1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp ở Việt Nam

72 708 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong kinh tế thị trường, tiền lương tối thiểu là một công cụ quản lý tiềnlương quan trọng của Nhà nước nhằm điều tiết quan hệ cung - cầu lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động,

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chính sách tiền lương có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế

xã hội của đất nước, là động lực để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động Tiền lươngtối thiểu là một nội dung cơ bản và quan trọng nhất của chính sách tiền lương trongkinh tế thị trường Tiền lương tối thiểu tham gia vào quá trình phân phối, điều tiết vĩ

mô về tiền lương và thu nhập trên phạm vi toàn xã hội; đồng thời là yếu tố tham giavào hình thành chi phí đầu vào của doanh nghiệp và phân phối theo kết quả đầu racủa sản xuất kinh doanh

Trong kinh tế thị trường, tiền lương tối thiểu là một công cụ quản lý tiềnlương quan trọng của Nhà nước nhằm điều tiết quan hệ cung - cầu lao động và bảo

vệ quyền lợi của người lao động, góp phần ngăn chặn sự nghèo đói, tạo sân chơicạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, đây cũng được coi là một trong nhữngchỉ báo quan trọng để xem xét nền kinh tế là nền kinh tế thị trường hay không

Đối với nước ta, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức về tiền lương tối thiểu trong kinh tế thị trườngngày càng rõ nét Chính sách tiền lương ở Việt Nam nói chung và tiền lương tối thiểunói riêng qua 5 lần cải cách và cải tiến đã không ngừng hoàn thiện, phù hợp với mỗigiai đoạn phát triển của đất nước, đã từng bước đổi mới theo định hướng thị trường,góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển dựa trên nguyên tắc coi tiền lương làyếu tố của sản xuất, là giá cả sức lao động được hình thành thông qua sự thoả thuậngiữa người lao động và người sử dụng lao động, phù hợp với quan hệ cung- cầu trênthị trường lao động

Tuy nhiên, trong giai đoạn quá độ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung, baocấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta ngàycàng hội nhập sâu, rộng với kinh tế quốc tế thì tiền lương tối thiểu đối với các doanhnghiệp ở Việt Nam hiện nay cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để đáp ứng yêucầu thực tế, đó là:

Thứ nhất, tiền lương tối thiểu còn thấp, mới đáp ứng khoảng 70% mức sống

tối thiểu của người lao động và phân biệt theo loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệpdân doanh, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) tạo ra

Trang 2

sự cạnh tranh không bình đẳng trong việc hình thành chi phí nhân công là không phùhợp với nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên của

Tổ chức Thương mại thế giới, tiền lương được coi là một trong các yếu tố để xácđịnh nền kinh tế thị trường

Thứ hai, tiền lương tối thiểu, bao gồm từ cơ chế và nguyên tắc hình thành, xác

định mức lương tối thiểu chưa được luật hóa rõ ràng, đầy đủ và thống nhất, đồng bộ,các căn cứ, tiêu chí điều chỉnh mức lương tối thiểu chưa được lượng hóa cụ thể dẫnđến việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu trên thực tế chưa thực sự dựa trên các nguyêntắc của kinh tế thị trường Trong điều kiện thị trường lao động ở nước ta mới đượchình thành, việc thoả thuận tiền lương chưa trở thành thông lệ, người lao động luôntrong tình trạng bị ép tiền công thì tiền lương tối thiểu hiện nay chưa thực sự là công

cụ tối ưu để bảo vệ người làm công ăn lương, góp phần xây dựng mối quan hệ laođộng trong các doanh nghiệp ổn định, lành mạnh cùng phát triển

Thứ ba, tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn rằng

buộc vào tiền lương tối thiểu đối với khu vực hưởng lương từ ngân sách (phụ thuộcvào khả năng cân đối của ngân sách nhà nước) dẫn đến bị sơ cứng, chưa thực sự điềuchỉnh dựa trên quan hệ cung cầu lao động, không linh hoạt theo nguyên tắc của kinh

tế thị trường, việc bảo vệ quyền lợi của người lao động bị hạn chế

Các vấn đề bất cấp nêu trên tuy đã được đề cập ở một số đề tài nghiên cứutrước đây, nhưng mới chỉ dưới dạng phụ đề cho các vấn đề khác hoặc nghiên cứuriêng lẻ, độc lập, chưa tập trung nghiên cứu tổng thể, đồng bộ Vì vậy, việc nghiêncứu đề tài “Hoàn thiện hệ thống tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp ở ViệtNam” là rất cần thiết

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá mặt được và mặt hạn chế của tiềnlương tối thiểu do Nhà nước quy định, thực trạng tình hình thực hiện các quy địnhcủa nhà nước ở một số doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài tại Việt Nam và doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và các yêucầu đối với tiền lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường, của Tổ chức lao độngquốc tế, khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới, đề tài khuyến nghị cácnội dung cơ bản hoàn thiện tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 3

phù hợp hơn theo kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần xây dựngmối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ổn định, lành mạnh cùng phát triển,gồm:

Với phạm vi, đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, ngoàiphần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương chính như sau

Chương 1: Cơ sở lý luận về tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp hiện nay ởViệt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tiền lương tối thiểu trongcác doanh nghiệp ở Việt Nam

Trong quá trình xây dựng và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, em đãnhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Vụ Lao động – Tiền lương,đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của các anh chị phòng Tiền lương Chính sự giúp

đỡ đó đã giúp em có những số liệu cần thiết để hoàn thành chuyên đề, đồng thời nắmbắt được những kiến thức thực tế về tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp hiệnnay ở Việt Nam Những kiến thức này sẽ là hành trang ban đầu cho quá trình côngtác, làm việc của em sau này Vì vậy, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnhđạo, tới toàn thể cán bộ, nhân viên của Vụ Lao động – Tiền lương, Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn, Vũ Xuân Đốc Nhờ

sự quan tâm và hướng dẫn tận tình của thầy mà em có thêm những kiến thức và bàihọc quý báu để có thể hoàn thành luận văn của mình

Sinh viên

Phạm Thị Thanh Thủy

Trang 4

1 Khái niệm tiền lương tối thiểu.

1.1 Quan niệm tiền lương tối thiểu của C.Mac

Trong lý luận về giá trị thặng dư C Mác đó chỉ ra “Tiền lương là giá cả hànghóa sức lao động, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu lao động, lên xuống xoay quanhgiá trị của nó – giá trị sức lao động” Cũng như các loại hàng hóa khác, giá trị hànghóa sức lao động là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó, tức là giá trịnhững tư liệu sinh hoạt nhằm bù đắp lại sức lao động đã hao phí của người lao động,gồm 3 loại chi phí sau: (1) chi phí để nuôi sống và duy trì khả năng lao động của bảnthân người lao động với tư cách là người công dân tự do tự nguyện bán sức lao động(ký kết hợp đồng lao động); (2) chi phí để học tập và đào tạo để trở thành người laođộng; và (3) chi phí để nuôi sống gia đình người lao động

Do sự phát triển của khoa học công nghệ và sự đòi hỏi chất lượng lao độngngày càng cao của nền sản xuất xã hội, nên chi phí học tập và đào tạo ngày càng tăng

và tăng nhanh hơn so với sự tăng lên của 2 loại chi phí còn lại Trong điều kiện laođộng giản đơn không cần học nghề thì những chi phí cần thiết này chỉ là những hànghóa cần thiết để duy trì đời sống người lao động, là “giới hạn tột cùng” của giá trị sứclao động và tương đối giống nhau giữa những người lao động khác nhau Từ đó C.Mác kết luận: “Chi phí sản xuất ra sức lao động đơn giản gồm chi phí sinh hoạt củangười công nhân và chi phí tái sản xuất ra người công nhân Giá những chi phí sinhhoạt và chi phí tái sản xuất đó là tiền công Tiền công được quy định như vậy là tiềncông tối thiểu”1

Nhưng sức lao động chỉ tồn tại khi người lao động sống và tham gia các quan

hệ xã hội, do đó ngoài yếu tố thuần túy sinh lý, giá trị sức lao động còn có tính lịch

1 C Mac: Lao động làm thuê và tư bản in lần thứ hai, Nxb Sự thật Hà Nội – 1976, trang 38 – 39

Trang 5

sử xã hội Giới hạn tột cùng của giá trị sức lao động do yếu tố sinh lý quyết định – đó

là giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết để người công nhân tự duy trì và tái sinh Yếu

tố lịch sử xã hội phụ thuộc vào hoàn cảnh sống và tập quán sinh hoạt của mỗi cộngđồng người, vào công bằng và tiến bộ xã hội đạt được trong mỗi thời kỳ ở mỗi vùng,mỗi quốc gia; yếu tố lịch sử xã hội thường xuyên thay đổi, nhưng có thể không đượctính đến khi xác định giá trị sức lao động

1.2 Quan niệm tiền lương tối thiểu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO):

Năm 1919, trong hiến chương thành lập, ILO đã khuyến cáo “Bảo đảm mứctiền lương đủ sống cho người lao động” là một trong những nội dung nhằm hoànthiện các điều kiện lao động, an sinh xã hội và thúc đẩy hoà bình

Trong Công ước số 26 ngày 30/5/1928 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)cho rằng: “Tiền lương tối thiểu là mức trả công lao động thấp nhất trả cho người laođộng làm các công việc đơn giản nhất đủ đảm bảo cho họ một mức sống tối thiểu với

tư cách là người chủ gia đình, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội"

Năm 1970, tại Công ước 131 về tiền lương tối thiểu, ILO đã xác định “Bảođảm cho những người làm công ăn lương một sự bảo đảm xã hội cần thiết dưới dạngmức tiền lương tối thiểu đủ sống” Hay nói cách khác, tiền lương tối thiểu là mứctiền lương duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu cho người làm công ăn lương

Năm 1976, trong tuyên bố Chương trình hành động tại hội nghị thế giới 3 bên

về việc làm, phân phối thu nhập và tiến bộ xã hội, ILO đã khuyến nghị “Bảo đảmmức sống tối thiểu là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triểnkinh tế xã hội và chính sách tiền lương của mỗi nước”

1.3 Quan niệm tiền lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường:

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương tối thiểu được xem xét trong mốiquan hệ với việc làm, liên quan trực tiếp đến quan hệ cung cầu trên thị trường laođộng, đó là mức tiền lương thấp nhất trả cho người làm công ăn lương làm công việcgiản đơn trong điều kiện lao động bình thường mà không một người sử dụng laođộng nào có quyền trả thấp hơn Vì vậy, tiền lương tối thiểu là một trong nhữngnguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp khi nó được quy định cao hơn tiền lươngcân bằng của quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động

Trang 6

Thông thường tiền lương tối thiểu được luật hóa trên cơ sở có sự tham gia củađại diện người sử dụng lao động và người lao động và trở thành mức sàn thấp nhấttheo quy định của pháp luật để trả cho người làm công ăn lương trên thị trường Mứctiền lương tối thiểu không bao gồm các khoản tiền thưởng hoặc phúc lợi xã hội,không phải là mức trợ cấp xã hội, được tính theo thời gian, thường áp dụng cho laođộng thành niên không có kỹ năng, lần đầu tiên tham gia làm việc và có thể đượctính theo giờ, ngày, tuần hoặc tháng Các mức tiền lương thấp nhất xác định thôngqua thỏa ước lao động tập thể của các doanh nghiệp không phải là tiền lương tốithiểu, mà đây là mức lương thỏa thuận giữa ngưởi sử dụng lao động và đại diệnngười lao động.

Với những vai trò và đặc điểm nêu trên, tiền lương tối thiểu phải thỏa mãn cácyêu cầu như sau:

- Bảo đảm đời sống tối thiểu cho người lao động ở trình độ lao động phổthông, phù hợp với khả năng của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, phải bảođảm mức sống tối thiểu thực tế cho người hưởng mức lương tối thiểu

- Được tính đúng, tính đủ để trở thành lưới an toàn chung cho những ngườilàm công ăn lương trong toàn xã hội, không phân biệt thành phần kinh tế và khu vựckinh tế

- Bảo đảm mối quan hệ thực sự giữa mức lương tối thiểu, trung bình và tối đa

để chống lại xu hướng gia tăng chênh lệch bất hợp lý tiền lương giữa các loại laođộng, vi phạm nguyên tắc phân phối theo lao động

- Là yếu tố tác động đến mức tiền công trên thị trường lao động, tạo điều kiệncho các doanh nghiệp tính đủ chi phí đầu vào và đầu tư hợp lý giữa các vùng, ngành,

mở rộng môi trường đầu tư và hội nhập

- Là công cụ điều tiết của Nhà nước nhằm bảo đảm xã hội đối với người laođộng làm việc trong ngành nghề, khu vực có quan hệ lao động, thiết lập những ràngbuộc kinh tế trong lĩnh vực sử dụng lao động, tăng cường trách nhiệm của các bêntrong quan hệ lao động

1.4 Quan niệm tiền lương tối thiểu ở Việt Nam:

Ở Việt Nam, năm 1993 khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương, mứclương tối thiểu được quan niệm là căn cứ xây dựng hệ thống trả công lao động cho

Trang 7

các khu vực, ngành nghề; tính mức lương cho các loại lao động khác nhau; Tạo ralưới an toàn xã hội cho lao động trong cơ chế thị trường; Thiết lập mối quan hệ ràngbuộc kinh tế giữa người sử dụng lao động và người lao động trong thoả thuận ký kếthợp đồng lao động (về tiền lương, tiền công).

Điều 56 Bộ Luật lao động của Việt Nam chỉ rõ: "Mức lương tối thiểu được

ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơnnhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và mộtphần tích luỹ tái sản xuất mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lươngcho các loại lao động khác Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểuchung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khilấy ý kiến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng laođộng Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động

bị giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lươngthực tế.”

Như vậy, tiền lương tối thiểu (hay mức lương tối thiểu) là số lượng tiền thấpnhất do Nhà nước quy định để trả công cho lao động giản đơn nhất trong xã hội trongđiều kiện lao động bình thường, người sử dụng lao động không được trả lương chongười lao động thấp hơn mức do Chính phủ quy định Tiền lương tối thiểu được trảtheo tháng, bao gồm tiền lương tối thiểu chung, tiền lương tối thiểu vùng, tiền lươngtối thiểu ngành

Tiền lương tối thiểu chung là tiền lương tối thiểu áp dụng cho toàn xã hội, là

"lưới an toàn" cho toàn bộ những người làm việc hưởng lương trong toàn xã hội Nó

là "nền" của toàn bộ hệ thống tiền lương

Tiền lương tối thiểu theo vùng là tiền lương tối thiểu dùng cho một vùng nào

đó của đất nước, phụ thuộc vào nhu cầu tối thiểu của bản thân và gia đình người laođộng trong vùng; mức sống chung đạt được và sự chênh lệch mức sống giữa các tầnglớp dân cư; mức tiền lương, tiền công chung đạt được và yếu tố giá cả trong vùng.Ngoài các yếu tố trên, tiền lương tối thiểu theo vùng còn phụ thuộc vào các yếu tốchính trị, kinh tế, xã hội

Tiền lương tối thiểu theo ngành là tiền lương tối thiểu áp dụng cho một ngànhnào đó, dựa trên cơ sở mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng và năng

Trang 8

suất lao động, khả năng chi trả của doanh nghiệp và quan hệ cung cầu lao động củatừng ngành và do đại diện người lao động và người sử dụng lao động thoả thuận, quyđịnh trong thoả ước lao động ngành

Nhìn chung, tiền lương tối thiểu phải phản ánh mức sống tối thiểu của ngườilao động làm công ăn lương trong từng thời kỳ nhất định Do kinh tế xã hội ngàycàng phát triển, mức sống của người lao động ngày càng cao đòi hỏi tiền lương tốithiểu ngày càng phải tăng để đảm bảo đời sống cho những người trong diện hưởnglương tối thiểu

2 Đặc trưng, vai trò của tiền lương tối thiểu

2.1 Đặc trưng của tiền lương tối thiểu:

Đặc trưng của tiền lương tối thiểu là những giá trị phản ánh bản chất của nó,đây là vấn đề có tính nhận thức đã từ lâu là mối quan tâm của chính phủ và các tổchức quốc tế

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu xã hội của chính sách tiền lương tốithiểu là nhằm ngăn chặn bóc lột sức lao động và chống đói nghèo Có nghĩa là lươngtối thiểu đưa ra một sức mua vừa đủ để giúp người lao động có được mức sống cơbản Lương tối thiểu còn có mục tiêu kinh tế - đó là khuyến khích người lao động vàchia sẻ các lợi ích mà tăng trưởng kinh tế mang lại Như vậy, có thể rút ra bản chấthay đặc trưng của tiền lương tối thiểu là:

- Tiền lương tối thiểu được xác định dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu tối thiểu(đủ sống) của người lao động làm công ăn lương, bao gồm nhu cầu của bản thânngười lao động và gia đình họ

- Đó là sự đảm bảo xã hội cần thiết mà các bên (các chủ thể) trong quan hệ laođộng (nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động và các chủ thể xã hội khác)phải dựa vào nó để thương lượng, thỏa thuận và xử lý hài hòa mối quan hệ lợi íchgiữa các bên

- Tiền lương tối thiểu vừa có mục tiêu về kinh tế vừa có mục tiêu xã hội Từ

đó, việc xác định mức tiền lương tối thiểu phải tính đến các yếu tố kinh tế và yếu tố

xã hội, để đảm bảo vai trò, chức năng của tiền lương tối thiểu trong kinh tế thịtrường phát huy một cách hiệu quả nhất

Trang 9

Xuất phát từ thực tiễn, Bộ luật Lao động Việt Nam năm 1995 đã nâng tầmquan trọng của tiền lương tối thiểu lên đúng vị trí của nó, để chính thức luật hóa thểhiện ở một số đặc trưng của tiền lương tối thiểu:

- Một là, tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, người lao độngkhông cần qua đào tạo nghề cũng có thể làm được và làm việc trong điều kiện laođộng bình thường không có hại cho sức khỏe của người lao động;

- Hai là, mức lương tối thiểu phải đủ để mua những tư liệu sinh hoạt và dịch

vụ cần thiết bù đắp sức lao động giản đơn và một phần để tích lũy tái sản xuất sứclao động mở rộng phù hợp với mức sống chung của xã hội;

- Ba là, được dùng làm cơ sở để tính các mức lương cho các loại lao độngkhác nhau;

- Bốn là, mức lương tối thiểu (chung, vùng, ngành) do Chính phủ quyết định

và công bố sau khi tham khảo ý kiến của đại diện người lao động và người sử dụnglao động;

- Năm là, được điều chỉnh theo giá sinh hoạt, mức độ tăng trưởng của nềnkinh tế và cung cầu lao động trên thị trường từng thời kỳ

2.2 Vai trò của tiền lương tối thiểu:

Vai trò của tiền lương tối thiểu sớm được khẳng định trong Công ước số 26ngày 30/5/1928 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Đây có giá trị như một văn bảnpháp quy đầu tiên về việc luật pháp hoá các quy chế xây dựng mức lương tối thiểucủa các nước thành viên Tổ chức lao động quốc tế cho rằng: “Tiền lương tối thiểu làmức trả công lao động thấp nhất trả cho người lao động làm các công việc đơn giảnnhất đủ đảm bảo cho họ một mức sống tối thiểu với tư cách là người chủ gia đình,phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội" Hội nghị Quốc tế của ILO họp ở Thái Lan(12/1990) đã khẳng định vai trò cần thiết của việc thiết lập chế độ tiền lương tối thiểutrong các nước, nhất là đối với các nước đang phát triển

Tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định là mức “sàn” thấp nhất của xã hội

để trả công cho người lao động tham gia quan hệ lao động, làm công việc giản đơnnhất trong điều kiện lao động bình thường trên thị trường lao động, cho khu vực cóquan hệ lao động, không phân biệt thành phần kinh tế, ngành, nghề, vùng lãnh thổ.Tiền lương tối thiểu là một trong những công cụ quan trọng quản lý vĩ mô của Nhà

Trang 10

nước về lĩnh vực tiền lương, tiền công và lao động, việc làm nhằm đảm bảo vai tròđiều tiết của Nhà nước và phát huy quyền tự chủ của doanh nghiệp Chính sách tiềnlương tối thiểu được coi là một trong những biện pháp của Nhà nước nhằm chốngnghèo đói, ngăn cản bần cùng hóa dưới mức cho phép và thúc đẩy kinh tế phát triển

Tuy nhiên, tuỳ từng nơi, từng lúc, vai trò của tiền lương tối thiểu được thểhiện khác nhau, nhưng có vai trò chủ yếu như sau:

- Tiền lương tối thiểu là lưới an toàn đối với người lao động Người sử dụnglao động không được trả công thấp hơn mức lương tối thiểu, nên loại trừ sự bóc lộtthậm tệ có thể xảy ra đối với những người làm công, ăn lương trước sức ép mức cungquá lớn của thị trường sức lao động

- Bảo đảm sức mua cho các mức tiền lương khác trước sự gia tăng của lạmphát và các yếu tố kinh tế xã hội khác thông qua việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu

- Giảm bớt sự đói nghèo Vì vậy việc xác định tiền lương tối thiểu được coi làmột trong những biện pháp quan trọng để tiến công trực tiếp vào đói nghèo của mộtquốc gia

- Loại bỏ sự cạnh tranh không công bằng, chống lại xu hướng giảm chi phícác yếu tố sản xuất tới mức không thoả đáng trong đó có tiền lương Luật tiền lươngtối thiểu buộc các chủ doanh nghiệp phải tìm mọi cách khác để giảm chi phí và tănghiệu quả của sản xuất kinh doanh

- Bảo đảm sự trả công tương đương cho những công việc tương đương Luậttiền lương tối thiểu ở mức độ nào đó là sự điều chỉnh quan hệ về tiền lương trong cácnhóm người lao động mà ở đó tiền lương không được tính đúng mức (phụ nữ- namgiới, tiền lương ở các vùng khác nhau, giữa các đẳng cấp, nhóm lao động khác nhau)

- Phòng ngừa sự xung đột giữa giới chủ và giới thợ làm ảnh hưởng đến sựphát triển kinh tế, vì tiền lương tối thiểu là công cụ của nhà nước trong việc điều tiếtthu nhập giữa giới chủ và người lao động

Tóm lại, mục tiêu có tính khái quát đặt ra của tiền lương tối thiểu là nhằm đápứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong đó phải tạo điều kiện để tự do dịchchuyển lao động và khả năng thoả thuận của các bên có liên quan; đồng thời là lưới

an toàn chung cho lao động xã hội Tiền lương tối thiểu là căn cứ để xác định mức

Trang 11

tiền công của các loại lao động góp phần điều tiết cung cầu lao động, phát triển thịtrường lao động lành mạnh

Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay, mặc

dù đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xãhội nhưng điểm xuất phát chưa cao, GDP bình quân đầu người, khả năng cạnh tranhcủa nền kinh tế còn thấp, khả năng ngân sách còn hạn hẹp, cung cầu lao động vẫncòn mất cân đối, năng suất lao động so với khu vực và thế giới còn rất thấp, chấtlượng nguồn lao động chưa cao, thì mặc dù mục tiêu đề ra của tiền lương tối thiểu làđúng đắn nhưng lại khá cao so với khả năng của nền kinh tế và trình độ phát triển xãhội Vì vậy, ngoài các mục tiêu có tính chiến lược, cần phải có các mục tiêu cụ thể

phù hợp với phát triển kinh tế và nhận thức của từng giai đoạn để có tính khả thi

3 Chức năng của tiền lương tối thiểu

3.1 Chức năng kinh tế của tiền lương tối thiểu:

- Đảm bảo tái sản xuất giản đơn và một phần tái sản xuất mở rộng sức laođộng Đây là chức năng rất cơ bản để duy trì và tái tạo sức lao động, một trongnhững yếu tố quan trọng nhất của tái sản xuất, góp phần tăng trưởng và phát triểnkinh tế Đảm bảo tiền lương tối thiểu đủ sống là một trong những điều kiện và tiền đề

cơ bản, tối thiểu để phát triển nguồn nhân lực

- Tiền lương tối thiểu liên quan rất chặt với thị trường lao động, phụ thuộc vàoquan hệ cung - cầu lao động Do đó, nó có chức năng kinh tế quan trọng là phân bốnguồn lực hợp lý, nhất là phân bố nguồn nhân lực, thúc đẩy thị trường lao động pháttriển và phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nước, vùng lãnh thổ, theo ngành

- Tiền lương tối thiểu không chỉ có chức năng bảo vệ lợi ích của người laođộng, mà còn đảm bảo lợi ích của người sử dụng lao động, có chức năng khuyếnkhích đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phân công lao độngquốc tế trong xu thế toàn cầu hóa

3.2 Chức năng xã hội (chức năng cơ bản) của tiền lương tối thiểu:

- Tiền lương tối thiểu được quy định với mức hợp lý, đủ sống là lưới antoàn cho tất cả những người làm công ăn lương trong cơ chế thị trường, để ngườilao động sống với tư cách của một con người, chống bần cùng và bóc lột quá mứcngười lao động

Trang 12

- Tiền lương tối thiểu thuộc phạm trù phân phối Mức tiền lương tối thiểuđược quy định hợp lý có chức năng điều tiết thu nhập nhằm thực hiện quan hệ phânphối công bằng giữa những người lao động, giữa các vùng, các ngành, nhất là đảmbảo quan hệ cánh kéo giữa nông thôn và thành thị Tiền lương tối thiểu được coi làmột loại chuẩn trong mối quan hệ với các chuẩn khác thuộc chính sách xã hội nhưchuẩn nghèo, chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công, trợ cấp xã hội khác

- Mức tiền lương tối thiểu quy định là căn cứ để các bên trong quan hệ laođộng thỏa thuận về tiền lương ghi trong hợp đồng lao động cá nhân và thỏa ước laođộng tập thể nên nó có chức năng xây dựng và phát triển quan hệ lao động hài hòa,đồng thuận, tham gia phát triển cộng đồng

II SƠ LƯỢC VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU QUA CÁC THỜI KÌ.

1 Tiền lương tối thiểu trong thời chiến (1946 - 1954).

Sau ngày thành lập nước năm 1946, Chính phủ và Hồ Chủ Tịch đã quyết địnhbảo lưu lương và phụ cấp của bản thân và gia đình công nhân, viên chức của chínhquyền cũ được giữ lại làm việc dưới chính quyền mới, trong đó mức lương tối thiểu là

180 đồng tương đương với giá của 72 kg gạo Đến năm 1947 do giá gạo tăng, mứclương đó chỉ còn ngang giá với 60 kg gạo, nên Chính phủ đã định ra chế độ phụ cấpđắt đỏ căn cứ vào giá gạo thị trường, đồng thời định thêm chế độ phụ cấp cho vợ, con

Năm 1948, tiếp thu những yếu tố hợp lý của chế độ tiền lương công chức củachính quyền cũ và trước tình hình giá cả tiếp tục tăng, Chính phủ đã ban hành Sắclệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 quy định chế độ tiền lương công chức theo bảnglương 25 bậc với 5 ngạch (tá sự, cán sự, tham sự, kiểm sự, giám sự), trong đó ấn địnhmức lương tối thiểu 220 đồng Mức lương tối thiểu 220 đồng, chỉ tương đương giávới 55 kg gạo, nên Chính phủ định thêm chế độ phụ cấp gia đình: vợ 50 đồng/tháng,con tuỳ theo số lượng phải nuôi được hưởng thêm như sau: con thứ nhất 30đồng/tháng; con thứ hai 40 đồng/tháng; con thứ ba 50 đồng/tháng; con thứ tư 60đồng/tháng, đồng thời định ra chế độ phụ cấp đắt đỏ căn cứ vào giá gạo thị trường:người lao động 100%, vợ 100%, con bằng 50%

Các năm 1949 và 1950 là những năm cực kỳ khó khăn của cuộc kháng chiếnchống Pháp, Chính phủ đã tìm nhiều biện pháp để bảo đảm mức sống tối thiểu củacông nhân viên chức Nhưng do giá cả tăng nhanh, mỗi biện pháp chỉ được áp dụng

Trang 13

một thời gian ngắn, đời sống của công nhân viên chức gặp nhiều khó khăn Đếntháng 5/1950, Chính phủ lấy gạo làm gốc và quyết định trả lương bằng gạo Mứclương tối thiểu lúc này quy định như sau: bản thân người lao động 35 kg/tháng; vợhưởng 11 kg/tháng; mỗi con 5,5 kg/tháng, không phân biệt là con thứ mấy (nếu mộtngười lao động có 2 con, mỗi tháng sẽ nhận được 57 kg gạo).

Năm 1953, Chính phủ quy định thêm chế độ phụ cấp với gạo, muối, vải, mứclương được nâng lên 43 kg gạo của bản thân người lao động, ngoài ra còn có lươnghiện vật bằng 1 chăn, 1 màn và 1 áo trấn thủ Lúc này đã bỏ phụ cấp nuôi vợ nhưngnâng phụ cấp nuôi con lên 12 kg/tháng Nếu hai vợ chồng cùng công tác, mỗi conđược 20 kg/tháng, có 2 con sẽ được nhận tối thiểu 123 kg/tháng, bình quân 1 laođộng 63 kg và hai suất chăn, màn, áo trấn thủ

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Chính phủ trả lươngthống nhất tính bằng tiền, bỏ phụ cấp con, mức lương tối thiểu bằng 36.000đồng/tháng, tương đương với 75 kg gạo Ở các xí nghiệp trong vùng mới giải phóng,mức lương tối thiểu là 26.000 đồng/tháng (ăn 18.000 đồng, mặc 4.000 đồng, tiêu vặt4.000 đồng), tương đương giá của 65 kg gạo/tháng Riêng lao động công trường là27.000 đồng/tháng

2 Tiền lương tối thiểu trong thời kì kế hoạch hóa ( 1955 – 1985).

Sau hòa bình lập lại (1954), nước ta bước vào thời kỳ khôi phục và phát triểnkinh tế (1955 - 1958) và bước vào kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội 3 năm(1958 - 1960), từ năm 1960, tiếp thu được lý luận về tiền lương của các nước xã hộichủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô, chế độ tiền lương đã được thiết kế khoa học hơn,trong đó mức lương tối thiểu đã được thiết kế trên cơ sở nhu cầu tối thiểu, mức sốngtối thiểu (của bản thân người lao động có tính một phần nuôi con) và quan hệ với thunhập của nông dân (khoảng 10,2 đồng/người/tháng), trong đó chi về ăn bằng 73%(Thực đơn cho nhu cầu ăn phần cơ thể hấp thụ được là 2140 Kcal/24h, chất lượngchủ yếu là gluxit); mặc bằng 27% Trên cơ sở đó, mức lương tối thiểu năm 1955được ấn định là 26.000 đồng/tháng, tương đương 65 kg gạo; đến cuối năm 1955 điềuchỉnh lên 27,3 đồng (giữ như cũ 26.000 đồng/tháng và cộng thêm 5%), ngang giá với

68 kg gạo; nhà ở lúc này được Nhà nước bao cấp ở mức tối thiểu; công nhân viênchức được hưởng chế độ chữa bệnh không mất tiền và con của cán bộ công nhân

Trang 14

viên đi học cũng không mất tiền Ngoài ra từ con thứ ba trở đi, mỗi con được phụ cấp

5 đồng/tháng tương đương với giá 12,5 kg gạo

Mức lương tối thiểu ấn định năm 1958 bảo đảm cho người lao động và giađình người lao động một mức sống tối thiểu từ khi thiết kế Nhưng mấy năm sau, giá

cả ngày một tăng, Nhà nước phải bổ sung vào tiền lương chế độ cung cấp bằng hiệnvật Chế độ tem, phiếu bắt đầu và ngày càng mở rộng nhằm bảo đảm cho người laođộng một mức sống tối thiểu Những cố gắng đó ngày càng tỏ ra không thành công,lương cung cấp bằng hiện vật của nhà nước giảm dần, trong khi đó giá cả thị trườngngày càng tăng nhanh Đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn, sức mua củatiền lương giảm xuống một cách rõ rệt, chỉ bằng 10% sức mua ban đầu Nhà nước đãđiều chỉnh nhiều lần thông qua các loại phụ cấp

Đến đầu năm 1960 và trong những năm 1960, Nhà nước thực hiện cải tiếnchính sách tiền lương, theo hướng tổ chức lại hệ thống thang, bậc lương, quan hệ tiềnlương (lương tối đa được nâng lên gấp 9 lần so với lương tối thiểu), nhưng vẫn giữnguyên mức lương tối thiểu 27,30 đồng/tháng (bao gồm: chi về ăn 64,5%; mặc, nhà

ở 21,8%; chi tiêu dùng thường xuyên 13,7%) Đến năm 1981, Nhà nước tiến hànhđiều chỉnh Giá - Lương - Tiền nhằm tạo điều kiện giữ vững tiền lương thực tế chongười hưởng lương Tính đến tháng 8/1985, Nhà nước nhiều lần tăng tiền lươngdanh nghĩa thông qua các hình thức trợ cấp tạm thời, tiền thưởng, khuyến khíchlương sản phẩm, lương khoán nhưng do giá cả tăng nhanh nên tiền lương thực tếtiếp tục giảm (tháng 8/1985 so với tháng 12/1980, chỉ số tiền lương danh nghĩa tăng

6 lần, chỉ số giá sinh hoạt tăng 13 lần, chỉ số tiền lương thực tế chỉ còn 46%)

Năm 1985, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khoá 5, đã ra Nghị quyết sửađổi chế độ tiền lương Lúc này, mức lương tối thiểu được xác định gồm 3 phần: Phầnchi về ăn (chiếm khoảng 66%); Phần chi về mặc, đồ dùng, đi lại, văn hoá- dịch vụ(chiếm 34%), ngoài ra còn tính một phần chi tiêu để nuôi con (hoặc người ăn theo)bằng 38% chi tiêu của bản thân Trên cơ sở đó, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyếtđịnh 235/HĐBT ngày 18-9-1985 quy định chế độ tiền lương mới, trong đó ấn địnhmức lương tối thiểu là 220 đồng/tháng (tiền mới) tương đương với 45 kg gạo theothời giá Lần này đã tiền tệ hoá hầu hết các mặt hàng tiêu dùng theo nhu cầu tối thiểuhàng ngày (gồm 44 mặt hàng về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng), chế độ

Trang 15

tem phiếu được bãi bỏ (trừ gạo) Tuy nhiên còn một số chế độ cung cấp hiện vậtkhông mất tiền hoặc đã được tính với giá bao cấp (nhà ở, điện, nước, chữa bệnh, họchành, đi lại), bằng khoảng 0,56 lần mức tiền lương tối thiểu.

3 Tiền lương tối thiểu trong thời kì đổi mới ( 1986 đến nay).

Khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới theo cơ chế thị trường (năm 1986),chế độ tiền lương năm 1985 (theo cơ chế kế hoạch hóa) không còn phù hợp, vì vậytrong tiếp tục thực hiện chế độ tiền lương năm 1986 thì việc nghiên cứu cải cáchchính sách tiền lương cũng đã được đặt ra, trước hết là việc quy định tiền lương tốithiểu cho loại hình doanh nghiệp

Năm 1987, thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, được sự ủy quyền của Thủ tướngChính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định mức lương tối thiểu đối vớilao động Việt nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanhnghiệp FDI) là 50 USD/tháng Mức lương này được tính toán, xác định trên nguyêntắc tính đúng, tính đủ tiền lương Nhà nước không bao cấp, bảo đảm mức sống tối thiểucho người lao động, phù hợp với năng suất lao động và cường độ lao động của ngườilao động trong doanh nghiệp FDI Các doanh nghiệp trong nước vẫn thực hiện theomức lương tối thiểu 220 đồng/tháng

Đến năm 1993, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trungương Đảng (khoá VII) và Nghị quyết kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá IX về cải cách tiềnlương trong năm 1993 đối với công nhân, viên chức và những người hưởng lương,chế độ tiền lương mới trong nền kinh tế thị trường lần đầu tiên được ban hành theoQuyết định số 69/QĐ-TƯ ngày 17/5/1993 của Ban bí thư, Nghị quyết số 35/NQ-UBTVQHK9 ngày 17/5/1993 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các Nghị định số25/CP, 26/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ Theo đó mức lương tối thiểu đối vớicán bộ, công nhân, viên chức khu vực nhà nước và người lao động làm việc ở doanhnghiệp trong nước được ấn định là 120.000 đồng/tháng (tháng 4/1993 thực hiện mức110.000 đồng, tháng 12/1993 thực hiện mức 120.000 đồng) Doanh nghiệp FDI vẫnthực hiện theo tiền lương tối thiểu 50 USD/tháng

Xuất phát từ thực tiễn khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Bộ luật Laođộng ra đời năm 1995 đã nâng tầm quan trọng của tiền lương tối thiểu lên đúng vị trí

Trang 16

và đã chính thức được luật hóa như sau2: “Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diên của người sử dụng lao động Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lương thực tế.”

Căn cứ quy định của Bộ luật Lao động, năm 1996 Chính phủ đã quy định mứclương tối thiểu theo 4 vùng áp dụng đối với doanh nghiệp FDI, tương ứng 45 - 40 - 35

- 30 USD/tháng, tuỳ theo địa bàn kinh tế và mức độ phát triển của thị trường lao độngphát triển Cơ quan hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp trong nước (doanh nghiệpnhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh) vẫn thực hiện theo mức lương tối thiểuchung 120.000 đồng/tháng

Năm 1997, Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung từ 120.000 đồnglên 144.000 đồng/tháng, đồng thời quy định doanh nghiệp nhà nước tuỳ theo hiệu quảsản xuất, kinh doanh và năng suất lao động được áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm(theo vùng và theo ngành) không quá 2 lần so với tiền lương tối thiểu chung để tínhđơn giá tiền lương và trả lương cho người lao động

Năm 1999, thực hiện quy định tại Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg ngày26/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích đầu tư trựctiếp nước ngoài, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã quy định các mức lương tốithiểu vùng đối với doanh nghiệp FDI chuyển đổi từ Đôla Mỹ sang Đồng Việt Namtương ứng theo 4 vùng là 626.000 - 556.000 - 487.000 - 417.000 đồng/tháng

Từ năm 1999 đến năm 2008, Chính phủ tiếp tục điều chỉnh tiền lương tối thiểuchung, tiền lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp FDI để bảo đảm tiền lương thực

tế cho người lao động, trong đó tiền lương tối thiểu chung điều chỉnh từ 144.000 đồnglên 180.000 đồng (năm 2000), lên 210.000 đồng (năm 2001), lên 290.000 đồng (năm

2 Điều 56 Bộ luật Lao động Việt Nam

Trang 17

2003), lên 350.000 đồng (năm 2005), lên 450.000 đồng (năm 2006); tiền lương tốithiểu vùng đối với doanh nghiệp FDI theo 3 vùng là 710.000 đồng - 790.000 đồng -870.000 đồng Năm 2006, Chính phủ điều chỉnh quy định về áp dụng tăng thêm tiềnlương tối thiểu đối với doanh nghiệp nhà nước, trong đó công ty nhà nước áp dụngtăng thêm không quá 1,34 hoặc 2 lần (không phân theo vùng, theo ngành) so với tiềnlương tối thiểu chung để tính đơn giá tiền lương và không hạn chế đối với công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn nhà nước.

Đến tháng 01/2008, Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung từ450.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng, đồng thời quy định mức lương tối thiểu theo 3vùng đối với doanh nghiệp trong nước là: 540.000 - 580.000 - 620.000 đồng/tháng;điều chỉnh mức lương tối thiểu 3 vùng đối với doanh nghiệp FDI 800.000 - 900.000 -1.000.000 đồng/tháng

Đến tháng 01/2009, Chính phủ quy định tiền lương tối thiểu theo 4 vùng(thống nhất về địa bàn vùng), nhưng mức tiền khác nhau: doanh nghiệp trong nước650.000 đồng – 690.000 đồng - 740.000 đồng – 800.000 đồng/tháng; doanh nghiệpFDI 920.000 đồng - 950.000 đồng – 1.080.000 đồng – 1.200.000 đồng/tháng, đồngthời từ ngày 01/5/2009 điều chỉnh mức lương tối thiểu chung lên 650.000 đồng/tháng(Tổng hợp các năm tại Phụ lục số 1 kèm theo)

Đến tháng 01/2010, Chính phủ quy định tiền lương tối thiểu theo 4 vùng:doanh nghiệp trong nước 730.000 đồng – 810.000 đồng - 880.000 đồng – 980.000đồng/tháng; doanh nghiệp FDI 1.000.000 đồng – 1.040.000 đồng – 1.190.000 đồng –1.340.000 đồng/tháng, đồng thời từ ngày 01/5/2010 điều chỉnh mức lương tối thiểuchung lên 730.000 đồng/tháng

III SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN ĐỂ HOÀN THIỆN TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP.

1 Yêu cầu chung của cải cách chính sách tiền lương.

Năm 1986 là một mốc đánh dấu Việt Nam thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ

kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.Đây là bước đi quan trọng, làm thay đổi sâu sắc từ nhận thức đến hành động trên mọilĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lao động - tiền lương Sau 20 năm đổi mới, chính sách

Trang 18

tiền lương, tiền công liên tục được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với sự phát triển củanền kinh tế, tạo cơ sở xây dựng và phát triển thị trường lao động.

Chuyển sang kinh tế thị trường, một trong những nguyên tắc cơ bản là tiềnlương được hình thành, xác định thông qua cơ chế thoả thuận giữa người lao động vàngười sử dụng lao động (các bên trong quan hệ lao động), phụ thuộc vào kết quả laođộng và quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động Vì vậy, yêu cầu cơ bảncủa chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường vừa phải bảo đảm sự linh hoạt

để thích nghi với sự biến động của thị trường và của nền kinh tế, đồng thời vừa làcông cụ để điều chỉnh quan hệ cung cầu về lao động, bảo vệ người lao động, bảođảm phân phối công bằng về lợi ích kinh tế Xu hướng của chính sách tiền lươngphải phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế, tuân thủ theo các quy luật củakinh tế thị trường, bảo đảm công khai, minh bạch và dựa trên cơ sở thỏa thuận giữangười sử dụng lao động và người lao động

So với yêu cầu của kinh tế thị trường thì chính sách tiền lương nói chung vàtiền lương tối thiểu nói riêng cần được tiếp tục hoàn chỉnh, trong đó Nhà nước cầngiao quyền tự chủ hơn nữa cho các doanh nghiệp trong việc xác định tiền lương vàtrả lương cho người lao động nhằm phát huy vai trò thương lượng, đàm phán, thoảthuận của các bên trong quan hệ lao động; tăng cường và có cơ chế phát huy vai tròcủa các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động cùng thamgia vào quá trình xác định tiền lương tối thiểu; tiền lương phải được trả theo giá trịsức lao động, tiền lương tối thiểu phải bảo đảm đủ bù đắp hao phí lao động và có tíchlũy; việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu phải linh hoạt, phù hợp với quan hệ cung cầulao động trên thị trường, từng bước cải thiện mức sống của người lao động làm công

ăn lương

2 Yêu cầu hội nhập quốc tế và các tiêu chuẩn Công ước ILO.

Hội nhập quốc tế nghĩa là chúng ta chấp nhận chơi trên cùng một “sân chung”

và tuân theo một “luật chơi” chung với hai nguyên tắc cơ bản là: kinh tế thị trường

và không phân biệt đối xử Các chính sách do Nhà nước quy định được áp dụngtrong khu vực sản xuất, kinh doanh, không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệpViệt Nam và doanh nghiệp nước ngoài Để tuân theo nguyên tắc này, Quốc hội đãthông qua Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp chung cho các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 19

và nước ngoài, với mục đích là tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp.Chính sách tiền lương nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng hiện nay đang quyđịnh phân biệt giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy cầnphải điều chỉnh để bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng

Ngoài những yêu cầu phải tuân theo những luật chơi chung của hội nhập, tiềnlương tối thiểu của Việt Nam phải tuân thủ các công ước của ILO Theo nội dungcông ước 131 thì mọi nước thành viên của ILO phải luật pháp hoá hệ thống lương tốithiểu để áp dụng cho mọi nhóm người làm công ăn lương Hiện nay, Bộ Luật laođộng và các văn bản dưới Luật của Việt Nam về cơ bản đã thể hiện đầy đủ các nộidung trong Công ước của ILO về vấn đề tiền lương tối thiểu Tuy nhiên, để phù hợpvới tình hình thực tế và nâng cao vai trò, chức năng của tiền lương tối thiểu trongviệc tạo lưới an toàn xã hội, bảo đảm đủ sống, đáp ứng nhu cầu mức sống tối thiểucủa người lao động và gia đình theo mục tiêu Công ước và các khuyến nghị của ILOthì chính sách tiền lương tối thiểu cần được tiếp tục Luật hoá ở mức cao hơn theohướng quy định một mức lương tối thiểu chung đối với toàn bộ khu vực có quan hệlao động, không phân biệt thành phần kinh tế; Mức lương tối thiểu được xác địnhtrên cơ sở có sự tham gia quyết định của các bên liên quan gồm Chính phủ, đại diệnngười lao động và đại diện người sử dụng lao động, phải vừa bảo đảm mục tiêu kinh

tế (tăng khả năng cạnh tranh và tạo sự linh hoạt) vừa bảo đảm mục tiêu xã hội (phânphối công bằng lợi ích kinh tế, chống bóc lột sức lao động và chống nghèo đói)

3 Quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt những thành tựu rất quantrọng, kinh tế tăng trưởng nhanh, giai đoạn 2000 – 2006 GDP bình quân tăng7,8%/năm, năm 2007 tăng 8,47% (cao nhất trong vòng 20 năm qua), năm 2008 tuy bịảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế nhưng vẫn tăng trưởng 6,2%; cơ cấu kinh tế chuyểndịch theo hướng tích cực, vốn đầu tư phát triển liên tục duy trì ở mức cao (35 – 40%GDP), thực hiện có hiệu quả chính sách thu hút đầu tư nước ngoài (năm 2006: 10 tỷ

đô la Mỹ, năm 2007: 20,3 tỷ đô la Mỹ, năm 2008: 64 tỷ đô la Mỹ), các doanh nghiệpnhỏ và vừa phát triển mạnh (trung bình mỗi năm có khoảng 50.000 doanh nghiệpthành lập mới) đã tạo thuận lợi cho việc tạo việc làm và giải quyết việc làm chongười người lao động

Trang 20

Tuy vậy, trong điều kiện quy mô dân số ngày càng đông, kéo theo lao động mớităng nhanh, cung lao động vẫn lớn hơn cầu lao động khá nhiều, lao động không cótrình độ chuyên môn, lao động có tay nghề thấp vẫn là phổ biến, thiếu lao động có taynghề và lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, cơ cấu lao động trong nôngnghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn chuyển dịch sang các khu vực khác (chưa được đào tạo tácphong kinh nghiệm, năng lực thoả thuận tiền lương, tiền công yếu), trong khi đó khảnăng giải quyết việc làm của nền kinh tế thì hạn chế (trong 5 năm 2006 - 2010 khoảng

8 triệu lao động), cơ cấu đào tạo bất hợp lý, càng làm cho tình trạng cung về lao độngluôn lớn hơn cầu về lao động, việc làm trở thành vấn đề bức xúc hơn

Tính đến năm 2009, dân số nước ta đạt khoảng 85,79 triệu người, lực lượnglao động là 49,3 triệu người, chiếm 57,3% trong tổng dân số (bình quân mỗi nămtăng 1 triệu người, giai đoạn 2000 – 2009 tăng bình quân 2,65%/năm) Trình độ họcvấn của lực lượng lao động chưa biết chưa và chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm 18,3%,

số lao động tốt nghiệp phổ thông chiếm 1/4 lực lượng lao động, tỷ trọng lao động cóchuyên môn kỹ thuật chiếm 24,7%, lao động đã qua đào tạo 35% (65% không quađào tạo), trong đó đào tạo nghề là 25%, số lao động làm công ăn lương chiếmkhoảng 25% lực lượng lao động

Ngoài yếu tố quy mô lao động tăng, trình độ lao động thấp tạo áp lực đối vớigiải quyết việc làm thì tình trạng phát triển không đồng đều của thị trường lao độnggiữa các vùng (chủ yếu phát triển ở các vùng kinh tế trọng điểm), xu hướng dịchchuyển lao động từ nông thôn đến thành thị và từ các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung bộvào Tây nguyên và Đông Nam bộ, dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệpsang khu vực công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ cũng tạo thêm áp lựcđối với cung cầu về lao động Về cầu lao động, trong những năm qua mặc dù sốlượng doanh nghiệp tăng nhanh nhưng chủ yếu vẫn là doanh nghiệp vừa, nhỏ (chiếmtrên 90%) và siêu nhỏ (dưới 10 lao động và dưới 1 tỷ đồng vốn) nên thu hút, sử dụnglao động còn hạn chế Các yếu tố này đang làm cho quan hệ lao động trở nên căngthẳng, phức tạp hơn

Để bảo vệ người lao động trong điều kiện cung lao động luôn luôn lớn hơncầu lao động, lao động có trình độ thấp, lao động phổ thông vẫn chiếm tỷ trọng lớn,vai trò của các tổ chức công đoàn chưa đủ mạnh, việc thương lượng, thoả thuận tiền

Trang 21

lương chưa trở thành thông lệ dẫn đến người lao động luôn trong tình trạng yếu thế,

bị ép về tiền lương, về các quyền lợi khác đòi hỏi chính sách tiền lương nói chung vàchính sách tiền lương tối thiểu nói riêng cần được điều chỉnh cho phù hợp, đáp ứngcác yêu cầu của thực tế, xây dựng mối quan hệ lao động ổn định, lành mạnh cùngphát triển

4 Chính sách của Đảng và Nhà nước về tiền lương tối thiểu.

Chính sách tiền lương tối thiểu là một nội dung cơ bản của chính sách tiềnlương, vì vậy quan điểm của Đảng về chính sách tiền lương tối thiểu không tách rờichính sách tiền lương nói chung, cụ thể:

- Đề án cải cách chính sách tiền lương năm 1993 được Trung ương đảng,Quốc hội thông qua đã khẳng định: Tiền lương là giá cả sức lao động được hìnhthành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợpvới quan hệ trong nền kinh tế thị trường Tiền lương phải bảo đảm tái sản xuất sứclao động cho người lao động

- Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khoá VIII “Tiền lương phảiquán triệt quan điểm tiền lương gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,trả lương đúng cho người lao động chính là thực hiện đầu tư cho phát triển; gópphần quan trọng làm lành mạnh, trong sạch đội ngũ cán bộ, nâng cao tinh thần tráchnhiệm và hiệu suất công tác Bảo đảm giá trị thực của tiền lương và từng bước cảithiện theo sự phát triển của kinh tế xã hội”

- Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khoá IX “Coi việc trả lươngđúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để kinh tếphát triển; Chính sách tiền lương phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa góp phần hình thành thị trường lao động lành mạnh, thu hútđược lao động có chất lượng cao vào những khu vực quan trọng của nhà nước và xãhội; Tiếp tục thực hiện cơ chế mức lương tối thiểu chung là mức sàn thấp nhất để làmcăn cứ điều chỉnh các quan hệ lao động trong xã hội theo Bộ luật Lao động và làmcăn cứ quy định mức đóng hưởng bảo hiểm Việc điều chỉnh mức lương sàn phải phùhợp với mặt bằng tiền lương, tiền công trên thị trường lao động và mức tăng thu nhậptrong xã hội”

Trang 22

- Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 9/02/2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấphành Trung ương Đảng khoá X “Đẩy nhanh tiến trình cải cách tiền lương Xây dựngmới mức lương tối thiểu, tách riêng khu vực hành chính, sự nghiệp và khu vực sảnxuất kinh doanh (không phân biệt thành phần kinh tế).

- Kết luận số 20 KL/TW ngày 28/01/2008 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấphành Trung ương Đảng khoá X “ Tiếp tục quán triệt và thực hiện quan điểm coi việctrả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực đểkinh tế phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch vànâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước”

- Nghị quyết số 56/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc hội khoá XI về kếhoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 - 2010 “Tiếp tục thực hiện cải cách tiềnlương Nghiên cứu và áp dụng thống nhất mức tiền lương tối thiểu giữa doanhnghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ”

Trong những năm qua, Chính phủ đã tập trung nhiều nguồn lực để cải cáchtiền lương và tiền lương tối thiểu, tuy nhiên trên thực tế so với yêu cầu chung thì cónhững quan điểm của Đảng nêu trên cần được tiếp tục thể chế hóa trong chính sáchtiền lương, tiền lương tối thiểu, nhất là việc thiết lập cơ chế xác định tiền lương tốithiểu theo nguyên tắc thị trường, xác định tiền lương tối thiểu bảo đảm đủ sống vàquy định tiền lương tối thiểu thống nhất (không phân biệt đối xử) giữa các loại hìnhdoanh nghiệp

IV PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ ĐIỀU CHỈNH TLTT.

1 Tiêu chí xác định tiền lương tối thiểu.

Việc đưa ra tiêu chí xác định tiền lương tối thiểu đến nay vẫn còn nhiều ý kiếnkhác nhau, nhưng nhìn chung đều dựa vào 2 nhóm tiêu chí chủ yếu là tiêu chí mangtính xã hội - nhu cầu cơ bản của con người và tiêu chí kinh tế

Khuyến nghị số 135 của ILO về xác định mức lương tối thiểu đưa ra các tiêuchí và giải thích Điều 3 của Công ước 131 về Xác định lương tối thiểu với một sốchú ý đặc biệt về các nước đang phát triển Các tiêu chí đó là:

(1) Hệ thống nhu cầu của người lao động và gia đình họ

(2) Mức tiền lương chung đạt được

(3) Chi phí sinh hoạt và sự biến động của giá cả sinh hoạt

Trang 23

(4) Các khoản phúc lợi xã hội

(5) Tương quan mức sống giữa các nhóm dân cư

(6) Các yếu tố kinh tế (bao gồm: mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, năng suấtlao động, tổng mức việc làm và khả năng chi trả của các doanh nghiệp)

Theo thống kê của ILO, tiêu chí thường đựơc sử dụng nhất ở các nước trên thếgiới là tỉ lệ lạm phát/chi phí sinh hoạt, sau đó là điều kiện kinh tế và mức lương; tiếpđến là nhu cầu của người lao động, năng suất và tỉ lệ có việc làm; cuối cùng là khảnăng chi trả của doanh nghiệp và trợ cấp xã hội Tiêu chí nhu cầu của người lao động

và gia đình chỉ đứng hàng thứ 4 và năng lực chi trả của doanh nghiệp đứng cuốicùng Tuy nhiên hai tiêu chí này rất quan trọng khi xác định tiền lương tối thiểunhằm bảo vệ mức sống của người lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, nănglực chi trả của doanh nghiệp

Trong điều kiện Việt Nam, tiền lương tối thiểu được xác định dựa trên cơ sởbảo đảm hài hòa các yếu tố cơ bản sau:

- Nhu cầu các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của người lao động liên quan đếnmức sống “tối thiểu” Đó là hệ thống nhu cầu các mặt tiêu dùng, dịch vụ tối thiểu củangười lao động và gia đình họ với mức giá của các mặt hàng đó trên thị trường;

- Mức tiền lương chung trên thị trường được xác lập thông qua cung cầu laođộng và khả năng chi trả của doanh nghiệp Mức tiền lương chung trên thị trườngphản ánh khả năng cung về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực, đồng thờicũng phản ánh khả năng tài chính và xu thế phát triển của cầu lao động Ngoài ra nócòn cho biết mức tiền công mà người lao động nhận được đã xứng đáng chưa, có bịbóc lột sức lao động hay không

- Mức độ phát triển mức sống dân cư, khả năng của nền kinh tế cũng như mụctiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảmtiền lương tối thiểu là công cụ chống nghèo đói, giảm bớt phân hóa trong xã hội,nâng cao mức sống của người lao động phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế

- Tham khảo tiền lương tối thiểu của các nước lân cận và tương đương để vừa

bảo đảm yếu tố cạnh tranh, vừa bảo đảm yếu tố phát triển

Trang 24

2 Phương pháp xác định TLTT.

2.1 Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu chung.

Từ khuyến nghị 135 của ILO về các tiêu chí xác định tiền lương tối thiểutrong kinh tế thị trường và tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi quốc gia về tiêu chíxác định tiền lương tối thiểu phù hợp với điều kiện của mình mà có các phương phápxác định tiền lương tối thiểu khác nhau Ở nước ta, từ khi cải cách chính sách tiềnlương năm 1993 đến nay đã thực hiện 4 phương pháp tiếp cận để xác định tiền lươngtối thiểu, đó là:

Phương pháp 1: Xác định tiền lương tối thiểu chung dựa trên nhu cầu mức

sống tối thiểu của người lao động

Đây là phương pháp rất cơ bản và đang được áp dụng khá phổ biến ở nhiềunước trên thế giới Bản chất của phương pháp này là xác định nhu cầu cơ bản, tốithiểu, đủ sống của người lao động và gia đình thông qua định lượng và giá trị “rổhàng hóa” lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm theo giá hiện hành.Nhu cầu này ở các nước khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xãhội, văn hóa, phong tục tập quán của mỗi nước Đồng thời trong một nước nhu cầunày cũng khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước đóqua các thời kỳ Nhưng xu hướng chung nhu cầu cơ bản, tối thiểu, đủ sống của ngườilao động ngày một tăng và đa dạng, phong phú, có chất lượng hơn Nội dung và trình

tự của phương pháp như sau:

- Xác định nhu cầu lương thực, thực phẩm cho một lao động:

Nhu cầu lương thực, thực phẩm cho một lao động làm công việc giản đơn,trong điều kiện lao động bình thường được tính trên cơ sở lượng Calory cần thiếtcung cấp cho họ trong một ngày Nhu cầu này đối với người lao động ở các nước làrất khác nhau (ví dụ, ở Indonesia là 3000Kcal/ngày/người, các nước phương tây vàChâu Âu trên 3500Kcal/ngày/người ) Theo kiến nghị của Viện dinh dưỡng ViệtNam, hiện nay mức nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu cho một lao động làm công việcnhẹ nhàng khoảng từ 2200 - 2300 Kcal/ngày/người Nhu cầu dinh dưỡng2300Kcal/ngày/người dùng để tính ra số lượng và cơ cấu “rổ hàng hóa” lương thực,thực phẩm cần thiết trong cơ cấu tiền lương tối thiểu chung

Trang 25

- Xác định chi phí cho rổ hàng hóa lương thực, thực phẩm thỏa mãn nhu cầucung cấp năng lượng được chọn để đưa vào cơ cấu lương tối thiểu cho người lao động.

Nhu cầu về lương thực, thực phẩm trong “rổ hàng hóa” được xác định trên cơ

sở định lượng các mặt hàng lương thực thực phẩm theo một cơ cấu hợp lý trong khẩuphần ăn của người lao động trong một ngày, bao gồm lipit, protit và gluxit Quan hệgiữa 3 nhóm này có sự khác nhau giữa các nước, thông thường tỷ lệ đó là 50% gluxit

- 30% protit - 20% lipit Khi xác định được định lượng rổ hàng hóa lương thực thựcphẩm có thể tính được chi phí cần thiết để mua rổ hàng hóa đó bằng cách nhân địnhlượng từng mặt hàng trong rổ với giá của mặt hàng tương ứng theo công thức: Chiphí rổ hàng hóa =  Xi * Pi

Trong đó, Xi là hàng hóa thứ i trong rổ hàng hóa lương thực thực phẩm; Pi làgiá mua hàng hóa thứ i; Giá mua hàng hóa thứ i là giá trị trung vị của giá các mặthàng trong rổ (theo kết quả mẫu điều tra)

- Xác định chi phí cho các mặt hàng phi lương thực thực phẩm:

Chi phí phi lương thực thực phẩm tính vào cơ cấu tiền lương tối thiểu lànhững chi phí đáp ứng những nhu cầu tối thiểu về nhà ở, đi lại, giao tiếp, văn hóa Chi phí này có thể tính theo cơ cấu định lượng, cũng có thể tính trên cơ sở quan hệ tỷ

lệ so với chi phí lương thực, thục phẩm trong rổ hàng hóa Giả sử người lao độnglàm công việc giản đơn, trong điều kiện lao động bình thường cần cung cấp 1 lượngnăng lượng 2300Kcal/ngày với chi phí là X đồng, thì nhu cầu về lương thực, thựcphẩm có thể thấp hơn, bằng hoặc cao hơn chi phí lương thực thực phẩm; giả sử nhucầu tối thiểu là 100%, trong đó nhu cầu về lương thực thực phẩm là 45%, thì tỷ lệ chiphí cho phi lương thực thực phẩm là 55% Do đó có thể tính được chi phí cho nhucầu phi lương thực thực phẩm

- Xác định nhu cầu nuôi con của người lao động

Tùy từng nước có thể đưa chi phí nuôi con vào mức lương tối thiểu ở các mức

độ khác nhau Giả sử đối với Việt Nam, trong một hộ gia đình chuẩn có 4 khẩu và 2lao động, chi phí nuôi con có thể đưa vào tiền lương trên cơ sở xác định nhu cầu dinhdưỡng của người con Nếu nhu cầu dinh dưỡng khoảng 1600Kcal/ngày (theo khuyếnnghị của Viện dinh dưỡng), thì có thể tính chi phí nuôi con bằng 0,7 chi phí cho nhucầu tối thiểu của một lao động

Trang 26

- Xác định tổng chi phí cho nhu cầu tối thiểu của một lao động làm công việcgiản đơn trong điều kiện lao động bình thường và có nuôi con:

Tổng chi phí này gồm chi phí cho nhu cầu lương thực, thực phẩm, nhu cầu philương thực thực phẩm và chi phí nuôi con, có thể tính theo công thức:

Phương pháp 2: Xác định tiền lương tối thiểu chung dựa trên cơ sở điều tra

mức lương trung bình của lao động không có trình độ chuyên môn.

Đây là phương pháp xác định tiền lương tối thiểu dựa trên cơ sở mức tiềnlương, tiền công mà người sử dụng lao động trả cho người lao động không có trình

độ chuyên môn kỹ thuật, làm công việc giản đơn, trong điều kiện lao động bìnhthường Phương pháp này dựa trên các thông tin thu thập được từ thực tế trên thịtrường và tính bình quân Để có thông tin, các nước thường thiết lập hệ thống theodõi, giám sát và phân tích tiền lương khu vực thị trường hoặc trạm quan sát thịtrường lao động Trong đó, tiến hành các cuộc điều tra về giá tiền công lao động thực

tế trả trên thị trường Trong điều tra này, cần lưu ý quan sát tiền lương, tiền công màngười sử dụng lao động thực tế trả cho người lao động thỏa mãn các tiêu chí đặcđiểm của người lao động hưởng mức lương tối thiểu, thông thường là người lao độnglàm công ăn lương trong khu vực có quan hệ lao động (có hợp đồng lao động);Không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (không qua đào tạo, dạy nghề); Làm côngviệc giản đơn (ở Việt Nam mã 9000 trong Danh mục mã nghề của Tổng cục Thốngkê); Trong điều kiện lao động bình thường

Mức độ chính xác của phương pháp này phụ thuộc vào chất lượng và độ tincậy của các cuộc điều tra, quan sát trên thị trường Tuy nhiên, mức lương tối thiểuxác định theo phương pháp này phản ánh được thực chất của thị trường lao động và

Trang 27

có tính khách quan, đồng thời phù hợp với khả năng thanh toán của người sử dụnglao động, của doanh nghiệp hiện tại.

Phương pháp 3: Xác định tiền lương tối thiểu chung dựa trên cơ sở khả năng

của nền kinh tế (GDP) và quỹ tiêu dùng dân cư

Tiền lương tối thiểu chung của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng của nềnkinh tế Trong từng thời kỳ nhất định, mức độ đảm bảo nhu cầu tối thiểu cao hay thấpphụ thuộc vào mức tăng trưởng GDP Trong mối quan hệ này phải giải quyết bài toán

vĩ mô về phân phối, giữa tích lũy và tiêu dùng Theo phương pháp này có thể xácđịnh tiền lương tối thiểu bằng 2 cách: Tính từ GDP và quỹ tiêu dùng cuối cùng củadân cư hoặc dùng công cụ kinh tế lượng phân tích số liệu thống kê quốc gia để hồiquy xác định mối tương quan giữa tiền lương tối thiểu và GDP Khi xác định tiềnlương tối thiểu từ GDP và quỹ tiêu dùng cuối cùng của dân cư người ta thường sửdụng công thức:

GDP x Tỷ lệ quỹ tiêu dùng cuối cùng so với GDP 1

TLmin = - x

(Tổng số lao động xã hội x 12 tháng) Hcl

Trong đó:

- Tlmin: Mức lương tối thiểu chung;

- GDP tính theo giá thực tế Quỹ tiêu dùng cuối cùng của dân cư (tính theothống kê hoặc ước lượng khoảng 60 - 68% GDP);

- Tổng số lao động xã hội, được xác định trên cơ sở số lao động có việc làmtrong xã hội và hệ số chênh lệch giữa lao động xã hội và lao động có việc làm(khoảng từ 1,2 - 1,4 lần);

- Hcl là hệ số chênh lệch giữa mức thu nhập bình quân của lao động xãhội/lương tối thiểu (xác định qua khảo sát, thông thường khoảng 1,3 - 1,5 lần)

Phương pháp 4: Xác định tiền lương tối thiểu chung trên cơ sở tính trượt giá

so với kỳ gốc

Phương pháp này xác định tiền lương tối thiểu trên chỉ số giá sinh hoạt từngthời kỳ để tính tiền lương tối thiểu cho thời kỳ tới Về thực chất đây là phương phápđiều chỉnh để bảo đảm tiền lương thực tế

Trang 28

Các phương pháp trên, mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm riêng, song trênthực tế xu hướng của thế giới là áp dụng phương pháp xác định tiền lương tối thiểudựa trên nhu cầu mức sống tối thiểu của người lao động là chính, vì phương phápnày cho kết quả khá cao so với các phương pháp khác và đáp ứng được nhu cầu tốithiểu của người lao động.

2.2 Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu vùng.

Mục tiêu tiền lương tối thiểu theo vùng là để đáp ứng sự khác biệt về khônggian của các yếu tố chi phối tiền lương tối thiểu chung, nhấn mạnh yếu tố đặc thù củatừng vùng cũng như chiến lược phát triển trong từng vùng Việc quy định tiền lươngtối thiểu theo vùng nhằm bảo đảm sức mua của mức lương tối thiểu tại các vùng vớicác yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị khác nhau; Góp phần điều tiết quan hệ cung -cầu lao động giữa các vùng, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động giữa các vùng, tạo

ra dòng di chuyển lao động và dân cư hợp lý giữa các vùng, góp phần điều chỉnh tỷ

lệ thất nghiệp giữa các vùng

Thông thường tiền lương tối thiểu vùng được xác định bằng cách lấy tiềnlương tối thiểu chung do nhà nước quy định nhân với hệ số K (hệ số chênh lệch giữamức lương tối thiểu của vùng đó với mức lương tối thiểu chung) hoặc có thể tínhriêng cho từng vùng nếu không tính phụ cấp vùng riêng cho từng vùng Theo đó, tiềnlương tối thiểu theo vùng được xác định dựa theo một số yếu tố chủ yếu:

- Nhu cầu tối thiểu của người lao động trong các vùng Nhu cầu nói chung củangười lao động trong các vùng rất khác nhau: ở nông thôn, miền núi và trung du, nhucầu về ăn, ở, mặc, y tế, văn hoá giáo dục, đi lại, và duy trì phát triển giống nòi khácvới nhu cầu của người lao động ở các đô thị

- Mức sống chung đạt được trong vùng Mức sống trong vùng phụ thuộc vàokết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của vùng, sản xuất kinh doanh càng phát triển

và có hiệu quả thì mức sống càng cao và ngược lại Để đánh giá mức sống trong từngvùng cần chú ý tới 4 yếu tố chủ yếu là hệ số chênh lệch về thu nhập; hệ số chênh lệch

về mức chi tiêu; hệ số chênh lệch về tỷ lệ chi cho ăn trong cơ cấu chi tiêu; hệ sốchênh lệch về chỉ số phát triển con người và mức tiền lương, tiền công đạt đượctrong vùng

Trang 29

- Giá cả và tốc độ tăng giá sinh hoạt ở từng vùng Giá cả tại một thời điểm đãđược xem xét cùng với nhu cầu tối thiểu để tính cụ thể mức lương tối thiểu, nhưngmức độ trượt giá chưa được xem xét để đưa vào lương tối thiểu Do đó cần theo dõichặt chẽ sự biến động để điều chỉnh tiền lương tối thiểu kịp thời nhằm đảm bảo tiềnlương thực tế cho người hưởng lương.

- Các yếu tố chính trị- kinh tế- xã hội, đây cũng là một trong những nhân tốảnh hưởng đến mức lương tối thiểu theo vùng, tuy nhiên trong giai đoạn trước mắtchưa nên đưa yếu tố này vào lương tối thiểu mà đưa ra những chính sách khác nhưphụ cấp thu hút, phụ cấp đặc biệt để phục vụ cho mục đích chính trị- kinh tế- xã hộitrong những giai đoạn nhất định

2.3 Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu ngành.

Mục tiêu của mức lương tối thiểu theo ngành nhằm bảo đảm khả năng tái sảnxuất sức lao động cho lao động với yêu cầu mức độ phức tạp và trình độ tay nghềthấp nhất trong một ngành mà các yếu tố này chưa thể hiện ở mức tiền lương tốithiểu chung Mức lương tối thiểu ngành là cơ sở để trả công lao động trong từngngành cụ thể và góp phần loại trừ các yếu tố lợi thế tạo ra sự cạnh tranh không côngbằng giữa các ngành

Phương pháp xác định thường dựa trên mức lương tối thiểu chung và điều kiệnriêng của ngành để qui định mức lương tối thiểu ngành Khác với mức tiền lương tốithiểu chung cần phải quy định thống nhất, mức tiền lương tối thiểu ngành được qui địnhtuỳ theo điều kiện của từng ngành và khả năng thoả thuận trong từng ngành

Thực tế ở Việt Nam hiện nay chưa xác định tiền lương tối thiểu ngành, màtiền lương tối thiểu ngành được hiểu trùng với mức lương bậc 1 (mức lương thấpnhất) của ngành, bởi vì trên thực tế chúng ta chưa có thoả ước lao động ngành vàcông đoàn chưa thành lập và hoạt động theo ngành Mặt khác về mặt kỹ thuật việcchọn đối tượng để áp dụng mức lương tối thiểu cũng là vấn đề phải nghiên cứu Nếuchọn đối tượng là lao động kỹ thuật, có đào tạo trong một nghề cụ thể ở mức độ phứctạp thấp nhất thì đối tượng đó lại không phải là lao động giản đơn để xác định mứclương tối thiểu Còn nếu chọn lao động giản đơn không qua đào tạo thì lại trùng vớiđối tượng áp dụng mức lương tối thiểu

Trang 30

3 Phương pháp điều chỉnh tiền lương tối thiểu.

3.1 Các nguyên tắc điều chỉnh tiền lương tối thiểu.

Trên cơ sở đánh giá tác động, chính phủ lựa chọn phương án điều chỉnh tiềnlương tối thiểu tối ưu nhất Tuy nhiên, việc điều chỉnh lương tối thiểu phải tuân thủcác nguyên tắc khách quan và phù hợp với cơ chế thị trường Thông thường, có 3nguyên tắc mà quốc gia nào cũng phải tuân theo là:

- Mức lương tối thiểu được điều chỉnh khi giá tiêu dùng được tính trong cơcấu tiền lương tối thiểu tăng làm ảnh hưởng đến tiền lương thực tế;

- Mức lương tối thiểu được điều chỉnh khi mức thu nhập chung của toàn xãhội tăng lên theo mức tăng năng suất lao động xã hội và mức tăng trưởng kinh tế

- Điều chỉnh mức lương tối thiểu phải phù hợp với nền kinh tế, đảm bảo quan

hệ hợp lý giữa tích lũy và tiêu dùng

Đối với Việt Nam, ngoài 3 nguyên tắc trên, trong điều kiện mức lương tốithiểu còn thấp, chưa đủ sống và có nhiều mức lương tối thiểu khác nhau giữa các loạihình doanh nghiệp, trong thời gian qua Chính phủ điều chỉnh tiền lương tối thiểu vớimục tiêu tiếp cận dần nhu cầu mức sống tối thiểu của người lao động và tiến dầnthống nhất áp dụng các mức lương tối thiểu theo vùng cho các loại hình doanhnghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài)

3.2 Phương pháp điều chỉnh tiền lương tối thiểu.

Điều chỉnh mức lương tối thiểu theo chỉ số giá tiêu dùng để đảm bảo tiềnlương thực tế là yêu cầu đầu tiên và rất quan trọng trong chính sách tiền lương tốithiểu quốc gia Để điều chỉnh cần thiết phải có các thông tin về diễn biến sức mua từthu nhập của người lao động

Về mặt phương pháp, trong những thời kỳ nhất định, có thể lựa chọn kết hợpđiều chỉnh mức lương tối thiểu theo yếu tố trượt giá và theo mức độ tăng trưởng kinh

tế Tuy nhiên, nhiều nước thực hiện việc điều chỉnh mức lương tối thiểu bằng hoặcthấp hơn một chút so với tỷ lệ tăng giá tiêu dùng (CPI) và thấp hơn mức tăng trưởngkinh tế nhằm đảm bảo tăng lương tối thiểu không tác động xấu đến tăng giá (lạmphát) và vượt quá khả năng của nền kinh tế

Trang 31

Thông thường, mức lương tối thiểu được điều chỉnh hàng năm Trong một sốtrường hợp thì không có sự điều chỉnh nhưng phải có sự giải trình về lý do khôngđiều chỉnh Điều chỉnh hàng năm thường dựa vào những thay đổi về chỉ số giá sinhhoạt nhưng hai chỉ số này không hoàn toàn giống nhau về mặt tỉ lệ Khi đưa ra mộtquyết định điều chỉnh mức lương tối thiểu cần phải chọn thời điểm thực tế để việcđiều chỉnh tăng lương có hiệu lực Lý tưởng là có một khoảng cách (có thể vài batháng) giữa ngày đưa ra quyết định tăng lương tối thiểu và ngày áp dụng mức lươngtối thiểu mới Ví dụ, quyết định mức lương tối thiểu mới được đưa ra vào ngày 1/10nhưng đến 1/1 năm sau mới có hiệu lực thực hiện.

Việc điều chỉnh mức lương tối thiểu trong một thời kỳ dài, chắc chắn sẽ tạo ramột khoảng cách giữa mục tiêu ban đầu của tiền lương tối thiểu với việc thực hiện nótrong thực tế Chẳng hạn, trong trường hợp tiền lương tối thiểu được ấn định sau mộtcuộc điều tra nhu cầu cơ bản, ngay cả khi những điều chỉnh định kỳ được thực hiệnnhằm duy trì sức mua của tiền lương tối thiểu thì sau 10 hoặc 15 năm, hầu như chắcchắn rằng tiền lương tối thiểu hiện tại cũng không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản mới.Thông thường người ta hy vọng rằng với sự phát triển kinh tế, các kiểu mẫu tiêudùng cũng tiến hóa Do đó, sau một thời kỳ 10 đến 15 năm, dường như cần thiết phảixem xét lại hệ thống tiền lương tối thiểu cho phù hợp với điều kiện mới Việc xemxét định kỳ như vậy là cần thiết làm cho hệ thống tiền lương tối thiểu thích nghi vớinhững thay đổi nhất định của thị trường lao động

Trang 32

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

I.CÁC LOẠI HINH DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1 Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

Theo Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông quangày 29/11/2005 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 thì doanhnghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện cáchoạt động kinh doanh

Trong các niên giám thống kê hàng năm của Tổng cục Thống kê thì doanhnghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, được thành lậptheo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tưtrực tiếp nước ngoài hoặc theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với chínhphủ nước ngoài

Về loại hình doanh nghiệp, hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xácđịnh loại hình doanh nghiệp Xét về quy mô doanh nghiệp thì có thể phân chia cácloại hình doanh nghiệp ở Việt Nam thành doanh nghiệp có quy mô lớn, doanh nghiệp

có quy mô vừa và doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trong đó doanh nghiệp có quy môvừa là những doanh nghiệp có dưới 300 lao động và vốn kinh doanh dưới 10 tỷđồng, doanh nghiệp có quy mô nhỏ là doanh nghiệp có dưới 10 lao động3

Xét theo tính chất sở hữu vốn kinh doanh (Tổng cục Thống kê vẫn sử dụng đểthống kê doanh nghiệp) thì các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: doanhnghiệp nhà nước (doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp do Nhà nướcnắm giữ trên 50% vốn điều lệ do Trung ương hoặc địa phương quản lý), doanhnghiệp ngoài nhà nước (doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệpkhác) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài và doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài)

3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 33

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế được bình đẳng, không phân biệt tính chất sở hữu (sở hữu nhà nước hay sởhữu tư nhân, sở hữu trong nước hay sở hữu nước ngoài), thành phần kinh tế vàngành, nghề kinh doanh Theo đó, các loại hình doanh nghiệp, bao gồm 4 loại: công

ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên); công ty cổ phần;công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân

Hiện nay, tiền lương tối thiểu ở Việt Nam vẫn còn phân biệt giữa loại hìnhdoanh nghiệp theo hình thức sở hữu, thành phần kinh tế (như: doanh nghiệp nhànước, doanh nghiệp ngoài nhà nước hay còn gọi doanh nghiệp dân doanh, doanhnghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và đang trong lộtrình điều chỉnh và hoàn thiện các quy định để thống nhất theo Luật Doanh nghiệpnăm 2005 Vì vậy, loại hình doanh nghiệp ở đây được đề cập chủ yếu theo hình thức

sở hữu và thành phần kinh tế

2 Sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam.

Việc đổi mới chính sách quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là việc ban hành LuậtDoanh nghiệp, Luật Đầu tư năm 2005 và hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quankhác đã cơ bản hình thành hệ thống pháp luật thống nhất về tổ chức doanh nghiệp, cảicách thủ tục hành chính nói chung và cải cách thủ tục trong khâu gia nhập thị trường củadoanh nghiệp và thực hiện cơ chế một cửa phối hợp giải quyết đăng ký kinh doanh nóiriêng, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO đã tạo thêm động lực cho các nhà đầu tư,doanh nghiệp tích cực tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh

Qua kết quả điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê cho thấy,năm 2005 cả nước chỉ có 112.950 doanh nghiệp thực tế hoạt động, trong đó có 4.086doanh nghiệp nhà nước, 105.167 doanh nghiệp ngoài nhà nước, 3.697 doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, thì đến hết năm 2008 cả nước có 205.732 doanh nghiệpthực tế hoạt động, bằng 1,82 lần so với năm 2005, trong đó có 3.328 doanh nghiệpnhà nước, 196.779 doanh nghiệp ngoài nhà nước và 5.625 doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài4

Tổng số lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp năm 2005 là 6,237triệu người, thì đến năm 2008 là 8,258 triệu người, trong đó số lao động sử dụng

4 Niên giám thống kê năm 2009 của Tổng cục Thống kê

Trang 34

trong doanh nghiệp nhà nước khoảng 1,71 triệu người, chiếm 20,1%; trong doanhnghiệp dân doanh là 4,718 triệu người, chiếm 57,1% và doanh nghiệp FDI là 1,830triệu người, chiếm 22,1%

Vốn sản xuất kinh doanh bình quân một doanh nghiệp năm 2005 là 2,43 tỷđồng thì đến năm 2008 tăng lên 5,833 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp nhà nước bìnhquân 2,44 tỷ đồng, doanh nghiệp ngoài nhà nước là 2,399 tỷ đồng và doanh nghiệpFDI là 0,994 tỷ đồng; Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh bình quân một doanhnghiệp năm 2005 là 19,1 tỷ đồng thì đến năm 2008 tăng lên 26,9 tỷ đồng, trong đódoanh nghiệp nhà nước bình quân 417 tỷ đồng, doanh nghiệp ngoài nhà nước là 16,1

tỷ đồng và doanh nghiệp FDI là 170,4 tỷ đồng

Thu nhập của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp luôn ổn định vàtăng lên qua các năm theo mức độ tăng trưởng và phát triển chung của doanh nghiệp.Mức thu nhập bình quân chung của người lao động năm 2008 đạt 2.630.000 đồng/tháng(trong đó doanh nghiệp nhà nước là 3.150.000 đồng/tháng, doanh nghiệp dân doanh là1.950.000 đồng/tháng, doanh nghiệp FDI đạt 2.750.000 đồng/tháng), tăng 16,9% so vớinăm 2007 và gấp 2,5 lần với năm 2000 (đạt 1.054.000 đồng/tháng) Mức tăng lươngbình quân của các doanh nghiệp giai đoạn 2000 - 2008 khoảng 12,2%/năm

Kết quả nêu trên cho thấy, việc phát triển các loại hình doanh nghiệp đang cótác động tích cực làm thay đổi những cơ cấu kinh tế lớn của nền kinh tế, góp phầnquan trọng trong việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội, như tạo thêm công ăn việclàm, nâng cao thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, khẳng định vai tròđặc biệt của doanh nghiệp trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững kinh tế, giữ vững ổn định đất nước, nângcao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

II THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP.

1 Thực trạng trong doanh nghiệp.

1.1 Thực trạng tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Theo quy định hiện hành của Bộ luật Lao động thì tiền lương tối thiểu baogồm 3 loại hình, gồm: tiền lương tối thiểu chung, tiền lương tối thiểu vùng và tiềnlương tối thiểu ngành Tuy nhiên, thực tế Chính phủ mới quy định tiền mức lương tối

Trang 35

thiểu chung và tiền lương tối thiểu vùng Còn tiền lương tối thiểu ngành chưa có, vìchưa hình thành được thoả ước lao động tập thể ngành5.

1.1.1 Tiền lương tối thiểu chung.

- Về căn cứ, phương pháp xác định tiền lương tối thiểu chung

Theo quy định của pháp luật Lao động thì tiền lương tối thiểu chung là mức

“sàn” thấp nhất do Chính phủ quy định được áp dụng trên phạm vi toàn quốc Cáccăn cứ xác định mức lương tối thiểu chung, gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP),chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và mức tiền công trên thị trường

Tiền lương tối thiểu chung được tính toán trên cơ sở 4 phương pháp: Tính từnhu cầu mức sống tối thiểu của một người lao động làm công việc giản đơn nhấttrong điều kiện lao động bình thường; Tính từ điều tra tiền lương, tiền công của mộtlao động không có chuyên môn, kỹ thuật, làm công việc giản đơn nhất trong điềukiện lao động bình thường; Tính từ khả năng nền kinh tế (GDP) và quỹ tiêu dùng cánhân dân cư; Tính từ chỉ số giá sinh hoạt so với tiền lương tối thiểu tại thời điểmnăm gốc

- Về áp dụng tiền lương tối thiểu chung

Hiện nay, tiền lương tối thiểu chung chủ yếu áp dụng đối với khu vực hưởnglương từ ngân sách nhà nước (tiền lương của cán bộ, công chức bằng mức lương tốithiểu chung nhân với hệ số theo thang lương, bảng lương) và dùng để tính một sốchế độ khác trong các doanh nghiệp nhà nước, cụ thể:

+ Áp dụng để tính các mức lương theo các bảng lương của Cơ quan nhànước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Đơn vị sựnghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của Nhà nước làm cơ sở để trả lương vàtính đúng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

+ Áp dụng để tính các mức lương theo các thang lương, bảng lương củacông ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu100% vốn điều lệ làm cơ sở để tính đúng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp

5 Chính phủ đang giao cho Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện thí điểm việc ký kết thoả ước lao động tập thể ngành đối với ngành Dệt may và ngành Cao su, trong đó có nội dung về lương tối thiểu của ngành

Trang 36

+ Áp dụng để tính trợ cấp đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhànước; Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng tính theo lương tối thiểu chung.

+ Áp dụng để tính tiền lương tối thiểu vùng đối với các loại hình doanhnghiệp, trong đó tiền lương tối thiểu chung được ấn định bằng tiền lương tối thiểuvùng có giá lao động thấp nhất (vùng IV) của doanh nghiệp trong nước

+ Ngoài ra được dùng làm căn cứ (khung trực tiếp) xác định mức điều chỉnhlương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công (mức lương hưu, trợ cấp ưu đãi người cócông đều được điều chỉnh bằng mức tăng lương tối thiểu chung), các chế độ trợ cấp

xã hội khác (khoảng trên 20 chế độ khác nhau)

- Quy định tiền lương tối thiểu chung

Trên cơ sở các căn cứ và phương pháp xác định tiền lương tối thiểu theo quyđịnh của Bộ luật lao động, Chính phủ giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tính toán, xác định tiền lương tối thiểuchung theo 4 phương pháp tiếp cận tiền lương tối thiểu

Tuy nhiên, với phạm vi áp dụng của tiền lương tối thiểu chung chủ yếu đốivới các đối tượng hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước (khoảng trên 6 triệungười cộng với lực lượng vũ trang, trong đó Hành chính, Đảng, đoàn thể: 300.000người; sự nghiệp công: 1,6 triệu người; cán bộ, công chức cấp xã: 300.000 người;hưu trí do Nhà nước bảo đảm 1,5 triệu người; người có công với cách mạng 1,6 triệungười), việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu chung phụ thuộc vào khả năng cân đốicủa ngân sách nhà nước6 Vì vậy, trên cơ sở cân đối khả năng của ngân sách nhànước được bố trí cho các khoản chi hàng năm (chi đầu tư phát triển khoảng 30%tổng chi ngân sách, còn lại là chi thường xuyên, trong đó có chi tiền lương), Chínhphủ quyết định mức điều chỉnh tiền lương tối thiểu chung

Trên thực tế trong quá trình thực hiện, do khả năng của ngân sách nhà nướchạn chế, tiền lương tối thiểu chung do Chính phủ quyết định điều chỉnh thường thấphơn so với kết quả từ các phương pháp tiếp cận và chỉ bằng khoảng 60% – 70% sovới nhu cầu tối thiểu của người lao động Năm 2010, do khả năng cân đối ngân sáchnhà nước, Chính phủ điều chỉnh tiền lương tối thiểu chung từ 650.000 đồng (năm

6 Tổng chi tiền lương, trợ cấp hưu trí và người có công với cách mạng năm 2010 khoảng 175.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 42% so với tổng chi ngân sách (bằng 70% chi thường xuyên) và 45% so với tổng thu ngân sách Với cơ chế như hiện nay thì cứ tăng 10.000 đồng tiền lương tối thiểu chung thì ngân sách nhà nước phải chi thêm khoảng 4.000 tỷ đồng/năm

Ngày đăng: 12/04/2015, 14:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2.1: Tiền lương tối thiểu từ các phương pháp tiếp cận - Hoàn thiện hệ thống tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
Bảng s ố 2.1: Tiền lương tối thiểu từ các phương pháp tiếp cận (Trang 37)
Bảng số 2.3: Tiền lương tối thiểu của các doanh nghiệp theo vùng - Hoàn thiện hệ thống tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
Bảng s ố 2.3: Tiền lương tối thiểu của các doanh nghiệp theo vùng (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w