Phát huy truyền thống của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh, nhân dân Sóc Trăng thực hiện cuộc vận độn
Trang 1TRẦN VIỆT HÙNG (Chủ biên) TRINH CONG LY — HO VAN SAU — NGUYEN VAN BA
LICH SU
ĐỊA PHƯƠNG SOC TRANG
(TAI LIEU DẠY - HOC TAI CAC TRUGNG THCS VA THPT THUOC TINH SOc TRANG)
(Tái bản lần thứ nhất)
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Trang 3ịch sử địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc học tập và
lên cứu lịch sử dân tộc Chính vì thế, việc giảng dạy Lịch sử địa phương
ợc Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào Chương trình giảng dạy Lịch sử cấp
ung hoc cơ sở và Trung học phổ thông
Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc dạy và học Lịch sử địa phương còn gặp khó khăn, lúng túng do thiếu tư liệu Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giáo
viên trong việc dạy Lịch sử địa phương và giúp học sinh có thêm nguồn tư liệu quý giá, bổ ích, Sở Giáo dục và Đào tạo Sóc Trăng tổ chức biên soạn cuốn sách
“Lịch sử địa phương Sóc Trăng”
Nội dung cuốn sách được chia làm hai phần, cấp Trung học cơ sở và Trung
học phổ thông bao gồm 10 bài, dùng để dạy - học từ lớp 6 đến lớp 12 và một số
bài đọc thêm viết về lịch sử hình thành, phát triển, những địa danh, di tích
văn hoá - lịch sử, các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, các nhân vật lịch sử tiêu
biểu của vùng đất quê hương Sóc Trăng và đặc biệt là những giai đoạn lịch
sử hào hùng của quân và dân Sóc Trăng đấu tranh chống kẻ thù để giành độc lập, tự do cho quê hương, dân tộc
Với nội dung cuốn “Lịch sử địa phương Sóc Trăng”, chúng tôi hi vọng sẽ giúp thầy cô giáo có thêm nguồn tư liệu quý phục vụ việc giảng dạy và các em học sinh có thêm những thông tin, kiến thức bổ ích vẻ lịch sử vùng đất nơi mình đang sinh sống, từ đó sẽ tự hào và yêu quý quê hương mình hơn, có ý thức và trách nhiệm để góp phần xây dựng, phát triển quê hương Sóc Trăng
ø quá trình biên soạn, chúng tôi đã cố gắng chọn lọc tư liệu, khảo
Trang 5Phan mot
LICH SU DIA PHUONG CAP TRUNG HOC CO SG
1 Sự hình thành và phát triển vùng đất Sóc Trang
Lịch sử hình thành vùng đất Sóc Trăng gắn liền với lịch sử mở mang bờ cõi
của cha ông và lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ
Cách đây khoảng 300 năm, vùng đất Sóc Trăng vẫn chưa được khai phá bao nhiêu Trừ phần đất giỏng cát, còn lại đa số đều còn ngập nước, rừng rậm
hoang vu, dưới sông có nhiều cá sấu, trên bờ có nhiều thú dữ Dân cư vẫn còn
rất thưa thớt
Sau một thời gian Mạc Cửu”' chiêu lập cư dân khai khẩn đất hoang, các thương thuyền đến Hà Tiên mua bán tấp nập, hải cảng trở nên phôn thịnh
Năm 1714, chúa Nguyễn Phúc Chu thành lập trấn Hà Tiên và phong Mạc Cửu
làm Tổng binh Năm 1735, Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ (Mạc Thiên
Tích) được chúa Nguyễn phong làm Tổng binh đại đô đốc của trấn Hà Tiên
Mạc Thiên Tứ tiếp tục sự nghiệp của cha, củng cố vùng Rạch Giá, Cà Mau, rồi
từ Rạch Giá tiến qua phía đông Đến năm 1737, lập Trấn Di, nằm ở hữu ngạn
sông Ba Thắc (bao gồm vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau ngày nay) Trung
tâm hành chính của Trấn Di đặt tại Đại Ngãi ngày nay Trấn Di là địa danh, là
đơn vị hành chính đầu tiên của vùng đất Sóc Trăng
(1), Mac Cửu vốn là một di thần của nhà Minh bất phục triều đình Mãn Thanh, cùng đoàn tuỳ tùng di
cư đến vùng đất Thuỷ Chân Lạp ở Đàng Trong
Trang 6Nam 1802, vua Gia Long chia Gia Dinh thanh 5 tran gém : Phién An, Bién Hoà, Vĩnh Tường, Hà Tiên, Vĩnh Thanh Vùng đất Sóc Trăng lúc này là một phần của huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh
Năm 1832, với cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng, vùng đất Nam Ki được chia thành 6 tỉnh” Vùng đất Sóc Trăng thuộc tỉnh Vĩnh Long
Đến năm 1835, vùng đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) được sáp nhập
vào tỉnh An Giang, lập thành phủ Ba Xuyên, gồm 3 huyện : Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định
Sau khi chiếm được Nam Kì, năm 1876, thực dân Pháp chia vùng đất này
thành 4 khu vực hành chính gồm : Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc,
mỗi khu vực hành chính chia thành nhiều hạt Hạt Sóc Trăng thuộc khu vực Bát Sắc
Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 27 - 12 - 1892 quy định Nam Kì có 2 thành phố (Sài Gòn, Chợ Lớn) và 20 khu, trong đó có khu Sóc Trăng
Năm 1900, tỉnh Sóc Trăng được thành lập, gồm 3 quận : Châu Thành, Kế Sách, Bang Long (nay là Long Phú)
Cuối năm 1957, tỉnh Sóc Trăng bao gồm cả phần đất của tỉnh Bạc Liêu và
huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá Đến cuối năm 1973, tỉnh Bạc Liêu được tái lập, các đơn vị hành chính trước năm 1957 thuộc tỉnh Bạc Liêu được trả về cho tỉnh Bạc Liêu, riêng huyện Giá Rai (tỉnh Sóc Trăng) giao cho tỉnh Cà Mau
từ năm 1961
Sau đại thắng Mùa xuân năm 1975 thống nhất đất nước, đến tháng 2 — 1976, tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang
(1) Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long.
Trang 7Thang 12 — 1991, tinh Sóc Trăng được tái thành lập trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hậu Giang gồm 6 huyện và 1 thị xã, đó là : Kế Sách, Vĩnh Châu, Mỹ Tú,
Thạnh Trị, Long Phú, Mỹ Xuyên và thị xã Sóc Trăng
Từ khi tái lập tỉnh đến nay, các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Sóc
"Trăng tiếp tục có một số thay đổi Một số huyện được thành lập mới : Cù Lao
Dung (2002), Nga Nam (2003), Chau Thanh (2008), Tran Dé (2009) Nam 2007,
thị xã Sóc Trăng được công nhận là thành phố Sóc Trăng trực thuộc tỉnh Sóc
Trang Nam 2011, huyện Vĩnh Châu được nâng lên thành thị xã
Như vậy, đến nay tỉnh Sóc Trăng có 9 huyện (Thạnh Trị, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên,
Long Phú, Kế Sách, Cù Lao Dung, Ngã Năm, Châu Thành, Trần Đề), 1 thành
phố (Sóc Trăng) và 1 thị xã (Vĩnh Châu)
2 So luge về con người Sóc Trăng
Dân cư Sóc Trăng chủ yếu gồm 3 dân tộc : Kinh, Khmer, Hoa Trải qua bao bước thăng trầm của lịch sử, ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, đoàn kết,
chống giặc ngoại xâm ngày càng được củng cố bền vững Trong quá trình phát
triển, cộng đồng 3 dân tộc đã có mối quan hệ gắn bó huyết thống, xây dung
nên tình thân ái, đàm bọc lẫn nhau, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn và trong lao
động sản xuất, tôn trọng nhau trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín
ngưỡng tạo nên cuộc sống hài hoà về kinh tế, văn hoá, xã hội của cộng đồng
các dân tộc Đặc biệt, trong quan hệ giao tiếp, người dân Sóc Trăng còn thể hiện
đức tính quý trọng nhân nghĩa, thẳng thắn, bộc trực, tình cảm chân thành
Đó là bản tính của người dân Nam Bộ nói chung, của người dân Sóc Trăng
nói riêng
Tinh thần yêu nước của nhân dân Sóc Trăng được thể hiện khá rõ nét
Ngay từ buổi đầu khai phá, mở mang vùng đất mới, nhân dân Sóc Trăng đã anh
dũng chống lại bọn cướp biển Giava (Inđônêxia), quân xâm lược Xiêm La (Thái
Lan) để bảo vệ cuộc sống của mình cũng như bảo vệ quê hương
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Sóc Trăng cùng với nhân
dân các tỉnh Nam Kì kiên cường khởi nghĩa chống giặc Tiêu biểu là cuộc khởi
nghĩa do Bá hộ Chương lãnh đạo (8 — 1867) Nhân dân Sóc Trăng còn tham gia
phong trào chống Pháp do 2 anh em Đỗ Thừa Luông và Đỗ Thừa Tự lãnh đạo
Ee
Trang 8Bước sang đầu thế kỉ XX, nhân dân Sóc Trăng còn tham gia những cuộc vận động yêu nước do các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh
khởi xướng, tham gia hội kín “Thiên địa hội” Các phong trào yêu nước trên đã khơi dậy truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của tổ tiên
Phát huy truyền thống của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh, nhân dân Sóc Trăng thực hiện cuộc vận động cách mạng dân tộc dân chủ, giành
chính quyền vào tháng 8 - 1945 Sau đó bước vào cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp đầy gian lao nhưng vô cùng anh dũng, tự hào, góp phần cùng cả nước đánh thắng kẻ thù hung bạo, buộc thực dân Pháp phải rút khỏi nước ta
Năm 1954, hoà bình lập lại chưa được bao lâu, đế quốc Mĩ tiếp tục can thiệp
và tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam Nhân dân Sóc
Trang một lần nữa cùng cả nước đứng lên làm cuộc kháng chiến vĩ đại suốt 21
năm, giành thắng lợi vẻ vang, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân Sóc Trăng cùng cả nước quyết tâm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược : xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
quê hương Sóc Trăng ngày càng giàu đẹp hơn
Trang 9BÀI HỊC THÊM
1 Sự hình thành 9 cửa sông Cửu Long đổ ra Biển Đông
Sông Mê Công bắt nguồn từ vùng núi cao ð.000m ở Tây Tạng, chảy qua địa
phận 5ð nước trước khi vào đồng bằng Nam Bộ Đây là 1 trong 10 sông lớn nhất
thế giới, có độ dài 4.220km Lưu vực của sông rộng đến 795.000km? Đoạn hạ
lưu sông Mê Công chảy qua vùng đất Nam Bộ của Việt Ñam dài khoảng 220km,
nhưng hằng năm vào mùa nước lũ, nước sông Cửu Long làm ngập từ 1,3 đến
1,4 triệu ha đồng bằng Nam Bộ
Sông Cửu Long đổ ra biển gồm 9 cửa : cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông,
Cổ Chiên, Cung Hau, Dinh An, Tran Dé, Bát Sắc
'Từ trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, một số nhà nghiên cứu Trung
Quốc, Pháp đã khảo sát và vẽ sơ đồ sông Mê Công cùng bản đổ phía nam nước
ta Tuy nhiên, do điều kiện nghiên cứu hạn chế, nên cũng chưa thể hiện đây đủ
và chính xác địa giới, diện tích từng khu vực, nhưng tên gọi các địa phương, cửa
sông được nêu khá rõ Khoảng năm 1838 — 1840, Dai Nam nhất thống chí toàn
đô có vẽ lại bản đồ Đàng Trong, được ghi chú bằng chữ Hán chỉ ghi tên các cửa
"Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Thục, cửa Mỹ Thanh Trong khi đó, bản đồ An Nưm dai
quốc, hoạ đồ của Taberd ấn hành năm 1838, vẽ lại tình hình Đàng Trong trước
khi lập địa bạ năm 1836 có ghi chú lại dòng Cửu Long đổ ra biển theo sông Tiền
ngày nay gồm có ð cửa là : cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Ray (không phải Ba Lai), Băng
Côn”), Cổ Chiên và theo sông Hậu (lúc đó Pháp gọi là Bassac) có 3 cửa là Vam
Ray, Cha Vang”), Ba Thắc
Như vậy, theo bản đỏ trên thì không có tên gọi cửa sông Cung Hầu Có thể
lúc đó, cù lao nằm giữa 2 tỉnh Bến Tre và Trà Vinh hiện nay chưa lấn dần ra
Biển Đông nên sông Cổ Chiên đổ ra biển chỉ có một cửa Sau này, khi một số cù
lao nổi ra gần cửa biển chia sông Cổ Chiên làm 2 nhánh nên mới có thêm cửa
sông mới là Cung Hầu
(1) Có thể là tên của cửa Hàm Luông sau này
(2) Li sở của vùng Trà Vinh xưa có tên gọi Tra Vang thuộc thôn Vĩnh Trường Năm 1823, được vua
Minh Mạng cho dời về Sách Thanh Sái (tức Thanh Lệ xã) Có thể do phiên âm của người Pháp từ Tra Vang sang Cha Vang chang ?
==—ễ ẽĐŒẲbẲễẼẼễễễ=ẽ
Trang 10Trong khi đó, bản đồ Nam Bộ thời phủ Gia Định (cuối thế ki XVII — dau thé ki XVIII) lại ghi rõ tên các cửa sông Cửu Long đổ ra biển như sau : dòng sông Tiền chảy ra biển có các cửa : cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ
Chiên, Cung Hầu ; dòng sông Hậu có 3 cửa đồ ra biển là Định An, Ba Thắc, Trấn Di”),
Theo dòng thời gian, 6 cửa sông Tiền đổ ra Biển Đông vẫn còn nguyên vẹn Vùng đất nằm giữa của Tiểu và của Đại (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang) Từ cửa Đại đến cửa Cổ Chiên là địa bàn của tỉnh Bến Tre Trong đó, từ cửa Đại đến cửa Ba Lai là địa phận huyện Bình Đại ; từ cửa Ba Lai và Hàm Luông là huyện Ba Tri?) ; từ cửa Hàm Luông đến cửa Cổ Chiên là huyện Thạnh Phú Còn từ cửa Cổ Chiên đến cửa Định An nằm trong khu vực của tỉnh Trà Vinh Trong đó, từ cửa Cổ Chiên đến của Cung Hầu là vùng đất thuộc huyện Châu Thành ; từ Cung Hầu đến Định An là địa bàn của huyện Duyên Hải®) Từ cửa Định An qua cửa Trản Đề là khu vực huyện Cù Lao Dung của tỉnh Sóc Trăng, một huyện được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 4— 2002, trên cơ sở tách ra từ huyện Long Phú
Cho đến ngày 22 — 3 - 2002, cửa sông Ba Lai được lấp dòng bằng con đập
Ba Lai ngang 600m, thay vào đó là cống Ba Lai dài 84m với 10 cửa đóng mở tự động Công trình này giúp cho việc ngăn mặn và ngọt hoá 115.000ha, cung cấp nước ngọt cho gần 800 nghìn dân trong một số khu vực thuộc tỉnh Bến Tre Còn tên gọi 3 cửa sông từ sông Hậu chảy ra Biển Đông là Vam Rây,
Cha Vang, Ba Thắc dần dân lại chuyển sang tên gọi mới Định An, Bát Sắc,
Tran Đề“ Tên Bát Sắc có thể được phiên âm từ Bassac, tức tên gọi con sông Cửu Long của người Pháp khi vẽ bản đồ Nam Ki, chi ca doan sông dài của Mê Công ngay từ lúc vào địa phận Nam Bộ và đổ ra Biển Đông Như vậy, truyền thuyết cho rằng có một người nào đó tên Bát Sắc đến khai phá vùng đất giáp biển của Sóc Trăng nên mới đặt tên cho cửa sông là Bát Sắc
là không có cơ sở Có thể suy luận ra rằng, do sự bồi lắng, tích tụ phù sa
nên phần đuôi cù lao Dung giáp Biển Đông (thuộc xã An Thạnh Nam, huyện
(1) Tên gọi Ba Thắc có từ trước năm 1835, có thể được phiên âm sang cách đọc của tiếng Pháp là Bassac ; còn tên Trấn Di có thể do dòng sông này chảy cặp theo đạo Trấn Di (trung tâm của đạo
đặt tại địa điểm mà ngày nay thuộc thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng)
(2) Trên khu vực này có sân chim Vàm Hồ, một địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng của Bến Tre
(3) Trên địa bản huyện này đã mở ra khu du lịch biển Ba Động thu hút khá nhiều khách du lịch trong
và ngoài tỉnh
(4) Tên gọi này có thể đọc trệch đi từ gốc từ Trấn Di mà thành Ngoài ra, cửa sông này còn có tên gọi
khác là Tranh Đề.
Trang 11Cù Lao Dung) lại mở rộng ra đã lấn mất một cửa của sông Hậu, tức cửa
Bát Sắc — cửa này nằm giữa đuôi cồn cù lao Dung và đuôi cồn Tròn (thuộc xã
Đại Ân 1 huyện Cù Lao Dung ngày nay, cồn đã kéo dài chứ không còn tròn như
trước) và cửa sông này trở thành một nhánh sông có tên là Rạch Tráng, giáp với
dòng sông Hậu có cửa sông đồ ra biển là cửa Trần Dé
2 Truyẻn thuyết về nguồn gốc tên gọi Sóc Trăng
Tên gọi Sóc Trăng đã có trên 100 năm nay Còn lâu hơn nữa, vùng đất này
có tên gọi là Ba Thắc, rồi đến Ba Xuyên Nguồn gốc của địa danh Sóc Trăng vẫn
có cơ sở khoa học để khẳng định Một vài truyền thuyết còn lưu truyền qua các
tài liệu, sách báo nghiên cứu của các thế hệ trước còn ghi lại một số thông tin có
vẻ trái ngược nhau, đó là dựa theo những bộ lịch sử Việt Nam như Khám Định
Đại Nam hội điển sự lệ, Địa bạ Nam Kì lục tỉnh hay những cuốn sách khảo cứu
của Vương Hồng Sền, Sơn Nam, Lê Hương, Hứa Hoành
Sau đây là các truyền thuyết về nguồn gốc của địa danh này
Sóc Trăng xuất phát từ gốc từ Khmer “Srok Tréang” có nghĩa là “Bãi Sậy”
vì ngày xưa, vùng đất này có nhiều lau sậy hoang vu
Sóc Trăng là do đọc trệch ra từ chữ Khmer là “Srok Kh’leang” Srok có nghĩa là xứ, là cõi ; “Khleang” là kho, vựa, chỗ chứa bạc Srok Khleang là xứ có
kho chứa bạc của nhà vua Lúc đầu tiếng Việt đọc âm ra là “Sốc Kha Lang” rồi
theo thời gian biến thành Sóc Trăng Dưới triều vua Minh Mạng, Sóc Trăng bị
đổi là Nguyệt Giang tỉnh, do triều đình nhà Nguyễn đã ép chữ “sốc” biến ra chữ
“sông”, chữ “kh'leang” ra “trăng” và đổi thành “nguyệt”
Ngoài ra, theo ông Lê Hương thì địa danh Sóc Trăng còn có một truyền thuyết khác, cũng nói về kho bạc nhưng là kho bạc, kho chứa vũ khí, kho chứa
lương thực của cuộc khởi nghĩa do Xà Na Téa và Xà Na Tua đóng quân ở Sóc
"Trăng, chống lại nhà Nguyễn, tại ấp “Sóc Vỏ”, ngày nay thuộc địa bàn thành
Trang 12
1 Cong cuộc khẩn hoang vùng đất Sóc Trăng trước thé ki XIX Đầu thế kỉ XVII, Sóc Trăng là vùng đất dân cư còn thưa thớt, phân bố rải
rác trên một số ging đất cao, hoặc đất ven sông
Người Khmer ở Sóc Trăng thời bấy giờ sống tập trung ở những vùng đất giỏng cao ráo, trồng lúa trên đất ruộng và trồng hoa màu trên đất rẫy Ngoài lúa, hoa màu họ còn trồng mía, trông dâu, song cả ruộng rẫy đều tập trung xung
quanh khu vực cư trú, ít mở rộng việc canh tác ra ngoài giới hạn phum sóc Họ chỉ khai khẩn và canh tác trên khu vực đất giỏng của Ba Thắc Người Hoa khai phá
và cư trú đầu tiên ở các giỏng ven biển, các vàm Đại Ngãi, Mỹ Thanh, Bãi Xàu, Bãi Giá Trong đó, một bộ phận không nhỏ sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, làm rẫy, trồng khoai, ngoài ra còn khai thác muối ở ven biển Sóc Trăng
Đến giữa thế kỉ XVIII, tại vùng Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá, việc khai pha bắt đầu được mở rộng và diện tích trồng lúa tăng lên cùng với làn sóng
lưu dân tiếp tục đổ đến Sóc Trăng và các vùng lân cận Trong quá trình khai
phá, lưu dân Việt và người nông dân các tộc người khác đã đưa phân lớn diện
tích khai khẩn vào sản xuất nông nghiệp, trồng lúa và các loại nông sản khác Nghề nông phát triển sớm nhất trong thời kì này và trước khi những lưu dân mới đến, những cư dân sở tại đã biết trồng lúa nhưng phạm vi còn hẹp Địa bàn
trông lúa ngày càng mở rộng, không chỉ giới hạn ở những giông đất cao mà còn toả ra các vùng đất trũng, đất ven sông, Hàu hết những nơi có lưu dân đến ở
đều được khai phá để trồng lúa, trừ những vùng đất quá sâu trũng, phèn nặng
hoặc nhiễm mặn nhiều tháng trong năm thì còn bị bỏ hoang
(1) Huynh Lứa, Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB TP Hồ Chí Minh, 1987, tr.73, 75.
Trang 13Đến cuối thế kỉ XVIII, ruộng ở Nam Bộ được canh tác theo hình thức quảng
canh Người ta chú trọng việc canh tác trên một diện tích rộng chứ chưa đầu
tư canh tác trên một diện tích hẹp, bởi vì đất đai còn quá rộng, dân cư còn thưa
thót, còn có thể dựa vào điều kiện tự nhiên gieo cấy giống trên một diện tích lớn
tự nhiên, ít bỏ công chăm sóc mà vẫn thu được khối lượng sản phẩm đáng kể
Năm 1780, chúa Nguyễn đặt dinh Long Hồ tại vùng chợ Vĩnh Long và đổi
tên là Vĩnh Trấn dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh Lúc này, Sóc Trăng
thuộc vùng Ba Thắc, trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định
Ở thế ki XVIII, trong canh tác, người nông dân cũng chú ý nhiều đến thời
vụ Vì chưa có điều kiện mở rộng việc đào kênh dẫn nước đề đảm bảo đủ nước
cho cây lúa vào mùa khô, người nông dân lúc bấy giờ mỗi năm chỉ làm một vụ
lúa vào mùa mưa Song cũng tuỳ theo chân ruộng cao hay thấp mà chọn thời vụ
gieo cấy sớm hoặc muộn Thường ruộng ở chỗ thấp trũng, được nước mưa thấm
ướt nước trước, gọi là ruộng sớm, thì gieo mạ, cấy trước Còn ruộng ở chỗ cao,
được nước mưa thấm ướt sau, gọi là ruộng muộn thì gieo mạ, cấy sau Ngoài
ra, thời vụ bắt đầu sớm hay muộn còn tuỳ thuộc mùa mưa đến chậm hay đến
sớm
Những người khai phá thời kì này, ngoài việc lợi dụng những kênh rạch
thiên nhiên, cũng đã phải tiến hành xây dựng thêm những kênh mương nhân
tạo, tất nhiên là với quy mô nhỏ, để đưa thêm nước vào chỗ ruộng cao, tiêu bớt
nước ở các chân ruộng thấp hoặc đồng trũng, rửa phèn ở những chân ruộng bị
nhiễm phèn Trong công việc này, những lưu dân khai phá đã vận dụng kinh
nghiệm và kiến thức trong nghề tròng lúa nước cổ truyền mà họ đã tiếp thu
được khi ở nơi quê hương, bản quán, đồng thời đã có nhiều sáng tạo mới thích
hợp với đặc điểm của môi trường thiên nhiên ở đây, là nơi có những vùng đất bị
nhiễm mặn và nhiễm phèn Họ đã cải tạo nhiều vùng đất xưa kia bị bỏ hoang
vì thiếu nước ngọt hoặc vì ngập úng, hoặc vì chua mặn thành những diện tích
canh tác được Trong quá trình khai phá, với đức tính kiên trì nhẫn nại, chịu
đựng gian khổ, giúp đỡ lẫn nhau, những người nông dân đã từng bước khai phá
dân vùng đất Sóc Trăng
Tuy nhiên, do cư dân quá ít, trừ một số giồng cát cao được khai phá đưa vào
canh tác của cư dân Khmer và một số người Việt, số diện tích lớn còn lại của
Sóc Trăng lúc này vẫn còn hoang vu, nhiều thú dữ
SE Œễễễ=ẽ
Trang 142 Cù lao Hoàng Dung trong buổi đầu hình thành vùng đất mới Huyện Cù Lao Dung (tỉnh Sóc Trăng) được chính thức thành lập vào năm
2002, có diện tích tự nhiên 23.603,29ha, dân số gần 60.000 người Cách nay
khoảng 200 năm, từ giữa dòng sông Bát Sắc, phù sa dần dần bồi đắp tích tụ,
hình thành nên vùng đất cồn, nổi dần lên khỏi mặt nước khi triều ròng Nhiều cây bàn, dừa nước, ô rô, cóc kèn chen nhau dày đặc trên vùng đất mới này Ban đầu, cù lao này còn rất hoang vu, cây cối rậm rạp, có nhiều thú hoang dã như
khi, heo rừng, chim, và kể cả hổ Với vẻ đẹp hoang sơ của bãi cồn cuối dòng
sông Hậu, người thời xưa đã đặt tên gọi cù lao này với từ ngữ khá đẹp : Hoàng Dung Ngoài ra, có thể do nơi đây có nhiều hổ sinh sống nên ngoài dân dã còn
gọi tên là Hổ Châu
Do nhu cầu của cuộc sống, người dân từ đất liền rủ nhau ra khai phá vùng đất mới, dần dẫn hình thành nên làng An Thạnh Nhất và An Thạnh Nhì Ranh giới của làng được xẻ dọc theo chiều dài của cù lao
Đại Nam nhất thống chí (tập V), dưới triều Nguyễn có ghi lại một số nét khái quát về các dãy cù lao trên sông Hậu lúc bấy giờ Trong đó, có đoạn ghi vẻ Cù Lao Dung hiện nay như sau : “Bãi Hoàng Dung : ở phía tây bắc về hạ lưu sông Hậu Giang, từ sông Sâm Đăng, tình Vĩnh Long, phía nam đến sông Ngang Do dai 35
dặm, là bức bình phong chắn ngang sông Ba Xuyên, nhiều cây dừa nước, dân sở
tại thường dùng để đan thành phiến rỏi đem bán Bãi có nhiều hồ, nên lại có tên
là Hồ Châu, dân hai thôn An Thịnh Nhất và An Thịnh Nhì ở đấy
Cánh đồng mía trên huyện Cù Lao Dung hôm nay
Trang 15
Đuôi cồn cù lao Dung và sông Rạch Tráng
đổ ra dòng sông Hậu và cửa Trần Đề Như vậy, cuối thế kỉ XIX, phần cuối của cù lao Dung chỉ ngang đến sông
Ngang Đô (tức Ngan Rô, thuộc xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề hiện nay) Hơn 100 năm sau, đuôi cồn cù lao Dung đã vươn ra phía Biển Đông thêm hàng chục km
và có thêm xã An Thạnh Ba (sau khi thành lập huyện Cù Lao Dung đầu năm
2002, xã An Thạnh Ba được tách ra thành lập thêm xã An Thạnh Nam, xã cuối cùng của huyện Cù Lao Dung hướng ra Biển Đông)
_- bRUHUIUNBRITẬP — -
Nhận xét vẻ diễn biến vùng đất Sóc Trăng trong thế kỉ XIX
-2 Nhận xét quá trình hình thành vùng đất Cù Lao Dung
Trang 16
1 Tình hình kinh tế
Vua Gia Long và các triều vua kế tiếp của nhà Nguyễn luôn có chỉ dụ cho quan lại địa phương khuyến khích người dân khai phá đất hoang, tập hợp dân đưa đi khai hoang, lập ấp mới Diện tích trồng trọt gia tăng còn là tiêu chuẩn
để triều đình thưởng phạt các quan lại từ xã đến tỉnh Theo đó, nếu vùng đất
nào bỏ hoang hoá thì bị phạt và ngược lại Mức phạt thấp nhất là bị phạt 60
trượng, nhiều nhất có thể bị phạt 1 năm lương Nửa đầu thế kỉ XIX, triều đình
còn tiếp tục cho thành lập các đồn điền ở vùng đất mới, trong đó có Sóc Trăng Người dân tập trung sinh sống dọc theo hai bên bờ sông Ba Thắc và khu vực Bãi Xàu Đến năm 1840, phủ Ba Xuyên (thuộc tỉnh An Giang) báo cáo đã quy
tụ được 80 người, khai khẩn được 170 mẫu ruộng Con số thực tế lại nhiều hơn
số báo cáo này Đến năm 1848, toàn tỉnh An Giang (có phủ Ba Xuyên) khai phá
được 88.336 mẫu trên tổng số 568.840 mẫu được khai phá trong toàn bộ vùng đất Nam Bộ lúc bấy giờ
Đến năm 1868, cả Nam Bộ đã khai phá được trên 350.000ha, trong đó hạt Ba Xuyên khai phá được 2.725ha, diện tích trồng lúa chiếm 68,8%, còn lại 21,2% là trồng các loại nông sản khác như rau, đậu và cây ăn trái Thực tế con số này chỉ bằng khoảng 25% so với thực tế diện tích đã khai phá (tức phải trên 1.100.000ha toàn Nam Bộ) ; còn ở Sóc Trăng, diện tích khai phá khoảng 10.000ha
Lúa gạo được sản xuất dư thừa so với nhu cầu, nên được xuất đi các khu vực
khác và cả nước ngoài Thương mại dần dan phát triển nên hình thành nhiều
chợ lớn, nhỏ phục vụ mua bán, trao đổi hàng hoá Thống kê đến giữa thế ki XIX,
cả Nam Bộ có 93 chợ lớn, nhỏ Riêng tỉnh An Giang có 13 chợ Hạt Sóc Trăng
nổi tiếng với chợ Bãi Xàu và chợ Sóc Trăng
Trang 172 Thuong cang Bai Xau
Cách đây khoảng 200 năm, tại thị trấn Mỹ Xuyên hiện nay là một thương
cảng sảm uất Thương cảng có tên gọi là Bãi Xàu, hoạt động mạnh mẽ vào giữa
thế kỉ XIX đến đầu thế ki XX Nơi đây tập trung thuyền buôn các nước đến chở
lúa gạo đi các nơi trong nước và nước ngoài Bãi Xàu là trung tâm thương mại
lớn của vùng Hậu Giang và là 1 trong 3 thương cảng lớn của vùng đất Nam Bộ
xuat, Thương cảng này tập trung đông đảo thương nhân người Hoa tại chỗ và
thương buôn từ các nơi đến Phố xá nằm dọc theo hai bên rạch Hàng hoá được
xuất chở đi các nơi theo đường thuỷ chủ yếu là lúa gạo, muối, gà, vịt, heo, cá
Cuối thế kỉ XIX, Bãi Xàu là trung tâm thị tứ quan trọng của hạt Sóc Trăng,
dân cư khu vực này lên đến 6.000 người, hoạt động thương mại ngày càng phát
triển Hằng năm, từ tháng 2 đến tháng 6, bình quân hằng tháng có khoảng
250 ghe thuyền từ các nơi như của thương buôn Trung Quốc, Mã Lai, Bắc Kì
chở hàng đến như vải sợi, tơ lụa, đồ gốm, thuốc lá, thuốc bắc và chở gạo Bãi
Xàu, là mặt hàng chủ lực được xuất đi các nơi, cùng một số sản phẩm cá và
khô Rượu Bãi Xàu là một thương hiệu nổi tiếng cả vùng Nam Kì Đầu thé
ki XX, Bãi Xàu được công nhận là trung tâm loại một cùng lúc với thành phố
Sóc Trang”
Từ đầu thé ki XX, con kênh đào nối liền kênh Saintard với kênh Sóc
Trang — Phung Hiệp, chạy ngang qua chợ Sóc Trăng đã làm giảm đi sự tấp nập
của thương cảng Bãi Xàu, lúc này rất khó giao thương, nhất là khi nước ròng,
tàu thuyền không thể đi vào, lên xuống hàng hoá được Dần dân, thương cảng
Bãi Xàu đã mất dần ưu thế, nhường chỗ cho các thương cảng khác phát triển
ở trong vùng
(1) Hai thương cảng còn lại là Mỹ Tho (thuộc tỉnh Tiền Giang hiện nay), Hà Tiên (thuộc tỉnh Kiên
Giang hiện nay)
(2) Theo Nghị định ngày 15 — 10 — 1904 của Thống đốc Nam Kì
ee
Trang 18LoP 8
UA THUC DAN PHAP
1 Bộ máy hành chính ở Sóc Trăng vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX
Sau khi chiếm Nam Kì, thực dân Pháp rất muốn những người làm việc trước đây ở cấp phủ, huyện, làng, thôn ở lại tiếp tục làm việc trong bộ máy hành chính mới do thực dân Pháp thành lập và điều khiển Tuy nhiên, tình hình xảy ra không như thực dân Pháp mong muốn Những người làm việc trước đây phân đông hoặc đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp, bị Pháp bắt và
xử tử, hoặc đã bỏ đi không chịu cộng tác với Pháp
Tai Sóc Trăng, Bertaux (Chủ tịch Sóc Trăng đầu tiên thời Pháp thuộc) sau
khi chiếm được vùng đất này, đã cho bắt giữ các quan và lính người An Nam, đồng thời đưa Tràn Cung, con trai của Phủ Sóc (đã chết 5 năm trước đó) tạm
cai quản vùng đất này Thực dân Pháp đã thay đổi chánh tổng người Kinh bằng
viên chức người Khmer Dần dân, bộ máy hành chính tỉnh Sóc Trăng đã thuộc
về người Pháp, người dân bản địa chỉ có vai trò và chức năng thừa hành
'Vào đầu thế kỉ XX, bộ máy hành chính tỉnh Sóc Trăng thuộc Pháp gồm một
quan hành chính tỉnh (còn gọi là Chánh tham biện) Dưới quyền Chánh tham
biện có 1 phụ tá hành chính, 1 thư kí và 2 nhân viên kế toán, trong đó có 1 người phụ trách việc thu thuế Ở Sóc Trăng có một toà án sơ thẩm, gồm 4 quan toà, 1 lục sự (thư kí toà án) có 2 người trợ giúp
Sở Y tế do 1 y sĩ ngạch thuộc địa phụ trách Sở Thương chánh do 1 giám sự
đại điện, 1 trưởng kho với 3 phụ tá, có dưới quyền mình 5 nhân viên được phân bổ tới các trạm khác nhau trong tỉnh Về địa chính, có 9 viên chức trắc địa phụ trách
việc đo đạc và định ranh giới Vẻ giáo dục, Sóc Trăng có 1 trường tỉnh do 1 giáo
viên người Âu phụ trách Ngoài ra, Sóc Trăng còn có 1 người phụ trách các công
trình công cộng và 1 viên giám sát hệ thống đường liên xã Tại tỉnh lị có 1 trạm
bưu điện đưới quyên điều khiển của 1 giám thu và 1 giám thị người Âu phụ tá.
Trang 19Dưới tỉnh là cấp quận, đứng đầu quận là chánh quận Các chánh quận thường làm việc tại trụ sở, thỉnh thoảng tới địa bàn để thực hiện các cuộc giám sát, điều tra do chủ tỉnh hay toà án giao Vào những lúc có làm xâu hay lao dịch như đào kênh hay làm đường, họ cũng được cử đi để giám sát
Ở cấp tổng, có một chánh tổng với 1 hay 2 phó tổng phụ tá, có trách nhiệm
quản lí một phần vấn đề của các làng và phụ trách việc điều tra hành chính
hay toà án
Làng, trên nguyên tắc vẫn do các hương chức cai quản Hội đồng hương chính, dân gian gọi là hương tề gồm có : hương cả, hương chủ, hương thân,
hương hào, hương quản
2 Những biến đổi về kinh tế - xã hội ở Sóc Trăng qua các cuộc
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp a) Về kinh tế
Sau khi cơ bản hoàn thành việc xâm lược và áp đặt bộ máy cai trị ở nước ta, năm 1897 thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa?) để cung cấp nguôn lợi cho chính quốc
Lĩnh vực khai thác mà người Pháp nhắm tới trước tiên là nông nghiệp mà chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa
Để có thể đáp ứng các đòi hỏi của việc xuất khẩu lúa gạo ra thị trường quốc
tế, việc khai thác nông nghiệp ở Đông bằng sông Cửu Long phải được đặt trên
những cơ sở vững chắc của khoa học Chính quyền thực dân Pháp chú ý trước tiên tới việc thiết lập các phòng, ban có nhiệm vụ nghiên cứu các điều kiện về
đất đai, khí hậu, chế độ nước, giống, phân bón của việc trồng lúa tại Nam Kì”),
Ở Sóc Trăng, Pháp còn lập ra trạm thí nghiệm
Việc khai thác nông nghiệp tại Sóc Trăng được tiến hành từ 2 phía : người
Âu (chủ yếu là người Pháp) và người bản xứ Chính quyền thực dân Pháp còn
áp dụng các kĩ thuật hỗ trợ khẩn hoang và khai thác đất như đào kênh và cơ khí hoá việc canh tác lúa
(1) Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất từ năm 1897 đến năm 1918 Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai từ năm 1919 đến năm 1929
(2)_ Sở Khí tượng ra đời năm 1897 ; Phòng thí nghiệm phân tích hoá học nông nghiệp và kĩ nghệ ra đời
năm 1898 ; Nha Canh nông Nam Kì ra đời năm 1899
SE ŸŒễễEễễễễ=ễẽ
Trang 20Đến đầu thế ki XX, số người Âu và các công ti của người Pháp đến làm chủ đất ở Sóc Trăng khá nhiều, như : Jourdan, Gressier, linh muc Keller, Labaste,
Về thương mại : Đầu thè kỉ XX, tỉnh Sóc Trăng có tất cả 10 trung tâm tương
đối quan trọng về mặt thương mại : Bãi Xàu, Đại Ngãi, Phú Lộc, Bố Thảo, Bang Long, Vũng Thơm, Kế Sách, Rạch Vọp, Rạch Gòi và Ñgan Rô Thương mại xuất khẩu của Sóc Trăng có tính chất thuần lúa gạo Bên cạnh đó, Sóc Trăng cũng
phải nhập khẩu các mặt hàng cần thiết cho cuộc sống thường ngày của người dân như đồ sứ, tơ lụa, thực phẩm, rượu, của một số nước như Nhật Bản,
Trung Quốc, Ấn Độ, Malaixia,
Về công nghiệp : Trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, tuy công nghiệp Sóc Trăng không được quan tâm phát triển, nhưng cũng có một số cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ra đời Theo thống kê năm 1904, Sóc Trăng có 2 lò gạch, 4 xưởng nấu rượu, 6 xưởng cưa tay, vài xưởng sửa chữa ghe thuyên, một số nơi sản xuất đô đan lát Tại tỉnh li, có vài xưởng kim hoàn, vài cơ sở của thợ khoá, thợ đóng giày, thợ nhuộm, Đến năm 1936, Sóc Trăng
có 18 nhà máy xay lúa, 5 lò gạch, ð xưởng cưa, 2 xưởng đóng ghe thuyền,
1 xưởng nhuộm, khoảng 20 người làm nghề tơ tằm dệt vải Tỉnh còn có nhà máy điện thắp sáng cho tỉnh lị và Bãi Xàu vào ban đêm Nhìn chung, thời gian này,
Sóc Trăng không có những phát triển đáng kể trong lĩnh vực công nghiệp
b) Vé van hod - xa hoi
Các cuộc khai thác thuộc địa của chính quyên thực dân Pháp đã làm biến
đổi sâu sắc đời sống xã hội của cư dân tỉnh Sóc Trăng
Các chính sách của Pháp nhằm theo đuổi 2 mục tiêu : tạo thuận lợi cho việc khai thác nông nghiệp theo phương thức tư bản chủ nghĩa, tạo nên một lớp địa chủ sản xuất lúa gạo, đồng thời khuyến khích người nông dân làm chủ những
mảnh đất nhỏ để ổn định xã hội Nhưng trong thực tế, do am hiểu đường lối,
chính sách của nhà nước, nhất là do biết cách luồn lách và vận dụng các chính sách nay, tang lớp địa chủ người Âu và người bản xứ đã tập trung đất đai từ tay người nông dân nghèo vào tay mình Quá trình tích tụ ruộng đất ở Sóc Trăng diễn ra với tốc độ khá nhanh Số địa chủ nhỏ giảm mạnh, số địa chủ chiếm hữu
từ 1.000ha trở lên tăng nhanh Đây là thời kì các đồn điền và địa chủ lớn ở Sóc
"Trăng tập trung nhiều ruộng đất nhất Người nông dân bị mất ruộng đất đến 80%, có nơi đến 90%, họ phải làm tá điền cho địa chủ hoặc ra thành thị làm
Trang 21mọi nghề để kiếm sống, hay vào các nhà máy, xí nghiệp để làm công và cuộc sống của họ cũng hết sức bấp bênh Vào những năm khủng hoảng kinh tế thế
giới (1929 — 1933), việc xuất khẩu lúa gạo trở nên khó khăn, nhiều diện tích
canh tác bị bỏ hoang, do đó giá thuê nhân công cũng giảm rất nhiều Giá lúa rẻ
mạt, nhưng thuế thì lại tăng từ 20% đến 50%, người dân lao động không có đủ tiền để đóng thuế thân, lại phải đóng góp tiền mua công trái, Tình hình trên
không những làm cho tầng lớp tiểu nông bị phá sản mà cả các tầng lớp tiểu,
trung địa chủ cũng bị phá sản
Với chính sách “ngu dân” để cai trị, chính quyền thực dân Pháp không quan
tâm đến việc mở trường lớp Ở tỉnh, chúng chỉ mở đến cấp Tiểu học Ở quận chỉ
có trường sơ học yếu lược, hay còn gọi là sơ đẳng tiểu học (tức dạy không đủ 5 lớp) Ở làng hẳu như không có trường học, chỉ có một vài nơi mở đến lớp Năm, lớp Tư (lớp 1, lớp 2 hiện nay), muốn học lớp Ba, lớp Nhì, lớp Nhất phải ra quận, tỉnh học Nền giáo dục này không phải vì mục đích mở mang dân trí cho dan
chúng mà là để cấp tốc đào tạo đội ngũ tay sai người bản xứ Nội dung giáo dục nhằm làm cho học sinh phải “trung thành” và biết ơn mẫu quốc đã “khai hoá”
văn minh, phải tận tuy với nước Pháp Chúng gieo rắc tư tưởng coi thường dân
tộc Việt Nam, tự ti dân tộc để dễ bề cai trị Chương trình dạy bằng tiếng Pháp
là chủ yếu, 2 lớp cuối cấp của bậc Tiểu học phải dạy và học hoàn toàn bằng tiếng Pháp Trường lớp mở mang ít, con em của người dân lao động nghèo không thể cắp sách đến trường, do đó toàn tỉnh Sóc Trăng có đến 90% số dân bị mù chữ
Về y tế, chính quyển thực dân Pháp không quan tâm đến việc mở bệnh viện Việc chăm sóc sức khoẻ người dân còn rất sơ sài, dịch bệnh thường xuyên
xảy ra, nhất là dịch tả, đậu mùa, dịch hạch,
Bị đế quốc, phong kiến bóc lột, cuộc sống cùng cực, nhân dân lao động chưa
tìm ra lối thoát trong xã hội đen tối, nảy sinh tư tưởng tin vào số kiếp con người
do Trời, Phật đã định Đó là một trong những nguyên nhân làm cho các tôn giáo
ở tỉnh Sóc Trăng phát triển nhanh hơn
Trang 22
I PHONG TRÀO CÁCH MẠNG (1970 - 1939)
1 Sự hình thành những chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên
ở Sóc Trăng
Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga (1917), tiếp thu lí luận của chủ nghĩa Mác — Lênin và tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, phong trào yêu nước ở Sóc Trăng tiếp tục phát triển, dẫn đến sự hình thành các chỉ
bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên tại Sóc Trăng là : Chi bộ Mỹ Quới (1930), Chi bộ Cù Lao Dung (đầu năm 1931), Chi bộ Lạc Hoà — Vĩnh Châu (giữa năm
1931), Chi bộ Trường Khánh - Châu Khánh (cuối nam 1932), Chi bộ An Lạc
Thôn (1935)
Chi bộ Mỹ Quới được thành lập tại chợ Kha-na-rộn gồm các đồng chí : Trần
Văn Bảy, Lê Hoàng Chu, Trương Quý Thể, Tran Văn Tám, Châu Văn Phát, do déng chi Tran Van Bay lam Bi thư
Chi bộ Cù Lao Dung được thành lập tại cù lao Dung gồm các đỏng chí : Đặng Văn Quang, Đoàn Thế Trung (Tám Diệm) và Bộ Năm (Năm Thận), do đồng chí
Đặng Văn Quang làm Bí thư
Chi bộ Lạc Hoà — Vĩnh Châu được thành lập tại làng Lạc Hoà, quận Vĩnh Châu gồm các đồng chí : Trân Thạnh Mậu, Ngô Hoà Hện và Tran Kim Phen, do
đồng chí Trần Thạnh Mậu làm Bí thư
Chỉ bộ Trường Khánh — Châu Khánh được thành lập là một chỉ bộ ghép hai
làng Trường Khánh - Châu Khánh gồm các đồng chí : Dương Kỳ Hiệp, Thanh,
Sanh, Hoành, do đỏng chí Dương Kỳ Hiệp làm Bí thư
Chi bộ An Lạc Thôn được thành lập tại xã An Lạc Thôn gồm các đồng
chí : Nguyễn Trung Tỉnh, Lê Văn Lợi, Nguyễn Văn Thơ, do đồng chí Nguyễn
Trung Tinh lam Bi thu.
Trang 23Sự ra đời các chỉ bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng là nhân tố quyết định đưa phong trào cách mạng của tỉnh tiếp tục phát triển trong giai đoạn
tiếp theo
2 Phong trào vận động dân chủ ở Sóc Trăng (1936 - 1939)
Thực hiện chủ trương của Đảng, năm 1936 tại Sóc Trăng hơn 20 Uỷ ban hành động được thành lập từ tỉnh đến các quận : Long Phú, Kế Sách, Châu
Thanh, Vĩnh Châu để thu thập ý kiến và nguyện vọng nhân dân gửi cho phái
đoàn Quốc hội Pháp, đồng thời tuyên truyền đường lối của Đảng, lãnh đạo nhân
dân tiếp tục đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ Phong trào nhanh chóng lan
rộng khắp địa bàn tỉnh Đặc biệt, tại thị xã Sóc Trăng với sự hoạt động tích cực
của các ông : Dương Minh Quan, Dương Minh Đệ, Phan Văn Tấn, Phan Minh
Gương đã tạo ra khí thế đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi trước kẻ thù, giúp quần
chúng nhận thức được vai trò lãnh đạo của những người cộng sản
Đầu năm 1937, đồng chí Dương Kỳ Hiệp mở tiệm sách “Thanh niên thư
quán” số 72 phố Đại Ngãi (nay là số 137, đường Hai Bà Trưng, thành phố Sóc
Trăng) bán các loại sách tiến bộ để tuyên truyên, giác ngộ quần chúng, đồng
thời dùng nơi đây để làm điểm liên lạc bí mật Từ năm 1938, tại Sóc Trăng đã có
nhiều báo chí công khai của Đảng đã được phát hành rộng rãi như : Tiền phong,
Dân chúng, Lao động mới, đã thu hút nhiều người đọc
Phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ trong những năm 1936 — 1939 tại Sóc Trăng diễn ra mạnh mẽ, làm cho bọn cằm quyên hoảng sợ, chúng phải
nhượng bộ và chấp nhận một số yêu sách của nhân dân
Il CUỘC VẬN ĐỘNG TIẾN TỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM Ở SÓC TRĂNG
(1979 - 1945)
1 Cuộc khởi nghĩa Nam Kì (1940) ở Sóc Trăng
Tháng 6 — 1940, Chính phủ tư sản Pháp đầu hàng phát xít Đức ở châu Âu
Thang 9 — 1940, phat xit Nhật vào Lạng Sơn Thực dân Pháp ở Đông Dương kí
kết hiệp định chấp nhận để Nhật chiếm Đông Dương Nhân dân ta khốn khổ
“một cổ hai tròng” áp bức, bóc lột tàn bạo của Pháp — Nhật, lòng căm thù bọn
thực dân, phát xít của nhân dân càng dâng cao
2
Trang 24Trước khí thế cách mạng sôi sục của quản chúng, Xứ uỷ Nam Ki da hop, phân tích, đánh giá tình hình và đi đến quyết định khởi nghĩa vào đêm 22 rạng sáng 23 — 11 — 1940 tại các tỉnh Nam Kì
Nhận được lệnh khởi nghĩa của Xứ uỷ Nam Ki, Tinh uy lam thời Sóc Trăng
đã nhanh chóng triển khai đến các chỉ bộ, các cơ sở Đảng trong tỉnh để chuẩn bị
khởi nghĩa Nhân dân các nơi từ thị xã Sóc Trăng, đến các quận Châu Thành, Long Phú, Kế Sách, Vĩnh Châu đều đồng loạt hưởng ứng Tiêu biều nhất là cuộc khởi nghĩa tại làng Hoà Tú, quận Châu Thành (nay thuộc huyện Mỹ Xuyên)
Khoảng 13 giờ ngày 23 — 11 — 1940, Chi bộ Dang làng Hoà Tú nhận được
lệnh khởi nghĩa Trước tình hình khẩn cấp, đồng chí Văn Ngọc Chính triệu
tập cuộc họp Chỉ bộ bất thường quyết định khởi nghĩa Ban chỉ huy khởi nghĩa
được thành lập do đỏng chí Văn Ngọc Chính làm Trưởng ban Với khí thế cách
mạng hào hùng, chỉ đến trưa ngày 24 — 11 — 1940, cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi trọn vẹn theo kế hoạch, giải tán bộ máy hội tẻ làng Hoà Tú, thiêu huỷ toàn
bộ hỗ sơ, sổ sách của hội tẻ, địa chủ, thu 7 súng và nhiều đạn dược Ban chỉ huy khởi nghĩa còn chuẩn bị tiến đánh Nhu Gia, Bãi Xàu và tỉnh lị, Nhưng đến
trưa 24 — 11 — 1940, quân Pháp ở Sóc Trăng tập trung lực lượng đàn áp cuộc
khởi nghĩa, các nghĩa quân đã chiến đấu dũng cảm, quyết liệt Nhưng do cuộc
chiến đấu không cân sức, cuối cùng cuộc khởi nghĩa bị thất bại, nhiều đồng chí
lanh đạo bị bắt, trong đó có : Văn Ngọc Chính, Văn Ngọc Tố, Văn Ngọc Nhuy,
Luong Don Qué,
Cuộc khởi nghĩa thể hiện truyền thống đoàn kết chặt chẽ của các tầng lớp nhân dân ; ý thức tự lực, tự cường nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền của
nhân dân dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng ; mãi mãi là niềm tự hào về truyền thống yêu nước, chống giặc của nhân dân tỉnh nhà
2 Khôi phục cơ sở Đảng, khẩn trương xây dựng lực lượng chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền (từ năm 1941 đến tháng 8 - 1945) Sau khởi nghĩa Nam Kì, nhiều chi bộ Đảng bị địch khủng bố, nhiều cán bộ lãnh đạo bị bắt Được sự chỉ đạo kịp thời của Xứ uỷ và Liên tỉnh uỷ, nhiều chỉ
bộ Đảng đã được khôi phục Phong trào cách mạng từng bước được củng cố và
tiếp tục phát triển
Năm 1943, đồng chí Dương Kỳ Hiệp xây dựng được cơ sở ở tỉnh lị tại ngã
tư Cột Lồng đèn để làm điểm liên lạc với đảng viên và quần chúng yêu nước trong tỉnh
Trang 25Đến cuối năm 1944, dưới hình thức hoạt động hợp pháp, đồng chí Dương
Kỳ Hiệp mở “Quán cơm Thanh niên” tại phố Đại Ngãi (nay là nhà số 49 — 51
đường Hai Bà Trưng, thành phố Sóc Trăng) Đây là địa điểm liên lạc và là nơi
tập hợp, giác ngộ quần chúng
Đêm 9—3— 1945, Nhật đảo chính Pháp rồi trực tiếp nắm chính quyền ở Đông
Dương Ngày 14 — 3 — 1945, quân Nhật ở Sóc Trăng tiến hành đảo chính Pháp
Sau khi nắm chính quyền, Nhật vẫn giữ nguyên bộ máy cai trị của Pháp, cử
Võ Văn Đảnh, tay sai của Pháp làm Tỉnh trưởng Sóc Trăng
Cuối tháng 7 — 1945, khí thế cách mạng ngày càng sôi sục, chính quyền bù
nhìn của địch ở Sóc Trăng đã tỏ ra bất lực, tê liệt Phong trào cách mạng ngày
càng mạnh mẽ Đảng bộ Sóc Trăng sẵn sàng lãnh đạo quần chúng đón lấy thời
cơ đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền
3 Diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyên ở Sóc Trăng
(8 - 1945) Dém 23 — 8 — 1945, déng chi Duong Ky Hiệp họp Tỉnh uỷ mở rộng phổ biến các văn kiện của Trung ương quy định về nguyên tắc tổ chức chính quyền mới
Chiều 24 — 8 — 1945, Tỉnh uỷ lâm thời Sóc Trăng họp để thành lập Uỷ ban
Giải phóng dân tộc và đề cử Uỷ ban Hành chính lâm thời, quyết định kế hoạch
tổng khởi nghĩa Để giảm bớt khó khăn và tránh đổ máu, tối 24 - 8 - 1945, Tỉnh
uỷ bố trí cho các ông Nguyễn Văn Nghĩa - Thanh tra Giáo dục tỉnh, Vương
Hồng Sén — Thư kí Toà Bố - là những người có cảm tình với cách mạng, đang
giữ những trọng trách trong bộ máy chính quyên địch, có uy tín với tên tỉnh
trưởng — cùng với ông Dương Văn Đen, thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong đến
gặp Tỉnh trưởng Võ Văn Đảnh, vừa thuyết phục, vừa tác động, buộc hắn phải
chấp nhận giao chính quyền cho cách mạng
Sáng 25 — 8 — 1945, quan chúng ở các làng ven với hàng ngũ chỉnh tè,
giương cao cờ đỏ sao vàng, rằm rập tiến vào tỉnh lị, nhập với đoàn nhân dân nội
ô Sóc Trăng, tạo nên đội ngũ trùng trùng điệp điệp, vừa đi vừa hô vang các khẩu
hiệu : “Việt Nam độc lập muôn năm !”, “Chính quyền về tay nhân dân !”, và
tiến về quảng trường Hai Hình tiến hành cuộc mít tinh Quân Nhật có trang
bị vũ khí đây đủ nhưng không dám chống cự Trên khán đài, Tỉnh trưởng Võ
Văn Đảnh tuyên bố giao chính quyền cho Mặt trận Việt Minh và xin được
tha tội Đồng chí Dương Kỳ Hiệp, thay mặt Uỷ ban Giải phóng dân tộc tinh
Trang 26Sóc Trăng báo tin thắng lợi của cách mạng ở các nơi và long trọng tuyên bố :
“Kề từ ngày 25 — 8 — 1945, bãi bỏ chính quyền thực dân, phong kiến cấp tỉnh, quận đến tổng, làng Bãi bỏ mọi chính sách của chính quyền Pháp, Nhật Chính
quyền thuộc về cách mạng, mà tổ chức lãnh đạo là Mặt trận Việt Minh” Tiếp theo, ông tuyên bố danh sách Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Tổng thư kí Uỷ ban Hành chính tỉnh Sóc Trăng do Mặt trận Việt Minh đề cử Lá cờ đỏ sao vàng của chính quyền cách mạng tung bay trước khán đài Mọi người tràn ngập niềm vui sướng, tự hào trong giờ phút lịch sử này
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, các quận, làng ở tỉnh Sóc Trăng đồng loạt
phối hợp tiến hành khởi nghĩa và chỉ trong 2 ngày (ngày 2ð và 26 — 8 — 1945)
chính quyền các cấp trong tỉnh đã hoàn toàn về tay nhân dân
Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyên ở tỉnh Sóc Trăng diễn ra nhanh chóng và không gặp sự kháng cự nào Đó là do Tỉnh uỷ lâm thời có sự chuẩn bị khá chu đáo, đặc biệt là làm tốt công tác vận động chính quyền địch, chủ động
chớp lấy thời cơ giành chính quyền
4 Ý nghĩa lịch sử
Cách mạng tháng Tám thành công có ý nghĩa lịch sử to lớn Đây là kết quả của 15 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân cả nước nói chung
và nhân dân Sóc Trăng nói riêng Cùng cả nước, nhân dân Sóc Trăng đã thành
lập được chính quyền dân chủ nhân dân từ tỉnh đến quận, làng
Cách mạng thắng lợi đã chứng tỏ truyền thống yêu nước, tinh thản đấu tranh anh dũng của quân và dân tỉnh Sóc Trăng Làm thất bại âm mưu chia rẽ dân tộc, tôn giáo của kẻ thù Một trang lịch sử mới đã mở ra
1 Lập niên biểu về sự thành lập các Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại tỉnh Sóc Trăng (1930 — 1938)
2 Khỏi nghĩa Nam Ki tai Sóc Trăng diễn ra như thé nao ? Cuộc khởi nghĩa nổ ra
ở đâu là tiêu biểu nhất ? Vì sao ?
3 Trinh bay diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sóc Trăng vào tháng 8 — 1948 Vì sao Cách mạng tháng Tám ở Sóc Trăng nhanh chóng giành
thắng lợi ?
Trang 27BÀI HE THÊM
1 Di tích lịch sử trường Taberd Sóc Trăng
Nơi “Đoàn chính trị phạm từ Côn Đáo uê Sóc Trăng ngay 23 - 9 - 1945” Trường nằm trên đường Tôn Đức Thắng, thuộc khóm 5, phường 6, thành
phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, cách trung tâm thành phố Sóc Trăng 1 km, cách UBND phường 6 là 650m Phương tiện giao thông thuận tiện nhất để đi đến di tích là đường bộ
Vào lúc 7 giờ tối 23 - 9 — 1945, một đoàn chiến sĩ Côn Đảo khoảng 1.800
người về đến tỉnh lị Sóc Trăng (nay là thành phố Sóc Trăng) tại Cầu Nổi và
được đưa ngay về Trường Taberd Tất cả các địa điểm trong thị xã, khi đoàn
chiến sĩ Côn Đảo về đều diễn ra cảnh đón tiếp nông nhiệt Cờ, biểu ngữ rợp trời, mọi người đều vui mừng Từ Cầu Nổi, đoàn chiến sĩ đã đi trong rừng đuốc, rừng
cờ biểu ngữ và tiếng reo vui vang trời Đồng chí Dương Kỳ Hiệp dẫn đầu đoàn cán bộ Tỉnh uỷ Sóc Trăng ra tận nơi đón đoàn rồi đưa thẳng vẻ Trường Taberd
và được chăm sóc chu đáo
ED
Trang 28Truong Taberd lúc nào cũng nhộn nhịp những người và người Đại diện Tỉnh uỷ
Cân Thơ - đồng chí Lê Văn Sô đã đến gặp Tỉnh uỷ Sóc Trăng và đi thăm anh
em tù chính trị ở Trường Taberd
Đoàn tù chính trị từ Côn Đảo trở về sau biết bao gian lao và vất vả, theo lời kêu gọi của Đảng, tham gia kháng chiến chống Pháp ở khắp mọi miền đất nước
Trong số chính trị phạm được đồng bào Sóc Trăng đón tiếp năm 1945 đã
có rất nhiều đồng chí trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta như : đồng chí Tôn Đức Thắng là Chủ tịch nước, hai đồng chí là Tổng Bí thư
Dang Cộng sản Việt Nam (đồng chí Lê Duẩn và Nguyễn Văn Linh), đồng chí
Phạm Hùng là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) và
hàng chục đồng chí là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và tướng lĩnh trong
quân đội ta
Qua việc đón rước, chăm sóc đoàn chính trị phạm từ Côn Đảo trở về, Đảng
bộ và nhân dân Sóc Trăng đã hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng có tầm
chiến lược và có ý nghĩa to lớn, càng nêu cao tinh thần đoàn kết và truyền thống
đấu tranh giành độc lập tự do, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng mới thành lập trong cả nước, đưa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi vẻ vang
Ngày 11 - 6 — 1992, theo Quyết định số 734/QĐ-BVHTT của Bộ Văn
hoá — Thông tin công nhận di tích Trường Taberd thuộc phường 6, thành phố
Sóc Trăng là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia
Với giá trị và ý nghĩa lịch sử gắn liên với di tích, Trường Taberd Sóc Trăng
là một địa chỉ văn hoá mang tính giáo dục cao đối với thế hệ trẻ về lòng biết ơn
các thế hệ cha anh Trường Taberd Sóc Trăng và mảnh đất Sóc Trăng không chỉ
là mảnh đất kiên trung anh hùng mà còn sống son sắt thuỷ chung nghĩa tình
với Đảng, với đồng chí và anh em
2 Miếu Bà Chúa xứ Mỹ Đông
Miếu Bà Chúa xứ Mỹ Đông gọi theo dân gian là miếu Bà Mỹ Đông Miếu
nằm bên bờ Bắc rạch Mỹ Đông, thuộc ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Quới, huyện Thạnh
"Trị (nay thuộc huyện Ngã Năm), cách thị trấn Phú Lộc 20km và cách thành phố
Sóc Trăng 60km về hướng đông bắc Từ thị trấn Phú Lộc (huyện Thạnh Trị)
rẽ phải dọc theo hương lộ 26 thêm một chặng đường 20km nữa là đến di tích
Trang 29Nếu đi đường thuỷ, sau khi đã đến thị trấn Phú Lộc, có thể đi bằng ghe xuéng
theo hai đoạn kênh Toàn Rê và kênh 19/5 khoảng 20km là đến di tích rất
tiện lợi
Theo cac ki lao ở Mỹ Đông và qua khảo sát thực tế có thể biết được ngôi miếu năm xưa được xây dựng trên một nền cao khoảng 0,40m, diện tích 2.400m3,
giữa nên là ngôi miếu vuông vức xây bằng gạch lợp ngói, ngăn thành 2 gian
thất, gian trước thờ Bà Chúa Xứ và các linh vị các bậc tiền hiền, gian sau làm
bếp chuẩn bị các lễ thức cúng Hằng năm, đến ngày lễ vía Bà (16 — 2 âm lịch),
người ta dựng hai sườn rạp có mái che hai bên miếu, bên trái là nơi ăn uống,
bên phải là rạp hát cúng miếu
Ấp Mỹ Đông, xã Mỹ Quới không chỉ là chiếc nôi cách mạng, nơi thành
lập Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng mà còn là căn cứ địa cách mạng
của huyện Thạnh Trị và một số ban ngành của tỉnh Sóc Trăng từ những năm
1960 — 1975, như Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ, cơ quan Binh vận, Giao liên, Kinh
tài, Dân quân y, Đoàn ca múa tỉnh Sóc Trăng và một số ban ngành của Thị uỷ
Bạc Liêu
My Đông còn là một vùng đồng bằng trống trải, bao phen thực dân Pháp rồi
đế quốc Mĩ thay nhau chà đi sát lại với hàng vạn tấn bom đạn trút xuống, hàng
nghìn cuộc càn quét với quy mô lớn nhỏ vẫn không lay chuyển nổi tinh thần
sắt đá của quân dân Mỹ Đông nói riêng và Mỹ Quới nói chung Căn cứ địa cách
mạng nơi đây vẫn giữ vững đến ngày 30 — 4— 1975
Miếu thờ Bà Chúa Xứ
Ee
Trang 30Sau ngày giải phóng 30 — 4 — 1975, ba con 6 4p My Dong đã dung tạm lại
ngôi miếu bằng tre gỗ và lợp lá để thờ cúng Năm 1997, tỉnh đầu tư kinh phí
xây dựng ở đây một tấm bia lưu niệm nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng
Ngày 27 — 11 - 2003, di tích Miếu Bà Mỹ Đông, xã Mỹ Quới, huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng được công nhận là di tích lịch sử cách mạng theo Quyết định số 62/2003/QĐ-BVHTT Năm 1999 — 2000, tỉnh và huyện đầu tư kinh phí khôi phục lại ngôi miếu và xây dựng ở đây một tấm bia lưu niệm căn cứ Huyện
uỷ Thạnh Trị
Xét về góc độ nghệ thuật thì ngôi miếu Mỹ Đông là một công trình kiến
trúc nhỏ, phục vụ tín ngưỡng dân gian phổ biến ở Nam Bộ vào cuối thế kỉ XIX
Nhưng về lịch sử thì ngôi miếu này giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, là nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên, là nơi đảm bảo bí mật an toàn tuyệt đối cho Chi bộ Mỹ Quới suốt từ khi thành lập (năm 1930) đến khi thành lập Quận uỷ Phước Long (năm 1936) Đây còn là nơi các đồng chí trong Chi bộ đã đào tạo nhiều lóp đảng viên trung kiên sau này trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước
Miếu Bà Chúa xứ Mỹ Đông là một điểm sáng luôn sống mãi trong lòng Đảng bộ Sóc Trăng và đã trở thành nơi tổ chức kỉ niệm ngày thành lập Đảng
hằng năm — một lễ hội truyền thống nhằm động viên, giáo dục tinh thần cách
mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau
Mô hình Miếu Bà Chúa xứ Mỹ Đông
Trang 31SOC TRANG (1905 - 1950)
I SOC TRANG TRONG HON NAM DAU KHANG CHIEN CHONG THỰC
DAN PHAP (TU THANG 8 - 1945 DEN THANG 12 - 1946)
1 Những biện pháp để bảo vệ chính quyền cách mạng ở Sóc Trăng
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng tích cực xây dựng và củng cố hệ thống chính quyển dân chủ nhân dân từ tỉnh đến
các xã ấp Trong cuộc bầu cử Quốc hội khoá I (23 — 12 — 1945), đại biểu Quốc hội
tỉnh Sóc Trăng gồm 3 đồng chí : Phan Văn Chiêu, Dương Kỳ Hiệp, Lê Thành
Phiên ; tỉ lệ cử tri đi bầu đạt khoảng 90%
Nhằm giảm bót khó khăn cho nhân dân, khuyến khích sản xuất, ngay khi
cách mạng thành công, chính quyền cách mạng tỉnh đã tuyên bố bãi bỏ các
loại sưu thuế của thực dân, phong kiến, tịch thu tài sản của thực dân, phong
kiến, phát xít Nhật để cứu trợ cho dân nghèo, tạm cấp ruộng đất, giảm tô, giảm
tức, nông dân phấn khởi sản xuất
Giải quyết nạn mù chữ, nhiều lớp bình dân học vụ được mở ra, cổ động
nhiều người đi học, rất đông đảo nhân dân từ trẻ, già, trai, gái đến lớp học
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Sóc Trăng hăng hái tham gia, tự nguyện đóng góp vào “Quỹ độc lập”, tham gia
“Tuản lễ vàng” được hơn 5kg vàng
Để đối phó với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, các lực lượng vũ trang
được khẩn trương thành lập gồm đội tự vệ của Thanh niên Tiền phong và đội
Bảo an làm nòng cốt, lập 2 đơn vị Cộng hoà vệ binh do đồng chí Nguyễn Thảo
Hiền và Lưu Khánh Đức chỉ huy
Một vinh dự lớn của Tỉnh uỷ Sóc Trăng, được Trung ương Đảng giao nhiệm
vụ tổ chức đón hơn 1.800 tù chính trị từ Côn Đảo trở vẻ Trong đó có các déng chi
sau này là lãnh đạo Đảng, Nhà nước như : Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Nguyễn
Văn Linh, Phạm Hùng,
=—==-
&===ïễ=ẵễ
Trang 322 Sóc Trăng tích cực chuẩn bị và tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Song song với công tác bảo vệ chính quyên, Tỉnh uỷ Sóc Trăng tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến Nhiều nơi nhân dân đã thực hiện
“vườn không nhà trống”, tiến hành phá lộ, phá cầu như cầu Cái Trâm, Rạch Vọp (Kế Sách), phá lộ Đại Ngãi, cầu Saintard (Long Phú) Tháng
10 — 1945, mặt trận Sài Gòn — Gia Định bị địch phá vỡ, Pháp tập trung lực lượng
đánh chiếm các tỉnh Nhân dân Sóc Trăng ngày đêm khẩn trương đào hằm,
dap u, làm chướng ngại vật trên các tuyến đường bộ, đường thuỷ để ngăn chặn địch
Ngày 4— 1 — 1946, Pháp chiếm tỉnh lị Sóc Trăng, ta bố trí tăng cường lực
lượng cho các mặt trận như : Bố Thảo, Nhu Gia, Đại Ngãi, Trường Khánh, Long Phú sẵn sàng chiến đấu tiêu hao sinh lực và ngăn chặn bước tiến của địch
Cuộc chiến đấu tuy không ngang sức giữa quân dân Sóc Trăng với thực dân Pháp, nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, quân và dân Sóc Trăng chiến đấu anh dũng, góp phần đánh bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực
dân Pháp, bảo toàn lực lượng
II NHÂN DÂN SÓC TRĂNG TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN
DÂN, TOÀN DIỆN (1946 - 1970)
1 Sóc Trăng bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc (1946 - 1947) Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19 — 12— 1946) của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Trung ương Đảng, ngày
22 — 12 - 1946, Tỉnh uỷ Sóc Trăng chủ trương đẩy mạnh tiến công địch cả về
quân sự và chính trị
Về quân sự, củng cố, phát triển phong trào chiến tranh du kích, xây dựng
lực lượng và đẩy mạnh hoạt động quân sự, giành nhiều thắng lợi to lớn
Tại Châu Thành, trên Quốc lộ 1A (Ba Rinh — Dai Hai), quân ta phục kích
diệt 11 tên, thu 2 súng Tại Mỹ Tú, một đơn vị do Huỳnh Hữu Nghĩa chỉ huy diệt
20 tên, thu 15 súng Trận này, đồng chí Huỳnh Hữu Nghĩa hi sinh Chỉ đội 123
tổ chức đánh nhiễu trận trên các tuyến lộ Phú Lộc — Nga Nam, Bé Thao - Ba Lui,
Ba Rinh — Cống Đôi, làm chết và bị thương hàng trăm tên địch
Ngoài ra, phong trào du kích cũng phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi, gây cho Pháp nhiều thiệt hại
Trang 33Về chính trị, nhân dân tiến hành mít tinh, biểu tình ủng hộ Uy ban Khang
chiến, chống các thế lực phản động, chống lại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi
chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt” của thực dân Pháp Cuối năm
1947, có khoảng 70 bà mẹ kéo vào đồn Mỹ Phước (Mỹ Tú) đấu tranh đòi thả
những thanh niên do địch bắt
2 Đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện (1948 - 1950)
Sang năm 1948, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, nhân dân Sóc Trăng
tiếp tục tiến hành làm cản, phá đường ở khắp nơi trong tỉnh như ở các cảng
Mỹ Phước, Bún Tàu, Tân Lập (Mỹ Tú) ; Cái Trâm, Rạch Vọp, Xuân Hoà (Kế
Sách) ; Bến Bạ (Long Phú), đã góp phần ngăn cản nhiều cuộc hành quân của
địch, bảo vệ vùng tự do và căn cứ kháng chiến của ta
Về quán sự, từ năm 1948 đến năm 1950, quân và dân ta tiếp tục chiến đấu
và giành nhiều thắng lợi lớn như tại ấp Rạch Rừng (Gia Hoà - Mỹ Xuyên), Đại
đội 1087 chống trận càn của địch, tiêu diệt nhiều tên, thu 20 súng các loại Mùa
xuân 1950, ta mở chiến dịch tổng phản công (chiến dịch Sóc Trăng I) và giành
thắng lợi ở nhiều nơi như : Mỹ Tú, Kế Sách, Long Phú, làm tiêu hao sinh lực
địch và giữ thế chủ động trên chiến trường
Bên cạnh những chiến thắng về quân sự, việc xáy đựng hậu phương, phát
triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế ở các vùng tự do đạt nhiều thành tựu, tiếp
tục thực hiện cấp đất cho nông dân Phong trào xoá nạn mù chữ phát triển, hệ
thống trường tiểu học phát triển khắp các huyện Nhiều bệnh viện, trạm y tế
được xây dựng ở tỉnh, huyện, xã để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
Như vậy, qua 4 năm tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, tự
lực cánh sinh, quân và dân Sóc Trăng vượt qua khó khăn, gian khổ đưa cuộc
kháng chiến không ngừng tiến lên, tạo tiền đẻ cho những thắng lợi lớn hơn
trong giai đoạn sau
Ill CHU DONG TIEN CONG VA KET THUC THANG LOI CUỘC
KHANG CHIEN CHONG THUC DAN PHAP (1951 — 1954)
1 Đảng bộ Sóc Trăng lãnh dao quân dân tiếp tục giành những
tháng lợi vẻ quân sự, chính trị (1951 - 1953)
a) Về chính trị
Quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng
(2— 1951), Tỉnh uỷ Sóc Trăng tổ chức triển khai trong Đảng bộ, dân quân chính
và các đoàn thể quản chúng
Trang 34Tháng 11 — 1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II được tổ chức tại đình Phương Phú, xã Phương Phú, huyện Châu Thành Đại hội đề ra nhiệm vụ chính trị cho tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn tiếp theo và bầu ra Ban Chấp hành
Đảng bộ tỉnh gồm 19 đồng chí Đồng chí Ngô Tám được bầu là Bí thư và đồng chí Phan Văn Chiêu là Phó Bí thư
b) Về quân sự
Mùa hè năm 1951, Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây quyết định mở chiến dịch Sóc Trăng II Các huyện Thanh Trị, Châu Thành, Long Phú được coi
là chiến trường chính của chiến dịch
Ngày 13 — 5 — 1951, chiến dịch Sóc Trăng II được mở màn với trận tấn công
cụm đồn Tuân Tức - Châu Thành (Thạnh Trị), hạ 1 lô cốt, gây thiệt hại nặng
quân tiếp viện Ngày lỗ - 5 — 1951, ta nổ súng tấn công đồn Xẻo Me (Vĩnh Châu), làm chủ cụm đồn Xẻo Me, tiêu diệt quân tiếp viện Tại Long Phú, bộ đội tỉnh phối hợp cùng địa phương quân tấn công địch với 36 trận, làm chết, bị thương 40 tên Trong phong trào này, người anh hùng quân đội đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng — anh hùng Sơn Ton - người dân tộc Khmer đã chiến đấu anh dũng, lập được nhiều chiến công
Qua chiến dịch Sóc Trăng II, ta giành nhiều thắng lợi, phá vỡ một mảng
lớn hệ thống đồn bốt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, hệ thống phòng ngự của địch
bị phá hỏng
2 Tiến công tiêu diệt địch, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực đân Pháp (1953 - 1954)
Sau 8 năm tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp bị thiệt hại nặng
nề về chính trị và quân sự, nhưng do bản chất ngoan cố, chúng tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh bằng việc thực hiện Kế hoạch Nava
"Trước tình hình trên, đầu năm 1953, Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây
chỉ thị nhiệm vụ quân sự năm 1953 - 1954 là chuẩn bị thời cơ, phối hợp với chiến trường cả nước đánh bại âm mưu bình định của địch Dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây, các tiểu đoàn chủ lực phối hợp với dân quân du kích tấn công các vùng trọng điểm như : Chau Thanh, Thanh Tri, Vinh
Châu, Kế Sách, Long Phú và tiêu điệt nhiều đồn bốt địch, điệt hàng trăm tên
Đầu năm 1954, được sự chỉ đạo của Trung ương, tỉnh Sóc Trăng mở đợt tấn công mới, đánh mạnh vào thị xã, thị trấn, cơ quan đầu não của địch Chỉ
trong vòng một tuần (từ ngày 10 - 7 đến ngày 17 - 7 — 1954), quân ta đã bức
Trang 35rút nhiều đồn bốt, góp phần cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9
năm chống thực dân Pháp, buộc Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ về việc chấm
dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam va Dong Dương
BÀI HE THÊM
1 Chiến thắng Xẻo Me - Vĩnh Châu
Di tích lịch sử chiến thắng Xẻo Me nằm trên trục lộ 38 (Vĩnh Châu — Bạc
Liêu) tại khóm Xẻo Me, phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng,
cách trung tâm thị xã Vĩnh Châu 5km về phía đông nam, cách thị xã Bạc Liêu
khoảng 27km về phía tây bắc Đông giáp xã Lai Hoà, tây giáp phường 1, nam
đi về xã Vĩnh Hiệp, bắc hướng ra Biển Đông
'Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Vĩnh Phước nói riêng và huyện
Vĩnh Châu nói chung chịu sự áp bức, nô lệ của bọn thực dân phong kiến Đồng
bào nơi đây, đa số là dân tộc Khmer, đời sống nghèo khổ, thiếu đói, chưa được
giác ngộ cách mạng
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền Việt Minh được thành
lập từ huyện đến xã, ấp Thời gian không lâu thì giặc Pháp trở lại tái chiếm,
nhưng cũng để đồng bào nơi đây nói chung và bà con Khmer nói riêng hiểu được
phan nào cuộc đấu tranh cách mạng của những người cộng sản — Việt Minh
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta ở vào giai đoạn
giằng co quyết liệt, giữa năm 1950 và đầu năm 1951, Quân khu IX và các tỉnh
khu vực Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu mở liên tục hai chiến dịch Sóc Trăng I
a: Ss
Trang 36và Sóc Trăng II (còn gọi là chiến dịch TOFACO) mà chiến trường chủ yếu là các
huyện Thạnh Trị, Châu Thành (Mỹ Tú) và Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
'Trong chiến dịch Sóc Trăng II, dự kiến có hai mặt trận chính, một trong hai mặt trận đó là trận đánh Xẻo Me Đơn vị chịu trách nhiệm chính mặt trận này
là Tiểu đoàn 410, thuộc Trung đoàn Tây Đô Quân khu IX, với nhiệm vụ được giao là chặn đánh địch tại cung đường Xẻo Me, từ Bạc Liêu đến bằng đường bộ vào lúc 3 giờ 30 phút sáng ngày 14 — 5 — 1951, theo đúng kế hoạch của Ban Chi huy chiến dịch, quân ta bắt đầu nổ súng tấn công đồn Xẻo Me
Chỉ trong hơn 10 phút đầu tiên, quân ta đã chiếm lĩnh hoàn toàn đồn này
Quân địch chết và bị thương hàng chục tên, số còn lại buông súng đầu hàng
Như vậy là hơn một ngày diễn ra 3 trận chiến đấu quyết liệt tại mặt trận Xéo Me, ta chỉ có một tiểu đoàn Vệ quốc phải đương đầu với 2 tiểu đoàn địch, trong đó có 1 tiểu đoàn lê dương BMEO ; chúng có máy bay, xe nồi đồng và các loại pháo cối yểm trợ Trong trận này, địch chết, bị thương và bị bắt sống
trên 100, ta thương vong cũng khá nhiều (do máy bay ném bom và bắn trọng
liên) Tuy nhiên, về mặt chính trị ta thắng lớn, vì đây là làn đầu tiên Vệ quốc
đoàn thọc sâu công đồn đả viện trong vùng bị kìm kẹp, vùng dân tộc gây uy
thế kháng chiến, để lại trong lòng nhân dân nhiều mến phục, nhất là đồng bào
Khmer Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu Qua chiến thắng này, cán bộ và bộ đội
địa phương còn mở đọt vũ trang tuyên truyền ở nhiều vùng lân cận, gây tiếng
vang lớn
Đặc biệt từ đầu năm 1960, đồng bào Khmer cùng với đồng bào Việt, Hoa một lần nữa đã vùng lên làm cuộc Đồng khởi, phá tan hệ thống kìm kẹp ở nông thôn, giành lại một vùng đất đai rộng lớn, từ đây lập căn cứ kháng chiến
cứu nước
Từ năm 1961 trở đi, một phần xã Vĩnh Phước là một trong những vùng giải phóng lớn nhất của huyện, của tỉnh, đồng bào ba dân tộc Việt, Hoa, Khmer đoàn kết đấu tranh chính trị, vũ trang, binh vận giải phóng xã, ấp Trong 15
năm gian khổ kháng chiến, nhân dân Vĩnh Phước đã góp phần cùng toàn quân,
toàn Đảng trong huyện, trong tỉnh giành lấy thắng lợi hoàn toàn
Trong thành tích chung đó nhân dân xã Vĩnh Phước rất tự hào vì xã, huyện mình đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân Di tích chiến thắng Xẻo Me, tại xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu được công nhận là di tích lịch sử cách mạng theo Quyết định số 352/QĐHG-CTUBT, kí ngày 15 - 3 — 2006.
Trang 372 Chién thang Rach Gia
Chiến thắng diễn ra tại vàm Rạch Già, ấp Phước Hoa A, thị trấn Cù Lao Dung, huyện Cù Lao Dung, cách trung tâm tỉnh Sóc Trăng khoảng 35km về
hướng đông - đông nam và cách trung tâm huyện Cù Lao Dung khoảng 3km
về hướng tây - tây bắc
Bia chiến thắng Rạch Già
Cù Lao Dung là một huyện cực đông của tỉnh Sóc Trăng, trầm lặng nằm soi mình giữa dòng sông Hậu thơ mộng, với hai cửa Định An và Tran Dé dé ra
Biển Đông Từ xa xưa, nơi đây không những nổi tiếng về một vùng cù lao xum
xuê cây trái và sông, biển lắm cá nhiều tôm, mà còn nổi tiếng về truyền thống
đấu tranh cách mạng kiên cường bất khuất
Cuối năm 1946, đội du kích tập trung lần đầu tiên của Long Phú ra đời Lúc thành lập, đội du kích có khoảng trên dưới 30 chiến sĩ do đồng chí Võ Thành
Van làm Trung đội Trưởng, đặt dưới quyên chỉ huy trực tiếp của Ban Quân sự
huyện Long Phú, do đồng chí Đoàn Thế Trung chỉ đạo
Đầu năm 1947, khi ra đời chưa được bao lâu, đội du kích Long Phú đã chặn đánh bọn Pháp khi chúng mò sang vùng cù lao lùng sục Đặc biệt là những
trận phục kích ở Rạch Già Ngày 20 — 5 — 1947, biết là địch đổ quân càn quét,
==——ễễễ ŒẼEễễễ=ẽ
Trang 38ngay lập tức đồng chí Ba Tâm phụ trách tiểu đội tự vệ triển khai đội hình
chiến đấu
Đúng như dự đoán, bọn chúng càn vào khoảng 50 tên, ngay lập tức đồng chí
Châu Văn Tỷ nấp gần đó giật mìn nồ Bị đánh bất ngờ, bọn lính bên ngoài hốt
hoảng vừa chạy vừa bắn loạn xạ, các chiến sĩ tự vệ xung phong lên truy kích,
bọn chúng rút ra ngoài vàm Rạch Già rồi lên tàu tháo chạy thoát thân
Tran đánh gây tiếng vang lớn, làm cho uy thế của lực lượng tự vệ chiến đấu ngày càng cao, nhân dân tin tưởng, còn bọn giặc thì rất lo sợ mỗi khi càn quét
vào xứ cù lao này
Trước những thành tích đã đạt được trong chiến đấu và bảo vệ nhân dân, cùng với sự lớn mạnh của lực lượng du kích tập trung và du kích các xã vùng cù lao, đồng thời cũng do yêu cầu hoạt động ngày càng mở rộng trên địa bàn toàn huyện, Ban cán sự Huyện uỷ Long Phú quyết định thành lập Trung đội địa
phương quân của huyện do đồng chí Đoàn Thế Trung trực tiếp chỉ huy
Thanh lap không bao lâu, khoảng cuối tháng 9 — 1948, nhân kỉ niệm ngày
Nam Bộ kháng chiến (23 — 9), được tin báo của quần chúng là bọn Pháp sẽ tổ
chức một cuộc càn lớn để đánh vào căn cứ quân sự của ta đang đóng tại Rạch Già, được sự đồng ý của Ban cán sự Huyện uỷ, đồng chí Đoàn Thế Trung chỉ đạo Trung đội địa phương quân kết hợp với lực lượng du kích xã An Thạnh Nhì (nay thuộc thị trấn Cù Lao Dung), đồng chí Sơn Tol cùng đồng doi chat ban lam
cọc đóng dưới lòng sông Rạch Già và bố trí thuỷ lôi tại đây, đồng thời triển khai
đội hình phục kích
Sáng hôm sau, 3 chiếc tàu chiến của Pháp được trang bị vũ khí hiện đại,
từ Đại Ngãi càn qua vùng cù lao, chúng bắn vu vơ từ ngoài bờ sông Hậu, rồi rẽ
vào vàm Rạch Già, tàu của bọn chúng ung dung tiến vào trong rạch, khi chiếc tàu đi đầu chạm bãi cọc bần dưới lòng sông thì đồng chí Sơn Tol cho nổ thuỷ lôi, đồng thời các chiến sĩ du kích được bố trí trên bờ Rạch Già bắn quyết liệt vào đội hình tàu của địch Bị tấn công quá bất ngờ, hai chiếc tàu đi sau bắn trả
rất quyết liệt vào đội hình của ta, đề kéo chiếc đi đầu cùng rút lui ra ngoài vàm Rạch Già và chạy thoát thân vẻ Đại Ngãi
Ngoài hai trận tập kích tiêu biểu trên tại Rạch Già, trong suốt thời kì kháng chiến nơi đây còn diễn ra nhiều trận chống càn khác của du kích xã An Thạnh Nhì và các đơn vị tự vệ chiến đấu của huyện Long Phú Từ những thành tích thắng trận vang đội trên, nhạc sĩ Quốc Hương đã sáng tác bài “Du kích Long
Trang 39Phú” với những lời ca hùng tráng di vào lòng người như tinh thần quả cảm của những chiến sĩ du kích năm xưa ở xứ cù lao
Ngày 10 - 1— 2008, theo Quyết định số 12/QĐHC-CTUBND tỉnh Sóc Trăng công nhận địa điểm chiến thắng Rạch Già, Ấp Phước Hoà, thị trấn Cù Lao
Dung, tỉnh Sóc Trăng là Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh
8 Chiến thắng Chắc Tức - Bàu Còn
Địa điểm chiến thắng Chắc Tức - Bàu Còn toạ lạc tại ngã ba bên bờ Nam vàm Chắc Tức, nơi tiếp giáp của hai con rạch Chắc Tức — Bàu Còn, thuộc ấp Tân Lộc, xã Lam Tân, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, cách trung tâm tỉnh li
Sóc Trăng khoảng 35km về hướng tây — nam
Chắc Tức - Bàu Còn, theo lời kể của một số cụ già ở địa phương, từ thời
xa xưa, nơi đây là một khu đầm lầy, bưng bàu hoang đã, có nhiều cỏ đại, lau
sậy chen lẫn dừa nước, chưa có ai đến đây khai phá Sau khi phong trào Bình
"Tây của Trương Định bị thất thủ, nhiều người dân yêu nước không chịu khuất phục nên bỏ xứ ra đi và đã đến đây cư trú nhằm lánh nạn và cũng để tìm cách
chống lại thực dân Pháp và bọn quan lại phong kiến, họ khẩn đất khai hoang, sản xuất để sinh sống
Địa danh Chắc Tức xuất phát từ tên gọi của người Khmer địa phương, có
nghĩa là “Nước đổ”, vì rạch Chắc Tức bắt nguồn từ rừng tràm Mỹ Phước đổ ra rạch Bàu Còn, là một trong hàng trăm con rạch lớn nhỏ do Pháp bắt nông dân đào và rạch Bàu Còn cũng là một trong những con rạch chính nhằm đề điều hoà cấp thoát nước cho khu rừng tràm nhân tạo Rạch Bàu Còn có chiều dài khoảng
9 km bắt nguồn từ hướng tây ngã tư chợ “Khu Trù Mat” — Cái Trâu đồ ra hướng
đông sông Quản Lộ, đi Nhu Gia, một tuyến giao thông thuỷ trọng yếu nối vùng tạm chiếm với vùng giải phóng của ta và vùng địch kiểm soát, vì phương tiện
giao thông lúc bấy giờ chỉ bằng xuông ghe là chính Do đó, thực dân Pháp cho xây dựng tại vàm Chắc Tức - Bàu Còn một cứ điểm nhằm kiểm soát giao thông thuỷ bộ và ngăn cắt liên lạc của quân ta, đồng thời làm bàn đạp thực hiện âm
mưu đánh chiếm vùng giải phóng, giành nguồn nhân lực và vật lực tại chỗ phục
vụ lâu dài cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Vào đầu tháng 5 — 1952, để tiếp tục mở rộng vùng kiểm soát, thực dân Pháp
sử dụng các tiểu đoàn nguy, trang bị vũ khí mạnh, gọn nhẹ được phi cơ và trọng pháo của chúng hỗ trợ càn quét bảo vệ cho bọn công binh và bảo an đóng thêm
đồn bốt lấn chiếm vùng giải phóng của ta, trong đó có khu vực Chắc Tức
EE
Trang 40Thực hiện chủ trương của Đảng bộ Sóc Trăng, quyết đập tan kế hoạch đóng đồn lấn chiếm vùng giải phóng Mỹ Phước của thực dân Pháp Đại đội 935
và 937 thuộc Tiểu đoàn 308 được giao nhiệm vụ tiêu diệt đồn Chắc Tức — Bàu Còn
Tại đây, quân Pháp tập trung khoảng 450 tên thuộc Tiểu đoàn 5 BVN (5e Bataillon VietNamien), được trang bị vũ khí mạnh, gọn nhẹ, được phi cơ và
trọng pháo hỗ trợ Sau khi nghiên cứu, tìm hiểu cách bố trí lực lượng của dich,
ta đã xây dựng phương án tấn công địch bất ngờ, chớp nhoáng Đúng 2 giờ 30 phút ngày 7 — 5 - 1952, các mũi tấn công của ta đã vào vị trí xuất phát xung
phong Hơn 20 khẩu súng tromblon đồng loạt nổ súng, tạc đạn AT và cối 81 bắn
thẳng vào công sự địch Một khẩu đại liên của địch bắn trả dữ đội, một số chiến
sĩ ta đã hi sinh Nhưng với tỉnh thần dũng cảm quyết chiến, mưu trí sáng tạo, đúng 3 giờ 15 phút, Đại đội 935 và 937 đã diệt gọn đồn Chắc Tức - Bàu Còn, chỉ sau hơn 30 phút chiến đấu
Kết qua, ta đã tiêu diệt 150 tên, bắt 34 tù binh, trong đó có tên Dương Văn
Đức - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 BVN của Pháp, thu trên 100 súng các loại,
nhiều đạn dược và lương thực, thực phẩm
Trận tập kích chiến lược Chắc Tức — Bàu Còn là một trận tiêu biểu về cách đánh tiêu diệt Với lực lượng xung kích tinh nhuệ của một tiểu đoàn phối hợp với địa phương và du kích diệt gọn một tiểu đoàn mạnh, được trang bị vũ khí hiện đại của thực dân Pháp
Tiêu biểu về cách bố trí binh lực hợp lí, cách đánh táo bạo, xuất quỷ nhập thân, tạo nên sức mạnh áp đảo địch, mặc dù chúng có quân số đông hơn Tiêu
biểu về lòng dũng cảm và bản lĩnh chiến đấu của cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 308
và dân quân du kích địa phương
Chiến thắng Chắc Tức - Bàu Còn là nguồn cổ vũ, niềm tự hào đối với quân
và dân tỉnh Sóc Trăng, Phân liên khu miền Tây Nam Bộ, làm cho địch hoang
mang lo sợ Đặc biệt trận chiến thắng Chắc Tức - Bàu Còn, ngay sau đó đã
được chọn là một chiến lệ để nghiên cứu về nghệ thuật tập kích trong các học viện của Bộ Quốc phòng Ngày 15 — 3 —- 2006, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng ra
Quyết định số : 352/QĐHC-CTUBT công nhận địa điểm chiến thắng Chắc Tức
— Bàu Còn tại ấp Tân Lộc, xã Lâm Tân, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng là Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh