ với bố mẹ nuôi ở nước mà nó cư trú) – sau khi trẻ em Việt Nam đã đượcbàn giao cho cha mẹ nuôi thì gần như pháp luật Việt Nam không thể phát huygiá trị hiệu lực của nó Điều đó là do xuất phát từ nguyên lý cơ bản, hiệu lựccủa hệ thống pháp luật mỗi quốc gia chỉ có giá trị trên lãnh thổ của mình.Trong khi đó, các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nước ngoàicũng chỉ dừng lại ở mức độ quy định về vấn đề luật áp dụng và thẩm quyềngiải quyết quan hệ nuôi con nuôi quốc tế Các HĐHTNCN dù đã đi xa hơn vàhiệu quả hơn khi thiết lập các cơ chế hỗ trợ song phương về việc đảm bảo mộtcuộc sống tốt đẹp cho đứa trẻ ngay cả khi nó được chuyển ra nước ngoài sinhsống, nhưng lại có hạn chế nhất định đó là: Các HĐHTNCN vẫn chưa thực sự
là một khung pháp lý đầy đủ để chi phối được rộng khắp các vấn đề có thểphát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế Mặt khác các Hiệp định vềnuôi con nuôi nước ngoài hiện nay rõ ràng vẫn là những thoả thuận riêng lẻgiữa Việt Nam với từng nước cụ thể, trong khi số lượng các nước có hiệpđịnh với Việt Nam lại còn khá ít
2.1.1 Những thuận lợi khi áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trên cơ sở nhìn nhận thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài trong những năm qua cho thấy những thành công cơ bản sau:
Trang 16- Qua việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, tìm được mái
ấm gia đình cho nhiều trẻ em, đảm bảo quyền lợi cho người con nuôi và người nhận con nuôi.
Việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài trong thờigian qua đã cơ bản giải quyết được những khó khăn về đời sống cho một sốtrẻ em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt như bị bỏ rơi, mồ côi, trẻ em tàn tật màđiều kiện gia đình cũng như cơ sở nuôi dưỡng không bảo đảm được việcchăm sóc nuôi dưỡng, chữa trị, đồng thời đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu cơbản của việc nuôi con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em
Việc giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm connuôi đã đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của người xin nhận con nuôi,tăng cường được mối quan hệ gắn bó giữa họ với Việt Nam, đồng thời giảmbớt phần nào gánh nặng về kinh tế, nhất là đối với các gia đình đông con hoặc
Thứ nhất, về nguyên tắc, chỉ giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con
nuôi ở những nước cùng tham gia hoặc ký kết với Việt Nam điều ước quốc tế
về hợp tác nuôi con nuôi Với những nước chưa ký kết điều ước quốc tế, thìchỉ giải quyết trong một số trường hợp ngoại lệ có tính nhân đạo
Thứ hai, công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi quốc tế được giao
tập trung vào một cơ quan đầu mối là Cục Con nuôi thuộc Bộ Tư pháp Cơ
Trang 17quan này đồng thời đảm nhiệm chức năng của cơ quan Trung ương về connuôi quốc tế của Việt Nam theo các HĐHTNCN giữa Việt Nam với các nước
và tham gia vào một số khâu trong quá trình giải quyết cho trẻ em Việt Namlàm con nuôi nước ngoài
Thứ ba, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước ở địa phương với
nhau và với cơ quan trung ương đã được kiện toàn một bước Nhiều tỉnh đãban hành Quy chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan Tư pháp, Lao động-Thương binh và Xã hội, Công an, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việcgiải quyết hồ sơ nuôi con nuôi, tạo ra sự kiểm tra thường xuyên hơn đối vớihoạt động nuôi con nuôi quốc tế tại địa phương Điều đó có ý nghĩa tích cựctrong việc phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật nhằm mục đích trụclợi
Thứ tư, tạo khung pháp lý cho phép các tổ chức nuôi con nuôi nước
ngoài vào hoạt động tại Việt Nam Trên cơ sở các Hiệp định về hợp tác nuôicon nuôi và Nghị định 68/CP, trong các năm qua, Bộ tư pháp đã cấp giấyphép cho khoảng 70 tổ chức con nuôi nước ngoài vào hoạt động tại Việt Namtrên nguyên tắc nhân đạo, phi lợi nhuận [40] Các tổ chức này đã có nhiềuđóng góp tích cực, hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ cho nhiều trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt làm con nuôi người nước ngoài
- Có sự cải thiện đáng kể về điều kiện vật chất trong các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em.
Trong những năm qua, cả nước có khoảng 120 cơ sở bảo trợ xã hội dongành lao động - thương binh -xã hội quản lý, được phép giới thiệu trẻ emlàm con nuôi, theo chỉ định của các Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh [37] Hầu hếtcác tỉnh thành phố đều đã có (ít nhất là một) cơ sở nuôi dưỡng để có thể đảmnhiệm việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em Việc thực hiện các dự án hỗ trợ nhânđạo từ các tổ chức con nuôi nước ngoài, đã góp phần quan trọng cải thiện về
cơ sở vật chất, đời sống của nhiều cơ sở nuôi dưỡng, giải quyết những khókhăn nhất định của địa phương
Trang 18Theo báo cáo chưa đầy đủ, từ năm 2003 đến nay, tổng số hỗ trợ nhânđạo bằng tiền và vật chất trị giá đạt khoảng 160 tỷ đồng [38] Đây là nhữngcon số ấn tượng về sự hỗ trợ hữu hiệu của các cơ sở nuôi dưỡng, giúp cho các
cơ sở nuôi dưỡng cải thiện đáng kể cơ sở vật chất và điều kiện chăm sóc, nuôidưỡng trẻ
- Cải tiến một bước trình tự, thủ tục giải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài.
Thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế được cải tiếnmột cách đáng kể Nhiều loại biểu mẫu hồ sơ được ban hành bảo đảm thốngnhất thi hành trên phạm vi cả nước Quy trình xử lý hồ sơ được thực hiệnchặtchẽ hơn giảm bớt thủ tục phiền hà hành chính giấy tờ, đảm bảo tính khả thitrong việc giải quyết hồ sơ Sự tham gia của Cục Con nuôi đã tăng cường việckiểm tra, giám sát hoạt động cho con nuôi nước ngoài, tháo gỡ những vướngmắc, ách tắc, hạn chế và ngăn ngừa các vi phạm trong quá trình giải quyết,tăng cường sự quản lý của cơ quan Nhà nước
Trong quy trình giải quyết việc nuôi con nuôi, trách nhiệm của các cơ
quan Nhà nước (như Cục Con nuôi, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Văn phòng Uỷ
ban nhân dân tỉnh, cơ sở nuôi dưỡng, Công an và uỷ ban nhân dân cấp xã)
được quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của từng khâu liên quan đến hồ sơcủa người xin nhận con nuôi và hồ sơ của trẻ em
- Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường.
Công tác thanh tra, kiểm tra đối với việc giải quyết cho trẻ em làm connuôi nước ngoài thời gian qua cũng đã được tăng cường một bước, góp phầntích cực vào việc phát hiện, ngăn ngừa và xử lý vi phạm trong lĩnh vực nuôicon nuôi nước ngoài, nhằm ổn định tình hình, phục vụ đắc lực cho công tácquản lý nhà nước trong lĩnh vực này
- Hợp tác quốc tế về nuôi con nuôi không ngừng được cải thiện, mở rộng.
Trang 19Việc quy định nguyên tắc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nướcngoài thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi giữa
Việt Nam và các nước khác Nguyên tắc này là “chìa khoá” để mở rộng cánh
cửa hợp tác quốc tế về nuôi con nuôi giữa Việt Nam với các nước và vùnglãnh thổ Nghị định 184/ CP trước đây không có quy định này
2.1.2 Những khó khăn, bất cập khi áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
- Nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi trong đó có nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Một trong những bất cập, tồn tại cơ bản là trong xã hội, các cơ quannhà nước và trong nhân dân còn nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôinói chung và nuôi con nuôi nước ngoài nói riêng, nhất là về tính nhân đạo,nhân văn và các vấn đề pháp lý có liên quan
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trong lĩnh vực này nhìnchung còn yếu, chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực hiện thường xuyên
và thống nhất ở các địa phương
- Hiện tượng làm sai lệch nguồn gốc trẻ em vẫn còn.
Một quyết định cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, trước khiđược đưa ra cần được cân nhắc kỹ càng, chính xác, suy xét trên mọi phươngdiện Bởi một hành vi sai phạm, sẽ gây hậu quả khôn lường không những đốivới trẻ em, người xin con nuôi, tổ chức con nuôi mà còn ảnh hưởng đến quan
hệ giữa nước cho con nuôi và nước nhận con nuôi Vấn đề này đang là mộtthực tế cần hoàn thiện, nhiều kẻ lợi dụng hoạt động nhân đạo này để trục lợi,nhiều người lợi dụng chức quyền để mưu lợi cá nhân
Cũng do sự nhận thức còn hạn chế, đặc biệt là do động cơ trục lợi cánhân, nên thực tế dẫn đến hiện tượng làm sai lệch hồ sơ, giấy tờ về nguồn gốccủa trẻ em từ phía cán bộ công chức hoặc cán bộ có chức quyền ở địaphương Hành vi này, vô hình chung đã tiếp tay cho tệ nạn làm giấy tờ nhằmmục đích trục lợi, qua đó xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ
Trang 20em, gây hậu quả xấu cho xã hội Ví dụ như năm 2008 vừa qua tại Tỉnh NamĐịnh, Công an đã phát hiện đường dây đưa trẻ em ra nước ngoài làm con nuôi
từ việc điều tra vụ làm giả hồ sơ trẻ em, cho thấy tệ nạn tham nhũng, trục lợicủa cá nhân có thẩm quyền…
- Thiếu sự gắn kết giữa con nuôi trong nước và con nuôi quốc tế.
Theo quy địnhcủa quốc tế, thì nguyên tắc ưu tiên là phải chú trọng việcnuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi nước ngoài chỉ là biện pháp thay thếcuối cùng khi không thể tìm được mái ấm gia đình cho trẻ em ở trong nước.Đây cũng là nguyên tắc quan trọng của Công ước Lahaye 1993
Các cơ sở bảo trợ xã hội trẻ em cũng chưa có sự phân loại một cáchchính thức: có những nơi đựơc giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nướcngoài, nhưng có nơi chỉ được giới thiệu trẻ em làm con nuôi trong nước, thậmchí có nơi không được giới thiệu trẻ em làm con nuôi Hiện nay cả nước cótrên 378 cơ sở nuôi dưỡng trẻ em nhưng chỉ có 91 cơ sở đó trong số đó đựơcgiới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài theo sự chỉ định của Uỷ ban nhândân cấp tỉnh [41] Điều này đã tạo sự phân biệt đối xử, là nguyên nhân làmphát sinh sự độc quyền của các cơ sở nuôi dưỡng của nhà nước trong việc giớithiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài
Pháp luật về HN & GĐ, cũng như về đăng ký hộ tịch, đều chưa có biệnpháp bảo đảm thực thi quyền của trẻ em là đựơc ưu tiên nuôi dưỡng ở trongnước Điều này đã tạo kẻ hở cho hiện tượng tiêu cực trong quá trình giới thiệu
và giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài
- Công tác quản lý Văn phòng con nuôi nước ngoài còn nhiều hạn chế.
Văn phòng con nuôi của các nước hoạt động tại Việt Nam một mặt phảituân theo pháp luật của nước nhận Nhiều nước có các quy định khác nhau vềhoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài, nhất là các quy định về tài chính.Khả năng tài chính của các tổ chức con nuôi nước ngoài cũng rất khác nhau,nên hiệu quả hoạt động tài chính cũng khác nhau Thời gian qua, các tổ chứcnày đều thực hiện hỗ trợ nhân đạo cho các cơ sở nuôi dưỡng chủ yếu bằng
Trang 21tiền mặt Pháp luật nước ta quy định về hỗ trợ nhân đạo, quản lý việc tiếpnhận, sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo nhìn chung còn thiếu và chưa cụthể, lỏng lẻo, thiếu minh bạch, rõ ràng.
- Thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con nuôi còn một số bất cập.
Theo thông tư 08/2006/TT-BTP, các cơ sở nuôi dưỡng phải gửi danhsách trẻ có đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài về Cục qua Sở Tư pháp.Nhưng trên thực tế quy định này chưa được thực hịên một cách triệt để Các
cơ quan khác như Sở Tư pháp, Cục Con nuôi cũng chỉ là cơ quan kiểm tra vàcho ý kiến đối với hồ sơ giấy tờ trẻ em do các cơ sở nuôi dưỡng lập theo quyđịnh của pháp luật
Ngoài ra, nhiều địa phương giao toàn bộ khâu chuẩn bị hồ sơ trẻ emcho cơ sở nuôi dưỡng, Sở Tư pháp chỉ kiểm tra và làm công văn gửi Cục Connuôi Nhiều địa phương trực tiếp gửi danh sách cho Cục mà không thông qua
Sở Tư pháp Điều này trái với quy định của thông tư 08/2006/TT-BTP, đồng
thời là kẻ hở để cơ sở nuôi dưỡng “đạo diễn” hồ sơ trẻ em, làm sai lệch
Đối với cấp xã, có hiện tượng chính quyền địa phương thông đồng vớinhững người môi giới, trục lợi trong việc thu gom trẻ và làm sai lệch hồ sơtrẻ
Đối với cấp tỉnh, nhiều nơi chưa ban hành cơ chế phối hợp Có nơi banhành nhưng lại mang tính hình thức khó triển khai trên thực tế
Đối với cấp trung ương, còn thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp
và Bộ Lao động- Thương binh và xã hội trong việc hoạch định chính sách về
Trang 22nuôi con nuôi quốc tế, về cơ sở bảo trợ xã hội, về các vấn đề quản lý tàichính, hỗ trợ nhân đạo.
- Hiện tượng môi giới trung gian trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn diễn biến phức tạp.
Các hoạt động môi giới trung gian bất hợp pháp trong lĩnh vực nuôicon nuôi chưa giảm, mà còn diễn biến phức tạp, tinh vi, kín đáo hơn, trong đó
có sự hấp dẫn về lợi ích kinh tế có thể được coi là động cơ chính Cùng với sựcạnh tranh giữa các tổ chức con nuôi nước ngoài tại các địa phương với nhau,còn xuất hiện sự cạnh tranh của một số tổ chức dịch vụ, du lịch, văn phòngluật sư… Nguyên nhân của tình trạng này là Việt Nam chưa cho phép tổchức nuôi con nuôi trong nước hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài Trong khi vấn đề kiểm tra, quản lý, thanh tra và xử lý củachúng ta còn nhiều hạn chế thì việc tiếp tay của những người trực tiếp thamgia quản lý hồ sơ con nuôi đã làm cho các hiện tượng môi giới trung gian khókiểm soát
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật hiện hành giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi quốc tế, pháp luật là công cụmang tính hiệu quả và hiệu lực nhất Pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế hiệnhành ở Việt Nam gồm có: Các điều ước quốc tế và pháp luật trong nước Điềuước quốc tế, có các HĐTTTP & PL mà Việt Nam đã ký với các nước, trong
đó có điều chỉnh ở mức độ nhất định về vấn đề nuôi con nuôi quốc tế Bêncạnh đó, còn có các HĐHTNCN mà Việt Nam đã ký với các nước và vùnglãnh thổ Về phía pháp luật quốc gia, vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài được quy định trong các văn bản như: Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 cụ thể ở điều 105; Nghị định 68/CP quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài; Nghị định 69/CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định68/CP; Thông tư số 07/BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định
Trang 2368/CP; Thông tư 08/BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài.
Cùng với xu thế hội nhập, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ởViệt Nam trong những năm gần đây có xu hướng tăng cao Quy định củapháp luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc nuôi con nuôi quốc tế.Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
sẽ cho ta thấy những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết
2.2.1 Nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Thứ nhất, đảm bảo việc cho-nhận trẻ em làm con nuôi chỉ được thực
hiện trên tinh thần nhân đạo, nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em và tôntrọng các quyền cơ bản của trẻ em đã được pháp luật quốc gia và pháp luậtquốc tế ghi nhận
Nguyên tắc này khẳng định chủ trương chính sách đúng đắn nhất quáncủa Đảng và Nhà nước ta trong việc cho người nước ngoài nhận trẻ em ViệtNam làm con nuôi, nhằm mục đích cao nhất là tìm cho trẻ có hoàn cảnh khókhăn một gia đình thay thế cho gia đình gốc của trẻ
Đồng thời để đảm bảo nguyên tắc nhân đạo, Nghị định 68/CP quy định
“ nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi nhằm mục đích bóc lột sức lao
động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”
[7] Đây là nguyên tắc trước đây chưa được quy định (Nghị định 184/ CP)
Có thể thấy rằng việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài dựa trênnguyên tắc tối thượng của Công ước Lahaye 1993 [1]
Thứ hai, việc cho người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ
em có quốc tịch Việt Nam làm con nuôi chỉ được xem xét giải quyết nếu ViệtNam và nước người nhận nuôi thường trú đã ký kết hoặc cùng gia nhập điều
ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi (trừ trường hợp ngoại lệ) Đây là một
quy định mới so với quy định của Nghị định 184/ CP trước đây và đã làmthay đổi căn bản về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi Việc đề ra nguyêntắc này nhằm tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho vấn đề bảo vệ trẻ em Việt Nam
Trang 24khi được làm con nuôi ở nước ngoài, qua đó góp phần hạn chế các hiệntượng tiêu cực có thể xảy ra liên quan đến việc cho và nhận con nuôi.
Tuy nhiên nhu cầu xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoàirất lớn, việc thực hiện nguyên tắc này cũng rất phức tạp đối với việc xin connuôi của những người thường trú tại các nước chưa có điều ước quốc tế vềnuôi con nuôi với Việt Nam Trong điều kiện chưa thể gia nhập Công ướccũng như không thể cùng một lúc ký kết hiệp định với tất cả các nước xinnhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, pháp luật Việt Nam cũng tính đếntrường hợp ngoại lệ - tức là có thể cho phép người nước ngoài ở những nướcchưa ký kết điều ước quốc tế với Việt Nam, được nhận trẻ em Việt Nam làm
con nuôi trong trường hợp xin đích danh trẻ mồ côi tàn tật đang sống tại gia
đình hoặc trường hợp giữa những người xin nhận và trẻ em có quan hệ họ hàng thân thích với nhau Nếu người nước ngoài không có quan hệ họ hàng
thân thích thì phải có thời gian sinh sống, làm việc, học tập tại Việt Nam ítnhất là từ 6 tháng trở lên
Đây là nguyên tắc quan trọng vì nó yêu cầu việc giải quyết nuôi connuôi phải đặt ở tầm quan hệ hai Nhà nước, chứ không còn đơn thuần là quan
hệ giữa người xin con nuôi, người cho con nuôi, và cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền Đồng thời việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo điều kiệnthuận lợi để tiến tới gia nhập Công ước Lahay Tuy nhiên việc nhận nuôi connuôi giữa những người có quan hệ họ hàng thân thích, pháp luật chưa quyđịnh cụ thể nên còn có sự hiểu sai hay không phù hợp khi áp dụng Mặc dùThông tư 08/BTP đã có hướng dẫn về vấn đề này (điểm 1 mục II), song chính
vì sự quy định không tập trung các văn bản thiếu sự thống nhất vì thế việc ápdụng còn lúng túng và nhân dân vẫn chưa nắm bắt được hết quy định củapháp luật Do đó xây dựng Luật nuôi con nuôi là cần thiết
Pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ về chủ trương, quan điểmchung của Nhà nước đối với việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài.Theo quy định của Công ước Lahay, việc cho con nuôi nước ngoài chỉ được
Trang 25coi là một giải pháp cuối cùng khi không thể tìm một gia đình thích hợp trongnước cho trẻ em Bởi vì việc cho trẻ em làm con nuôi phải cố gắng duy trìđược bản sắc văn hoá, phong tục tập quán, ngôn ngữ… của đứa trẻ Vậy phápluật cần quy định rõ và cụ thể về vấn đề này trong pháp luật nuôi con nuôi.
2.2.2 Xác định các điều kiện của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Theo pháp luật Việt Nam việc nuôi con nuôi nói chung và nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng phải nhằm gắn bó tình cảm giữa ngưòinuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con, đảm bảo cho người con chưathành niên được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt, phù hợp với
đạo đức xã hội [23] Để thực hiện theo đúng mục đích tốt đẹp là “đem đến
cho đứa trẻ một gia đình chứ không phải là đem đến cho gia đình một đứa trẻ”, đồng thời đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Pháp luật quy
định về điều kiện nhận nuôi con nuôi bao gồm điều kiện nhận đối với ngườinhận nuôi và con nuôi, điều kiện về sự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ
và người được nhận làm con nuôi
* Điều kiện của người được nhận làm con nuôi.
Về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi là trẻ em ViệtNam, Điều 36 Nghị định số 68/CP đã được sửa đổi, bổ sung ở Nghị định 69/
CP quy định, người được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trởxuống Căn cứ vào đặc tính thể chất, ở lứa tuổi này các em chưa có khả năng
tự lập nên cần được nuôi dưỡng, quan tâm, chăm sóc, và giáo dục Ngườiđược nhận làm con nuôi có thể trên 15 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu là trẻ em tàntật hoặc mất năng lực hành vi dân sự Trẻ em chỉ có thể làm con nuôi của mộtngười hoặc cả hai vợ chồng nhưng phải là người khác giới có quan hệ hônnhân
Tuy nhiên, theo quy định của Công ước Lahaye 1993 cũng như so sánh
về độ tuổi của trẻ đuợc cho làm con nuôi giữa Việt Nam với một số nước(các nước có liên quan trong quan hệ cho-nhận con nuôi), cụ thể theo quy
Trang 26định của Công ước, thì trẻ em có thể được nhận làm con nuôi là những ngườidưới 18 tuổi [1] Điều đó cho thấy sự không tương đồng cần sửa đổi cho phùhợp với chính sách hội nhập của Nhà nước ta.
Theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượngbảo trợ xã hội (Điều 4-5), chỉ đưa vào cơ sở nuôi dưỡng những trẻ em bị bỏrơi, mồ côi cha mẹ, không nơi nương tựa Trẻ em Việt Nam được cho làmcon nuôi phải là trẻ đang sống tại các cơ sở nuôi dưỡng hợp pháp thành lậptại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Ngoài ra, những trẻ em sốngtrong gia đình mà có quan hệ họ hàng, thân thích với người nhận nuôi hoặc
có anh chị em ruột đang làm con nuôi của người xin nhận nuôi cũng đượcxem xét giải quyết (khoản 9 Điều 1 Nghị định 69/CP và mục II Thông tư 08/TT-BTP) Quy định này thu hẹp diện trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng
và chặt chẽ hơn so với quy định của Nghị đinh 184/CP về đối tượng trẻ em
có thể cho người nước ngoài nhận làm con nuôi; xoá bỏ việc cho nhận trẻ em
sơ sinh từ các nhà hộ sinh, cơ sở y tế…Đồng thời đáp ứng được mục đíchnhân đạo của chính sách cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làmcon nuôi mà Nhà nước ta đề ra
Tuy vậy, với quy định này nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khănkhông thể có điều kiện được nhận làm con nuôi người nước ngoài nếu khôngđược nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc không có quan hệ họ hàng thânthích với người nhận nuôi, Điều này đã hạn chế nguyện vọng cho con làmcon nuôi của các gia đình khó khăn không đảm bảo được cuộc sống tốt chocon cái Vì vậy pháp luật nên quy định mở rộng diện trẻ em được nhận vàocác cơ sở bảo trợ xã hội để đảm bảo điều kiện sống của trẻ em có hoàn cảnhkhó khăn và khắc phục hiện tượng vứt bỏ con sơ sinh, dẫn tới nguy hiểm chotính mạng của đứa trẻ
* Điều kiện đối với người nhận nuôi.
Người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải có đủ cácđiều kiện của người nhận nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 69 Luật HN &
Trang 27GĐ và theo pháp luật của nước mà người đó là công dân (khoản 1 Điều 105
Luật HN & GĐ) Theo đó pháp luật áp dụng để xác định điều kiện của ngườinhận nuôi là luật quốc tịch, tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghịđịnh 68/CP thì người nước ngoài phải đáp ứng được các điều kiện của người
nhận nuôi theo quy định của pháp luật của nước nơi người nhận nuôi thường
trú, tức áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú Như vậy, pháp luật quy định không
thống nhất về luật áp dụng để xác định các điều kiện của người nhận nuôi
Bên cạnh đó, điều kiện của người nhận nuôi còn được xác định qua cácquy phạm xung đột thống nhất trong các HĐTTTP & PL và HĐHTNCN giữanước ta với các nước, việc lựa chọn pháp luật dựa vào hai hệ thuộc trên
Các điều kiện của người nhận nuôi theo pháp luật Việt Nam được quyđịnh tại Điều 69 Luật HN & GĐ là hết sức cần thiết nhằm khẳng định tư cáchđạo đức, ý thức pháp luật, điều kiện về thời gian, về kinh tế của người nuôi,đảm bảo cho con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt nhất, đượclớn lên trong môi trường lành mạnh Tuy nhiên việc áp dụng quy định củaĐiều 69 nói trên trong thực tiễn còn nhiều vướng mắc, bất cập, như việc xácđịnh tư cách đạo đức của người nhận nuôi là việc khó khăn, pháp luật cần quyđịnh rõ ràng
Qua nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thế giới cho thấy, hầuhết pháp luật của các nước đều quy định yêu cầu về độ tuổi của nguời nhậnnuôi Tuy nhiên, độ tuổi tối thiểu để có thể nhận nuôi của các nước rất khácnhau (ví dụ Thuỵ Điển quy định độ tuổi của người có thể nhận con nuôi là từ
25 tuổi trở lên; Pháp quy định độ tuổi này là từ 30 tuổi) Ngoài ra,pháp luậtcủa các nước còn quy định về độ tuổi chênh lệch giữa người nhận nuôi vàcon nuôi (ví dụ Pháp quy định người nhận người nhận nuôi phải nhiều hơncon nuôi 15 tuổi…) Sở dĩ pháp luật các nước đưa ra yêu cầu về độ tuổi tốithiểu và mức chênh lệch vì chỉ đến độ tuổi nhất định thì người ta mới có đủkhả năng về tài chính, có đủ kinh nghiệm về tâm lý xã hội… để gánh vác
Trang 28nghĩa vụ và về mặt sinh học giữa hai thế hệ kế cận nhau là cha mẹ và con thìbao giờ cũng có chênh lệch về tuổi.
Pháp luật hiện hành quy định người nhận nuôi phải hơn con nuôi từ 20tuổi; quy định như vậy là chưa chặt chẽ, chưa phù hợp với mục đích của việcnuôi con nuôi Bởi vì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được hình thànhtrên cơ sở, ý chí của các bên Mặt khác, việc quy định giới hạn độ tuổi tối đacủa cha mẹ nuôi là cần thiết vì mục đích của việc nhận nuôi đảm bảo cho trẻ
em được chăm sóc, nuôi dưỡng trong một môi trường tốt, nếu sự chênh lệch
về độ tuổi giữa người nuôi và con nuôi quá lớn thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền lợi của trẻ
* Sự thể hiện ý chí của các bên.
Bản chất của việc nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và congiữa hai bên, tạo lập gia đình mới không dựa trên cơ sở huyết thống Do đó
sự thể hiện ý chí của các chủ thể có liên quan trong việc cho - nhận con nuôi
có ý nghĩa quan trọng
Trước hết, cha mẹ đẻ có quyền quyết định cho con làm con nuôi trên cơ
sở tự nguyện, sự tự nguyện thật sự xuất phát trên cơ sở nhận thức đầy đủ ýnghĩa và hệ quả pháp lý của việc cho làm con nuôi phù hợp với mong muốncủa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi Việc quy định về sự thể hiện ý chí của cha mẹ
đẻ, người giám hộ trong việc cho con làm con nuôi người khác là rất quan
trọng Khoản 1 Điều 71 Luật HN & GĐ thì việc cho con làm con nuôi phải
được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ Cha mẹ đẻ
hoặc người có quyền cho trẻ làm con nuôi cần thể hiện ý chí một cách rõràng, vì sự thể hiện ý chí có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát sinh hệ quả pháp
lý của việc nuôi con nuôi ở nước nhận, điều đó còn phụ thuộc vào cho conlàm con nuôi theo hình thức nào, đơn giản hay đầy đủ Vì vậy pháp luật cần
có sự quy định hình thức nuôi con nuôi đầy đủ bên cạnh hình thức nuôi connuôi đơn giản, đồng thời quy định cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ phải ghi rõ
Trang 29cho con nuôi theo hình thức nào Như vậy sẽ không xảy ra tranh chấp về việcthực hiện việc nuôi con sau này giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi.
Đồng thời, việc quy định người giám hộ (gồm cả giám hộ đương nhiên
và giám hộ được cử) có quyền cho trẻ làm con nuôi, khi cả cha và mẹ đẻ củatrẻ đều đã chết, đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc đều không xác địnhđược mà không cần sự đồng ý của bất cứ người nào khác như họ hàng, ngườithân thích của trẻ…; quy định này là chưa chặt chẽ, pháp luật cần bổ sung,đảm bảo lợi ích của con nuôi, vì người giám hộ có thể lợi dụng chức quyền
đó để trục lợi
Theo Nghi định 158/CP “người xin nhận con nuôi phải nộp đơn xin
nhận con nuôi” Điều đó chứng tỏ họ hoàn toàn tự nguyện và mong muốn
nhận con nuôi Ngoài ra việc nuôi con nuôi phải có sự đồng ý của người connếu người đó đã từ đủ 9 tuổi trở lên Pháp luật của hầu hết các nước đều quyđịnh việc nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của người được nhận làm connuôi nếu đạt đến độ tuổi nhất đinh (ví dụ Trung Quốc quy định là 10 tuổi trởlên, Đức quy định 14 tuổi, Pháp quy định là 13 tuổi…) Như vậy, việc nuôicon nuôi phải được sự đồng ý của các bên để làm cơ sở cho các bên thực hiệntốt quyền và nghĩa vụ
Ngoài ra trong trường hợp cả hai vợ chồng nhận con nuôi thì phải làmđơn yêu cầu; trường hợp chỉ có một người muốn nhận thì phải được sự đồng
ý của người kia Sự đồng ý của họ có ý nghĩa quan trọng vì nó là điều kiệntạo ra sự hài hoà trong việc nuôi dạy đứa trẻ trong gia đình cha, mẹ nuôi
* Thời gian thử thách trong việc cho – nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Việc nuôi con nuôi nhằm hình thành quan hệ cha mẹ và con mới mộtcách hợp pháp, mà không dựa trên cơ sở huyết thống, nên đó là việc không dễdàng Bởi vì việc dịch chuyển trẻ em đến một môi trường khác lạ về văn hoá,ngôn ngữ, điều kiện sống…ảnh hưởng rất lớn đến tâm sinh lý của trẻ Mặtkhác, để thiết lập được tình cảm cha mẹ con thì người nhận nuôi và con nuôi