phân tích những căn cứ phát sinh và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả gây ra
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Pháp luật của nước ta luôn bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các cá nhân,pháp nhân…khi tham gia vào các quan hệ xã hội Nếu một chủ thể có hành vitrái pháp luật gây thiệt hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thểkhác được pháp luật bảo vệ, thì chủ thể gây thiệt hại có thể phải gánh chịu hậuquả pháp lí bất lợi do hành vi của mình gây ra Dưới góc độ pháp luật dân sự,hậu quả pháp lí đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây
ra cho người bị thiệt hại Cũng như những hành vi vi phạm khác, chủ thể cóhành vi xâm phạm đến mồ mả của cá nhân thì cũng phải chịu trách nhiệm bồithường thiệt hại Mồ mả của người đã khuất là thiêng liêng, bất khả xâm phạm,luôn được pháp luật, phong tục tập quán tôn trọng và bảo vệ Vì vậy, người nàoxâm phạm đến sẽ phải chịu hậu quả bất lợi
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em đã chọn phân tích những căn cứ phátsinh và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả gây ra
về trách nhiêm bồi thường thiệt hại mới được quy định một cách chi tiết Tiếp
đó, BLDS năm 2005 hoàn thiện hơn nữa các quy định về trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng Điều 604, BLDS năm 2005 quy định :
“ 1 Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm
1
Trang 2
danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”
Như vậy, theo quy định tại Điều 604, BLDS năm 2005 thì trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi người có hành vi trái pháp luật cólỗi gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ Có thể đưa ra khái niệm
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: Trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý được phát sinhdựa trên các điều kiện do pháp luật quy định khi một chủ thể có hành vi gâythiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ
1.1.2 Điều kiện phát sinh TNBTTHNHĐ:
Không phải trong trường hợp nào người gây thiệt hại cũng phải bồi thườngthiệt hại cho người bị thiệt hại Do đó việc xác định những yếu tố, cơ sở làmphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là rất quan trọngnhằm xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồithường và mức bồi thường Là một loại trách nhiệm pháp lí, trách nhiệm bồithường thiệt hại phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định, đólà:
- Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là điều kiện bắt buộc trong trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nóiriêng bởi mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm bù đắp, khắcphục những tổn thất đã xảy ra cho người bị thiệt hại, do đó nếu không có thiệthại thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường cho dù có đầy đủ các điềukiện khác Khi xác định thiệt hại để bồi thường cần lưu ý các thiệt hại này phảithực tế, xác định được
2
Trang 3
- Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại: hành vi trái pháp luật gây thiệt hại để
phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là những hành vi mà phápluật cấm, không cho phép thực hiện, có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự,hành chính, dân sự, đường lối chính sách của Đảng… Cơ sở để xác định hành
vi trái pháp luật là căn cứ vào các quy định của pháp luật trong từng trường hợp
cụ thể
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: hành
vi trái pháp luật được coi là nguyên nhân và thiệt hại được coi là hậu quả Vềmặt nguyên tắc, hành vi trái pháp luật phải có trước và thiệt hại có sau Thiệt hạixảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật Xác định mối quan hệnhân quả trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa hếtsức quan trọng
- Có lỗi của người gây thiệt hại: lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Hình thức lỗi là thái độ tâm lýcủa người có hành vi gây ra thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô
ý Lỗi trong trách nhiệm dân sự là lỗi suy đoán
1.2 Khái niệm TNBTTH do xâm phạm mồ mả gây ra
Mồ mả là nơi chôn cất thi thể, hài cốt hoặc tro hài cốt của cá nhân Mồ mảcủa cá nhân gắn liền với nhân thân của người đó Bảo vệ mồ mả của cá nhân cho
dù ở bất kì xã hội nào cũng đều được quan tâm, chú ý theo tín ngưỡng…Phápluật của nhà nước ta luôn có những quy định bảo vệ mồ mả của cá nhân, ngănchặn, trừng trị người có hành vi cố ý xâm phạm mồ mả của cá nhân BLHS củanước ta cũng có những hình phạt trừng trị người xâm phạm mồ mả với nhữngtội danh cụ thể
Trên thực tế không ít trường hợp gây thiệt hại về mồ mả cho người khácnhưng thiếu cơ sở pháp lý để buộc người gây thiệt hại bồi thường thiệt hại Bộluật dân sự năm 2005 là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về bồi thường thiệt
3
Trang 4
hại do xâm phạm mồ mả: “Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt hại đến
mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại” (Điều 629 BLDS).
Quy định trên là phù hợp với đời sống thực tế Bởi trong điều kiện pháttriển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, việc mở rộng những khu côngnghiệp, những nhà chung cư, mở rộng đô thị, hệ thống giao thông, sân bay, bêncảng, nhà ga… là yêu cầu tất yếu Nhu cầu mở rộng nhà cửa, mở rộng nơi sinhhoạt, mặt bằng sản xuất, kinh doanh cũng phát triển theo Trong quá trình giảiphóng mặt bằng xây dựng cơ sở hạ tầng, có thể xuất hiện những trường hợp chủđầu tư do vô tình hay cố ý xâm phạm đến mồ mả của người khác trên phần đấtđược cấp quyền sử dụng hoặc có những hành vi lấn chiếm, mở rộng diện tích đã
vi phạm địa giới liền kề mà xâm phạm đến mồ mả của người khác Nhữngtrường hợp xâm phạm mồ mả của người khác phát sinh trong đời sống thực tế làkhá phổ biến Do vậy quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm
mồ mả của pháp luật là trách nhiệm pháp lý đặc biệt vì hành vi xâm phạm mồ
mả không chỉ xâm phạm về nhân thân mà còn xâm phạm về tài sản
1.3 Đặc điểm TNBTTH do xâm phạm mồ mả gây ra.
Dựa vào nguyên tắc chung của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, bồithường thiệt hại do xâm phạm mồ mả được xác định dựa vào các yếu tố sau:
- Mồ mả là nơi mai táng thi thể hoặc hài cốt của cá nhân, do đó mồ mả là
quyền nhân thân gắn liền và vĩnh viễn với người chết, không thể dịch chuyển hay thay đổi cho người khác được Nếu như quyền nhân thân khi còn sống
của cá nhân là quyền riêng biệt và có ở mỗi cá nhân xác định thì quyền nhânthân liên quan đến mồ mả của cá nhân có sự khác biệt, nó có tính hai mặt
Mồ mả còn là quyền nhân thân của những người thân thích, người trong dòngtộc của người có mồ mả đó Do vậy, cần thiết phải làm rõ thuộc tính này để
có căn cứ xác định trách nhiệm dân sự của người xâm phạm mồ mả
4
Trang 5
- Hành vi xâm phạm mồ mả luôn luôn là hành vi trái pháp luật Mồ mả của cá
nhân luôn được tôn trọng và bảo vệ, không những bằng đạo đức mà bằngpháp luật Mồ mả của cá nhân là bất khả xâm phạm và là một thực thể thiêngliêng không những theo phong tục tập quán, quan niệm tôn giáo mà còn theobản sắc văn hóa của dân tộc Vì vậy mọi hành vi xâm phạm đến mồ mả của
cá nhân đều là trái pháp luật
- Người được bồi thường thiệt hại là những người thân thích của cá nhân có
mồ mả đó Những người thân thích như cha, mẹ, vợ, chồng, con cái…là
những người gần gũi nhất với cá nhân có mồ mả, họ có quan hệ huyết thống,nuôi dưỡng…với nhau nên khi mồ mả của cá nhân bị xâm phạm thì nhữngngười thân thích của họ là những người được bồi thường thiệt hại Đặc điểmnày phù hợp với quy định của pháp luật về thừa kế
- Thi thể hay hài cốt của cá nhân không phải là tài sản, nên hành vi xâm phạm
thi thể hay hài cốt của cá nhân không phải là hành vi xâm phạm tài sản mà
là hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân gắn với thi thể, mồ mả của cá nhân Thi thể của cá nhân trước hết là một thực thể của tự nhiên, về mặt sinh
học thì thực thể đó đã chấm dứt quá trình trao đổi chất Nhưng theo quy địnhcủa pháp luật thi thể, hài cốt của cá nhân là bất khả xâm phạm Vì vậy khôngthể coi thi thể, hài cốt của cá nhân là tài sản, điều này trái với đạo đức, phongtục và quan niệm tôn giáo của dân tộc
- Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả thực chất là bồi thường những chi
phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại Bồi thường thiệt hại do xâm phạm
mồ mả là một trường hợp của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người gâythiệt hại không thể bồi thường và khôi phục tình trạng ban đầu cho người bịthiệt hại Người gây thiệt hại chỉ có thể thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệthại của mình bằng cách bồi thường những chi phí hợp lý cho những ngườithân thích của cá nhân có mồ mả để hạn chế, khắc phục thiệt hại
II Cơ sở pháp lý của TNBTTH do xâm phạm mồ mả gây ra
5
Trang 6
2.1 Điều kiện phát sinh TNBTTH do xâm phạm mồ mả
Căn cứ vào những đặc điểm đã nêu trên, trách nhiệm của người xâm phạm
mồ mả là trách nhiệm dân sự và phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:
- Hành vi xâm phạm mồ mả luôn luôn được xác định là hành vi trái pháp luật.
- Người xâm phạm mồ mả cho dù có lỗi cố ý hay vô ý đều phải chịu tráchnhiệm dân sự
- Hành vi xâm phạm mồ mả có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại về tài sản
của những người thân thích của cá nhân có mồ mả Đồng thời cũng là hành vixâm phạm đến quyền nhân thân gắn liền với cá nhân có mồ mả
Hành vi xâm phạm mồ mả thỏa mãn ba điều kiện trên thì người xâm phạmphải có trách nhiệm dân sự về tài sản và nhân thân đối với người thân thích của
cá nhân có mồ mả Hành vi xâm phạm mồ mả là hành vi xâm phạm đến vị trímai táng xác, hài cốt, tro hài cốt của người chết theo phong tục, nghi lễ, tôn giáocủa cộng đồng dân cư Hành vi xâm phạm mồ mả là hành vi xâm phạm đến nơi
an nghỉ cuối cùng của cá nhân người chết Pháp luật nước ta bảo vệ quyền bấtkhả xâm phạm mồ mả của người đã chết
Do đó, hành vi xâm phạm mồ mả là hành vi trái pháp luật Việc xác địnhhành vi xâm phạm mồ mả là căn cứ pháp lý để xác định có hay không tráchnhiệm dân sự do xâm phạm mồ mả của cá nhân
Căn cứ xác định hành vi xâm phạm mồ mả:
- Thứ nhất, người có hành vi cho dù là với bất kì mục đích gì mà xâm phạm
trực tiếp đến xác, hài cốt, tro hài cốt của người chết, xâm phạm đến sựnguyên dạng của xác, hài cốt, tro hài cốt hoặc làm hao hụt hài cốt, tro hàicốt đã mai táng thì hành vi đó là hành vi xâm phạm mồ mả
- Thứ hai, người có hành vi di chuyển vị trí chôn cất xác, hài cốt, tro hài cốt
của cá nhân trái với ý chí của những người thân thích của những người chết(trừ trường hợp phải di dời mồ mả theo quyết định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền);
6
Trang 7
- Thứ ba, người có hành vi thay đổi tấm bia ghi tên người chết có xác, hài
cốt, tro hài cốt dưới mộ gây ra sự nhầm lẫn với người thân thích của ngườichết đó;
- Thứ tư, người có hành vi san phẳng mồ mả của người chết, làm mất dấu
tích của ngôi mộ, khiến không thể phát hiện được vị trí của ngôi mộ đó Người có hành vi xâm phạm mồ mả không cần phải có đầy đủ tất cả cácdấu hiệu trên mà chỉ cần có một trong các dấu hiệu đó đã là căn cứ để xác địnhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả Theo đó, thì người gâythiệt hại có trách nhiệm bồi thường những chi phí hợp lý để hạn chế khắc phụcthiệt hại đã gây ra Khi xác định cần xem xét hành vi đó có xâm phạm đếnkhông gian, phạm vi, hình dáng, tường rào bao bọc xung quanh ngôi mộ haykhông Vì chúng là một thể thống nhất, vị trí ngôi mộ được xây dựng có mốiliên hệ hữu cơ với mục đích giữ gìn, bảo vệ xác, hài cốt, tro hài cốt của người cóngôi mộ đó, mọi hành vi làm biến dạng kiến trúc liên quan đến mục đích bảo vệngười đã chết được nguyên vẹn, đều bị coi là hành vi xâm phạm mồ mả
Ngoài ra, cần phải phân biệt với những hành vi không bị coi là xâm phạm
mồ mả nhưng thuộc trách nhiệm dân sự khác để tránh nhầm lẫn dẫn đến xácđịnh sai trách nhiệm bồi thường thiệt hại, như hành vi bịa đặt những tin đồn vềngười có mồ mả, tạo ra những dư luận làm giảm uy tín, danh dự của người có
mồ mả khi còn sống Những hành vi này cũng là hành vi trái pháp luật nhưngkhông thuộc hành vi xâm phạm mồ mả
2.2 Trường hợp miễn trừ TNBTTH do xâm phạm mồ mả
2.2.1 Trường hợp bất khả kháng:
Sự kiện được coi là bất khả kháng khi nó là sự kiện bên ngoài, xảy ra mộtcách khách quan, nằm ngoài ý chí hay hành động của con người Trong thực tế,những sự kiện như thiên tai (bão lụt, động đất, núi lửa…), tình trạng chiếntranh…được coi là những sự kiện bất khả kháng Xâm phạm mồ mả cũng là mộttrường hợp được loại trừ TNBTTH nếu thiệt hại đó xảy ra là hoàn toàn do sự
7
Trang 8
kiện bất khả kháng gây ra Ví dụ, do lũ lụt mà mồ mả của cá nhân bị vùi lấp, dochiến tranh mà mộ của người chết bị mất dấu tích…
2.2.2 Trường hợp cải mộ (cải táng) :
Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống vì vậy mỗi dân tộc lại cóphong tục tập quán riêng Tục cải mộ hay cải táng của dân tộc Kinh và nhiềuphong tục khác của các dân tộc là những tập tục có từ lâu đời và đến ngày nayvẫn được gìn giữ Như ông cha ta thường nói: “Sống cái nhà, già cái mồ” Khicòn sống công dân được pháp luật bảo vệ về chỗ ở và khi chết đi cũng đượcpháp luật bảo vệ ở “nơi an nghỉ cuối cùng” Nhân dân ta quan niệm cải mộ (cảitáng) mộ người đã chết là nghĩa vụ, trách nhiệm và thể hiện tình cảm của ngườithân đối với người đã chết, là báo hiếu đối với tổ tiên Ngôi mộ có giá trị tinhthần to lớn đối với người thân.Vì vậy mà hành vi cải mộ (cải táng) của gia đìnhngười đã chết đối với ngôi mộ không phải chịu TNBTTH do xâm phạm mồ mả
c
2.3 Năng lực và nguyên tắc bồi thường thiệt hại
2.3.1 Năng lực bồi thường thiệt hại:
Để xác định được chủ thể BTTH trong các vụ thiệt hại do xâm phạm mồ mảthì việc trước tiên là phải xem họ có năng lực chịu trách nhiệm hay không Nănglực BTTH của chủ thể là khả năng của chủ thể đó phải gánh chịu những hậu quảbất lợi từ thiệt hại xảy ra Người xâm phạm mồ mả gây thiệt hại có thể là cánhân, pháp nhân… Điều 606 BLDS quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồithường thiệt hại của cá nhân Theo đó thì năng lực chịu TNBTTH của cá nhânphụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng BTTHcủa cá nhân Cá nhân xâm phạm mồ mả cũng phải chịu TNBTTH theo quy địnhchung này:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phảiBTTH do họ gây ra
- Người dưới 18 tuổi là những người không có hoặc không đủ năng lựchành vi nên cha mẹ họ là người BTTH:
8
Trang 9
+, Người dưới 15 tuổi: cha mẹ phải dùng tài sản của mình để bồi thường,nếu không đủ mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của con để bồithường.
+, Người từ 15 đến 18 tuổi: lấy tài sản của con để bồi thường, cha mẹ chịutrách nhiệm bổ sung phần còn thiếu
- Người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hạitrong thời gian ở trường học, bệnh viện quản lý thì trường học , bệnhviện phải bồi thường Nếu các tổ chức đó không có lỗi thì cha mẹ, ngườigiám hộ phải bồi thường
- Người giám hộ đương nhiên, giám hộ cử theo quy định tại khoản 2 điều
58 BLDS được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường.Nếu người giám hộ chứng minh được họ không có lỗi thì họ không phảilấy tài sản của mình để bồi thường
2.3.2 Nguyên tăc bồi thường thiệt hại:
BTTH do xâm phạm mồ mả cũng dựa trên những nguyên tắc chung củaBTTHNHĐ quy định cụ thể tại Điều 605 BLDS và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006:
- Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời
- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường (bồi thường mộtphần) nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khảnăng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại
- Thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợpvới thực tế: sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả hoặc
do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệthại…
2.4 Xác định thiệt hại
2.4.1 Thiệt hại về tài sản:
9
Trang 10
Như đã phân tích ở trên, hành vi xâm phạm thi thể hay hài cốt của cá nhân
không phải là hành vi xâm phạm tài sản mà là hành vi xâm phậm đến quyềnnhân thân gắn với thi thể, mồ mả của cá nhân Do đó, thiệt hại về tài sản do hành
vi xâm phạm mồ mả gây ra là phần thiệt hại về tài sản liên quan đến những chiphí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại Những thiệt hại này phải được xácđịnh trên cơ sở những thiệt hại thực tế, đó là những chi phí mua vật liệu xâydựng và những chi phí hợp lý khác cho việc xây dựng mồ mả (tiền công xâydựng mồ mả…)
Bồi thường thiệt hại về mồ mả do phần tài sản bị xâm phạm cũng theonguyên tắc chung của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là bồi thường toàn bộthiệt hại Trong một số trường hợp người thân thích của người bị xâm phạm mồ
mả đòi những chi phí trả cho thầy bói, cô đồng và những chi phí khác liên quanđến điều cấm của pháp luật như gọi hồn người chết, yểm bùa… thì không đượcbồi thường thiệt hại
Người xâm phạm mồ mả chỉ phải bồi thường thiệt hại về tài sản khi có thiệthại về tài sản Vậy những trường hợp xâm phạm tài sản mà không gây thiệt hại
về vật chất như hành vi xâm lấn mồ mả của người khác nhưng không gây thiệthại về vật chất thì họ có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không?
2.4.2 Bồi thường tổn thất về tinh thân cho những người thân thích của người
có mồ mả bị xâm phạm
Hành vi xâm phạm mồ mả không những gây thiệt hại về tài sản mà còn xâm
phạm đến quyền nhân thân của chính người có mồ mả đó Đồng thời gây ranhững tổn thất về tinh thần cho những người thân thích của cá nhân có mồ mả bịxâm phạm
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó chết nhưngquyền nhân thân gắn liền với mồ mả của cá nhân được pháp luật bảo vệ
và cấm mọi hành vi xâm phạm đến mồ mả của các nhân
10
Trang 11
- Mồ mả của cá nhân bị xâm phạm khiến cho những người thân thích của
họ bị tổn thất về tinh thần không phải là nhỏ Bởi theo quan niệm chungthì những người còn sống có bổn phận chăm nom, giữ gìn mồ mả nhữngngười đã chết như gìn giữ điều thiêng liêng của người đã chết, thể hiệntình cảm của người còn sống đối với người đã sinh thành, nuôi dưỡng,những người thân thích với mình Đây cũng là quan niệm đạo đức củanhân dân ta “Sống vì mồ vì mả không ai sống vì cả bát cơm” Do vậy,những hành vi xâm phạm mồ mả: đào bới, tiêu hủy, giảm sút hài cốt, hủyhoại hài cốt, thi thể của cá nhân được coi như là những hành vi xâm phạmdanh dự, uy tín, nhân phẩm quy định tại Điều 611 BLDS 2005 Mức bồithường này do các bên thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được thì ápdụng mức bồi thường tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu doNhà nước quy định
2.4.3 Trách nhiệm của người do nhầm lẫn mà xâm phạm mồ mả cuả người khác.
Trên thực tế, hành vi nhầm lẫn có thể xảy ra trong trường hợp người ta đàonhầm mồ mả của người khác do thiếu cẩn trọng hoặc xác định sai vị trí mồ mả.Hành vi đào nhầm mồ mả của người khác có phải là hành vi xâm phạm không?Nếu xét về hình thức lỗi, hành vi đào nhầm mồ mả là do vô ý mà gây thiệt hạiđến mồ mả của người khác Nếu xét theo hậu quả thì hành vi đào nhầm cũng làhành vi xâm phạm mồ mả Hành vi xâm phạm mồ mả cho dù xuất phát từ lỗi vô
ý hay cố ý cũng đều gây ra những thiệt hại nhất định về tài sản và gây tổn thất
về tinh thần của những người thân thích của người có mồ mả đó Hành vi xâmphạm mồ mả bao giờ cũng làm phát sinh thiệt hại hoặc về vật chất hoặc về tinhthần hoặc về cả vật chất và tinh thần của người còn sống, người thân thích củangười có mồ mả đó Từ những nhân đinh trên, người xâm phạm mồ mả phảichịu trách nhiệm dân sự trước những người thân thích của cá nhân có mồ mả bịxâm phạm Trách nhiệm dân sự không thay đổi trong mọi trường hợp khi có
11