Qua đề tài này, em muốn giới thiệu về các điều kiện phát triển loại hình du lịch văn hóa ẩm thực tại Việt Nam, từ đó định hướng một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch này tại
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ẩm thực hay nói đơn giản hơn là ăn và uống vốn là chuyện hằng ngày, rất gần gũi và cũng rất đời thường, nhưng ở mỗi thời đại khác nhau thì ăn uống lại được quan tâm với những mức độ khác nhau Ngay từ xa xưa, ông bà ta đã rất coi trong việc ăn uống, thế nên tục ngữ mới
có câu: “có thực mới vực được đạo”, “ăn coi nồi, ngồi coi hướng”, “học ăn, học nói, học gói, học mở” Ngày nay, khi cuộc sống ngày một phát triển, nhu cầu của con người ngày một cao hơn, ẩm thực cũng nhờ vào đó mà trở nên hoàn thiện hơn, vượt ra khỏi giới hạn “ăn no mặc ấm”
để đạt đến “ăn ngon mặc đẹp” Ẩm thực đã không còn đơn thuần là giá trị vật chất, mà xa hơn chính là yếu tố văn hóa, một mảng văn hóa đậm đà, duyên dáng và cốt cách Tìm hiểu về ẩm thực của một đất nước chính là cách đơn giản nhất để có thể hiểu thêm về lịch sử và con người của đất nước ấy Vì vậy cùng với vẻ đẹp hấp dẫn của hàng ngàn điểm đến, các món ăn đậm bản sắc dân tộc, đặc trưng cho mỗi vùng miền trên đất nước Việt Nam cũng là yếu tố thu hút du khách quốc tế đến và quay trở lại Việt Nam Không chỉ vậy, du khách Việt Nam cũng có cơ hội nâng cao vốn hiểu biết và lòng tự hào dân tộc thông qua việc tìm hiểu những giá trị văn hóa về
ẩm thực của chính đất nước mình Chính vì vậy văn hóa ẩm thực cũng được coi như một tài nguyên du lịch, thu hút những đối tượng khách muốn khám phá về văn hoá ẩm thực của một quốc gia, vùng miền
Trong những năm gần đây, trên thế giới đã xuất hiện loại hình du lịch văn hóa ẩm thực.và
kể từ khi chính thức xuất hiện vào năm 2003, du lịch văn hóa ẩm thực đã phát triển mạnh mẽ với lượng khách thu hút ngày càng Bên cạnh đó, theo thống kê của ICTA – hiệp hội du lịch văn hóa
ẩm thực – cũng cho thấy sự tăng nhanh về số lượng thành viên, qua đó ta có thể nhận thấy sự phát triển của du lịch văn hóa ẩm thực trên thế giới Tuy nhiên đến nay, du lịch văn hóa ẩm thực vẫn còn là loại hình du lịch khá mới mẻ và chưa phổ biến tại Việt Nam, đó là một sự lãng phí nguồn tài nguyên du lịch
Những điều được trình bày trên đây cũng chính là lý do em chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa ẩm thực tại Việt Nam” Qua đề tài này, em muốn giới thiệu về các điều kiện phát triển loại hình du lịch văn hóa ẩm thực tại Việt Nam, từ đó định hướng một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch này tại Việt Nam trong thời gian tới
Trang 2II Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Phương pháp này đóng vai trò là căn cứ để em thực hiện đề tài này theo nguyên tắc đi từ xa đến gần, từ cái chung đến cái riêng
- Phương pháp logic
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
III Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số điều kiện chung để phát triển du lịch văn hóa ẩm thực trên thế giớivà những điều kiện đặc trưng để có thể phát triển du lịch văn hóa ẩm thực tại Việt nam, từ
đó định hướng một số giải pháp phát triển loại hình du lịch này tại Việt Nam
IV.Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài bao gồm:
Chương I: Lý luận về điều kiện và khả năng phát triển du lịch văn hóa
ẩm thực tại một vùng Chương II: Điều kiện và khả năng phát triển du lịch văn hóa ẩm thực
tại Việt Nam Chương III: Đề xuất một số giải pháp định hướng phát triển du lịch
văn hóa ẩm thực tại Việt Nam
Em xin cảm ơn TS Nguyễn Thị Mỹ Thanh, thầy cô trong khoa Thương mại - Du lich, Trường đại học Kinh tế Đà Nẵng đã hướng dẫn, giúp đỡ em thực hiện đề án này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA ẨM THỰC TẠI MỘT VÙNG
1.1 Tổng quan về vùng du lịch
1.1.1 Tổ chức lãnh thổ du lịch
Trong việc nghiên cứu về du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi vì không thể tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động này nếu không xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ du lịch liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất Cùng với sự phát triển của xã hội, đã dần dần xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Hiện nay, tổ chức lãnh thổ du lịch có ba hình thức chủ yếu bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch, thể tổng hợp lãnh thổ du lịch và vùng du lịch Trong đó, vùng du lịch là hệ thống lãnh thổ kinh
tế - xã hội thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và với các cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch có hiệu quả, có chuyên môn hoá du lịch kết hợp với phát triển tổng hợp, vì vậy vùng du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
1.1.2 Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch và khái niệm vùng du lịch
Khi nghiên cứu phân vùng du lịch, dù là phân vùng kinh tế ngành hay phân vùng kinh tế tổng hợp, không thể không đề cập đến hệ thống phân vị vì không thể phân vùng nếu thiếu hệ thống phân vị Hệ thống phân vị trong phân vùng luôn là đề tài gây tranh cãi Đối với việc nghiên cứu du lịch, vấn đề các cấp phân vị cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã sử dụng hệ thống phân vị theo năm cấp từ thấp đến cao
1.1.2.1 Điểm du lịch
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô rất nhỏ, điểm du lịch cũng chiếm một diện tích nhất định trong không gian Sự chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch có thể tương đối lớn
Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch nào đó (tự nhiên, văn hóa – lịch
sử hoặc kinh tế - xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở mức quy mô nhỏ Vì thế điểm du lịch được chia làm hai loại là điểm tài nguyên và điểm chức năng (điểm du lịch) Điểm du lịch cũng có thể chia thành bốn nhóm bao gồm điểm du lịch thiên nhiên, điểm du lịch văn hóa, điểm du lịch đô thị và điểm du lịch đầu mối giao thông vận tải
Trang 4là phải tập trung và có khả năng lôi cuốn khách du lịch
Trung tâm du lịch còn có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật tương đối phong phú,
đủ để đón, phục vụ và lưu khách lại trong một thời gian dài.và có khả năng tạo vùng du lịch rất cao Về cơ bản, trung tâm du lịch là một hệ thống lãnh thổ du lịch đặc biệt, là hạt nhân của vùng
du lịch
1.1.2.3 Tiểu vùng du lịch
Tiểu vùng du lịch là một tập hợp bao gồm các điểm du lịch và trung tâm du lịch (nếu có)
có nguồn tài nguyên đa dạng Về quy mô, tiểu vùng du lịch bao trùm lãnh thổ của một vài tỉnh nhưng sự dao động về diện tích giữa các tiểu vùng có khác nhau
Tiểu vùng du lịch có nguồn tài nguyên tương đối phong phú về số lượng và đa dạng về chủng loại Trong thực tế, ở nước ta có thể phân biệt hai loại tiểu vùng du lịch: tiểu vùng du lịch
đã hình thành và tiểu vùng du lịch đang hình thành (tiểu vùng du lịch tiềm năng)
1.1.2.4 Á vùng du lịch
Á vùng du lịch là tập hợp các điểm, các trung tâm, tiểu vùng du lịch (nếu có) thành một thể thống nhất với mức độ tổng hợp cao hơn, vai trò của cơ sở hạ tầng lớn hơn và quy mô lãnh thổ rộng hơn Á vùng du lịch có thể bao gồm cả những địa phương không có các điểm tài nguyên du lịch nên mối quan hệ bên trong lãnh thổ á vùng du lịch thường đa dạng hơn
Trong á vùng du lịch thường có nhiều loại tài nguyên Trong chừng mực nhất định, chuyên môn hóa đã bắt đầu được thể hiện, mặc dù có thể chưa đậm nét Có thể trong một số vùng du lịch, sự phân hóa lãnh thổ chưa dẫn đến hình thành các á vùng Trong trường hợp ấy, hệ thống phân vị thực sự chỉ còn bốn cấp: Điểm du lịch – Trung tâm du lịch – Tiểu vùng du lịch – Vùng du lịch
1.1.2.5 Vùng du lịch
Trang 5Vùng du lịch là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị, đó là một kết hợp lãnh thổ của các á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng Nói cách khác, vùng du lịch như là một tổng thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn – xã hội, bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường kinh
tế - xã hội xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch
Nói tới vùng du lịch, không thể không đề cập tới chuyên môn hóa Nó chính là bản sắc của vùng, làm cho vùng này khác hẳn với vùng khác Ở nước ta, tính chuyên môn hóa của các vùng du lịch còn đang trong quá trình hình thành nên chưa thể hiện rõ nét
Các mối liên hệ nội, ngoại vùng đa dạng dựa trên ngườn tài nguyên, cơ sở hạ tầng và cơ
sở vật chất – kỹ thuật sẵn có của vùng Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn, bao gồm nhiều tỉnh Cũng như các tiểu vùng du lịch, người ta phân loại vùng du lịch thành vùng du lịch đang hình thành (vùng du lịch tiềm năng) và vùng du lịch đã hình thành (vùng du lịch thực tế) Ở nước ta, có thể có tiểu vùng du lịch thực tế và tiểu vùng du lịch tiềm năng, song trên bình diện vùng du lịch, chúng ta chưa có vùng du lịch đã hình thành Vì vậy, vùng du lịch Việt Nam là vùng du lịch đang hình thành, quan niệm này phù hợp với thực tế khách quan đang diễn ra ở nước ta về phương diện du lịch Chỉ có trên cơ sở quan niệm như vậy thì mới có thể cắt nghĩa một số hiện tượng rất khó lý giải trong thực tế sinh động và đa dạng của hoạt động du lịch
1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu trong phân vùng du lịch
Vùng du lịch được tạo thành bởi nhiều yếu tố, đó là các yếu tố tạo vùng vì vậy hệ thống chỉ tiêu phân vùng du lịch trước hết phải nhằm vào các yếu tố tạo vùng Các yếu tố tạo vùng chủ yếu là nguồn tài nguyên (tự nhiên, văn hoá – lịch sử, kinh tế – xã hội), dòng khách du lịch, cơ sở
hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật…
Về lý thuyết, vùng du lịch là một hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống nhỏ ứng với hệ thống lãnh thổ du lịch Hệ thống này được hình thành bởi các phân hệ khách, phân hệ tài nguyên, phân hệ công trình kỹ thuật, phân hệ đội ngũ cán bộ phục vụ và phân hệ cơ quan điều khiển Như vậy, rõ ràng các chỉ tiêu phân vùng phải đề cập đến nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng
và cơ sở vật chất kỹ thuật
Đặc trưng của mỗi vùng du lịch được thể hiện qua chuyên môn hoá của nó Chuyên môn hoá du lịch của vùng bắt nguồn ít nhất từ hai yếu tố: nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch và số lượng du khách với khả năng (tài nguyên, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật…) của vùng Mỗi vùng
Trang 6du lịch phải có một cực đủ mạnh để thu hút các khu vực xung quanh vào lãnh thổ của vùng Trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu, cũng cần phải chú ý đến vấn đề này.
Từ những quan điểm trên có thể đưa ra 3 chỉ tiêu chính trong phân vùng du lịch: số lượng, chất lượng tài nguyên và sự kết hợp các dạng tài nguyên theo lãnh thổ; cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất – kỹ thuật; trung tâm tạo vùng
1.1.3.1. Số lượng, chất lượng tài nguyên và sự kết hợp của chúng theo lãnh thổ.
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng của tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức lãnh thổ du lịch, đến việc hình thành chuyên môn hoá các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch Do vị trí đặc biệt quan trọng của nó tài nguyên du lịch được tách thành một phân hệ riêng biệt trong hệ thống lãnh thổ du lịch
Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hoá – lịch sử
đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng phục vụ trực tiếp vào mục đích du lịch Xét về cơ cấu có thể chia tài nguyên du lịch làm hai bộ phận cấu thành: tự nhiên và nhân văn
Trên cơ sở tác động tổng hợp của tài nguyên tự nhiên (khí hậu, địa hình, thực động vật, nguồn nước) đã xuất hiện các kiểu tổ hợp du lịch: tổ hợp du lịch ven biển, tổ hợp du lịch núi, tổ hợp du lịch đồng bằng – đồi
Tài nguyên nhân văn có nhiều nét khác với tài nguyên tự nhiên Trước hết, tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức hơn tác dụng giải trí Việc tham quan các đối tượng nhân văn thường diễn ra trong khoảng thời gian ngắn Trong phạm vi một chuyến du lịch, người ta có thể hiểu rõ nhiều đối tượng Về phương diện khách du lịch, những người du lịch quan tâm đến tài nguyên du lịch nhân văn thường có trình độ học vấn, thẩm mỹ cao với sở thích rất đa dạng Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm dân cư và thành phố lớn, nơi có cơ sở
hạ tầng tốt hơn Ngoài ra, đại bộ phận tài nguyên du lịch nhân văn không mang tính thời vụ, ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Tác động của tài nguyên du lịch nhân văn đến khách du lịch theo từng giai đoạn: thông tin, tiếp xúc, nhận thức, đánh giá, nhận xét
Khi đề cập tới chỉ tiêu về tài nguyên, trước hết cần xem xét về mặt số lượng tài nguyên vốn có Tất nhiên, việc xác định số lượng tài nguyên chỉ mang tính chất tương đối Nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chẳng hạn, có thể có tài nguyên ở nơi xa xôi (nhất là tài nguyên tự nhiên), cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ở đó còn quá kém Vì vậy, tài nguyên được sử dụng rất hạn chế Khi “kiểm kê” rõ ràng phải tính đến, nhưng thực tế giá trị sử
Trang 7dụng thấp Hơn nữa, nếu chỉ tính số lượng đơn thuần nhiều khi không phản ánh hết được thực tế khách quan, số lượng tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn có sự khác nhau rất lớn.
Chất lượng tài nguyên du lịch có tác dụng tạo vùng rất lớn Trong nhiều trường hợp, số lượng và chất lượng tài nguyên không phù hợp với nhau Ở một lãnh thổ có thể có rất nhiều tài nguyên, nhưng giá trị lại rất kém Ngược lại, ở một lãnh thổ khác tuy ít tài nguyên, nhưng giá trị
sử dụng lại cao Các loại tài nguyên chỉ phát huy tác dụng hấp dẫn khách du lịch khi có chất lượng cao (với điều kiện các yếu tố khác như nhau)
Ngay đối với từng loại tài nguyên, không phải bất kỳ đặc điểm nào của nó cũng có ý nghĩa đối với du lịch Thông thường chỉ có một số đặc điểm nhất định tham gia vào quá trình tạo vùng Mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc tạo vùng Vai trò tạo vùng của tài nguyên du lịch không chỉ dừng lại ở số lượng và chất lượng mà còn ở sự kết hợp các loại tài nguyên Mức độ kết hợp các loại tài nguyên càng phong phú, sức thu hút khách du lịch càng mạnh, tác dụng vùng của nó càng cao
1.1.3.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch
Nếu như tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch thì
cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật tạo điều kiện biến những tiềm năng của tài nguyên trở thành hiện thực Giữa hai chỉ tiêu này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau Không có cơ sở hạ tầng và nhất là cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch, tài nguyên du lịch mãi mãi chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Ngược lại, nếu thiếu tài nguyên sẽ chẳng bao giờ
có cơ sở vật chất – kỹ thuật cho du lịch
Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc hình thành và phát triển vùng du lịch Trong cơ sở hạ tầng, nổi lên hàng đầu là mạng lưới và phương tiện giao thông Du lịch gắn liền với việc di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định, nó phụ thuộc rất nhiều vào giao thông (mạng lưới đường sá và phương tiện vận chuyển) Một đối tượng có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch, nhưng vẫn chưa thể khai thác được khi thiếu giao thông Việc phát triển giao thông, đặc biệt là tăng nhanh phương tiện vận chuyển (công cộng và cá nhân) cho phép mau chóng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch mới
Để đảm bảo cho vùng du lịch hoạt động bình thường, phải có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết như khách sạn, nhà hàng, camping, cửa hiệu, vui chơi giải trí… Khâu trung tâm của nó chủ yếu là phương tiện phục vụ cho việc ăn ngủ của khách du lịch Cần phải xem xét, đánh giá số lượng, chất lượng của cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Với
tư cách là một chỉ tiêu phân vùng du lịch, việc nghiên cứu không chỉ dừng ở mức đánh giá hiện
Trang 8trạng mà còn thấy trước được sự phát triển tương lai của vùng để đáp ứng kịp thời nhu cầu du lịch Ngoài ra, cần phải chú ý đến đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch và các cán bộ quản lý.
1.1.3.3 Trung tâm tạo vùng
Mỗi vùng du lịch phải có ít nhất một trung tâm tạo vùng Một lãnh thổ có thể có nhiều tài nguyên du lịch, song nếu thiếu sức hút của một trung tâm tạo vùng thì lãnh thổ ấy không có khả năng lôi kéo quanh mình các lãnh thổ lân cận để tạo thành một vùng du lịch Vì thế, có thể coi trung tâm tạo vùng là một trong những chỉ tiêu để phân vùng du lịch
Trung tâm tạo vùng phải có nguồn tài nguyên phong phú, được sử dụng ở mức độ rất cao
và có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng để thoả mãn nhu cầu của đông đảo khách du lịch Hơn thế nữa, trung tâm tạo vùng phải có sức hút mạnh mẽ các lãnh thổ xung quanh Sức hút đến đâu còn tuỳ thuộc vào quy mô và sức mạnh của trung tâm, trung tâm tạo vùng càng lớn thì có sức hút càng mạnh
Những chỉ tiêu phân vùng du lịch trên đây cũng đã khái quát về một số điều kiện phát triển du lịch tại một vùng Và để có thể phát triển du lịch văn hóa ẩm thực tại một vùng, chúng ta cần nghiên cứu cụ thể hơn về những điều kiện chung để phát triển du lịch tại, những điều kiện đặc trưng để phát triển loại hình du lịch văn hóa ẩm thực cũng như khả năng để có thể phát triển loại hình du lịch này tại vùng đó
1.2 Điều kiện chung để phát triển du lịch tại một vùng
Để phân tích các điều kiện chung một cách cụ thể chúng ta có thể chia một cách tươngđối các điều kiện chung để phát triển du lịch thành hai nhóm Đó là nhóm các điều kiện chung ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động đi du lịch và nhóm các điều kiện chung có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh du lịch
1.2.1 Những điều kiện chung đối với sự phát triển của hoạt động du lịch
1.2.1.1 Thời gian rỗi của nhân dân
Muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch đòi hỏi con người phải có thời gian Do vậy, thời gian rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con người tham gia vảo hoạt động du lịch Thời gian rỗi của nhân dân ở từng nước được quy định trong Bộ luật lao động hoặc theo hợp đồng lao động được kí kết Hiện nay trong các ấn phẩm kinh tế, quỹ thời gian trong năm được chia làm hai phần: thời gian làm việc và thời gian ngoài giờ làm việc
Hiện nay, trên thế giới mức thời gian lao động tối đa trong ngày ít khi vượt qua 8 tiếng (chỉ còn một số ít các nước có thời gian làm việc trong ngày quá 8 tiếng ) Điều này có nghĩa là thời gian ngoài giờ làm việc (16 tiếng) chiếm phần lớn hơn trong quỹ thời gian một ngày
Trang 9Nhờ các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại, ngày nay năng suất lao động ngày càng cao, kinh tế ngày một phát triển và mức sống của con người ngày một cải thiện Xu hướng chung bây giờ làm giảm bớt thời gian làm việc và tăng số thời gian rỗi Đã có nhiều nước trên thế giới chuyển chế độ làm việc sang còn năm ngày một tuần Như vậy, thời gian ngoài giờ làm việc ngày càng chiếm ưu thế trong quỹ thời gian và đang trở thành vấn đề quan trọng đặc biệt của xã hội Chính vì lẽ đó, nhiều chuyên gia kinh tế lao động đã cố gắng đưa ra được một phân chia đúng nhất cho quỹ thời gian ngoài giờ làm việc Sự phân chia đó như sau :
- Thời gian tiêu hao liên quan tới thời gian làm việc như thời gian đi đến nơi làm việc, thời gian dành cho việc chuẩn bị cá nhân trước và sau khi làm việc
- Thời gian làm việc gia đình và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như mua hàng, dọn dẹp nhà cửa …
- Thời gian cần thiết để thoả mãn các nhu cầu tự nhiên, nhu cầu sinh lý: ngủ, ăn…
- Thời gian rỗi
Trong sự phân chia trên, thời gian rỗi là đối tượng cần nghiên cứu của môn khoa học về
tổ chức du lịch Mối quan tâm của xã hội hiện nay không chỉ là số lượng thời gian rỗi của con người Điều quan trọng hơn là con người sử dụng thời gian đó vào mục đích gì và sử dụng như thế nào Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu con người sử dụng thời gian hợp lý quỹ thời gian và
có chế độ lao động đúng đắn Với chế độ làm việc năm ngày một tuần ở nhiều nước, số thời gian rỗi tăng lên và đó là điều kiện thực tế để tổ chức hợp lý du lịch và nghỉ ngơi cho nhân dân lao động Thời gian rỗi còn tăng được bằng cách giảm bớt thời gian của các công việc khác ngoài giờ làm việc
Trên cơ sở xu hướng phát triển của thời gian làm việc, thời gian ngoài giờ làm việc và thời gian rỗi, các chuyên gia đã dự đoán, số ngày làm việc bình quân một năm sẽ không vượt quá 200 Đó là điều kiện thực tế và khả năng tăng số ngày nghỉ phép trong năm cho phép các tổ chức du lịch thu hút được thêm khách đến các cơ sở của mình Số thời gian rỗi ngày càng được kéo dài đó phải được sử dụng hợp lý Các cơ sở du lịch sẽ trở thành nguồn tiết kiệm thời gian rỗi
và là tiền đề vật chất cho việc kéo dài thời gian rỗi của nhân dân lao động Các cơ sở ấy đóng vai trò trung tâm trong việc kích thích sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thoả mãn nhu cầu thể chất và tinh thần cho toàn dân
1.2.1.2 Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa chung của người dân
Mức sống về vật chất cao
Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham
Trang 10gia đi du lịch Con người khi muốn đi du lịch không phải chỉ cần có thời gian mà còn phải có đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu dùng của nhiều loại dịch vụ, hàng hoá Con người để có thể đi du lịch và tiêu dùng phải có phương tiện vật chất đầy đủ Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán, vì khi đi du lịch họ phải trả ngoài các khoản tiền cho các nhu cầu giống như các nhu cầu thường ngày, còn phải trả thêm các khoản khác như tiền tàu xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan…và xu hướng của con người khi đi
du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn Do vậy, phúc lợi vật chất của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch Người ta đã xác lập được rằng mỗi khi thu nhập của nhân dân tăng thì sự tiêu dùng của du lịch cũng tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ cấu của tiêu dùng du lịch Phúc lợi vật chất của nhân dân luôn phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, vào thu nhập quốc dân của đất nước đó Vì nguyên nhân đó, những nước có nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao, một mặt, có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịch trong nước, và mặt khác, có thể gửi khách du lịch ra nước ngoài Trên thực tế có nhiều nước giàu tài nguyên du lịch nhưng vì kinh tế lạc hậu, chậm phát triển nên không thể phát triển du lịch và càng không thể gửi nhiều khách du lịch ra nước ngoài được
Trình độ văn hoá chung của nhân dân cao
Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết và mong muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng
rõ rệt Mặt khác, nếu trình độ văn hoá chung của một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển
du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng khách đi du lịch đến đó
1.2.1.3 Điều kiện giao thông vận tải phát triển
Từ xưa, giao thông vận tải là tiền đề cho sự phát triển du lịch Ngày nay, giao vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc
tế Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông, đặc biệt là giao thông trong du lịch phát triển
cả về lượng lẫn về chất lượng
Phát triển về số lượng
Thực chất đó là việc tăng chủng loại và số lượng các phương tiện vận chuyển Sự phát triển về lượng của các phương tiện vận chuyển đã làm cho mạng lưới giao thông vươn tới được
Trang 11mọi nơi trên trái đất Hiện nay trên thế giới có trên 300 triệu khách du lịch đI qua biên giới các nước bằng các phương tiện vận chuyển hành khách quốc tế.
Phát triển về chất lượng của các phương tiện vận tải theo các hướng sau:
- Tốc độ vận chuyển: Việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiêm thời gian đi lai và cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và cho phép khách du lịch đến những nơi xa xôi
- Đảm bảo an toàn trong vận chuyển: Ngày nay, sự tiến bộ khoa hoc kỹ thuật đã làm tăng rõ rệt tính an toàn trong vận chuyển hành khách
- Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển: Các phương tiện vận chuyển ngày càng có đủ tiện nghi và làm vừa lòng hành khách
- Vận chuyển với giá rẻ: Giá cước vận tải có xu hướng giảm để nhiều tầng lớp nhân dân có thể sử dụng được phương tiện vận chuyển
Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch Sự phối hợp đó có hai mức độ: mức độ dân tộc và mức độ quốc tế Cả hai mức độ đều có vai trò quan trọng trong vận chuyển hành khách du lịch Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt cho phép rút ngắn thời gian chờ đợi ở các điểm giữa tuyến và tạo ra điều kiện thuận lợi khi phải đổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng khách đi du lịch
1.2.1.4 Không khí chính trị hòa bình, ổn định trên thế giới
Đây là điều kiện đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế - chính trị, văn hóa,khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế, sự giao lưu về du lịch giữa các nước trong khu vực, trên toàn cầu không ngừng phát triển Nếu chỉ hội đủ ba điều kiện chung ở trên mà không có điều kiện này thì các cuộc hành trình du lịch quốc
tế không có điều kiện để phát triển mạnh mẽ
1.2.2 Những điều kiện có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh
du lịch
1.2.2.1 Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước
Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức độ lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó Theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch nếu nước
đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch Nếu một nước phải nhập một khối lượng lớn hàng hoá để trang bị cho cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo việc phục vu
Trang 12khách du lịch thì việc cung ứng vật tư hàng hóa sẽ hết sức khó khăn
Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của một đất nước được phân tích và đánh giá chủ yếu theo các hướng sau:
- Thực trạng và xu hướng phát triển của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người
- Tỷ trọng và xu hướng phát triển của các ngành sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất
- Xu hướng phát triển của nội, ngoại thương, trong đó ngành nội thương bao gồm mạng lưới bán buôn, mạng lưới bán lẻ, mạng lưới khách sạn, nhà hàng và ngành ngoại thương bao gồm xuất, nhập khẩu
- Tỷ trọng dân đang trong độ tuổi lao động tích cực trong tổng dân số, tỷ trọng này lớn là tiềm năng phát triển kinh tế cao, đặc biệt là đối với ngành du lịch
1.2.2.2. Tình hình chính trị hòa bình, ổn định của đất nước và các điều kiện an toàn đối với du khách
Tình hình chính trị, hòa bình ổn định của đất nước
Tình hình chính trị, hoà bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội của một đất nước Một quốc gia mặc dù có nhiều tài nguyên về du lịch cũng không thể phát triển du lịch nếu như ở đó luôn xảy ra những sự kiện hoặc thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hoà bình (không có điều kiện để phát triển kinh doanh du lịch và cũng không thu hút được khách du lịch)
Các điều kiện an toàn đối với du khách
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn trực tiếp hoặc gián tiếp của khách du lịch có thể xét theo các hướng sau:
- Tình hình an ninh, trật tự xã hội (các tệ nạn xã hội và bộ máy bảo vệ an ninh, trật
Trang 13triển mạnh mẽ cả ngành du lịch như một hiện tượng kinh tế – xã hội đại chúng và lặp lại đều đặn.
Để phát triển loại hình du lịch văn hóa ẩm thực tại một vùng thì những điều kiện chung
để phát triển du lịch nói trên là rất cần thiết, nhưng có một nhóm các điều kiện cũng vô cùng quan trọng và có ý nghĩa rất lớn, đó chính là các điều kiện đặc trưng cần thiết để có thể phát triển loại hình du lịch này tại vùng đó
1.3. Các điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch văn hóa ẩm thực tại một vùng
Hệ thống các điều kiện cần thiết đối với từng nơi, từng vùng hoặc từng đất nước để pháttriển du lịch bao gồm điều kiện về cầu du lịch văn hóa ẩm thực, tài nguyên du lịch văn hóa ẩm thực, sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch cũng như các điều kiện về tổ chức và nguồn nhân lực
1.3.1. Điều kiện về cầu du lịch văn hóa ẩm thực
Theo định nghĩa của hiệp hội du lịch ẩm thực,du lịch văn hóa ẩm thực là sự theo đuổi những kinh nghiệm ẩm thực độc đáo và đáng nhớ, thường khi đi du lịch nhưng cũng có thể chỉ
là du lịch văn hóa ẩm thực tại nhà Du lịch văn hóa ẩm thực bao gồm các loại kinh nghiệm ẩm thực Nó bao gồm các trường học nấu ăn, sách dạy nấu ăn, các chương trình ẩm thực trên tryền hình, các cửa hàng tiện ích của nhà bếp và các tour du lịch văn hóa ẩm thực…Như vậy, du lịch văn hóa ẩm thực qua các chương trình du lịch là một tập hợp con của du lịch văn hóa ẩm thực nói chung Theo nghĩa này, du lịch văn hóa ẩm thực là một loại hình du lịch với mục đích tìm hiểu văn hóa ẩm thực của điểm đến Trong phạm vi đề án nghiên cứu này, em cũng chỉ xin giới hạn việc nghiên cứu ở nghĩa hẹp của du lịch văn hóa ẩm thực như một loại hình du lịch
Với định nghĩa như vậy thì đối tượng khách tham gia loại hình du lịch văn hóa ẩm thực là người tiêu dùng du lịch với mục đích tìm hiểu nền văn hóa ẩm thực của điểm đến du lịch Họ có thể là các chuyên gia nghiên cứu ẩm thực, các đầu bếp, chủ nhà hàng, khách sạn muốn tìm hiểu
về ẩm thực để bổ sung món ăn mới cho thực đơn nhà hàng Họ cũng có thể là những người ham thích mở mang kiến thức về thế giới và thỏa mãn tò mò của mình, không nhất thiết đó là người sành ăn Đặc điểm chung của đối tượng khách này là thích tìm hiểu về ẩm thực và văn hóa bản địa Họ không e ngại khi ăn những món ăn lạ, khác biệt với khẩu vị quen thuộc thường ngày Họ tôn trọng sự khác biệt của nền văn hóa bản địa, yêu cầu cao về trình độ chuyên môn và sự mến khách của người đầu bếp, người phục vụ và dân cư địa phương Đó là những đặc điểm chung của đối tượng khách du lịch văn hóa ẩm thực Tuy nhiên, tùy theo điều kiện về tài nguyên du lịch của từng vùng thì thị trường khách mục tiêu lại có những đặc điểm riêng Vì vậy, đòi hỏi chính quyền địa phương, các đơn vị kinh doanh du lịch cần xác định những đặc trưng của nền
Trang 14văn hóa ẩm thực trên địa bàn, khu vực và nghiên cứu đặc điểm đối tượng khách hàng mục tiêu cho phù hợp.
1.3.2 Điều kiện về tài nguyên du lịch
Nếu như chúng ta xem các điều kiện chung như là các điều kiện đủ để phát triển du lịch, thì các điều kiện về tài nguyên du lịch như là các điều kiện cần để phát triển du lịch Một quốc gia, một vùng dù có nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phát triển cao, song nếu không có các tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển dược du lịch Như đã phân tích ở trên thì tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên tạo ra, có thể do con người tạo ra, vì vậy các tài nguyên du lịch có thể được phân làm hai nhóm: tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Trong đó, tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục
vụ mục đích du lịch Do đó, văn hóa ẩm thực cũng chính là một tài nguyên du lịch của mỗi quốc gia Người ta thường nói ăn uống là biểu hiện của văn hóa, mỗi quốc gia có những phong tục, tập quán khác nhau và từ đó hình thành phong cách ẩm thực riêng cho mình
Đối với những loại hình du lịch khác, ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động tới cảm nhận của du khách về toàn bộ chuyến đi du lịch nhưng không được xem như là một nhân tố để du khách quyết định thực hiện chuyến du lịch Vì vậy, đôi khi chỉ cần xây dựng thực đơn cho phù hợp với khẩu vị của du khách Nhưng đối với loại hình du lịch văn hóa ẩm thực, ẩm thực lại là nhân tố quyết định trong việc lựa chọn chương trình du lịch và các điểm đến Chính vì vậy, điểm đến có nền văn hóa ẩm thực càng phong phú, độc đáo bao nhiêu thì càng hấp dẫn với du khách bấy nhiêu Mức độ phong phú của một nền ẩm thực có thể là do sự hội tụ của nhiều tộc người khác nhau với những sắc thái ẩm thực khác nhau trên cùng một vùng, miền hoặc cũng có thể đó là nơi tập trung của nhiều làng nghề ẩm thực Sự phong phú của nền văn hóa ẩm thực sẽ mang đến cho du khách nhiều cơ hội khám phá, học hỏi Còn tính độc đáo được tạo nên bởi những đặc trưng của một nền ẩm thực, nó tạo ra sự khác biệt với các nền văn hóa ẩm thực khác Sự độc đáo có thể thể hiện ở cách thức chế biến món ăn, mùi vị đặc trưng, lợi ích của món ăn hay ở kiến trúc nhà hàng, quán ăn Tuy nhiên, khi đưa vào để phát triển thành một sản phẩm du lịch thì tình độc đáo cũng chỉ là một khái niệm tương đối vì trong du lịch, các sản phẩm du lịch rất dễ bị bắt chước Vì vậy, luôn tìm tòi, sáng tạo nhưng không làm mất đi bản sắc riêng là yêu cầu không thể thiếu trong việc phát triển du lịch nói chung, du lịch văn hóa ẩm thực nói riêng
Trang 151.3.3 Điều kiện về sự sẵn sàng đón tiếp khách
Các điều kiện ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch trước tiên là cơ sở vật chất du lịch và sau đó là cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội
1.3.3.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức du lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của cơ sở du lịch (có thể là của một cơ sở du lịch, có thể là của một khu du lịch) Thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn bao gồm tất cả những công trình mà tổ chức du lịch xây dựng bằng vốn đầu tư của mình (rạp chiếu phim, sân thể thao, ) Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch Sự tận dụng hiệu quả các tài nguyên du lịch và việc thỏa mãn các nhu cầu của du khách phụ thuộc một phần lớn vào cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Đối với loại hình du lịch văn hóa ẩm thực, sự phát triển của hệ thống cơ sở vật chất trong lĩnh vực kinh doanh ăn uống, sản xuất chế biến thực phẩm là điều kiện hết sức cần thiết Tại đây, du khách không chỉ được thưởng thức các món ăn, đồ uống mà còn được ngắm nhìn khung cảnh, bài trí của nhà hàng, quán ăn Vì thế, những nhà hàng, quán ăn mang đậm phong cách truyền thống của địa phương, dân tộc thì càng có sức thu hút cao đối với du khách, từ việc thiết
kế, trang trí nhà hàng đến các trang thiết bị phục vụ như bàn ghế, bát, đĩa, chén hay ấm tích đựng nước, các tranh ảnh, các dụng cụ sản xuất đến các dụng cụ săn bắt Bên cạnh đó, các bản nhạc dân tộc và các dụng cụ chiếu sáng được sử dụng cũng góp phần tác động mạnh mẽ đến các giác quan của du khách, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ và hấp dẫn để du khách có thể nhớ mãi rồi
kể lại cho bạn bè, người thân Đây cũng chính là hình thức tuyên truyền, quảng cáo rất hữu hiệu Không những thế, du khách còn có thể tham quan các quy trình sản xuất, chế biến thực phẩm tại các làng nghề ẩm thực, xưởng sản xuất hay được học cách nấu ăn tại nhà hàng hoặc lớp dạy nấu
ăn Còn gì thú vị hơn khi được tự tay mình thực hiện một công đoạn sản xuất tại làng nghề hay
tự nấu một món ăn và thưởng thức thành quả tự mình làm ra Bên cạnh đó, việc thiết kế, xây dựng các nhà hàng, quán ăn và các cơ sở sản xuất cũng cần đặc biệt chú ý đến các điều kiện về
vệ sinh, an toàn và sự hài hòa với môi trường xung quanh
1.3.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội
Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội là những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng lên mà là của toàn xã hội Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến
Trang 16cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, các rạp chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng…Cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội là đòn bẩy thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế - xã hội của một đất nước Đối với ngành du lịch thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội là yếu tố cơ sở nhằm khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Mặt khác, phát triển du lịch cũng là một yếu tố tích cực thúc đẩy, nâng cao, mở rộng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một vùng hay của cả đất nước.
Cũng như đối với các loại hình du lịch khác, cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch văn hóa ẩm thực trong việc tiếp đón du khách và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch nói chung cũng như loại hình du lịch văn hóa ẩm thực nói riêng
1.3.4 Điều kiện về tổ chức
Các điều kiện về tổ chức bao gồm những nhóm điều kiện cụ thể sau:
Thứ nhất, đó là sự có mặt của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch (bộ máy quản lý vĩ mô
về du lịch), bộ máy này bao gồm:: các chủ thể quản lý, cấp Trung Ương, cấp địa phương, hệ thống các thể chế quản lý
Thứ hai, chính là sự có mặt của các tổ chức doanh nghiệp chuyên trách về du lịch (bộ máy quản lý vi mô về du lịch), các tổ chức này có nhiệm vụ chăm lo đến việc đảm bảo đi lại và phục vụ trong thời gian lưu trú của khách du lịch Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp bao gồm: kinh doanh khách sạn, kinh doanh lữ hành, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, kinh doanh các dịch vụ khác
Trong đó, hệ thống chính sách quản lí của các cơ quan chủ quản là rất cần thiết để có thể định hướng cho sự phát triển của du lịch nói chung và du lịch văn hóa ẩm thực nói riêng Vai trò của chính quyền địa phương và cơ quan quản lí thể hiện qua việc:
- Đảm bảo chính quyền địa phương cùng các cấp quản lí nắm vững khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc phát triển loại hình du lịch văn hóa ẩm thực đối với địa phương
- Thực hiện công tác nghiên cứu đặc trưng ẩm thực của vùng, tư vấn cho cấp quản lí cao hơn và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch văn hóa ẩm thực trên địa bàn quản lí
- Xây dựng kế hoạch phát triển hoạt động du lịch văn hóa ẩm thực trên địa bàn
- Thiết kế, thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư
1.3.5 Điều kiện về nhân lực
Trang 17Du lịch là một lĩnh vực hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ, bởi vậy, nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của hoạt động kinh doanh du lịch Xét một cách tổng quát, nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch Do đó, khi đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực ngành Du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản lý, lao động làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch Căn cứ vào mối liên hệ với đối tượng lao động (khách du lịch), lao động du lịch được chia thành hai nhóm: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp bao gồm những công việc trực tiếp phục vụ khách du lịch như trong khách sạn, nhà hàng, lữ hành, các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, cơ quan quản lý du lịch,… Lao động gián tiếp bao gồm những công việc cung ứng, hỗ trợ cho các hoạt động trực tiếp phục vụ khách du lịch như: cung ứng thực phẩm cho khách sạn nhà hàng, cung ứng hàng hoá cho các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, các dịch vụ của Chính phủ hỗ trợ phát triển
du lịch, đào tạo nhân lực du lịch, xây dựng khách sạn, sản xuất máy bay, các trang thiết bị phục
vụ khách du lịch… Tất nhiên các lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch bao giờ cũng có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến chất lượng dịch vụ, từ đó đến chất lượng sản phẩm du lịch
Trong phạm vi nghiên cứu của đề án này, em xin phép chỉ đề cập đến lực lượng lao động trực
tiếp trong ngành Du lịch
Lực lượng lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp du lịch lại được chia thành bốn nhóm cơ bản với vai trò và đặc trưng khác nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh du lịch gồm nhóm lao động chức năng quản lý chung, nhóm lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế, nhóm lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch, nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách Trong đó, những lao động trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ cho du khách đóng vai trò rất quan trọng
Vì vậy, đối với loại hình du lịch văn hóa ẩm thực, lao động trong bộ phận sản xuất, chế biến thực phẩm và bộ phận phục vụ thức ăn, đồ uống cần được chú trọng đặc biệt Du khách tìm đến với loại hình du lịch này với mong muốn có được những trải nghiệm độc đáo và đáng nhớ về ẩm thực Do đó, phải làm sao để chế biến ra những món ăn, đồ uống ngon, bổ, trình diễn những kĩ thuật chế biến mới lạ, hấp dẫn và tạo dựng được phong cách phục vụ chuyên nghiệp Để làm được điều đó, không những đòi hỏi bản thân người lao động cần có lòng nhiệt huyết, đam mê, tự trau dồi kiến thức mà còn có sự đào tạo bài bản từ phía các trường lớp, các viện nghiên cứu Có vậy
Trang 18mới tạo ra đội ngũ người lao động đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng.
1.4. Khả năng liên kết và phối hợp để phát triển du lịch văn hóa ẩm thực tại một vùng
Ngoài những điều kiện để phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch văn hóa ẩm thực nói riêng tại một vùng thì một yếu tố khác cũng rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển của loại hình du lịch này chính là khả năng liên kết giữa các địa phương, vùng miền cũng như sự phối hợp giữa những ngành có liên quan
Về định nghĩa, liên kết kinh tế là hình thức hợp tác giữa hai hay nhiều chủ thể quản lý kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế nhằm mang lại lợi ích nhiều hơn cho tất cả các bên tham gia Mục tiêu của liên kết kinh tế là nhằm phát huy các lợi thế, đồng thời bù đắp những hạn chế, thiếu hụt của các bên tham gia thông qua việc phối hợp hoạt động giữa các đối tác
Liên kết kinh tế trong hoạt động du lịch là hình thức liên kết kinh tế của các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực như: việc xây dựng, khai thác cơ sở vật chất, hoạt động vận tải hành khách, hoạt động quản lý – marketing và đào tạo nguồn nhân lực của hoạt động du lịch nhằm tạo nên sự thống nhất về mặt hiệu quả trong việc phát triển du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Vì vậy, để phát triển du lịch một cách bền vững cần có sự hợp tác, liên kết giữa các địa phương cũng như sự phối hợp liên ngành một cách chặt chẽ Ta có thể kể đến một số loại hình liên kết như sau:
- Liên kết nội vùng: là sự liên kết giữa các tỉnh với nhau nhằm phát huy những tiềm năng du lịch của từng vùng đồng thời khắc phục những hạn chế của nhau
- Liên kết ngoại vùng: là sự liên kết, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của các vùng bên ngoài hoặc của các nước trên thế giới có điều kiện như nhau
- Liên kết các loại hình đặc trưng của du lịch: là sự liên kết nhằm bổ sung cho nhau, giúp đỡ nhau trong việc phát triển du lịch của cả vùng Loại hình liên kết này gây ra hiệu ứng tốt trong quá trình quảng bá du lịch của từng tỉnh, thành phố cũng như của
cả một vùng trọng điểm và nhằm tránh được những lãng phí về chi phí đào tạo nhân lực cũng như tránh sự trùng lặp về sản phẩm du lịch và tạo cho khách du lịch một sự hấp dẫn, tò mò muốn khám phá du lịch của vùng đó
1.5 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ẩm thực tại các vùng khác
Kể từ khi xuất hiện như một ngành công nghiệp vào năm 2003, du lịch văn hóa ẩm thực đã thực sự phát triển rất nhanh chóng và đã trở thành một phần không thể thiếu trong xu hướng phát
Trang 19triển du lịch của rất nhiều quốc gia trên thế giới Trong đó, có nhiều vùng, quốc gia đã đạt được những thành tựu rất lớn trong việc phát triển loại hình du lịch mới này và để lại những bài học kinh nghiệm quý giá cho những vùng hay quốc gia khác Vì vậy, ngoài những điều kiện chung và những điều kiện đặc trưng kể trên thì đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phát triển loại hình du lịch văn hóa ẩm thực tại một vùng hay một quốc gia
TỔNG KẾT CHƯƠNG I
Với mục tiêu làm rõ hệ thống cơ sở lí luận, làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch văn hóa ẩm thực tại một vùng, một quốc gia, chương này đã thể hiện tổng quan về vùng du lịch, hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch và khái niệm vùng
du lịch, hệ thống chỉ tiêu trong phân vùng du lịch và đưa ra những điều kiện chung để phát triển
du lịch tại một vùng cũng như những điều kiện đặc trưng để có thể phát triển văn hóa ẩm thực tại một vùng Bên cạnh đó, chương I cũng đã đưa ra khả năng và một số kinh nghiệm để có thể phát triển du lịch văn hóa ẩm thực tại vùng đó
CHƯƠNG II: ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN
HÓA ẨM THỰC TẠI VIỆT NAM
2.1. Điều kiện chung đối với sự phát triển của hoạt động du lịch tại Việt Nam
2.1.1. Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của Việt Nam
Theo con số của Bộ Công thương, năm 2011 nhiều chỉ số vĩ mô của Việt Nam đang tốt lên đáng kể, với tổng GDP ước khoảng 119 tỷ USD GDP đầu người đạt 1.300 USD/ người/ năm tương đương 27 triệu đồng/năm Mặc dù tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2011 chỉ đạt khoảng 5,9%, thấp hơn năm 2010 và thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch, nhưng đã có những chuyển biến tích cực cần được ghi nhận
Trang 20Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng GDP cao lên qua các quý Đà tăng lên này không chỉ là đặc điểm của nền kinh tế, mà còn gắn với sự cải thiện của tình hình chung.
Thứ hai, tăng trưởng GDP đạt được ở cả 3 nhóm ngành: nông, lâm nghiệp - thủy sản, công nghiệp - sản xuất và dịch vụ
Thứ ba, tăng trưởng GDP là kết quả đáng khích lệ trong điều kiện nền kinh tế năm 2011
so với năm 2010 gặp khó khăn, thách thức ở cả đầu vào và đầu ra
Thứ tư, tư duy về tăng trưởng đã có sự chuyển đổi quan trọng, đó là không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, tăng trưởng “ảo”
Sản xuất công nghiệp năm 2011, tuy còn chịu nhiều khó khăn và chịu những tác động mới của kinh tế thế giới nhưng vẫn duy trì được mức tăng trưởng, đạt kế hoạch đề ra Cơ cấu nội bộ công nghiệp đã có bước chuyển dịch khá tích cực với tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo tăng dần, tỷ trọng của công nghiệp khai khoáng giảm dần Nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn đã được thực hiện và một số đã đi vào hoạt động, góp phần nâng cao sản lượng và chất lượng nhiều sản phẩm công nghiệp, sản xuất, cung ứng đảm bảo nhu cầu những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất của các ngành kinh tế khác và tiêu dùng của nhân dân, đồng thời có đóng góp lớn vào xuất khẩu của cả nước
Đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa được đánh giá là thành tựu lớn nhất trong toàn nền kinh tế năm 2011 Mặc dù vẫn nhập siêu khoảng 10 tỷ USD, nhưng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta trong năm 2011 vượt trên 200 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 96 tỷ USD đóng góp 75% vào GDP Có đến 14 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD: dệt may, dầu thô, điện thoại và các linh kiện, giày dép Nhập siêu hàng hóa năm 2011 tăng 9,5 tỷ USD bằng 9,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Mức nhập siêu của năm 2011 là mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua và là năm có tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu thấp nhất kể từ năm 2002 Năm 2011 cũng chứng kiến mức bứt phá mạnh về xuất khẩu của Việt Nam, với mức tăng 32% so với năm 2010
Cũng trong năm 2011, thị trường trong nước tiếp tục mở rộng, nhiều doanh nghiệp thương mại đã củng cố và phát triển hệ thống phân phối, triển khai các loại hình bán buôn, bán
lẻ mới theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp Mạng lưới chợ và loại hình thương mại truyền thống tiếp tục được quan tâm phát triển Thị trường miền núi, hải đảo được bảo đảm cung cấp các mặt hàng chính sách như sách vở, muối ăn, dầu hỏa, Nhờ đó, cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu cơ bản được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, không để xảy ra tình trạng “sốt hàng, sốt giá” Tuy nhiên, do giá không ít loại hàng hóa tăng,