Các vùng đất ngập nước được xem là nơi có sự đa dạng sinh học cao nhất trong tất cả các hệ sinh thái... - Theo bảng phân loại đất ngập nước của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN
Trang 1Nhĩm 4:
Tơn Nữ Hồng Phượng
Võ Thị Quyên Ngơ Thị Ái Quyên Hồng Thị Thanh Thủy
Võ Thị Thương Thương
ĐA DẠNG MỘT SỐ HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC Ở VIỆT NAM
Trang 2VI Một số hệ sinh thái đất ngập nước
ở Việt Nam
II Chức năng và lợi ích của
đa dạng hệ sinh thái đất ngập nước
I Khái niệm
V Thực trạng, nguyên nhân và biện pháp
bảo vệ đa dạng hệ sinh thái đất ngập nước
III Các hệ sinh thái đất ngập nước
Trang 3- Theo công ước Ramsar định nghĩa: Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 m khi triều thấp
I Khái niệm
Trang 4- Đa dạng hệ sinh thái liên quan đến sự khác nhau về loại hình sống, về sinh cảnh của các quần xã sinh vật
và các quá trình sinh học giữa các hệ sinh thái
- Đa dạng hệ sinh thái là cơ sở để đa dạng gen và đa dạng loài được thể hiện và bộc lộ ra ngoài, là cơ sở của tính đa dạng về văn hóa của xã hội loài người
Các vùng đất ngập nước được xem là nơi có sự đa dạng sinh học cao nhất trong tất cả các hệ sinh thái
Trang 5- Theo bảng phân loại đất ngập nước của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN – 1990), đất ngập nước Việt Nam có thể chia làm 3 hệ lớn:
+ Đất ngập nước ven biển
+ Đất ngập nước nội địa
+ Đất ngập nước nhân tạo bao gồm 12 phụ hệ: Biển, cửa sông, đầm phá, hồ nước mặn ven biển, sông, hồ, đầm lầy, vùng nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp, nơi khai thác muối, đất đô thị, đất công nghiệp
Trang 6Chắn sóng, chống xói lở, ổn định
bờ biển, điều hòa khí hậu
Lưu trữ, chứa nước và hạn chế lũ lụt
Chứa giá trị cao về đa dạng sinh học
II Chức năng
và lợi ích của
hệ sinh thái đất ngập nước
Trang 7- HST bãi lầy mặn ngập triều
- HST đất ngập nước ven sông suối
- HST rừng ngập nước ngọt nội địa và các vùng đất ngập nước ngọt nội địa
Trang 8và bão tố ven biển
+ Nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã bản địa và di cư (chim, thú, lưỡng cư, bò sát)
+ Cung cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác
+ Có độ đa dạng sinh học cao
Trang 9- Đầm phá:
+ Do đặc tính pha trộn giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ
và nước mặn
+ Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt
Trang 10- Rạn san hô, cỏ biển: là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển ven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới
+ Quần xã rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn
+ Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc biệt loài bò biển Dugon
Trang 11- Vùng biển quanh các đảo ven bờ:
+ Ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rất phong phú
+ Vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức độ ĐDSH rất cao với các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô, cỏ biển
Trang 12Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:
- ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng
+ Diện tích 229.762 ha
+ Tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim nước
Trang 13- ĐNN đồng bằng sông Cửu Long
+ Diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha
+ Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di
cư từ phía thượng nguồn sông Mê Công
+ Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năng sản xuất cao
+ Có 3 hệ sinh thái tự nhiên:
• Hệ sinh thái ngập mặn ven biển
• Hệ sinh thái rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa
• Hệ sinh thái cửa sông
Trang 14- Đặc điểm đặc trưng của HST đất ngập nước:
Đất ngập nước thường
có loại đất đồng nhất
Có hệ động thực vật thích nghi hoặc chịu được điều kiện ngập nước
Có sự hiện diện của nước
HST đất ngập nước
Trang 15VI Một số hệ sinh thái đất ngập nước ở Việt Nam
1 Rừng ngập mặn cần giờ
Trang 16Tàu Phía Tây giáp với tỉnh
Tiền Giang và tỉnh Long An
Phía Bắc giáp với huyện Nhà
Bè TPHCM Phía Nam giáp
với biển Đông
-Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác
1 Vị trí địa lý:
Trang 17Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú Nhưng trong chiến tranh bom đạn và chất độc hóa học đã làm nơi đây trở thành “vùng đất chết”.
2 Lược sử:
Trang 18- Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh,
và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ để khôi phục lại hệ sinh thái ngập mặn
- Ngày 21/ 01/ 2000, khu rừng này đã được Chương trình Con người và Sinh Quyển - MAB của UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam
Trang 19
- Sự khôi phục và phát triển cũng như bảo vệ của khu rừng này ghi nhận sự đóng góp rất lớn của lực lượng thanh niên xung phong thành phố Hồ Chi Minh
và nhân dân Cần Giờ Hiện khu rừng đã được giao cho chính người dân nơi đây chăm sóc và quản lý
Trang 20- Cần Giờ là hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn
- Rừng Cần Giờ nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều mà hệ thực vật nơi đây rất phong phú với trên 150 loài thực vật, trở thành nguồn cung cấp thức ăn và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác
3 Đa dạng sinh học:
Trang 21Có trên 30.300ha rừng Cần Giờ phát triển xanh tốt, trong
số này diện tích rừng trồng chiếm trên 21.300ha
RỪNG:
Trang 22- Thảm cỏ biển với các loài ưu thế Halophyla sp., Halodule sp., và Thalassia sp
Trang 26-Trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như: tắc kè (gekko gekko), kỳ đà nước (varanus salvator), trăn đất (python molurus), trăn gấm (python reticulatus), rắn cạp nong (bungarus fasciatus), rắn hổ mang(naja naja), rắn hổ chúa (ophiophagus hannah), vích (chelonia mydas), cá sấu hoa
cà (crocodylus porosus)…
Trang 27Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành "lá phổi" đồng thời là "quả thận" có chức năng làm sạch không khí
và nước thải từ các thành phố công nghiệp trong thượng nguồn sông Ðồng Nai - Sài Gòn để ra biển Ðông
Trang 282 Vườn quốc gia Tràm Chim
Tân Công Sinh) và Thị trấn Tràm
Chim, với số dân trong vùng là
30.000 người
Trang 30Lược sử
- Năm 1985, Tràm Chim được Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp thành lập với tên gọi là Công ty Nông Lâm Ngư trường Tràm Chim
- Năm 1991, Tràm Chim trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim cấp tỉnh, nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii)
- Năm 1994, nơi đây trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim, cấp quốc gia
- Năm 1998, nơi đây trở thành Vườn quốc gia Tràm Chim
Trang 31- Bảo vệ khu vực di trú cho các loài chim di cư, đặc
biệt là loài chim sếu (Grus antigone), bảo tồn các
loàiđộng-thực vật bản địa, các nguồn gen quý hiếm
- Duy trì những điều kiện thích hợp cho việc nghiên cứu môi trường tự nhiên và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Trang 32Đa dạng sinh học
Hệ động vật :
- Có trên 100 loài động vật có xương sống, gần 40 loài lưỡng
cư bò sát, có 129 loài cá nước ngọt, 231 loài chim nước thuộc 49 họ, 14 bộ
- Đặc biệt có 16 loài chim qúy hiếm sinh sống và được bảo
vệ như: Sếu đầu đỏ, Già đẫy lớn, Già đẫy Java, Cò quắm đầu đen, Cò thìa, Đại bàng đen
-Trong số 129 loài cá, chủ yếu là nhóm cá trắng (chiếm khoảng 75%), còn lại là nhóm cá đen, đặc trưng là cá lóc đồng, cá lóc bông và cá sặt bướm
Trang 35Hệ thực vật:
- Kết quả khảo sát ghi nhận được 130 loài thực vật thuộc 47 họ, phân bố thành những quần xã thực vật đặc trưng
+ VQG Tràm Chim đa dạng sinh học về các kiểu thảm thực vật bao gồm các đồng cỏ ngập nước theo mùa, rừng tràm tái sinh và các đầm lầy
+ Tại đây có 5 quần xã cỏ dại chính, trong đó có quần xã
cỏ năng và lúa ma (lúa trời) chiếm ưu thế
Trang 36Các hệ sinh thái chủ yếu:
Trang 37HST rừng tràm: (Melaleuca cajuputi) là thảm thực vật thân gỗ có diện tích lớn nhất, diện tích khoảng 2968 ha Cây tràm được phân bố rộng khắp trong VQG, bao gồm các khu tràm trồng và tràm mọc rải rác xen lẫn trong các trảng cỏ và đầm lầy
cò lép, vạc, diệc lửa, diệc xám, điêng điểng, cồng cộc, tu
hú, cú ngói, cú cườm, cú …
Trang 38Hệ sinh thái đồng cỏ nước ngập theo mùa:
- Đồng cỏ ngập nước theo mùa là một trong những
hệ sinh thái khá phổ biến trong khu vực VQG Tràm Chim
Trang 39Đồng cỏ năng (Eleocharis sp.) chiếm diện tích khoảng 2.968
ha, tạo thành một trong những thảm cỏ rộng lớn; và hợp với các loài khác tạo thành các quần xã thực vật: năng kim – năng ống;năng kim - cỏ ống; năng ống - cỏ ống ;năng ống -
cỏ ống - lúa ma…
- Những nơi có địa hình thấp và ngập nước quanh năm thì xen lẫn trong quần xã năng là những loài thực vật thủy sinh như nhĩ cán vàng ,súng ma ,rong đuôi chồn
Những loài chim thường gặp : sếu (Grus antigone), cò trắng (Egretta garzetta), cò bợ (Ardeola bacclus), trích cồ, trích đất, vịt trời (Anas poecilorhyncha)…
Trang 40Đồng cỏ mồm (Ischaemum spp.); chiếm diện tích khá nhỏ, khoảng 41,8 ha
- Bao gồm mồm đơn thuần và quần xã mồm - cỏ ống Phân
bố hiện diện chủ yếu trên những dải liếp, bờ đất có địa hình cao cục bộ trong một vùng địa hình thấp
Những loài chim thường gặp : cồng cộc
(Pharacrocoraxniger), chiền chiện (Prinia flaviventris), cò bợ (Ardeola bacclus), cò lửa (Ixobrychus sinensis), cút nhỏ (Turnix syluatica), diệc lửa (Ardea purpurea), diệc xám (Ardea cinerea), cú (Tyto capensis), giang sen (Mycteria leucocephala), già đãy (Leptoptilos dubius)
Trang 41Đồng cỏ ống (Panicum repens): phân bố trên một diện rộng, chiếm diện tích khoảng 958,4 ha, ở dạng đơn thuần hoặc cùng xuất hiện với các loài thực vật thân thảo khác: cỏ ống -
cỏ sả; cỏ ống – lúa ma; cỏ ống - cỏ chỉ; cỏ ống – mai dương
Những loài chim thường gặp : công đất (Houbaropsis bengalensis), chiền chiện (Prinia flaviventris), sơn ca (Alauda gulgula), sẻ bụi (Saxicola caprata), trảu đầu hung (Merops superciliosus), cú (Tyto capensis), trích, cò (Ardeola bacclus), giang sen (Mycteria leucocephala), già đãy (Leptoptilos dubius), chích đầm lầy (Locustella certhiola)
Trang 42Đồng lúa ma
Đồng lúa ma (Oryza rufipogon); phân bố khá rộng, chiếm diện
tích khoảng 824 ha Tuy nhiên, cánh đồng lúa ma đơn thuần
có diện tích khá nhỏ, diện tích còn lại có sự kết hợp với những loài thực vật khác tạo thành những quần xã thực vật đặc trưng cho vùng đất ngập nước: lúa ma - cỏ ống; lúa ma - cỏ bắc, khoảng 160 ha; lúa ma - cỏ ống - cỏ chỉ
Hầu như tất cả các loài chim trong Tràm Chim đều thích với
đồng lúa ma, kể cả sếu đầu đỏ (Grus antigone), sinh cảnh này
đa dạng sinh học rất cao
Trang 44Đồng cỏ ngập nước theo mùa
Tràm
Trang 45Hệ sinh thái đầm lầy
Bao gồm:Sen và nghễ là chủ yếu
- Nghễ phân bố ở những nơi địa hình trũng thấp, khoảng 159
ha Trong đó, nghễ đơn thuần chiếm khoảng 138 ha, phần còn lại hiện diện chung với loài thực vật khác như lúa ma, rau dừa, nhĩ cán vàng
Những loài chim thường gặp : cò lửa, cò lép, cò ốc, cò bợ
- Sen – súng chủ yếu trên các vùng đầm lầy ngập nước quanh năm, dọc theo khu trũng thấp của dòng sông cổ, chiếm diện tích khoảng 158 ha
Những loài chim thường gặp : le hôi , le khoang cổ vịt trời trích
cổ, trích ré, gà lôi nước ,gà nước vằn, mòng két ,bói cá
Trang 473 Khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng
• Bao gồm cả khu vực bãi ngang, rừng ngập mặn Kim Sơn, Nghĩa Hưng, Thái Thụy, VQG Giao Thủy, cồn Nổi, cồn Vành, cồn Thủ, khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, và các vùng phụ cận, Khu Ramsar Xuân Thuỷ
• Đây là khu Ramsar được công nhận vào năm 1989,
là khu đầu tiên ở Việt Nam, cũng là khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á và thứ 50 của thế giới, là nơi cư trú của những loài chim nước
Trang 48• Có khoảng 200 loài chim, trong đó có gần 60 loài chim di cư, hơn 50 loài chim nước
• Nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới như: cò thìa, mòng bể, rẽ mỏ thìa, cò trắng bắc,
• Sinh cảnh đặc sắc nơi đây là những cánh rừng ngập mặn rộng hàng ngàn ha, đầm lầy mặn, bãi bồi ven biển và cửa sông
• Những cánh rừng này được ví như bức tường xanh bảo vệ đê biển, làng xóm khỏi bị tàn phá bởi gió bão, nước biển dâng, và cả thảm hoạ sóng
Trang 49• Khu dự trữ sinh quyển thế giới đồng bằng sông Hồng có tiềm năng rất lớn về du lịch sinh thái, tham quan và tìm hiểu về thế giới tự nhiên
Trang 501 Thực trạng:
- Việt Nam là một nước giàu các hệ sinh thái đất ngập nước, với diện tích ĐNN hơn 10 triệu ha, chiếm 1/3 diện tích đất đai cả nước
- Chủ yếu phân bố ở vùng châu thổ sông Hồng (1,29 tr ha), sông Cửu Long (3,9 tr ha), các HST đầm phá, các bãi bùn, các cửa sông và RNM phân bố dọc theo bờ biển kéo dài từ Móng Cái( Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang)
V Thực trạng, nguyên nhân và biện pháp bảo
vệ đa dạng hệ sinh thái đất ngập nước
Trang 51- Vùng đất ngập nước lớn nhất của Việt Nam là châu thổ sông Cửu Long bao gồm hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch chằng chịt, những cánh đồng bát ngát, rừng ngập mặn, rừng tràm, các bãi triều, ao nuôi tôm, cá
- Việt Nam hiện có trên 60 vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế như: vườn quốc gia Xuân Thủy (được công nhận là khu Ramsar), khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, vườn quốc gia Tràm Chim, phá Tam Giang- Cầu Hai…
Trang 52- Có khoảng 12.115 loài thủy sinh vật phân bố ở môi trường biển, môi trường nước lợ và các vùng nước nội địa cùng với hơn 300 loài động vật có xương sống
- Thú có 47 loài thuộc 11 họ, 4 bộ; chim có 170 - 180 loài thuộc 42 họ nằm trong 20 bộ; bò sát có 35 loài thuộc 6 họ và hầu hết 162 loài lưỡng cư thường sống
và phát triển trong môi trường ĐNN
- Trong số này đã ghi nhận 60 loài thuộc diện có nguy
cơ bị đe dọa có tên trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 như rái cá lông mượt, rái cá vuốt bé, mèo cá, hươu đầm lầy
Trang 53- Trong 15 năm qua, diện tích đất ngập nước tự nhiên đã giảm đi, diện tích đất ngập nước nhân tạo tăng lên
- Diện tích rừng ngập mặn đã giảm 183.724ha trong 20 năm qua (từ năm 1995) Trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản đã tăng lên 1,1 triệu ha năm 2003 Đến năm
2007 diện tích đất ngập nước giảm mạnh
Gây suy giảm đa dạng hệ sinh thái đất ngập nước
Trang 542 Nguyên nhân
- Sự gia tăng dân số
- Cơi cư trú bị tàn phá và ô nhiễm
- Chưa có quy hoạch tổng thể để bảo tồn và khai thác hợp lý
- Do các quá trình tự nhiên
- Biến đổi khí hậu
Trang 55- Dự báo về BĐKH, nhiệt độ trái đất nóng lên, mực nước biển sẽ dâng từ 75 cm đến 1 m vào năm 2100 Khoảng 20 đến 30% diện tích vùng thấp đồng bằng sông Cửu Long và 11% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng bị ngập và sẽ có khoảng 78 sinh cảnh tự nhiên quan trọng, trong đó có 36 khu bảo tồn thiên nhiên, 8 vườn quốc gia và 11 khu dự trữ thiên nhiên kể cả các khu Ramsar sẽ bị ảnh hưởng