1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Aristot (384-322 TCN) Bộ óc bách khoa nhất trong số các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại

21 671 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 182,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Trường phái:Khai sinh chủ nghĩa Aristotles• Quan tâm chính: Luân lí học, Chính trị, Siêu hình học, Khoa học, Logic cùng The final cause • Ảnh hưởng bởi: Platôn • Ảnh hưởng tới:Hầu hết

Trang 1

Aristot (384-322 TCN)

Bộ óc bách khoa nhất trong số các nhà tư

tưởng Hy Lạp cổ đại

Trang 2

• Sau 1 thời gian phụng sự vua Philip II (Maxêđoan), ông quay lại

Aten xây dựng trường phái triết học của riêng mình

• Arixtốt để lại cho nhân loại 1 di sản triết học đồ sộ được viết bằng tiếng Hy Lạp cổ, trong đó lớn nhất là tác phẩm "Siêu hình học“

Trang 3

• Trường phái:Khai sinh chủ nghĩa Aristotles

• Quan tâm chính: Luân lí học, Chính trị, Siêu hình học, Khoa học, Logic

cùng (The final cause)

• Ảnh hưởng bởi: Platôn

• Ảnh hưởng tới:Hầu hết các nhà triết học và khoa học sau ông

Trang 4

Sự hình thành quan điểm triết học

- Arixtốt đặc biệt biệt coi trọng vai trò của các khái niệm trong nhận thức, khẳng định

đó là phương tiện để nhận thức bản chất của tồn tại

- Arixtốt phê phán mạnh mẽ học thuyết duy tâm của Platôn về các ý niệm.

+ Ông phản đối Platôn coi các ý niệm như 1 dạng tồn tại độc lập tối cao, còn mọi sự vật cảm tính của thế giới chúng ta đều tồn tại ở cấp độ thấp hơn.

+ Ông phê phán việc Platôn tách rời thế giới hiện thức với thế giới ý niệm vì thế giới

ý niệm phải thuộc về thế giới các sự vật.

+ Ông nhận thấy học thuyết của Platôn có nhiều mâu thuẫn về mặt Logic.

+ Các ý niệm của Platôn không thể là công cụ nhận thức thế giới vì chúng tách rời với quá trình vận động, phát triển không ngừng của các sự vật.

⇒ Arixtốt đi đến xây dựng hệ thống triết học riêng của mình trên cơ sở tiếp thu những điểm hợp lý trong TGQ của Platôn đồng thời khắc phục những hạn chế của nó

Trang 5

Quan điểm triết học

- Giá trị của triết học Aristot thể hiện ở quan điểm về thế giới tự nhiên Aristot thừa nhận thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc, kinh nghiệm

+ Triết học thứ hai: coi giới tự nhiên với những sự vật vô cùng đa dạng, là đối

tượng nghiên cứu của vật lý học (học thuyết về giới tự nhiên), nghiên cứu các dạng tồn tại cụ thể, lý giải các vấn đề về nguồn gốc, bản chất thế giới dựa trên triết học thứ nhất.

- Theo Arixtốt, tồn tại nói chung xuất phát từ 4 nguyên nhân cơ bản là: hình dạng, vật chất, vận động và mục đích

+ Nguyên nhân hình dạng được cho là cơ bản nhất: là thực chất của tồn tại, là bản chất của sự vật, bản thân đã bao hàm cả nguyên nhân vận động và mục đích

Trang 6

+ Vận động và mục đích: cũng như Xôcrát và Platôn, Arixtốt là nhà mụcđích luận, khẳng định tính mục đích trong sự phát triển của mọi sự vật; hiểu mục đích theo nghĩa khách quan: mọi sự vật đều phát triển theo những trình tự, qui luật và xu hướng của chúng, tức là có mục đích nhất định nhưng theo sự xếp đặt trước của Thượng đế.

=> Với việc thừa nhận nguyên nhân, mục đích trong sự phát triển của mọi vật, Arixtốt đã làm cho các quan niệm của ông về tồn tại trở nên thần bí, coi vân động và mục đích chỉ là những khía cạnh khác nhau của nguyên nhân hình dạng.

+ Vật chất: mỗi vật bao giờ cũng thuộc về 1 loài, 1 giống nhất định; bản chất phải là cái được nhận thức trong khái niệm (tức là cái chung) Mặt khác, mối

sự vật cần có những đặc tính riêng của mình, bản chất của nó phải là cái

riêng => Arixtốt mới chỉ nhận thức được 2 tiêu chuẩn trên của bản chất mâu thuẫn với nhau và khẳng đinh chúng đều cần thiết.

_ Mâu thuẫn giữa hai tiêu chuẩn của bản chất dẫn Arixtốt đến nhiều mâu thuẫn trong quan niệm giữa vật chất và hình dạng

+ Một mặt, ông khẳng định mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều là sự thống nhất giữa vật chất và hình dạng.

+ Mặt khác, ông thừa nhận tồn tại “hình dạng thuần túy” phi vật chất thuộc về lĩnh vực tư tưởng, cũng như khẳng định có cả “vật chất đầu tiên” (vật chất phi hình dạng).

Trang 7

⇒ Từ việc tách rời vật chất và hình dạng, Arixtốt khẳng định: “ hiện

thực có trước mọi khởi nguyên, cả về phạm trù, cả về bản chất, còn

về thời gian thì theo 1 nghĩa nhất định là tồn tại trước, theo 1 nghĩa khác thì không

⇒ Đây là điểm triết học Arixtốt hòa nhập với thần học của ông Arixtốt hòan toàn thóat khỏi lập trường duy tâm trong quan niệm về vật

chất và tinh thần

Trang 8

Nhận thức luận và Logic học

1 Nhận thức luận

- Học thuyết của Arixtốt về tri thức (lí luận khoa học) được xây dựng trên nền tảng

quan niệm về thế giới của ông, nhấn mạnh điểm tương đồng giữa khoa học và nghệ thuật

+ Lý luận nhận thức Arixtốt là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng nhận thức luận thời cổ đại, coi quá trình nhận thức là quá trình khám phá chân lý đích thực về bản chất sự vật

+ Coi nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên, là điểm xuất phát của mọi quá trình nhận thức (đối lập với tư tưởng của Platon coi nhận thức là quá trình hồi tưởng lại)

+ Tiếp theo là các dạng: nhận thức kinh nghiệm, nhận thức nghệ thuật, và cao nhất

là nhận thức khoa học Trong đó triết học là tối cao.

- Ông là người đầu tiên khởi xướng vấn đề phân loại các khoa học – điều vô cùng

cần thiết trong sự phát triển của nhạn thức con người.

Trang 9

2 Logic học

- Phương pháp luận của khoa học đó là Logic Aristốt được coi là cha tổ của logic hình thức cổ điển: với việc khám phá ra các quy luật cơ bản của tư duy lôgic: quy luật đồng nhất, cấm mâu thuẫn, loại trừ cái thứ 3 => xây dựng tam đoạn luận nổi tiếng của mình.

- Logic học của Aristốt còn bao hàm cả học thuyết của ông về các phạm trù, thể hiện như phương pháp luận xuyên suốt mọi lĩnh vực TGQ của ông.

- Xây dựng 1 hệ thống các phạm trù như những hình thức của lý tưởng: bản chất, số lượng, chất lượng, quan hệ, vị trí, thời gian, tình trạng, chiếm hữu, hành động, chịu đựng (trong đó, bản chất là phạm trù trung tâm và cơ bản nhất).

Trang 10

Vật lý học

- Vật lý học được coi là triết học thứ 2 (khoa học về giới tự nhiên) Theo ông, mọi sự vật trong thế giới đều vận động và phát triển không ngừng.

- Mọi quá trình vận dộng trong thế giới đều có mục đích nhất định, theo

sự xếp đặt tiền định, ngẫu nhiên, là sự không dự định trước, là thứ

yếu, còn mọi cái diễn ra phần lớn đều là tất yếu.

- Ông là người khởi xướng đưa ra thuyết địa tâm, coi trái đất là hình cầu, trung tâm của vũ trụ, coi vũ trụ là hữu hạn và khép kín về không gian

và vĩnh viễn về thời gian.

- Nhìn chung, vật lý học và vũ trụ học của Aristot vẫn còn nhiều tư tưởng duy tâm.

Trang 11

Nhân bản học và học thuyết chính trị xã hội

- Nhân bản học là 1 lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong TGQ của

Aristốt

- Ông cho rằng con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác, từ hình dạng và vật chất Chúng gắn bó hữu cơ với nhau nhưng linh hồn là căn nguyên của sự sống

- Ông cho rằng tồn tại 3 dạng linh hồn: linh hồn thực vật, linh hồn động vật và linh hồn lý tính (là dạng cao nhất của linh hồn và chỉ có duy nhất ở người Đó là khả năng tư duy trí tuệ của con người)

- Con người là 1 sinh vật xã hội, bản tính là sống cộng đồng

Trang 12

- Aristot coi hình thức tổ chức gia đình kiểu chiếm hữu nô lệ là hình thức sống cộng đồng tự nhiên và vĩnh viễn.

- Thể chế chính trị là trật tự làm cơ sở để phân bố chính quyền nhà nước, điều hành và quản lý xã hội trên 3 phương diện: lập pháp, hành pháp và phân xử

- Aristot nhiệt thành ửng hộ chế độ quân chủ, coi đó là hình thức tổ chức nhà nước thần thánh và ưu việt nhất

- Sứ mệnh của nhà nước không chỉ đảm bảo cho mọi người sống bình thường mà còn phải sống hạnh phúc về của cải vật chất mà còn đảm bảo công lý (trừ nô lệ vì ông coi chỉ là công cụ biết nói)

Trang 13

Thẩm mỹ học của Aristot

- Nghệ thuật được coi là toàn bộ hoạt động vật chất của con người và sản phẩm của nó, đặc biệt là chức năng

mô phỏng thế giới tự nhiên của nghệ thuật.

- Mỗi dạng nghệ thuật có 1 dạng và tính chất mô phỏng khác nhau.

- Ông đặc biệt đề cao thơ ca, coi đó là nghệ thuật ngôn ngữ nói chung.

Trang 14

Thành công và hạn chế

1 Thành công:

- Arixtốt trở thành người đầu tiên tổng kết và hệ thống hóa tư tưởng triết học trong

lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại theo nghĩa rộng, còn theo nghĩa hẹp, Anxtốt là

người đầu tiên phân loại tri thức khoa học, mặc dù đó mới chỉ là ban đầu, còn rất

sơ khai

- Vượt lên những người đương thời, Arixtốt đã sử dụng phương pháp logic để điên

đạt quan điểm của mình

- Arixtốt là người đầu tiên đã đưa ra một hệ thống các phạm trù Đây là điểm khởi

đầu cho tất cả các học thuyết tiếp theo về phạm trù Nó chiếm một vị trí rất quan trọng trong lịch sử triết học và ngày nay nhiều phạm trù của nó vẫn còn giữ nguyên giá trị bởi vì đó là những phạm trù cơ bản nhất trong tư duy của nhân loại

- Công lao cửa Arixtốt còn là tìm ra một phương pháp mới: phương pháp thống nhất

logic lịch sử trong nghiên cứu lịch sử triết học Arixtốt không chỉ nghiên cứu những quy luật logic của tư duy con người, mà còn xác lập phong cách khoa học để xem xét các vấn đề triết học.

Trang 15

- Nhìn chung nhận thức luận của ông chứa đựng các yếu tố cảm giác luận và kinh nghiệm luận có khuynh hướng duy vật

- Có thể nói, trên cơ sở phân tích các học thuyết khác nhau trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, Arixtốt đã hình thành nên phương pháp logic - lịch sử, từ

đó đưa ra nguyên tắc nhất nguyên luận trong nghiên cứu lịch sử triết học.

- Nghiên cứu "Siêu hình học" của ông, chúng ta thấy ông coi lịch sử của tư

tưởng triết học chính là lịch sử con người đi tìm chân lý Theo ông, tìm chân lý trong một mối quan hệ là rất khó, nhưng trong nhiều mối quan hệ thì dễ hơn Việc tìm chân lý trong lịch sử xã hội không thể dựa vào một vài sự kiện, mà cần phải có sự khảo sát công phu từ nhiều góc độ khác nhau với nhiều sự kiện khác nhau

- Arixtốt là người đại diện cho điểm khởi đầu với tư cách là người sáng lập ra triết học, mặc dù đó chỉ là sự mở đầu với nội dung chưa thật rõ ràng và hình thức còn rất sơ khai.

- Tư tưởng giáo dục của ông có nhiều tiến bộ, hệ thống giáo dục hướng tới là 1 nền giáo dục thường trực, thường xuyên, liên tục, bao trùm và kéo dài suốt đời người

Trang 16

- Phê phán những sai lầm trong học thuyết “con số" của Pitago, học thuyết “ý niệm" của Platôn, chống lại sự đồng nhất cái tồn tại và cái không tồn tại của Pắcmênít.

- Ông còn có nhiều tư tưởng biện chứng sâu sắc về mối quan hệ

giữa vật chất và hình dạng, khả năng và hiện thực, thực thể và cơ chất…; coi các sự vật đang tồn tại và bản chất được cấu thành từ các mặt đối lập

=> Lênin đã coi logic của Arixtốt là nhu cầu, sự cố gắng tìm tòi, là sự đến gần với logic của Heghen Arixtôt là người ở bất cứ nơi nào, cứ mỗi bước, đều đặt ra chính vấn đề phép biện chứng

Trang 17

2 Hạn chế

- Sai lầm có tính chất duy tâm của Arixtốt ở đây là thần thánh hóa nhận thức

lý tính, coi nó như là chức năng của linh hồn, của thượng đế.

- Từ chỗ chưa hiểu đúng mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, vật chất và hình dạng, Arixtốt chưa hoàn toàn thoát khỏi lập trường duy tâm trong quan niệm về vật chất và tinh thần.

- Do hạn chế lịch sử, việc phân loại các khoa học ở Arixtốt mang nặng tính thơ ngây và cảm tính Vì thế không nhìn thấy mối liên hệ giữa các dạng

khoa học, coi thường khoa học thực tiễn, đề cao các khoa học tư biện.

- Học thuyết của Arixtốt về các phạm trù còn mang tính trực quan và cảm

tính, số lượng các phạm trù được ông xem xét còn rất hạn chế.

- Vật lý học và vũ trụ học của Aristot có nhiều tư tưởng duy tâm.

- Các quan niện của ông không nhất quán, giao động giữa lập trường duy vật

và duy tâm

Trang 18

Kết luận

Aristot là nhà bách khoa toàn thư, nhà triết học vĩ đại nhất thời cổ

Hy Lạp và La Mã Các tác phẩm của ông, theo nhận xét của

Hêghen – “bao chứa tòan bộ các quan niệm của con người, trí tuệ của Arixtốt đề cập đến mọi mặt và mọi lĩnh vực của thế giới hiện thực” Mặc dù các quan niệm của ông không nhất quán, dao động giữa lập trường duy vật và duy tâm, nhưng ông là một trong những nhà triết học vic đại nhất trong lịch sử nhân loại Đánh giá cao công lao của Arixtốt vói tiến trình phát triển triết học, Ph.ăngghen đã gọi ông là “con người có khối óc tòan diện nhất”; còn Mác đã đánh giá:

“Tư tưởng thâm thúy của Arixtốt vach ra những vấn đề trừu tượng nhất 1 cách thật đáng kinh ngạc” Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiên sau này

Trang 19

Những tác phẩm tiêu biểu

1 Các bàn luận về Triết học, nay được gộp chung dưới tiêu

về “Organon”, với nội dung chủ yếu về lý luận và định nghĩa.

2 Các bài viết về Lịch sử tự nhiên và Khoa học

3 Các bàn luận được gộp chung trong tác phẩm “Siêu hình học”, tiêu đề này được ông đặt tên là “Triết học đầu tiên”

4 Các tác phẩm về Chính trị và Đạo đức học, trong đó bao gồm cả Thi ca và Tu từ học.

Trang 20

Những câu nói bất hủ

• "Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ, càng nặng rơi càng nhanh."

• "Tốc độ rơi của một vật phụ thuộc vào mật độ môi trường nơi vật rơi qua, mật độ môi

• “Một câu nói, một trạng thái tính tình đều có nguồn gốc từ trong đời sống tương tự mà ra”.

• Tình bạn là gì? Một tâm hồn ở trong hai con người.

• “Tự nhiên sợ cái trống rỗng".

• “Con người, khi hoàn thiện, là loài động vật tiến bộ nhất, nhưng khi tách rời khỏi luật pháp

và công lý thì lại là loài động vật xấu xa nhất”

• Chúng ta được hình thành do những gì chúng ta lập lại nhiều lần Như vậy, sự vượt trội không phải là một hành vi, mà là một thói quen

Trang 21

Nhóm trình bày Khoa Báo chí và Truyền thông

1 Lý Hải Yến

2 Nguyễn Thị Hòa

3 Lê Mai Hương Trà

4 Ngô Thị Tuyết Mai

5 Lương Thị Quỳnh Chi

6 Hoàng Thị Thu Hà

7 Đặng Thị Vân Anh

Ngày đăng: 12/04/2015, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w