1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận quy hoạch tổng thể

37 711 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 133,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Vị trí địa lý: Hữu Lũng là huyện nằm ở phía Tây - Nam của tỉnh Lạng Sơn, có toạ độ địa lý từ 21023’ đến 21045’ vĩ độ Bắc, từ 106010’ đến 106032’ kinh độ Đông với diện tích tự nhiên là 806,74 km2. Ranh giới của huyện: - Phía Bắc giáp huyện Văn Quan và huyện Bắc Sơn. - Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên. - Phía Tây Nam và Nam giáp tỉnh Bắc Giang. - Phía Đông giáp huyện Chi Lăng và huyện Lục Ngạn, Lạng Giang tỉnh Bắc Giang. Huyện Hữu Lũng có 26 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn Hữu Lũng và 25 xã (Đồng Tân, Cai Kinh, Hòa Lạc, Yên Vượng, Yên Thịnh, Yên Sơn, Hữu Liên, Sơn Hà, Hồ Sơn, Tân Thành, Hòa Sơn, Minh Hòa, Hòa Thắng, Minh Sơn, Nhật Tiến, Minh Tiến, Đô Lương, Vân Nham, Thanh Sơn, Đồng Tiến, Tân Lập, Thiện Kỵ, Yên Bình, Hòa Bình, Quyết Thắng). Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Hữu Lũng, cách thành phố Lạng Sơn 70 km về phía Nam. Hữu Lũng là một huyện ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng Trung du và miền núi phía Bắc, có đường quốc lộ 1A và đường sắt liên vận Quốc tế chạy qua theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, rất thuận tiện cho việc giao lưu hàng hoá thương mại, dịch vụ với các tỉnh trong nước, các tỉnh phía Nam Trung Quốc cũng như các nước ở phía Bắc Châu Á, tạo điều kiện thuận lợi cho Hữu Lũng trong việc giao lưu hàng hóa, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào sản xuất và đời sống, là điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của việc lập đề án Quy hoạch

Hữu Lũng là một huyện nằm ở phía tây nam tỉnh Lạng Sơn, Huyện có diện tích

804 km2 và dân số là 112.451 người (năm 2009), với 7 dân tộc cùng sinh sống Là một huyện có nhiều tiềm năng và lợi thế

Hữu Lũng cách trung tâm thành phố Lạng Sơn 70km, là địa bàn giáp danh với

Võ Nhai – Thái Nguyên, Yên Thế, Lạng Giang, Lục Ngạn và Lục Nam – Bắc Giang Huyện có hệ thống giao thông đi lại khá thuận tiện, với các tuyến giao thông đi qua như quốc lộ 1A, tỉnh lộ 224 tỉnh lộ 242, huyện có nhiều điều kiện thuận lợi trong trao đổi và giao thương với các cử khẩu như Tân Thanh, Hữu Nghị hay các trung tâm lớn như Hà Nội, Thái Nguyên

Tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của huyện, việc khai thác một số khoáng sản như đá vôi, đất sét phục vụ sản xuất đang là hướng đi mới của huyện Tuy nhiên, việc phát triển KT –XH trên địa bàn huyện vẫn còn chưa xứng với tiềm năng về tự nhiên cũng như điều kiện KT – XH, tỷ trọng ngành nông nghệp cao, chiếm 60,37%, công nghiệp – xây dựng và thương mại - dịch vụ còn chiếm tỷ trọng thấp, chiếm 19,78% và 19,85% GDP huyện năm 2010, trong khi đó với lợi thế về tài nguyên, vị trí địa lý cũng như các yếu tố KT - XH khác huyện Hữu Lũng hoàn toàn có thể phát triển toàn diện KT – XH theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa Bên cạnh đó, công tác quy hoạch trên địa bàn huyện còn chưa được chú trọng, hiện tại chưa có những chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH mà mới dừng lại ở mức độ ngành như quy hoạch sử dụng đất Vì vậy việc thực hiện đề án

“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hữu Lũng giai đoạn

2015-2025, tầm nhìn 2030” sẽ là căn cứ quan trọng giúp lập ra trật tự trong việc sử dụng

một cách hiệu quả những nguồn tài nguyên của huyện, khai thác tối đa tiềm năng cũng như lợi thế về tự nhiên, KT - XH của cho phát triển một cách bền vững

2 Những căn cứ pháp lý để xây dựng đề án Quy hoạch

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng Trung du và miền núi phía Bắc

- Chiến lược phát triển tổng thể kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2000 – 2015, tầm nhìn 2020

Trang 3

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2000-2015.

- Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010-2015

- Quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất tỉnhLạng Sơn giai đoạn 2010-2020

- Quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất huyện Hữu Lũng giai đoạn 2010 – 2020

Trang 4

PHẦN THỨ NHẤT PHÂN TÍCH, DỰ BÁO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

HUYỆN HỮU LŨNG 1.1 Điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Vị trí địa lý của Hữu Lũng quyết định những đặc điểm tự nhiên quan trọng như: nền khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, địa hình đồi núi thấp, tài nguyên khá phong phú… từ đó chi phối đến nhiều hoạt động KT-XH

Vị trí của huyện Hữu Lũng có nhiều lợi thế trong việc phát triển KT-XH, cách

Hà Nội – trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội lớn của cả nước 75km theo quốc lộ 1A và cách thành phố Thái Nguyên – trung tâm của khu vực trung du và miền núi phía bắc 65km theo tỉnh lộ 244 là điều kiện thuận lợi để trao đổi buôn bán, mở rộng thị trường, giao lưu văn hoá, phát triển nguồn nhân lực có trình độ, phát triển nền kinh tế thị trường, công nghiệp hoá hiện đại hoá

Trang 5

1.1.2. Điều kiện tự nhiên:

a Địa hình

Do ảnh hưởng của các quá trình kiến tạo, kết cấu nham thạch cùng sự tác động của các yếu tố ngoại sinh, trên nền địa chất đã ổn định, địa hình gồm ba vùng: vùng núi đá chạy từ Đông - Bắc xuống Đông - Nam, vùng núi đất thuộc các xã phía Đông Nam và Tây Nam, vùng thung lũng ruộng đồng bao gồm các xã chạy dọc quốc lộ 1A

Địa hình của huyện Hữu Lũng là yếu tố quan trọng quyết định hoạt động khai thác và tổ chức lãnh thổ, tại những khu vực địa hình khác nhau sẽ cần có những quy hoạch cụ thể khác nhau để đảm bảo phát triển phù hợp với địa phương Do địa hình phân hoá như trên, nên Hữu Lũng tập trung phát triển công nghiệp và thương mại - dịch vụ ở khu vực ven quốc lộ 1A và phát triển nông lâm nghiệp ở xung quanh

Trang 6

b Khí hậu

Khí hậu trên địa bàn huyện thuộc tiểu vùng khí hậu núi thấp phía Nam của tỉnh Lạng Sơn Có nền nhiệt độ trung bình hàng năm 22,70C, lượng mưa lớn bình quân hàng năm từ 1.500 - 2.000 mm, độ ẩm cao 83% Điều kiện khí hậu có vai trò quan trọng phát triển KT – XH, đặc biệt là phù hợp với một số loại vật nuôi cây trồng, đảm bảo cho cây trồng đủ ẩm và nhiệt phát triển Hữu Lũng có đặc điểm khí hậu là không nhiều các hiện tượng thời tiết thất thường như sươg muối, băng tuyết, sạt lở, lũ quét như một số khu vực khác của tỉnh Lạng Sơn nên sản xuất ổn định, đời sống cùng với

cơ sở hạ tầng ít chịu ảnh hưởng Tuy nhiên, là khu vực cùng có mùa đông lạnh nhưng lại có tính chuyển tiếp giưa trung du miền núi và đồng bằng nên có thời gian mùa hè thời tiết có những đợt nóng nhiệt độ lên rất cao, cùng với ẩm thấp nên là khu vực dễ xảy ra dịch bệnh

c Thuỷ văn

Hệ thống sông, suối của huyện khá phong phú; trên địa bàn huyện có 2 con sông lớn chảy qua là: hệ thống sông Thương với chiều dài sông 157 km và sông Hoá dài 47 km bắt nguồn từ vùng núi Khuổi Ma cao 670 m ở huyện Chi Lăng Trên sông hoá còn có hồ Cấm Sơn có khả năng giữ nước phát điện và phát triển thủy sản Ngoài

hệ thống sông, trên địa bàn huyện còn có nhiều con suối, khe dọc ở triền đồi, ven bản, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện

Lượng nước ngầm trên địa bàn đang tromg quá trình khỏ sát điều tra để đưa ra con số cụ thể,tuy nhiên, theo đánh giá Hữu Lũng có trữ lượng khá lớn, đây cũng là điều kiện thuật lợi góp phần phát triển kinh tế

d Thổ nhưỡng

Đất trên địa bàn huyện có 4 loại đất chính: đất đỏ vàng trên đá sét (Fs) 18.691

ha, đất vàng nhạt trên đá cát (Fq) 9.021 ha, đất vàng đỏ trên đá mácm axit (Fa) 7.080

ha, đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv) 4.350 ha Đây là điều kiện tiền đề cho phát triển kinh tế, đặc biệt là nông lâm nghiệp

e Sinh Vật

Huyện Hữu Lũng có tài nguyên sinh vật khá phong phú Trong địa bàn huyện

có rừng đặc dụng Hữu Liên, Tài nguyên thực vật trong khu rừng đặc dụng Hữu Liên phong phú và đa dạng Ngoài kiểu thảm thực vật rừng là: "Rừng kín thường xanh mưa

Trang 7

ẩm nhiệt đới núi thấp" còn có sự đa dạng về thành phần loài thực vật bậc cao mạch Theo kết quả điều tra giám định và lập danh mục thực vật của các chuyên gia thực vật, trong khu rừng đặc dụng Hữu Liên bao gồm 776 loài, 532 chi, 161 họ, 5 ngành thực vật Tại khu rừng đặc dụng Hữu Liên có 409 loài động vật thuộc 88họ, 24bộ, thuộc các lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái, trong đó: Lớp thú có 61 loài thuộc 21 họ, 7 bộ, lớp chim có 239 loài thuộc 49 họ, 14 bộ, lớp bò sát có 67 loài thuộc 12 họ, 1 bộ, lớp ếch nhái có 42 loài thuộc 6 họ, 1 bộ Tuy nhiên, công tác bảo tồn và quản lý còn nhiều hạn chế khiến cho các loài sinh vật gặp nhiều điều kiện bất lợi cho sinh trưởng và phát triển.

1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên:

- Tài nguyên đất:

Tổng diện tích đất tự nhiên trên địa bàn huyện là 78.926 ha, chủ yếu là đồi núi thấp, trong đó: diện tích đồi núi đá có: 33.056 ha, chiếm 41,9% diên tích đất tự nhiên; diện tích đồi núi đất 45.223 ha, chiếm 57,3% Diện tích đất cùng với các nhóm đât tạo điều kiện cho phát triển nhiều loại cây trồng khác nhau như lúa, ngô, lạc thuốc lá… và ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng sinh học tại địa phương

Theo số liệu năm 2005 tổng diện tích đất đang sử dụng của huyện là 43.760 ha, chiếm 55,4% diện tích đất tự nhiên Trong đó đất nông nghiệp 14.310 ha, chiếm 32,7% diện tích đất đang sử dụng, đất lâm nghiệp 25.940 ha, chiếm 59,3%, đất ở 700 ha Diện tích đất chưa sử dụng là 35.166 ha, trong đó đất có khả năng sử dụng phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp là 12.689 ha

- Tài nguyên nước:

Nước đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và sinh hoạt, lượng nước dồi dào đảm bảo cho nhu cầu của toàn huyện Các hoạt động sản xuất luôn được đáp ứng đầy

đủ và kịp thời cả vàonhững thời điểm khô hạn nhất tại dịa phương Tuy nhiên, việc sử dụng vẫn còn nhiều vến đề chưa hợp lý khiến tài nguyên nước bị lãng phí và trên đà suy giảm cả về chất lượng và số lượng

- Tài nguyên khoáng sản:

Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện gồm có đá vôi với hàm lượng CaO = 55%, trữ lượng khoảng 14 triệu tấn; có đất sét trữ lượng khoảng 9,8 triệu tấn, là những nguyên liệu chủ yếu sản xuất xi măng Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có nguồn cát,

Trang 8

sỏi được phân bổ ở các xã ven đường quố lộ 1A là nguồn nguyên liệu để phát triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng của huyên và tỉnh.

- Tài nguyên rừng:

Rừng tại Hữu Lũng có diện tích khá lớn, chỉ tính riêng khu vực rừng đặc dụng Hữu Liên đã có tổng diện tích là 10.604 ha, trong đó có 7.436,6 ha thuộc diện khoanh nuôi, bảo vệ, được coi lá phổi của vùng Đông Bắc trong đó có nhiều loài cây nguyên sinh quý hiếm như nghiến, lim, sến táu…Diện tích đất có rừng phát triển nhanh, bình quân hàng năm trồng mới được từ 1.300 đến 1.500 ha, nâng tổng diện tích 5 năm lên 7.235 ha Bảo vệ rừng năm 2012 đạt 10.850 ha; khoanh nuôi tái sinh đạt 14.065 ha; tỷ

lệ độ tre phủ rừng 37% Tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong điều tiết vi khí hậu địa phương, bảo vệ đa dạng sinh học, chống xói mòn đất… nhưng hiện nay còn chưa được bảo vệ và khai thác hợp lý

1.1.3 Môi trường

Vấn đề môi trường tại địa bàn Hữu Lũng còn khá nhiều bất cập trong thời gian gần đây, đặc biệt là khu vực thị trấn Mẹt Lượng rác thải tại thị trấn còn thiếu quy hoạch tập trung, rác thải sinh hoạt sau khi được công ty môi trường thu gom còn chất đống lớn ở ven bờ sông hai bên đầu cầu Mẹt, khiến khúc sông Trung ở khu vực này ngày càng nhiễm bẩn

Do hoạt động khai thác đá để sản xuất xi măng và cung cấp cho xây dựng nhưng còn khá thủ công, các giai đoạn như nổ mìn hay vận chuyển còn gây ra lượng bụi lớn, ảnh hưởng đến chất lượng môi trường

Môi trường đất có nguy cơ ô nhiểm cao, do hoạt động sản xuất và sinh hoạt xả nước thải và chất thải trực tiếp vào đất

Trong thời gian tới, các hoạt động sản xuất công nghiệp gia tăng, rác thải do hoạt động dân sinh ngày một lớn, nguy cơ ô nhiễm môi trưòng trên địa bàn huyện Hữu Lũng là rất cao

1.2 Đặc điểm dân số, dân cư và nguồn lao động

Theo kết quả của tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số huyện hữu Lũng là 112.451 người (năm 2009) trong đó khoảng 68% dân số thuộc dân tộc ít người, mật độ là 140 người/km2, dân số tập trung đông ở khu vực thị trấn Mẹt và vài

xã lân cận thị trấn như Sơn Hà, Đồng Tân Tỷ lệ gia tăng dân số của huyện là khoảng

Trang 9

1,12%/năm chủ yếu là gia tăng dân số tự nhiên, mật độ và tốc độ gia tăng tương đương với trung bình cả nước.

Dân cư tại huyện còn phân bố không đồng đều, khu vực thị trấn Mẹt mật độ lên đến 350 người/km2, nhưng một số xã vùng 3 như Thiện Kỵ chỉ khoảng 80 người/km2, cùng với dân cư là người dân tộc thiểu số đông dẫn đến những khó khăn trong công tác quy hoạch tổng thể, sự mất cân đối giữa các địa phương

Trên địa bàn huyện, lực lượng lao động khá đông, chiếm khoảng 67,3% dân số

Số lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp 8%, lao động chưa có việc làm chiếm 9,2% Số lao động ở thành thị chiếm 12% tổng số lao động trong độ tuổi Lao động hoạt động trong ngành nông lâm nghiệp là 55.397 người chiếm 73,2%; công nghiệp là 8.703 người chiếm 11,5%; thương mại dịch vụ 11.579 người, chiếm 15,3% Do còn hạn chế và trình độ nên lao động tham gia sản xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao, việc nâng cao tay nghề của người lao động và thay đổi cơ cấu lao động theo ngành, phù hợp với tình hình phát triển KT – XH là vấn đề đáng quan tâm Trong thời gian tới, số lao động có khả năng sẽ tăng lên cả về số lượng và chất lượng đòi hỏi cần có những chính sách kịp thời nhằm ổn định và phát triển huyện về mọi mặt

4 Hệ thống kết cấu hạ tầng của huyện

4.1 Hiện trạng mạng lưới giao thông

Hữu Lũng hiện có quốc lộ 1A chạy dọc huyện theo hướng Bắc – Nam khoảng 40km, có hệ thống đường tỉnh lộ 242, còn có mạng lưới giao thông nông thôn khá dày đặc với 774,5 km và có kkhoảng 75km đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn đi qua địa bàn huyện dừng nghỉ tại ga Bắc lệ

Theo đánh giá của Đề án Phát triển cơ sở hạ tầng, năm 2006 – 2007 các xã Nhật Tiến, Sơn Hà, Đồng Tân, Cai Kinh Minh Sơn bê tông hóa được 354,1km đường giao thông nông thôn Đến hết năm 2005 đã xây dựng được 6/7 cầu lớn có giá trị 0,7 tỷ đồng, cầu Yên Bình khởi công vào năm 2006 và đã hoàn thành năm 2007 Đến nay hầu như tất cả các xóm đã có đường cho xe cơ giới đến trung tâm

Về cơ bản, giao thông của huyện Hữu Lũng thuận tiện cho đi lại và phát triển giao lưu giữa các địa phương Đây là điều kiện quan trọng đối với sự phát triển có tình đồng bộ và hiệu quả hơn so với các huyện khác trong tỉnh

4.2 Hệ thống thuỷ lợi

Trang 10

Hiện nay toàn huyện có 31 trạm bơm, trong thời gian qua bằng nhiều nguồn vốn khác nhau Hữu Lũng đã xây dựng được 96 công trình thủy lợi lớn, nhỏ (31 trạm bơm; 5 hồ; 5 đập; 41 ao đầm; 14 phai), hàng trăm km kênh mương dẫn nước và kênh nội mương đồng, đảm bảo tưới tiêu cho mùa vụ Tuy nhiên nhiều công trình thủy lợi

đã bị xuống cấp, hiệu quả tưới tiêu giảm, cần sửa chữa

Hệ thống thuỷ lợi có vai trò quan trọng trong đảm bảo sản xuất nông nghiệp của huyện, đặc biệt khimà huyện đang chú trọng phát triển cả 3 vụ sản xuất trong năm, vào

vụ đông hệ thống thuỷ lợi hoạt động liên tục với tần suất cao đã góp phần đem lại giá trị lớn trongmùa vụ này

4.3 Hiện trạng mạng lưới điện

- Giai đoạn 2005 – 2009 đạt 100% số xã có điện lưới quốc gia đến nay có 95%

số hộ được dùng điện; huyện đang đầu tư các TBA chống quá tải ở các xã để phấn đấu 100% số hộ được dùng điện Tổng vốn đầu tư cho các công trình điện từ 2005 – 2009 đạt 36,35 tỷ đồng (chủ yếu là vốn của ngành điện) Bình quân hàng năm lượng điện do ngành điện cung cấp cho tiêu thụ vào khoảng 25 - 27 triệu KW/giờ, đạt 100% kế hoạch, giá thành điện ổn định; tổng số TBA đến nay là 71 trạm

+ Các công trình điện hạ thế 0,4 KV trên địa bàn (78,42 km) gồm có: Nhật Tiến, Minh Tiến, Hoà bình, Yên Bình, tổng vốn đầu tư 4,5 tỷ đồng;

+ Các đường dây trung thế có 3 cấp (35 KV, 22 KV, 10KV), cấp 35 KV là 88,216 km (TBA Bụt; TBA Cã đã hoàn thành vốn đầu tư 3,01 tỷ đồng); cấp 22 KV có 30,521 km; cấp 10 KV có 49,345 km

+ Hệ thống điện chiếu sáng thị trấn Mẹt, và xã Đồng Tân đã hoàn thành với vốn đầu tư 0,9 tỷ đồng

Ngoài ra ngành điện cũng đã xây dựng các trạm 160 – 180 KVA tại các trạm Bắc Lệ, Suối Ngang, Quyết Thắng, Đô Lương với tổng số vốn khoảng 0,8 tỷ đồng

Mạng lưới điện trong huyện đang ngày càng hoàn thiện góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân và nâng cao năng suất lao động trên địa bàn huyện

4.4 Hệ thống cấp - thoát nước

- Hệ thống cấp nước sạch:

+ Hiện tại trên địa bàn cấp nước sạch chủ yếu là nước giếng khoan Năm 2007 huyện đã đầu tư xây dựng được 406 công trình cấp nước sinh hoạt, nâng tổng số công

Trang 11

trình nước sạch được hỗ trợ lên 565 công trình (đạt 98,6% kế hoạch) và đã xây dựng hoàn thiện được các công trình cấp nước sạch cho các thôn bản.

+ Công trình cấp nước sạch thị trấn Mẹt với công suất 1.200m3/ngày, đêm đang

có kế hoạch triển khai xây dựng năm 2008 (có thể nâng công suất lên khoảng 3000m3/ngày, đêm), dự kiến cuối năm 2014 đưa vào sử dụng, dự kiến cung cấp nước cho dân thị trấn và các xã lân cận (khoảng 2.500 - 3000 hộ), tổng vốn đầu tư ước đạt 9,0 tỷ đồng

+ Về chất lượng: đa phần nước cấp tại các nguồn: nước ngầm, nước tự chảy đều khá tốt, tuy nhiên tại các xã Đồng Tân, Sơn Hà nguồn nước mặt cũng đã bị ô nhiễm sắt, đá vôi, ô nhiễm nhiều nhất là khu vực thị trấn Mẹt vì đông dân, nguồn nước bị ô nhiễm do một số cơ sở sản xuất

- Hệ thống thoát nước:Đa phần trên địa bàn huyện và thị trấn thoát nước vẫn là

tự chảy Đây cũng là nguồn gây ô nhiễm nguồn nước mặt khá trầm trọng cho các công trình cấp nước sinh hoạt

Có thể nhận thấy, vấn đề nước sạch trên địa bàn chưa thực sự nóng, nhưng với tình hình phát triển KT – XH hiện nay của huyện thì trong tương lai nếu ko quy hạch hợp lý và có biện pháp xử lý môi trường thì đây sẽ là bà toán nan giải cho địa phương này

1.4 Đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội

1.4.1 Phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế

vụ tăng từ 11,1% năm 2005 lên 19,85% năm 2012

- Ngành nông, lâm nghiệp:

Sản xất nông, lâm nghiệp đạt được những kết quả đàng khích lệ, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm tăng 6,55%, trong đó: nông nghiệp tăng 7,15%, lâm nghiệp tăng 3,1% Cơ cấu của ngành đã có sự chuyển dịch, năm 2005 tỷ trọng của ngành nông nghiệp chiếm 78,4%, lâm nghiệp chiếm 21,6% Sản xuất lương thực đạt kết quả tốt, sản

Trang 12

lượng tăng từ 37.100 tấn năm 2005 lên 45.302 tấn năm 2010, với nhịp độ tăng bình quân 4,9% Năm 2010 bình quân lương thực đầu người đạt 441 kg, đảm bảo an toàn lương thực trên địa bàn.

Trong ngành trồng trọt cây lương thực chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu với 69,6% về diện tích, 55% về giá trị sản lượng Sản lượng lúa bình quân hàng năm tăng 5,6%, năng suất bình quân đạt 34 tạ/ha Cây công nghiệp ngắn ngày chiếm 19% về diện tích, trong đó chủ yếu là đậu đỗ, lạc, thuốc lá

Về chăn nuôi, có nhịp độ tăng trưởng khá: bình quân hàng năm đàn trâu tăng 2,6%, đàn bò tăng 14%, đàn lợn 34,8% Giá trị tăng thêm năm 2005 đạt 42.822 triệu đồng, chiếm 27,7% ngàng nông, lâm nghiệp Tổng sản lượng thịt gia súc, gia cầm tăng

từ 5.379 tấn năm 2005 lên 7.246 tấn năm 2012

Ngành lâm nghiệp có bước phát triển khá, giá trị tăng thêm năm 2012 đạt 49.573 triệu đồng, chiếm 25,6% ngành nông, lâm nghiệp Diện tích đất có rừng phát triển nhanh, bình quân hàng năm trồng mới được từ 1.300 đến 1.500 ha, nâng tổng diện tích 5 năm lên 7.235 ha Bảo vệ rừng năm 2012 đạt 10.850 ha; khoanh nuôi tái sinh đạt 14.065 ha; tỷ lệ độ tre phủ rừng 37%

- Sản xuất công nghiệp:

Với mục tiêu phát triển cụm công nghiệp Hữu Lũng vào năm 2016, sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện có bước phát triển khá, giá trị tăng thêm năm 2012 đạt 40.112 triệu đồng, chiếm 19,8% tổng GDP của huyện, trong đó: công nghiệp quốc doanh đạt 23.638 triệu đồng, chiếm 58,9% giá trị gia tăng ngành công nghiệp; công nghiệp tỉnh, trung ương đầu tư đạt 19.876 triệu đồng, chiếm 49,6% tập trung vào các lĩnh vực sản xuất xi măng và hoá chất Công nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu tập trung vào ngành vật liệu xây dựng va cơ khí nhỏ

Năm 2012, công nghiệp khai thác nguyên liệu đạt 10.359 triệu đồng, chiếm 25,8% trong giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp, sản phẩm chủ yếu là quặng fôtforit, đá, cát, ; công nghiệp sản phẩm cơ khí - hoá chất đạt 1.896 triệu đồng, chiếm 4,7%, gồm các sản phẩm chủ yếu là công cụ cầm tay, kem giặt, bột nhẹ; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đạt 13.017 triệu đồng, chiếm 32,5%, sản phẩm chủ yếu là xi măng, gạch, vôi; công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm đạt 3.883 triệu đồng, chủ yếu chế biến cà phê, hoa quả, chế biến thức ăn gia súc; công nghiệp phân phối điện nước đạt 2.963 triệu đồng

Trang 13

- Ngành dịch vụ:

Ngành dịch vụ của huyện phát triên chậm, giá trị tăng thêm năm 2012 đạt 43.254 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 16% tổng GDP của huện, phản ánh các hoạt động thương mại dịch vụ chưa phát triển, các mối giao lưu về kinh tế còn quá ít, nguồn thu ngân sách không cao, các chi phí cho hoạt động về văn hoá, xã hội thấp Trong đó giá trị sản xuất tăng thêm của ngành thương mại, sửa chữa, khách sạn nhà hàng đạt 23.036 triệu đồng, chiếm 53,2% tổng giá trị gia tăng của ngành Giá trị thu về ngành thương mại tập trung chủ yếu ở hai trung tâm lớn là thị trấn Mẹt và khu vực chợ Phổng, còn lại các khu vực khác chưa có các hoạt động thương mại và dịch vụ gì đáng kể, điều đó hạn tới sự phát triển đông đều ở các khu vực của huyện

Du lịch tại Hữu Lũng chưa phát triển, do tài nguyên du lịch hạn chế, điểm du lịch được biết đến và thu hút khách du lịch là đền Bắc Lệ, xã Tân Thành nhwung còn mang tính mùa vụ, chủ yếu khách tập trủng vào tháng giêng, hai

Nhìn chung, Hữu Lũng có thế mạnh để phát triển ngành nông, lâm nghiệp, đặc biệt là các phát triển các loại cây dài ngày Với điều kiện về địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, đặc điểm khí hậu có thời gian khô đúng vào thời kỳ các loại cây dài ngày ra hoa (như: vải, nhãn, cà phê, cam, ), cộng với biên độ nhiệt ngày đêm chênh lệch cao, là yếu tố rất thuận lợi để phát triển các loại cây trồng dài ngày có giá trị kinh tế cao (như:

na, sấu, mơ, mận, dứa, chè,…) Hàng năm sản lượng na thu hoạch đạt khoảng 1.000 -

2000 tấn, nhãn 500 - 600 tấn, vải 4 - 5 nghìn tấn

Dựa trên thực trạng phát triển kinh tế của huyện Hữu Lũng, có thể nhận thấy nông lâm nghiệp vẫn giữ tỷ trọng cao, tuy nhiên, ngành thương mại - dịch vụ là lĩnh vực kinh tế có nhiều lợi thế của huỵên nhưng chưa được tập trung phát triển tương xứng, với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống đường giao thông thuận lợi, nằm trên trục đường quốc lộ 1A nối Hà Nội với thành phố Lạng Sơn và có đường sắt liên vận quốc tế chạy dọc theo chiều Bắc - Nam, đã tạo cho Hữu Lũng trở thành điểm nối giao lưu kinh

tế giữa các tỉnh đồng bằng sông Hồng với thành phố Lạng Sơn và các địa phương của Trung Quốc Hàng năm khối lượng hàng hoá vận chuyển qua địa bàn huyện rất lớn

Ngoài ra, với nguồn tài nguyên khá phong phú, nguyên liệu sẵn có, công nghiệp cũng là ngành có tiềm năng phát triển với một số ngành chủ chốt là sản xuất vật liệu xây dựng và khai khoáng tuy nhiên cần có chiến lược cụ thể để đảm bảo tận dụng tài nguyên, tiết kiệm chi phí, bảo đảm môi trường trong quá trình phát triển

Trang 14

1.4.2 Phân tích, đánh giá thực trạng xã hội

- Giáo dục: Tỷ lệ xét tốt nghiệp hoàn thành chương trình bậc tiểu học đạt

99,8%, xét tốt nghiệp trung học cơ sở đạt: 99,5%, phổ thông trung học đạt: 82,7%, trung học bổ túc văn hoá đạt: 55% Tỷ lệ học sinh khá, giỏi tăng hơn các năm trước Năm học 2009 - 2010 toàn huyện có 81 đơn vị trường học đóng trên địa bàn với tổng

số hơn 28 nghìn học sinh sinh viên Có 8 trường học đạt chuẩn quốc gia (Ở tiểu học và THCS) Huyện có 3 trường THPT với tổng số 3.696 học sinh ( Có 1 trường THPT dân lập) có 1 trung tâm GDTX cấp tỉnh Chất lượng giảng dạy và trình độ đội ngũ giáo viên được nâng cao, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy có sự chuyển biến tích cực Các chương trình xã hội được quan tâm đẩy mạnh

- Y tế: Hệ thống khám chữa bệnh từ huyện đến cơ sở được củng cố và phát triển,

hiện toàn huyện có 100% số xã, thị trấn có cán bộ y tế, các cơ sở khám chữa bệnh ở tuyến huyện, tuyến xã được kiện toàn, đầu tư cả về con người, trang thiết bị đã dần đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường, chất lượng công tác khám chữa bệnh từng bước được nâng lên Các chính sách ưu tiên miễn viện phí cho đồng bào các dân tộc ở các cơ sở khám, chữa bệnh Nhà nước được thực hiện nghiêm túc Hiện toàn huyện có 1 trung tâm y tế huyện, 25 trạm y tế cơ sở

- Văn hóa: Huyện Hữu Lũng là nơi có nhiều lễ hội như hội chợ Mẹt (Thị trấn

Hữu Lũng) tổ chức ngày 12 tháng giêng, ngày 27 tháng 3 âm lịch, ngày 12 tháng 8 âm lịch; hội chợ Phổng (xã Vân Nham) tổ chức vào ngày 20 tháng giêng; hội chợ Bắc Lệ (xã Tân Thành) tổ chức vào ngày 15 tháng giêng Có nhiều hội đền như hội đền Bắc

Lệ (xã Tân Thành), đền Suối Ngang (xã Hoà Thắng), đền Quan Giám Sát và đền 94 (xã Hoà Lạc), đền Ba Nàng (xã Cai Kinh); hội Trò Ngô (xã Yên Thịnh) Các lễ hội đang ngày càng được quan tâm để tạo điều kiện phát huy bản sắc và quảng bá hình ảnh củađịa phương, góp phần nâng cao ý thức và đời sống của nhân dân trên địa bàn

Tình hình phát triển văn hoá – xã hội của huyện đang có ngững bước tiến mới,

về cơ bản các hoạt động văn hóa, y tế, giáo dục đều được chú trọng đầu tư phát triển, đời sống của người dân ngày một cải thiện Trong tương lai, Hữu Lũng không chỉ là điểm phát triển về kinh tế của tỉnh mà sẽ là nơi được biết đến bởi sự phát triển toàn diện KT – XH

1.5 Phân tích, dự báo ảnh hưởng của các yếu tố quốc tế, trong nước và các yếu

tố phát triển khác đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện Hữu Lũng

Trang 15

1.5.1 Phân tích, dự báo tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực có tác động trực tiếp đến nền kinh tế huyện Hữu Lũng

Việt Nam đã và đang hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Có thể nói

KT-XH Việt Nam đã và đang trở thành một bộ phận cấu thành, không thể tách rời khỏi hệ thống kinh tế - chính trị thế giới Các xu thế toàn cầu hóa kinh tế; khu vực hóa (hình thành các khối hợp tác kinh tế) nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế; Tự do hóa thương mại và đầu tư; vai trò của các tập đoàn kinh tế lớn xuyên quốc gia; sự xuất hiện và nổi lên của kinh tế tri thức… diễn ra trên thế giới có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến KT-XH Việt Nam nói chung và Hữu Lũng nói riêng

Đặc biệt, với vị trí nằm ở tỉnh có biên giới với Trung Quốc trong tình hình Việt Nam và Trung Quốc có nhiều căng thẳng về vấn đề Biển Đông, dù không có cửa khẩu nhưng các hoạt động trao đổi hàng hoá gặp nhiều khó khăn từ phía người dân 2 bên, các tuyến hàng từ miền nam ra qua địa bàn huyện lên các cử khẩu còn ùn tắc, hàng hoá hỏng bị đổ ven quốc lộ gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của người dân trên địa bàn và sức ép tâm lý trong bối cảnh căng thẳng của 2 nước

Trong tương lai, khi tận dụng hoàn toàn những lợi ích mà hội nhập đem lại, các mối quan hệ song phương và đa phương được cải thiện và mở rộng, đặc biệt là mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, kết hợp với ý nghĩa của vị trí địa lý, sẽ là điều kiện quan trọng để nền kinh tế Hữu Lũng có những bước tiến mới

1.5.2 Phân tích, dự báo tác động của bối cảnh trong nước đến phát triển kinh tế -

xã hội huyện Hữu Lũng

Nền kinh tế đất nước ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, nền kinh tế trì trệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, nếu trước khủng hoảng kinh tế Việt Nam tăng trưởng tốc độ khoảng 7,5% thì sau khủng hoảng tốc độ là 4,5 đến 5%, với tình hình đó kinh tế của Hữu Lũng cũng có những sự thay đổi đáng kể các cơ sở sản xuất thay đổi hình thức sản xuất để thích ứng, người lao động thì ngày càng chịu cảnh làm nhiều hưởng ít, vào thời điểm giá các nguồn nhiên liệu tăng cao, chi phí sản xuất vận chuyển tăng, nhiều cơ sở sản xuất tạm ngừng, ảnh hưởng lơnd đến kinh tế của toàn huyện

Trong giai đoạn hiện nay khi mà xu hướng cổ phần hoá lan rộng, trên địa bàn một số doanh nghiệp cũng tiến hành cổ phần hoá nhưng hiệu quả chưa cao khiến cho người lao động vẫn là những người chịu ảnh hưởng xấu, một số doanh nghiệp cổ phần hoá hoạt động không hiệu quả nợ công công nhân ngày càng nhiều

Trang 16

Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, Hữu Lũng cũng có những bước chuyển dịch lớn về kinh tế, trong cơ cấu ngành, nông lâm nghệp tuy vẫn chiếm tỷ trọng cao những đang có xu hướng chuyển dịch sang công nghiệp xây dựng và dịch vụ Việc chuyển dịch cơ cấu đang tạo ra những thay đổi đáng kể bộ mặt của huyện, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp ra đời, thu hút nhiều lao động, nhưng lại tập trung chủ yếu ở dải ven quốc lộ và khu vực thị trấn nên đã bắt đầu xuất hiện những vấn đề về môi trường, xã hội Đặc biệt việc tập trung dân cư ở nhưngc khu vực sản xuất này cũng bắt đầu kéo theo vấn đề giá cả hàng hoá, giá đất… bắt đầu bất ổn.

Với thực trạng phát triển của đất nước, nền KT-XH Hữu Lũng có thêm những thuận lợi và thách thức trên còn đường hội nhập phát triển, cùng với những lợi thế sẵn

có, sự quy hoạch hợp lý để phát huy tối đa tiềm lực thì trong tương lai, Hữu Lũng sẽ trở thành bộ phận tích cực góp sức cho sự nghiệp phát triển đất nước

1.5.3 Phân tích tác động của quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh Lạng Sơn và một số yếu tố khác đến phát triển KT-XH của huyện Hữu Lũng

Là một huyện có nền KT-XH khá phát triển so với các huyện khác trong tỉnh, Hữu Lũng là một trong những điểm quy hoạch quan trọng của tỉnh Lạng Sơn, với chiến lược quy hoạch tổng thể KT-XH của tỉnh đến năm 2025, Hữu Lũng nằm trên trục phát triển Chi Lăng – Hữu Lũng, cùng với mục tiêu phát triển cụm công nghiệp Hữu Lũng, các vấn đề văn hóa – xã hội được tỉnh chú trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho quy hoạch và phát triển huyện Hữu Lũng theo hướng tích cực và hiệu quả

Bên cạnh đó, phát triển KT – XH của huyện Hữu Lũng còn gặp nhiều khó khăn

và thách thức bởi nhiều vấn đề nội tại như chính sách và quản lý của địa phương, các vấn đề liên quan đến dân tộc, dân cư và lao động, việc quy hoạch ngành và quy hoạch

sử dụng đất còn chậm trễ và hiệu quả chưa cao… đang hạn chế nhiều nguồn lực của địa phương này trong xây dựng và phát triển

Việc phát triển có quy hoạch, có định hướng theo quy hoạch của cả nước, của vùng và đặc biệt là của tỉnh, Hữu Lũng sẽ có nhiều cơ hội hơn nữa trong phát triển KT-

XH và thu hút vốn cũng như nguồn nhân lực có trình độ,đảm bảo phát triển hài hòa với tự nhiên, nâng cao phúc lợi xã hội và hiệu quả kinh tế

1.6 Đánh giá tổng quát những lợi thế và hạn chế của huyện Hữu Lũng đối với trong vùng, tỉnh Lạng Sơn và các huyện lân cận

1.6.1 Lợi thế

Trang 17

- Hữu Lũng có quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua; có đường tỉnh lộ nối huyện Yên Thế (Bắc Giang) với huyện Võ Nhai (Thái Nguyên); có sông Trung chảy từ Thái Nguyên hợp với sông Thương từ Chi Lăng ngay tại thị trấn và chảy về Bắc Giang Đây chính là những tuyến giao thông quan trọng để Hữu Lũng kết nối với những trung tâm lớn như Hà Nội, Thái Nguyên, hay các cửa khẩu Tân Thanh, Hữu Nghị… phát triển thương mại - dịch vụ, công nghiệp bên cạnh ngành kinh tế chủ đạo nông - lâm nghiệp

- Huyện Hữu Lũng có tiềm năng về tài nguyên: đá vôi,sét, vật liệu xây dựng với các công ty khai thác vật liệu xây dựng như Hồng Phong, công ty xi măng X78 (xã Đồng Tân), các mỏ khai thác đá Cai Kinh (xã Cai Kinh), mỏ Đồng Tiến (xã Minh Tiến), mỏ Thạch Phát (xã Yên Vượng), công ty xi măng X78 (xã Đồng Tân)

- Huyện có tiềm năng lớn về du lịch, đặc biệt là di tích Đền Bắc Lệ (xã TânThành) hay phát triển du lịch sinh thái Cộng đồng ở khu vườn đặc dụng Hữu Liên (khu vực này lại dễ dàng liên kết với Bắc Sơn) trong tương lai nếu thu hút đầu tư sẽ mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách

- Huyện Hữu Lũng nằm trong tỉnh Lạng Sơn là một tỉnh biên giới,nhiều dân tộc cùng sinh sống, đa dạng về văn hóa, người dân lao động đoàn kết, cần cù sáng tạo là điều kiện quan trọng trong phát triển KT-XH của huyện

- Dựa trên các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động,

và sự phân bố sản xuất thì huyện Hữu Lũng có tiềm năng phát triển kinh tế theo hướng tổng hợp và đa dạng

1.6.2 Hạn chế

- Kinh tế tăng trưởng khá song còn chậm so với mặt bằng chung và chưa tương xứng với tiềm năng của huyện, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa có bước đột phá

- Nền kinh tế của huyện phát triển dựa chủ yếu vào nông lâm nghiệp, trình độ lao động còn lạc hậu chưa đáp ứng được sản xuất Hệ thống cơ sở hạ tầng còn thấp đặc biệt ở những xã đồi núi xa trục đường quốc lộ, tỉnh lộ

- Trong số diện tích đất nông lâm nghiệp, đất dốc từ 8 - 150 độ trở lên chiếm trên 16,7%, vì vậy khó khăn cho phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng

- Trong nông nghiệp công tác chuyển giao ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất còn nhiều hạn chế, chưa tạo thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, chất lượng

Trang 18

và sức cạnh tranh sản phẩm còn thấp, chưa có nhiều mô hình sản xuất điển hình tiên tiến mang lại hiệu quả cao.

- Tiến độ thực hiện một số đề án còn chậm, công nghiệp - TTCN chưa có chuyển biến tích cực, phần lớn các cơ sở sản xuất CN – TTCN và dịch vụ nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp

- Hệ thống thuỷ lợi xuống cấp, chưa đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu của sản xuất nông nghiệp

- Dân số phát triển, lao động trong lĩnh vực kinh tế nông lâm nghiệp ngày càng dôi dư, đòi hỏi phân bố lại lao động, bố trí sắp xếp các ngành sản xuất hợp lý

- Trình độ lao động còn thấp, tập quán canh tác còn lạc hậu, công tác ứng dụng thành tựu khoa học vào sản xuất còn nhiều hạn chế

Ngày đăng: 12/04/2015, 14:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w