PHẦN NỘI DUNG 1/ Cơ sở lý luận:Muốn nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, người giáo viên cần nắm vững: a Yêu cầ u cơ b ản của dạy tập viết ở lớp 1: + Kiến thức: Giúp học sinh có đư
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ
NỘI Phòng giáo dục và đào tạo Thường Tín
-&&& -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ĐỂ HỌC SINH VIẾT ĐẸP NGAY TỪ LỚP 1”
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
Giáo viên chủ nhiệm lớp : 1A Trường :Tiểu học Chương Dương
Năm học: 2011-2012
Trang 2
MỤC LỤC Trang I PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3.Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 6 Các tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
7 Thời gian nghiên cứu 4
II PHẦN NỘI DUNG 1 Cơ sở lí luận 6
2 Cơ sở tâm lí 7
3 Cấu tạo chữ viết 9
4 Phương pháp dạy Tập viết 14
5 Biện pháp tiến hành 16
6 Kết quả 20
III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 20
Trang 3I.PHẦN MỞ ĐẦU
1/Lí do chọ n đ ề tài:
Từ thời cổ đại, khi chữ viết ra đời cho tới ngày nay khi Công nghệ thông tin phát triển khắp toàn cầu, chữ viết vẫn giữ một vai trò quan trọng không thể thay thế Đối với lịch sử phát triển của xã hội loài người, chữ viết có một vai trò rất to lớn Chữ viết là phương tiện ghi lại thông tin, không có chữ viết thì không thể có sách, các phát minh, các thành tựu không thể truyền lại.Âm thanh
hay lời nói là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ vẫn có những hạn chế nhất định, có giới hạn, không thể truyền đạt rộng rãi và chính xác, lưu giữ lâu dài như chữ viết Âm thanh bị hạn chế về khoảng cách và thời gian theo kiểu "tam sao thất bản" Chữ viết khắc phục được những điểm trên, là phương tiện hoàn hảo để truyền đạt thông tin, lưu giữ thông tin, kích thích sự sáng tạo, là thành quả kỳ diệu, vĩ đại của loài người
Rèn chữ viết đẹp cũng là một hình thức để phát huy thành quả kì diệu, vĩ đại đó
Như chúng ta thấy,dù ở thời đại nào chữ viết đẹp cũng luôn được chú trọng
Nhận thức được điều đó, việc rèn chữ trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là cấp tiểu học hiện nay càng quan trọng hơn Cấp tiểu học chính là bậc học nền móng; và nền móng đó được bắt đầu từ lớp 1
Học sinh lớp 1 năm đầu tiên bước vào trường tiểu học, điều gì đối với các em cũng mới lạ Thầy cô giáo là những người dạy các em biết đọc biết viết Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các em đến trường Vì vậy dạy chữ chính là dạy người
Cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thày và bạn mình”
Ở lớp 1, Tập viết là một phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở tiểu học, nhất là đối với lớp 1 Học vần, tập đọc giúp cho học sinh đọc thông viết thạo Viết đúng, đẹp, nhanh, rõ ràng học sinh có điều kiện ghi chép bài học của tất cả các môn học tốt Nhờ đó mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ để các em vận dụng suốt đời
Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Để học sinh viết đẹp ngay từ lớp 1”
Trang 4để viết bài nên còn hạn chế trong việc giữ gìn “vở sạch - viết chữ đẹp” Nếu ở lớp 1 mà không rèn được chữ đẹp thì lên lớp trên lại càng khó có thể rèn các em viết chữ đẹp được Các em lớp 1 cũng như những cây non, muốn trở thành các cây vững chắc sau này thì phải được uốn nắn kịp thời ngay từ những buổi đầu cầm bút Tập viết trong nhà trường ít nhất cũng ngang bằng với các môn học khác Có như vậy phụ huynh mới quan tâm, tạo điều kiện cho con rèn nét chữ đẹp
Trong ngôn ngữ viết có chức năng giao tiếp và được quy định thống nhất Mặc dù xác định được tầm quan trọng như vậy nhưng thực tế cho thấy phân môn tập viết trong trường tiểu học còn chưa được coi trọng Sách giáo viên, tài liệu tham khảo chưa cụ thể, rõ ràng như những môn học khác nên việc dạy phân môn tập viết còn hạn chế Qua thăm lớp, dự giờ ta thấy có giáo viên còn chưa nắm vững nên gọi các nét cơ bản để hướng dẫn học sinh Và việc rèn chữ ở lớp 1 là việc không hề dễ dàng đối với các thầy cô giáo nói chung vì các
em con nhỏ, tay viết còn chưa “cứng” và còn nhiều lúng túng khi cầm bút viết, nhất là bút mực
3/Đ ố i tư ợng nghiên cứu
Đối tượng chính là chữ viết của HS lớp 1
4/ Phạm vi nghiên cứu
Trong toàn bộ chương trình Tập viết lớp 1
Trong thời gian rèn chữ viết thực tiễn trên lớp
5/Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài Giúp HS:
- Có nhận thức đúng hơn về tầm quan trọng của việc phải rèn chữ viết
- Các em không thấy ngại viết hay sợ viết chữ
Trang 56/ Các tài liệ u và phương pháp ng hiên cứu
Để nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi sử dụng một số tài liệu sau:
* Mục tiêu môn Tập viết -Sách hướng dẫn Tiếng Việt tập 1, 2
* Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn tập viết
Trang 6II PHẦN NỘI DUNG 1/ Cơ sở lý luận:
Muốn nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, người giáo viên cần nắm vững:
a) Yêu cầ u cơ b ản của dạy tập viết ở lớp 1:
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng
kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các chữ, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số
+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ
cái tạo thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ Ngoài ra học sinh còn được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở… bài kiểm tra cuối năm là bài tập chép một đoạn trong bài tập đọc (không mắc quá 5 lỗi chính tả)
- Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo viên cần hiểu rõ ý đồ của
vở tập viết Cấu trúc mỗi bài gồm phần tập viết chữ cái và từ ứng dụng
- Ở vở tập viết lớp 1 thì cứ sau bài học vần có một bài tập viết thêm để học sinh rèn luyện cách viết các chữ vừa học
- Các ký hiệu trong vở tập viết phải được học sinh nắm chắc, như: đường
kẻ ngang, quy định độ cao chữ cái, dấu chấm là điểm đặt bút đầu tiên của chữ, ký hiệu luyện viết ở nhà
b) Chương tr ình và vở tập viết hiện hành:
Vở tập viết của Bộ giáo dục phát hành giúp học sinh không ngừng nâng cao về chất lượng chữ viết mà còn phối hợp với các môn học khác nhằm phát huy vai trò của phân môn tập viết Chương trình tập viết lớp một gồm có:
Học kỳ I: Sau mỗi bài học vần học sinh được luyện viết những chữ các
em vừa học và mỗi tuần có thêm 1 tiết tập viết
Học kỳ II: Mỗi tuần có 1 tiết tập viết, mỗi tiết 35 phút và học sinh được làm quen với chữ viết hoa
Ngoài ra, vở Thực hành luyện viết cũng là một công cụ theo sát chương
trình học và giúp ích thiết thực cho các em
Trang 72/ Cơ sở tâm lý:
Tâm lý tình cảm có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình nhận thức Nếu trẻ được viết trong tư thế thoải mái, tâm trạng phấn khởi thì dễ có kết quả tốt Ngược lại, nếu trẻ buồn phiền thì chữ viết cũng bị ảnh hưởng
a) Lý thuyết hoạ t đ ộng:
Để viết được chữ thì học sinh phải hoạt động (phải tiêu hao năng lượng của thần kinh và bắp thịt) Hoạt động viết của học sinh được thực hiện qua thao tác sau:
- Làm quen với đối tượng: Khi giáo viên hướng dẫn thì trẻ sẽ tri giác bằng mắt, tai và tay sẽ làm theo
- Nói điều mình tri giác được, vừa nói vừa đưa tay theo các đường nét của chữ cái để nhấn mạnh cách viết đồng thời nhận ra tên gọi, hình dáng chữ đó
- Nói thầm kiến thức mới thu nhập được để tái hiện hình ảnh đó trong óc trước khi viết
- Làm thử: Hình ảnh đã có trong óc cần được thể hiện trên bảng, trên giấy bằng các dụng cụ như bút bảng, phấn, bút mực
- Kiểm tra lại kết quả so với mẫu để rút kinh nghiệm cho lần sau
b) Đ ặ c đi ể m đôi tay tr ẻ khi viết:
- Tay trực tiếp điều khiển quá trình viết của trẻ Các cơ và xương bàn tay của trẻ đang độ phát triển nhiều chỗ còn sụn nên cử động các ngón tay vụng
- Nếu các em cầm bút sai kỹ thuật bằng 4 đến 5 ngón tay, khi viết vận động cổ tay, cánh tay thì các em sẽ mau mệt mỏi, sức chú ý kém, kết quả chữ viết không đúng và nhanh được
c) Đ ặ c đi ể m đôi m ắt trẻ khi viết:
Trang 8- Trẻ tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn Vì vậy, nếu chữ viết được trình bày với kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát xuống để nhìn cho rõ chữ, từ đó dẫn đến cận thị.
- Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình chữ nhưng bàn tay chưa ghi lại đầy đủ hình dáng của mẫu chữ Chỉ sau khi luyện tập, số lần nhắc đi nhắc lại nhiều hay ít tuỳ theo từng học sinh, thì các em mới chép đúng mẫu
3/ Cấu tạo chữ viết:
a) Xác đ ịnh tọ a đ ộ và chiề u hư ớng chữ:
Tọa độ chữ được xác định trên đường kẻ ngang của vở tập viết Mỗi đơn vị dòng kẻ trong vở gồm có 4 dòng kẻ ngang (1 dòng đầu đậm và 3 dòng còn lại được in nhạt hơn) Ta ký hiệu đường kẻ trên là số 1 các đường khác là 1,
2, 3 kể từ dưới lên trên
Xác định tọa độ cấu tạo các chữ viết hoa đều phải căn cứ vào các ô vuông của khung chữ mẫu để phân tích cách viết
Ngoài việc thống nhất các khái niệm về đường kẻ, ô vuông như trên, để việc tổ chức dạy tập viết có hiệu quả hơn, cần chú ý thêm một số thuật ngữ có liên quan:
a.1- Đi ể m đ ặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái Điểm đặt bút có thể nằm trên đường kẻ ngang, hoặc không nằm trên đường kẻ ngang
Trang 9Ví dụ: Điểm đặt bút nằm trên đường kẻ ngang 1
Điểm đặt bút nằm trên đường kẻ dọc
a.2- Đi ểm dừng bút: Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái Điểm dừng có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang
Ví dụ: Điểm dừng bút nằm trên đường kẻ ngang 2
ơ
a.3- Tọ a đ ộ đi ể m đ ặt hoặc dừng bút: Về cơ bản, tọa độ này thống nhất
ở vị trí 1/3 đơn vị chiều cao chữ cái, có thể ở vị trí trên hoặc dưới đường kẻ ngang
a.4- Viết liền mạch: Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét đứng trước tới điểm bắt đầu của nét đứng sau
Trang 10=> Các nét bút viết liền mạch khi viết không nhấc bút
Trang 11a.5- Kỹ thuật lia bút:
Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối các chữ cái với nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) không chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng) Thao tác đưa bút trên không gọi là lia bút
Ví dụ: Khi viết chữ p phải viết nét thẳng của chữ p sau đó không nhấc bút để viết mà rê ngược bút lên giữa đường kẻ ngang thứ 2 để viết nét móc 2 đầu
p
on
Trang 12a.7- Kĩ thuật nối: Khi nối từ các con chữ có nét cong kín ra các con chữ khác, ta thực hiện lia bút viết nét nối nhỏ vừa phải phía dưới đường kẻ ngang 1 , bên phải chữ o Ví dụ : on
b) Cấu tạo của chữ cái Tiếng Việt:
Kí hiệu ngôn ngữ do các chất liệu âm thanh hoặc nét đồ họa thể hiện Chữ viết được xây dựng trên cơ sở của hệ thống kí tự đã được chuẩn hóa Những đặc điểm cấu tạo chữ viết là những yếu tố cần và đủ để phân biệt các chữ cái khi thể hiện ngôn ngữ viết Những yếu tố cấu tạo chữ viết này chính là
hệ thống các nét chữ
Yêu cầu về hệ thống nét: Việc xác định hệ thống các nét chữ được phân tích trên cơ sở số lượng nét càng ít càng tốt để dễ dạy, dễ học Đồng thời hệ thống nét đó lại phản ánh toàn bộ hệ thống chữ cái và chữ số Tiếng Việt Do
đó, cần quan niệm hệ thống nét cơ bản cấu tạo chữ cái Tiếng Việt gồm hai loại:
* Nét thẳng: thẳng đứng , nét ngang , nét xiên , \
* Nét cong: cong hở (cong phải , cong trái ), cong khép kín
Tuy nhiên, hệ thống chữ La tinh ghi âm vị Tiếng Việt ngoài các nét cơ bản trong cấu tạo chữ viết còn có các nét dư Những nét dư thừa này có chức năng tạo sự liên kết giữa các nét trong từng chữ cái và giữa các chữ cái với nhau
Việc cải tiến chữ cái ( kiểu chữ CCGD ) bằng cách lược bỏ những nét dư thừa đã làm mờ sự khu biệt cần thiết giữa các chữ cái và gây trở ngại trong giao tiếp, mặt khác cách làm này cho chữ viết tay không liền mạch, không đẹp và tốc độ viết chậm.Ví dụ: anh
* Nét phối hợp: Trên cơ sở lấy nét chữ cơ bản làm nền, tính từ điểm xuất phát kéo dài nét đó cho đến khi không thể và không cần thiết kéo dài được nữa (đến đây đã đủ nét và nếu cứ tiếp tục kéo dài sẽ trùng với nét khác hoặc dư thừa nét) thì chấm dứt Loại nét này gọi là nét phối hợp Nhờ cách quan niệm như vậy, các nét cấu tạo chữ cái không bị cắt vụn Chẳng hạn, với chữ cái “a” thông thường có thể phân thành 3 nét: nét cong trái, nét thẳng đứng và nét cong phải nhưng khi viết, thông thường người viết kéo dài nét thẳng đứng cho đến khi kết thúc nét, lúc đó ta được nét móc phải ( là sự kết hợp giữa nét thẳng đứng và nét cong ) Vì vậy, ta chọn lối phân tích chữ “a” thành 2 nét: nét cong kín và nét móc phải
Với cách xác định chữ như trên, việc phân tích các chữ trở nên gọn và
Trang 13Nhóm 1: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x.Nhóm 2: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc (hoặc nét thẳng): a, ă, â, d, đ, g.
Nhóm 3: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, ư, p, m, n.Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong phối hợp với nét móc): l, h, k, b, y, g
Nhóm 5: Nhóm chữ cái có nét móc phối hợp với nét thắt: r,v,s
Về cơ bản, cách sắp xếp này cũng theo sát các nhóm bài luyện tập viết trong vở
Đối với chữ hoa, lớp 1 mới tập tô chữ hoa, nhưng cũng cần chia nhóm chữ để HS dựa vào những điểm tương đồng, sẽ nhớ lâu hơn:
Nhóm 4: Số 0, 8 ( nhóm các số có điểm dặt bút giống nhau)
4/ Phương pháp dạy tập viết, rèn viết chữ:
4.1) Phương pháp tr ực quan:
Trang 14Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em bằng nhiều con đường: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập Điều này giúp các em chủ động phân tích hình dáng, kích thước và cấu tạo theo mẫu chữ, tìm sự giống nhau và khác nhau của chữ cái đã học trước đó trong cùng một nhóm bằng thao tác so sánh tương đồng.
Chữ viết mẫu là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết Đây là điều kiện đầu tiên để các em viết đúng Có các hình thức chữ mẫu: chữ mẫu in sẵn, chữ phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu hắt, chữ mẫu trong vở tập viết, hộp chữ mẫu… Tiêu chuẩn cơ bản của chữ mẫu là phải đúng mẫu quy định,
rõ ràng và đẹp
Chữ mẫu có tác dụng:
- Chữ mẫu phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu sẽ giúp học sinh dễ quan sát, từ đó tạo điều kiện để các em phân tích hình dáng và các nét chữ cơ bản, cấu tạo chữ cái cần viết trong bài học
- Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng sẽ giúp học sinh nắm được thứ tự các nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong 1 chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền mạch, viết nhanh
Chữ mẫu của giáo viên cũng góp phần gây hứng thú học tập cho học sinh
và quan trọng hơn học sinh sẽ nhìn vào đó để tạo thành cách viết chữ cho bản thân Nên chữ giáo viên đẹp, đúng sẽ có tác dụng rất tốt trong việc rèn chữ cho học sinh
- Chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được quan sát như một loại chữ mẫu, vì thế giáo viên cần ý thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng
Ngoài ra, để việc dạy chữ không đơn điệu, giáo viên cần coi trọng việc xử
lý quan hệ giữa âm và chữ, tức là giữa đọc và viết Do đó trong tiến trình dạy tập viết, nhất là những âm mà địa phương hay lẫn, giáo viên cần đọc mẫu Việc viết đúng củng cố việc đọc đúng và đọc đúng đóng góp vai trò quan trọng để đảm bảo viết đúng
4.2) Phương pháp đàm tho ại gợi mở:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học Giáo viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đã phân tích
Ví dụ: Khi dạy chữ a, giáo viên có thể đặt câu hỏi: chữ a gồm có bao nhiêu nét? là những nét nào? chữ a cao mấy ô? độ rộng của chữ là bao nhiêu?