Hệ thống được phân tích và thiết kế theo hướng chức năng đảm bảo đủ chức năng và dữ liệu để tiến hành các quy trình quản lý đào tạo như: Lập kế hoạch đào tạo, phân công giảng dạy, Sinh v
Trang 1XÂY DỰNG PHẦN MỀM QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
Chuyển đổi từ đào tạo theo học chế niên chế sang đào tạo theo học chế tín
chỉ đang là một yêu cầu bức thiết đối với tất cả các trường Đại học và Cao
đẳng của nước ta Mô hình đào tạo này đã tỏ rõ nhiều ưu điểm, tuy nhiên việc
áp dụng nó cũng đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết Một trong những vấn đề
đó là cần phải ứng dụng Công nghệ thông tin, cụ thể là phải có một chương trình để Quản lý đào tạo
Sau một quá trình nghiên cứu tài liệu và tham quan thực tế, chúng tôi đã thiết
kế được hệ thống Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của trường CĐSP Quảng Trị Hệ thống được phân tích và thiết kế theo hướng chức năng đảm bảo đủ chức năng và dữ liệu để tiến hành các quy trình quản lý đào tạo như: Lập kế hoạch đào tạo, phân công giảng dạy, Sinh viên đăng ký lớp học phần, rút học phần đã đăng
ký, Thu học phí, Lập kế hoạch thi, Quản lý điểm, xếp hạng học tập và xét tốt nghiệp cho sinh viên
Chắc chắn hệ thống còn có nhiều hiệu chỉnh và bổ sung, nhưng chúng tôi
tin tưởng nó sẽ đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật và nghiệp vụ của Nhà trường Trong tương lai không xa Trung tâm học tập trực tuyến của Nhà trường sẽ được tích hợp vào hệ thống này để tạo thành một hệ thống quản lý và hỗ trợ đào tạo
Trang 2hoàn chỉnh hơn
Với triết lý “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào
tạo”[5], từ năm 2001, Bộ GD&ĐT đã quyết định chuyển đổi việc tổ chức đào tạo, kiểm tra,
thi và công nhận tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng hệ chính quy cho sinh viên từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ Bộ cũng đã yêu cầu tất cả các trường Đại học, Cao đẳng trong
cả
nước phải hoàn tất việc chuyển đổi này chậm nhất vào năm 2010 Theo đánh giá của Tổ chức ngân hàng thế giới (World Bank), thì đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, không chỉ có hiệu
quả đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển[5]
Ở
nước ta, nhiều trường Đại học, Cao đẳng đã triển khai đào tạo theo Hệ thống tín chỉ và đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp
Thực hiện chỉ thị của Bộ và với quyết tâm nâng cao chất lượng đào tạo, từ năm học
2007-2008, trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị đã xây dựng chương trình và lập lộ trình để
đến năm học 2010-2011 sẽ chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho sinh viên cao đẳng
hệ chính quy
Trong quá trình chuyển đổi này, ngoài những khó khăn như: Đội ngũ cán bộ quản lý
và giảng viên chưa hiểu biết đúng và đầy đủ về việc đào tạo theo học chế tín chỉ; nhà trường chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện, đặc biệt là khung chương trình chưa chuẩn bị theo yêu cầu của học chế tín chỉ, thiếu kinh nghiệm và kỹ năng dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Quang Tri Teacher Training College, Vietnam – Ubon Ratchathani Rajabhat
University, Thailand
Trang 3
Conference on Information Technology Application in Education and Training
111
phương pháp tiên tiến; hoạt động dạy - học và quản lý đào tạo còn theo kiểu niên chế[4] Trường chúng tôi cũng còn một khó khăn nữa là chưa xây dựng được một hệ thống phần mềm để Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
Căn cứ “Qui chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT; Kế hoạch của Ban Chỉ đạo chuyển đổi sang học chế tín chỉ trường CĐSP Quảng
Trị Trên cơ sở nghiên cứu các bài viết của nhiều tác giả về triển khai đào tạo và xây dựng
phần mềm Sau khi đi thực tế để học tập kinh nghiệm tại các trường Đại học Rajabhat Ubon
Ratchathani – Thái Lan, Đại học Thăng Long Hà Nội và Đại học Kinh tế Đà Nẵng, chúng tôi
đã tiến hành thiết kế cho phần mềm "Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của trường CĐSP
Quảng Trị"
1.QUY TRÌNH THỰC HIỆN MỘT NĂM HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Một năm học có ba học kỳ, theo thứ tự là học kỳ 1, học kỳ 2 và học kỳ phụ Trong đó học kỳ 1 và học kỳ 2 mỗi học kì diễn ra trong 18 tuần, gồm có 15 tuần học và 3 tuần thi học kỳ; học kỳ phụ diễn ra trong 6 tuần, gồm có 5 tuần học và 1 tuần thi học kỳ[1] Các hoạt động cơ bản trong một năm học được tiến hành như sau:
Chuẩn bị cho một năm học mới:
Trang 4Trước khi năm học mới bắt đầu 9 tuần, Phòng Đào tạo và các khoa căn cứ trên quy
chế đào tạo tín chỉ, chỉ tiêu đào tạo và chương trình đào tạo, hoàn thành xây dựng kế hoạch
đào tạo dự kiến cho năm học mới Trước khi năm học mới bắt đầu 6 tuần, phòng đào tạo
và các khoa phải hoàn thành việc phân công giảng dạy và phát sổ tay học tập cho sinh viên
Chuẩn bị cho mỗi học kỳ chính:
Trước khi học kỳ chính bắt đầu khoảng 6 tuần, Phòng Đào tạo và các khoa phải hoàn thành xây dựng kế hoạch đào tạo dự kiến cho học kỳ, công bố kế hoạch này và phát phiếu đăng ký học tập cho sinh viên Bốn tuần tiếp theo sinh viên tiến hành đăng ký bình
thường
Hai tuần còn lại trước khi bắt đầu học kỳ chính, phòng đào tạo sẽ tiến hành sắp xếp các lớp
học phần và công bố kế hoạch đào tạo chính thức
Tiến trình thực hiện mỗi học kỳ chính:
Ngoài hai hoạt động học (15 tuần đầu) và thi học phần (3 tuần cuối) Trong mỗi học
kỳ chính còn có các hoạt động sau: Hai tuần đầu của học kỳ chính, sinh viên có thể tiến hành đăng ký muộn Từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6, sinh viên tiến hành đóng học phí cho các học phần đã đăng ký Tuần thứ 7 và tuần thứ 8, sinh viên có thể xin rút học phần đã đăng ký (nếu có nhu cầu) Từ tuần 9 đến tuần 15, phòng đào tạo lên lịch thi học phần Chuẩn bị cho mỗi học kỳ phụ:
Trước khi học kỳ phụ bắt đầu khoảng 4 tuần, Phòng Đào tạo và các khoa phải hoàn
thành xây dựng kế hoạch đào tạo dự kiến cho học kỳ, công bố kế hoạch này và phát phiếu đăng ký học tập cho sinh viên Hai tuần tiếp theo sinh viên tiến hành đăng ký bình
thường
Trang 5Hai tuần còn lại trước khi bắt đầu học kỳ phụ, phòng đào tạo sẽ tiến hành xử lý các lớp học
phần và công bố kế hoạch đào tạo chính thức
Tiến trình thực hiện mỗi học kỳ phụ:
Ngoài hai hoạt động học (5 tuần đầu) và thi học phần (1 tuần cuối) Trong mỗi
học kỳ phụ còn có các hoạt động sau: Một tuần đầu của học kỳ phụ, sinh viên có thể Quang Tri Teacher Training College, Vietnam – Ubon Ratchathani Rajabhat University, Thailand
2.PHẦN CỨNG VÀ PHẦN MỀM SỬ DỤNG CHO HỆ THỐNG
2.1 Phần cứng: Bổ sung hai máy chủ vào Trung tâm mạng máy tính của nhà
trường để chuyên dùng cho hệ thống phần mềm Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
Sử dụng hệ thống mạng LAN và đường truyền Internet của nhà trường
2.2 Phần mềm: Hệ thống được xây dựng dựa trên ba phần mềm cơ bản sau:
* Hệ điều hành:Windows XP, Windows 2003 Server, Windows Vista
* Hệ quản trị cơ sở dữ liệu MySQL
* Ngôn ngữ lập trình PHP
* Phần mềm hỗ trợ tiếng Việt Unikey
3 CÁC CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG
Trang 6Hệ thống chương trình Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ của trường CĐSP Quảng Trị có các chức năng sau:
3.1 Chức năng Hệ thống: bao gồm các chức năng con
a Đăng nhập vào hệ thống hoặc đăng xuất khỏi hệ thống
b Tạo mới, sửa đổi, loại bỏ và cấp phát quyền cho người sử dụng
c Thay đổi mật khẩu người sử dụng
d Quản lý các từ điển dữ liệu
e Quản lý các điều kiện ràng buộc: Thời gian, các quy định của quy chế đào tạo
f Sao lưu dữ liệu từ máy chủ hoạt động sang máy chủ dự phòng hoặc sao ra thiết
bị nhớ ngoài
3.2 Chức năng Quản lý hồ sơ: bao gồm các chức năng con
a Quản lý hồ sơ giảng viên
b Quản lý hồ sơ sinh viên
c Quản lý phòng học và thiết bị dạy học
3.3 Chức năng Quản lý đào tạo: gồm các chức năng con
a Tạo mới khoá học và lập danh sách các ngành và chuyên ngành đào tạo của
khoá học
b Import danh sách sinh viên từ dữ liệu tuyển sinh, lập các lớp sinh hoạt, cấp tài
khoản cho sinh viên và quản lý các lớp sinh hoạt
c Quản lý danh mục các học phần và ràng buộc về điều kiện tiên quyết của học
phần
d Quản lý khung chương trình đào tạo Quang Tri Teacher Training College, Vietnam – Ubon Ratchathani Rajabhat University, Thailand
Trang 7
Conference on Information Technology Application in Education and Training
113
e Tạo mới năm học, xác định các mốc thời gian của hoạt động đào tạo, lập và quản lý chương trình đào tạo trong năm học của từng ngành, tổ chức lớp học phần
f Phân công giảng dạy
g Xây dựng kế hoạch đào tạo dự kiến và xác lập kế hoạch đào tạo chính thức cho mỗi học kỳ
3.4 Chức năng Quản lý giảng dạy: gồm các chức năng con
a Quản lý sinh viên theo lớp học phần về danh sách thực học và việc đóng học phí
b Quản lý đăng ký nhập học bao gồm xử lý các công việc Đăng ký bình thường, Đăng ký muộn và rút học phần của sinh viên
c Quản lý việc thực hiện giảng dạy và thống kê khối lượng giảng dạy của giảng viên
3.5 Chức năng quản lý học tập: gồm các chức năng con
a Quản lý điểm kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ
b Xếp loại kết quả học tập, xét ngừng học, buộc thôi học, xét học bổng cho sinh viên
c Xét duyệt đăng ký học chương trình thứ 2 và chuyển điểm cho chương trình thứ
2
d Xét duyệt sinh viên chuyển từ các trường khác về trường CĐSP Quảng Trị và
từ trường CĐSP Quảng Trị đến các trường khác
Trang 8e Xét tốt nghiệp cho sinh viên theo ngành học đăng ký
3.6 Chức năng Thi học phần: gồm các chức năng con
a Lập danh sách sinh viên đủ điều kiện dự thi học phần đã đăng ký
b Lập lịch và bố trí phòng thi
c Quản lý sinh viên thi lại để cải thiện điểm tích luỹ
d Phân công và theo dõi việc thực hiện của cán bộ coi thi
e Dồn túi và tạo phách bài thi
f Phân công, theo dõi việc thực hiện của cán bộ chấm thi
4 DỮ LIỆU CỦA HỆ THỐNG
1 Danh mục dữ liệu liên quan đến đào tạo: Ngành đào tạo, Trình độ đào tạo, Hệ
đào tạo, Khoá học, Học kỳ, Hình thức thi, Thang điểm tín chỉ
2 Danh mục dữ liệu liên quan đến giảng viên: Học hàm, Học vị, Loại giảng viên
(Cơ hữu/ thỉnh giảng), Ngạch giảng viên, Hệ số lương, Tỷ lệ giảng dạy theo chức vụ của giảng viên (Theo quy chế giờ làm việc của giảng viên của trường CĐSP Quảng Trị)
3 Danh mục dữ liệu liên quan đến sinh viên: Chức vụ lớp, Chức vụ Đoàn TNCSHCM, Chức vụ Hội Sinh viên, Hình thức khen thưởng/kỷ luật, Lý do nghỉ học/ ngừng học/buộc thôi
học Quang Tri Teacher Training College, Vietnam – Ubon Ratchathani Rajabhat
Trang 9Huyện/Thị xã/ Thành phố
5 Danh mục dữ liệu liên quan đến chính sách: Dân tộc, Tôn giáo, Đối tượng, Khu
vực, Diện ưu đãi, Diện xã hội, Học bổng
6 Danh mục dữ liệu liên quan đến cơ cấu tổ chức: Phòng/Khoa/Trung tâm/Tổ trực thuộc, Tổ bộ môn/tổ nghiệp vụ, Chức vụ chính quyền/đoàn thể
7 Hồ sơ giảng viên: Lý lịch giảng viên, Tài khoản giảng viên (để đăng nhập hệ
thống), Hồ sơ chuyên môn, Sổ tay giảng viên
8 Hồ sơ sinh viên: Lý lịch sinh viên, Tài khoản sinh viên (để đăng nhập hệ thống), Sổ theo
dõi quá trình học tập, Sổ theo dõi quá trình rèn luyện, Sổ theo dõi quá trình cấp học bổng,
Sổ tay
sinh viên
9 Hồ sơ phòng học, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, thiết bị dạy học
10 Dữ liệu quản lý đào tạo: Chương trình đào tạo theo ngành học, Học phần, Mô tả ràng buộc học phần, Lớp sinh hoạt, kế hoạch đào tạo năm học, Kế hoạch đào tạo học kỳ, Thời khoá
biểu
11 Dữ liệu quản lý giảng dạy: Hồ sơ lớp học phần, Phiếu nộp học phí của sinh
viên, Phiếu đăng ký học, Phiếu xin rút học phần, Sổ theo dõi giảng dạy, Các số liệu tổng kết năm học
12 Dữ liệu quản lý thí vụ: Danh sách thí sinh, Danh sách phòng thi, Danh sách cán
bộ coi thi, Danh sách cán bộ chấm thi, Lịch thi, Bảng phách, Bảng ghi điểm
5 MÔ HÌNH DÒNG DỮ LIỆU
Có thể tóm tắt mô hình dòng dữ liệu của hệ thống Quản lý đào tạo theo hoc chế tín chỉ của trường CĐSP Quảng Trị theo sơ đồ sau đây:
Trang 10Dữ liệu dự phòng Dữ liệu chính Dữ liệu để truy cập Web
Phòng Tài vụ Văn phòng khoa/
Trang 11năng con và 12 khối dữ liệu, đảm bảo thực hiện các quá trình trong hoạt động đào tạo theo hệ
Trung tâm học tập trực tuyến của Nhà trường để quản lý chặt chẽ hơn việc dạy - học và kết quả học
tập của sinh viên
ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TẠO ĐỘNG LỰC
CHO SỰ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI HỌC
Tham luận tại Hội thảo khoa học “Đào tạo liên thông trong Hệ thống tín chỉ”
Trang 12ngân hàng thế giới (World Bank), thì đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, không chỉ có hiệu quả đối
với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển Đây là phương
thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào
tạo” Bản chất của đào tạo theo Hệ thống tín chỉ là sự tích lũy kiến thức được quy định trong
các chương trình đào tạo Sự tích lũy được đánh giá bằng: số tín chỉ tích lũy tối thiểu và điểm
trung bình chung tích lũy tối thiểu quy định cho mỗi chương trình để sinh viên có thể tốt nghiệp Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo số tín chỉ tích lũy tối thiểu cho
chương
trình đào tạo đại học 5 năm là 150 tín chỉ và điểm TBCTL của 150 tín chỉ được tích lũy này
phải ³ 2 (theo thang điểm 4) là điều kiện quan trọng nhất để xét tốt nghiệp
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển năng lực của người học Trong đào tạo theo học phần – niên chế, sinh viên phải học theo tất cả những gì Nhà trường sắp đặt, không phân biệt sinh viên có điều kiện, năng lực tốt, hay sinh viên có hoàn
Trang 13cảnh khó khăn, năng lực yếu Ngược lại, đào tạo theo Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên
“Chương trình hành động của chính phủ” thực hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa
XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụng học chế tín chỉ trong đào
tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp …” Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam
giai đoạn 2006-2020 đã được Chính phủ phê duyệt cũng khẳng định: “… xây dựng học chế tín
chỉ thích hợp cho giáo dục đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống
giáo dục đại học chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ…” Cho đến nay, cả nước đã
Trang 14chỉ đạo rất kiên quyết và khoa học của Ban giám hiệu, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của đồng chí
Hiệu trưởng, sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị trong trường, đội ngũ giảng viên nhận thức
được trách nhiệm và tham gia vào quá trình đào tạo một cách tự giác, bằng cả tấm lòng của
người thầy
2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ có các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Kiến thức được cấu trúc thành các mô đun (học phần)
- Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng học phần
- Sinh viên tự đăng ký học tập và tổ chức lớp học theo học phần
- Đơn vị học vụ là học kỳ, xét kết quả học tập theo học kỳ chính (một năm học có hai học kỳ chính và một học kỳ phụ)
- Đánh giá học phần là đánh giá quá trình, sử dụng thang điểm 10, thang điểm chữ và thang điểm 4, điểm trung bình chung tốt nghiệp phải ³ 2,0
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy (số tín chỉ tích lũy tối thiểu) cho từng văn bằng Xếp năm học theo số tín chỉ tích lũy tại thời điểm xem xét
- Có hệ thống cố vấn học tập am hiểu về chương trình đào tạo và nắm vững tình hình học tập cụ thể của sinh viên
- Chương trình đào tạo mềm dẻo, có tính liên thông cao, ngoài học phần bắt buộc còn
có học phần tự chọn để sinh viên có điều kiện tích lũy thêm tín chỉ và định hướng chuyên môn, nghề nghiệp
- Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp với các chương trình cao đẳng và đại học
Trang 15- Bắt buộc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực theo nguyên tắc lấy sinh viên làm trung tâm
3 TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
3.1 Chương trình đào tạo
Phải ổn định, công khai hóa chương trình đào tạo và kế hoạch học tập toàn khóa
Chương trình đào tạo phải đảm bảo tính liên thông ngang cao (có nhiều học phần học chung
trong toàn trường và khối ngành) để thuận lợi cho việc tổ chức các lớp học phần, chuyển đổi
chương trình đào tạo cho sinh viên và học cùng một lúc hai chương trình Phải xây dựng được
hệ thống mã hóa học phần chính xác và khoa học Các học phần đều phải có đề cương chi tiết
dưới dạng lịch trình giảng dạy trong đó phân rõ tuần dạy lý thuyết, tuần thảo luận, chữa bài
tập, thực hành v.v các điểm và tỷ trọng đánh giá thành phần, đánh giá thi kết thúc học phần
Nên sử dụng 1 tín chỉ = 15 tiết chuẩn = 12 tiết lên lớp lý thuyết + 6 tiết lên lớp thảo luận, bài
tập, thực hành v.v
3.2 Đăng ký học phần của sinh viên
Trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, sinh viên phải tự lập kế hoạch học tập toàn khóa, từng học kỳ cho phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân dưới sự giúp đỡ của
giáo viên chủ nhiệm (cố vấn học tập) Đăng ký học phần trong mỗi học kỳ của sinh viên phải
Trang 16đảm bảo điều kiện môn tiên quyết, học trước, song hành của các học phần đặt ra trong chương
trình đào tạo Đăng ký khối lượng học tập, quyết định sẽ học những học phần nào trong học kỳ
có ý nghĩa rất quan trọng đối với người học Đăng ký đúng với năng lực của bản thân dẫn đến
kết quả học tập tốt, làm cho sinh viên phấn khởi trong học tập Đăng ký vượt quá năng lực có
thể dẫn đến kết quả học tập kém làm sinh viên hoang mang, bối rối, ảnh hưởng trực tiếp đến
học tập trong học kỳ sau và có những quyết định sai lầm tiếp trong đăng ký các học phần tiếp
Hệ thống thông tin phục vụ đào tạo và quản lý sinh viên trong nhà trường phải đủ mạnh
để có thể triển khai tổ chức đăng ký học phần trực tuyến, phân cấp nhiệm vụ triển khai cho
sinh viên đăng ký và tổ chức thí nghiệm, thực hành thực tập cho các trung tâm thí
nghiệm,
trung tâm thực nghiệm của trường
Trang 173.3 Tổ chức lớp học phần
Trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, việc tổ chức lớp học phần và xếp thời khóa biểu phải thực hiện đến từng sinh viên và giảng viên Việc tổ chức lớp học phần phải căn cứ vào
những điều kiện cụ thể như sau:
- Những học phần dự định sẽ tổ chức giảng dạy trong mỗi học kỳ;
- Số lượng sinh viên đăng ký học từng học phần;
- Điều kiện cụ thể về giảng viên giảng dạy;
- Điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất đặc biệt là giảng đường;
- Các lớp học phần lý thuyết và thảo luận phải bố trí học vào những tuần xác định
trong học kỳ, nên tổ chức lớp học phần lý thuyết đến 200 sinh viên để các giảng viên có học vị cao và kinh nghiệm giảng dạy cho nhiều sinh viên hơn
Lịch trình giảng dạy phải thực hiện hết sức chính xác, không được đổi giờ hoặc bỏ giờ; mỗi giảng viên, mỗi sinh viên đều phải có thời khóa biểu riêng, không theo một quy luật nào
của sinh viên đòi hỏi phải sử dụng phần mềm quản lý đào tạo đủ mạnh
3.4 Đổi mới phương pháp dạy và học
Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo tiên tiến, vì thế nó đòi hỏi sự đổi mới trong
Trang 18phương pháp dạy và học, từ cách tiếp cận nội dung sang tiếp cận phương pháp Cái chúng
dạy và học như những năm của thế kỷ 20, thì ngày nay đào tạo đại học dù kéo dài đến 10 năm
cũng không đủ kiến thức cho sinh viên ra trường làm việc Hiện nay trong đào tạo theo học
phần – niên chế, 01 đơn vị học trình (ĐVHT) = 15 tiết lên lớp (nói chung các trường đều
là truyền thụ lại kiến thức
Đổi mới phương pháp dạy học cần đi liền với việc nâng cao trình độ và nghiệp vụ sư
Trang 19phạm cho giảng viên Tạo điều kiện cả về vật chất và tinh thần cho giảng viên nâng cao trình
độ, tham gia các khóa đào tạo cả trong và ngoài nước phải là mục tiêu chiến lược của mỗi nhà
trường
3.5 Quản lý sinh viên
Trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ có hai hệ thống lớp: Lớp sinh viên và lớp học
phần Lớp sinh viên tồn tại từ khi sinh viên vào trường cho đến khi sinh viên cuối cùng của lớp
ra trường Lớp học phần được tổ chức theo từng học kỳ và được hình thành trên cơ sở tập hợp
sinh viên từ các lớp sinh viên Điều này dẫn đến sinh viên trong cùng 1 lớp sinh viên ít có
cơ
hội học cùng nhau nhưng 1 sinh viên lại có điều kiện giao lưu học hỏi từ rất nhiều sinh viên
khác trong trường Việc quản lý sinh viên vì thế nên thay đổi theo các hướng sau:
- Quản lý sinh viên tại các lớp học phần là trách nhiệm của giảng viên trực tiếp giảng dạy và cán bộ lớp học phần
- Bố trí lịch sinh hoạt lớp cho các lớp sinh viên ít nhất 5 buổi/ học kỳ
- Xây dựng hệ thống quản lý sinh viên, sử dụng phần mềm quản lý sinh viên để giáo viên chủ nhiệm có thể hàng ngày nhận được được thông tin về sinh viên của lớp sinh viên
từ
nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt là phản ánh của giảng viên trực tiếp giảng dạy
Giáo dục nhân cách và ý thức cho sinh viên trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ là rất quan trọng bởi vì đây là hệ thống giúp cho sinh viên học tập và rèn luyện tự giác nhằm phát
Trang 20huy cao độ năng lực của bản thân Công tác này là nhiệm vụ của toàn nhà trường và các đoàn
thể chứ không phải chỉ giáo viên chủ nhiệm Mỗi trường cần mở Diễn đàn để sinh viên có thể
trao đổi với nhà trường những khó khăn, vướng mắc cũng như uốn nắn các em về nhân cách và
tư tưởng Các thầy cô giáo, đoàn thanh niên, hội sinh viên trường cần tham gia nhiều hơn nữa
vào Diễn đàn
Liên hệ giữa nhà trường và phụ huynh sinh viên cũng rất quan trọng, trên website của mỗi nhà trường cần có mục Nhà trường và Gia đình để các bậc phụ huynh sinh viên có thể biết
được tình hình học tập và rèn luyện của sinh viên tại trường Trong tương lai để phục vụ cho
đào tạo theo tín chỉ có thể phải tổ chức Hội cha mẹ sinh viên
3.6 Quy chế đào tạo và việc xét tiến độ học tập cho sinh viên
“Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo Hệ thống tín chỉ” của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐBGD&ĐT Đây là Quy chế chuẩn, rất khoa học và chặt chẽ tuy nhiên nếu vận dụng nó một cách cứng nhắc khi bắt đầu
triển khai đào tạo theo Hệ thống tín chỉ dễ dẫn đến việc số lượng sinh viên bị buộc thôi học có
thể sẽ rất cao như trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng trong năm học 2007-2008 là một
ví dụ
Điều này dẫn đến những quan điểm sai lệch về chất lượng đào tạo khi đào tạo theo Hệ thống
tín chỉ của một số người
Trang 21Mỗi trường cần xây dựng Quy chế Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ của trường trên cơ sở
cụ thể hóa “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo Hệ thống tín chỉ” của
hiện thành công quá trình này
- Sinh viên phải đảm bảo học ít nhất theo số tín chỉ tối thiểu quy định trong mỗi học kỳ
và điểm trung bình chung học kỳ (TBCHK) phải thỏa mãn điều kiện được tiếp tục học tập theo
Quy chế của Bộ
- Tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên có cơ hội học cải thiện điểm và học lại những học phần chưa đạt - Phải làm cho sinh viên hiểu rõ về thang điểm trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đó là
thang điểm chữ để đánh giá điểm học phần và thang điểm 4 để tính điểm TBCHK và điểm
TBCTL
Điểm không đạt
0 – 3,9 thang điểm 10 tương đương điểm F = 0 thang điểm 4
Điểm đạt
4,0 – 5,4 thang điểm 10 tương đương điểm D = 1 thang điểm 4
5,5 – 6,9 thang điểm 10 tương đương điểm C = 2 thang điểm 4
7,0 – 8,4 thang điểm 10 tương đương điểm B = 3 thang điểm 4
Trang 228,5 – 10 thang điểm 10 tương đương điểm A = 4 thang điểm 4
Thực ra thang điểm 4 là thang điểm rất có lợi cho sinh viên và là thang điểm đánh giá
“sạch” có thể thấy rõ điều này như sau:
- Sinh viên chỉ cần đạt điểm học phần 8,5 (thang điểm 10) thì khi quy đổi sang thang điểm 4 sẽ là điểm A = 4 (điểm cao nhất của thang điểm 4)
- Sinh viên đạt điểm học phần từ 4,0 - 4,9 (thang điểm 10) là điểm không đạt đối với học phần – niên chế, nhưng khi quy đổi sang thang điểm 4 là điểm D = 1 lại là điểm đạt Sinh
viên có thể không cần học lại học phần này hoặc học lại để cải thiện điểm đều được
- Trong đào tạo theo học phần – niên chế, sinh viên muốn có kết quả học tập xếp loại Khá thì phải đạt điểm trung bình chung của tất cả các học phần tối thiểu là 7,0 trong khi trong
đào tạo theo Hệ thống tín chỉ thì chỉ cần một nửa số tín chỉ tích lũy có điểm học phần 7,0
và
nửa còn lại có điểm học phần 5,5 là được
- Đánh giá “sạch” có nghĩa là nếu điểm học phần từ 0 - 3,9 (thang điểm 10) khi quy đổi sang thang điểm 4 sẽ là điểm F = 0 (điểm F của ta còn thấp hơn ở các nước phát triển nhiều, ở
Hoa Kỳ điểm F = 0 tương đương từ 0 - dưới 6,0) Điểm học phần F sẽ không có tác dụng nâng
điểm trung bình chung học kỳ hay tích lũy như trong đào tạo theo học phần - niên chế, và như
thế, kết quả học tập của sinh viên được đánh giá chính xác hay còn gọi là “sạch”, vì không bị
lẫn những kết quả kém
- Đánh giá học phần trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ là đánh giá quá trình với điểm
Trang 23thi kết thúc học phần, có thể chỉ chiếm 50% tỷ trọng điểm học phần Điều này làm cho sinh viên phải học tập, kiểm tra và thi liên tục trong suốt học kỳ chứ không phải chỉ trông chờ vào
kết quả của 1 kỳ thi đầy may rủi, nhưng có “nhiều cơ hội” để không học mà cũng có thể đạt
Vì thế, khi điểm học phần không đạt thì phải học lại để đánh giá lại tất cả các điểm bộ phận và
thi lại, chứ không thể đơn thuần tổ chức thi kết thúc học phần thêm lần 2
Điều kiện buộc thôi học theo Quy chế của Bộ hiện nay, không hề khắc nghiệt, bởi vì chỉ cần được tư vấn tốt thì khả năng sinh viên bị buộc thôi học là rất ít Điều kiện buộc thôi học
với điểm trung bình chung học kỳ (TBCHK) dưới 1,0 cũng rất nhẹ vì nó chưa bằng 25% điểm
cao nhất của thang điểm 4 Hơn nữa, sinh viên xếp hạng học tập yếu (có điểm trung bình trung
tích lũy dưới 2,0 theo thang điểm 4), có thể chỉ cần học 10 tín chỉ/ học kỳ, tương đương với 3-
4 học phần, mà điểm TBCHK không đạt nổi 1,0 thì việc buộc thôi học là đương nhiên Ngay
cả khi sinh viên nhận ra số tín chỉ đăng ký vượt quá khả năng học tập của bản thân, thì trong 6
tuần đầu của học kỳ chính, sinh viên vẫn được phép rút bớt học phần, miễn là đảm bảo số tín
chỉ tối thiểu quy định trong Quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo GS.TS Đặng Quốc Thông,
giám đốc chương trình đại học Hàng không Vũ trụ của trường Đại học Syracuse Hoa Kỳ khi
đến thăm trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên đã nói rằng: “Cứ
3
Trang 24sinh viên vào học các ngành kỹ thuật của trường Đại học này thì có 1 sinh viên chắc chắn
điều kiện cụ thể của từng trường
3.7 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo khi triển khai đào tạo theo Hệ thống tín chỉ phải đáp ứng được tính mềm dẻo và linh hoạt của Hệ thống quản lý đào tạo này Hệ thống giảng đường
phải đa dạng có sức chứa lớn, trung bình và nhỏ để tổ chức các lớp lý thuyết, thảo luận, thực
hành v.v Các giảng đường đều phải trang bị hệ thống thiết bị hỗ trợ giảng dạy cố định, làm
việc tin cậy và ổn định Thư viện phải tăng cường các nguồn giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu
tham khảo Toàn bộ hệ thống phục vụ giảng đường và thư viện phải hoạt động một cách mềm
dẻo và linh động để phục vụ nhu cầu tự học của sinh viên
Tăng cường cơ cở vật chất phục vụ thí nghiệm, thực hành, thực tập thông qua các dự án
và khai thác thiết bị có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo là nhiệm
vụ
cần ưu tiên trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ 3.8 Thực hiện phân cấp quản lý đào tạo
và quản lý sinh viên
Tập trung việc quản lý và điều hành đào tạo về phòng Đào tạo là một yêu cầu trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ Tuy nhiên, trong năm học đầu tiên triển khai đào tạo theo Hệ thống
Trang 25tín chỉ, mọi công tác quản lý đào tạo, thi, kiểm tra đã tạo nên áp lực quá lớn cho phòng Đào tạo
và sự phân tải không đều giữa phòng với các khoa chuyên môn Để khắc phục tình trạng này
trường Đại học KTCN đã xây dựng và triển khai “Đề án phân cấp quản lý đào tạo và quản lý
sinh viên” để tạo ra cơ chế cho các đơn vị trong toàn trường cùng tham gia tích cực vào quá
trình đào tạo Có thể nói việc phân cấp quản lý đào tạo đã tạo nên một luồng gió mới trong đào
tạo theo Hệ thống tín chỉ, phát huy cao độ sức mạnh của các phòng chức năng, khoa chuyên
môn, bộ môn và từng giảng viên trong trường trong việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất
Trang 26Chương trình đào tạo sau khi phân chia thành các học phần, nhưng không có nhiều học phần học chung cho tất cả các ngành, chung cho khối ngành, và các học phần riêng cho từng
ngành sẽ gây khó khăn cho việc tổ chức đào tạo theo Hệ thống tín chỉ Cùng một học phần, dạy
cho các ngành khác nhau lại có nội dung khác nhau không nhiều, là một trở ngại rất lớn cho
việc tổ chức đào tạo Chương trình đào tạo có nhiều học phần 1 và 2 tín chỉ cũng làm cho việc
tổ chức đào tạo trở nên phức tạp không cần thiết, vì thế, nếu không vì yêu cầu thật đặc biệt,
không nên chia cắt môn học thành hai học phần dạy trong hai học kỳ
4.2 Đăng ký học phần của sinh viên
Không đọc, không hiểu Quy chế đào tạo mặc dù Quy chế đào tạo có thể Download trực tiếp từ Website của trường, không đề nghị được tư vấn học tập, không quan tâm đến những tư vấn của nhà trường, không biết rút học phần trong thời hạn còn cho phép chính
quyết định sai lầm tương tự
Những sinh viên có kết quả học tập kém, nói chung là những sinh viên lười học, hay bỏ tiết học, luôn về nhà chơi vào cuối tuần, lười cập nhật thông tin, không đổi mới được phương
pháp học tập
Trang 27Một phần trách nhiệm trong việc đăng ký học phần không đúng với sức học là vai trò
tư vấn của giáo viên chủ nhiệm (cố vấn học tập) còn tương đối mờ nhạt Một số thầy cô chủ
nhiệm khi ký xác nhận vào bảng đăng ký học phần mà không hề tư vấn cho sinh viên Vấn đề
chấm và xử lý điểm cho sinh viên nói chung còn chậm nên cũng gây khó khăn cho việc đăng
ký học phần của sinh viên
4.3 Thang điểm 4 và điều kiện buộc thôi học theo Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng theo Hệ thống tín chỉ của Bộ
Khi nhà trường triển khai thực hiện quy chế của Bộ, nhiều sinh viên không hình dung được tác dụng sàng lọc “sạch” của thang điểm 4 và vai trò của các điểm thành phần đối với
điểm học phần nên còn chưa chịu khó học tập hàng ngày mà chỉ tập trung vào các dịp kiểm tra
và thi kết thúc học phần vì thế kết quả thấp
Đăng ký học phần không đúng với năng lực, học tập trông chờ nhiều vào may rủi trong các kỳ kiểm tra và thi làm cho một số sinh viên rơi vào điều kiện buộc thôi học theo Quy chế
của Bộ
4.4 Đổi mới phương pháp dạy và học
Việc đổi mới phương pháp dạy và học là vấn đề khó khăn nhất trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đặc biệt là các giờ thảo luận Về phía giảng viên dạy lý thuyết có hiện tượng giáo
viên không cô đọng được nội dung giảng dạy dẫn đến dạy quá nhiều nội dung trong thời gian
Trang 28ngắn làm cho sinh viên khó tiếp thu và hoang mang Các giờ thảo luận còn có nhiều quan điểm
khác nhau về tổ chức và đánh giá Nhiều giờ thảo luận còn chưa thực sự đúng là thảo luận và
đạt hiệu quả thấp
Về phía sinh viên, sức ỳ lớn nhất là các em vẫn quen với tác phong học tập bị động phụ thuộc nhiều vào nội dung các thầy cô truyền đạt, một số em còn vẫn giữ quan điểm học tập
bằng mọi giá thi đạt là được Một số sinh viên còn lười học, say mê với chơi điện tử 4.5 Quản lý sinh viên trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, trong công tác quản lý sinh viên vẫn còn
những bất cập như mối quan hệ giữa Nhà trường – giáo viên chủ nhiệm – sinh viên còn tương
đối lỏng lẻo Giáo viên chủ nhiệm chưa thực sự nắm chắc tình hình hình học tập của sinh viên
4.6 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Cơ sở vật chất nói chung là đáp ứng được yêu cầu đào tạo theo Hệ thống tín chỉ nhưng một số thiết bị hỗ trợ giảng dạy còn chưa làm việc ổn định và tin cậy Giáo trình, sách giáo
khoa phục vụ học tập vẫn còn thiếu
V KẾT LUẬN
Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đòi hỏi cả nhà trường phải có những đổi mới cơ bản về tư duy tổ chức đào tạo để đáp ứng với yêu cầu chuyển từ đào tạo lấy nhà trường và thầy cô giáo
làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm Đây là vấn đề thuộc về tư tưởng nên không
Trang 29thể thay đổi trong một sớm, một chiều mà cần có thời gian nên trên con đường chuyển đổi từ
cái cũ sang cái mới, mỗi nhà trường cần có lộ trình và liên tục điều chỉnh cho phù hợp với
hoàn cảnh cụ thể của mình
Bản chất của đào tạo theo Hệ thống tín chỉ mà Quy chế đào tạo là cơ sở để vận hành nó luôn tạo điều kiện tốt nhất cho người học phát huy cao độ năng lực của bản thân Tuy nhiên,
đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải nắm chắc Quy chế đào tạo và được tư vấn
đầy đủ, để lập được kế hoạch học tập thật phù hợp với điều kiện và năng lực cụ thể của mình
Hơn nữa, sinh viên phải tiếp cận được với phương pháp học tập chủ động, lấy tự học và học
tập theo nhóm làm chính, để đáp ứng được yêu cầu của đào tạo và quan điểm học tập suốt đời
của thời đại ngày nay
Để nâng cao chất lượng nhân sự, tăng năng suất lao động thì mỗi doanh nghiệp cần phải cải thiện kỹ năng, kiến thức cho từng nhân viên, từng cán bộ quản lý Do vậy công tác đào tạo là một khâu rất quan trọng và cần được tiến hành thường xuyên Vấn đề mà các doanh nghiệp gặp phải đó là đào tạo thế nào cho hiệu quả? Đào tạo cho nhân viên những
kỹ năng, kiến thức gì? Chi phí đào tạo là bao nhiêu? Thời gian đào tạo như thế nào? Kết quả các đợt đào tạo ra sao? Đánh giá chất lượng các đợt đào tạo như thế nào?
Trang 30Phân hệ quản lý đào tạo của Phần mềm quản lý nhân sự BIZZONE 2012 cung cấp công
cụ hiệu quả giúp cho công tác quản lý đào tạo ở các mặt: kế hoạch đào tạo, tổ chức thực hiện cũng nhƣ theo dõi chi phí, kết quả đào tạo
Tính năng & sự khác biệt
Tính năng
Quản lý lập kế hoạch đào tạo
Quản lý các lớp đào tạo
Quản lý chi tiết thông tin học viên
Quản lý khóa đào tạo
Quản lý chi phí, diễn biến đào tạo
Quản lý kết quả đào tạo
Quản lý kết quả đánh giá của học viên
Quản lý cam kết sau đào tạo
Báo cáo, thống kê