1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nâng cao chất lượng dạy học phân môn chính tả lớp 4

26 607 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, dạy học chính tả ởTiểu học là một trong những vấn đề đang đợc quan tâm nhằm nâng cao chất l-ợng của môn học Tiếng Việt.. Phân môn chính tả trong nhà trờng có nhiệm vụ giúp học si

Trang 1

A - Phần mở đầu I) Lý do chọn đề tài:

Trong nhà trờng Tiểu học Việt Nam, Tiếng Việt là một môn học rất quantrọng, nó góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở Tiểu học theo

đặc trng bộ môn của mình

Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cách thức sửdụng Tiếng Việt nh một công cụ giao tiếp và t duy; học sinh đợc rèn luyện các

kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để sử dụng có hiệu quả Tiếng Việt trong học tập và

đời sống Trên cơ sở những mục tiêu cơ bản của môn Tiếng việt, phân mônchính tả giải quyết vấn đề dạy cho trẻ em biết chữ để học tiếng, dùng chữ đểhọc các môn học khác và để sử dụng trong giao tiếp Vì vậy, dạy học chính tả ởTiểu học là một trong những vấn đề đang đợc quan tâm nhằm nâng cao chất l-ợng của môn học Tiếng Việt

Phân môn chính tả trong nhà trờng có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vữngcác quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả, nói cách khác giúp học sinhhình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả (đúng về phụ âm đầu, vần,

âm cuối, thanh, độ cao thấp của từng con chữ) Từ đó giúp học sinh viết đẹp,viết nhanh, nột chữ đều đặn, mềm mại

Qua phân môn chính tả còn rèn luyện cho các em một số phẩm chất nh:Tính kỉ luật, tính cẩn thận, óc thẩm mĩ, đồng thời bồi dỡng cho học sinh lòngyêu quý Tiếng Việt Cách biểu thị tình cảm đó trong việc viết đúng chính tả

Trong thực tiễn việc dạy và viết chính tả hiện nay của học sinh Tiểu học

đạt kết quả cha cao trong khi nói và viết Cụ thể nh học sinh ở T.P Hà Nội nóichung và học sinh ở Trờng Tiểu học Chơng Dơng - huyện Thờng Tín nói riêng.Bài viết của các em còn mắc rất nhiều lỗi chính tả, nhất là trờng hợp những cặpphụ âm đầu dễ lẫn lộn nh: l/n; s/x; ch/tr; r/d/gi…,phổ biến nhất là hai õm l/n cácvần khó nh: u; iu, ơu; uơ; uê; êu;… sai về âm cuối nh: i/y; ch/nh; về thanh điệu

đó là những thanh khó phân biệt nh thanh (?); (~), các em viết còn sai rấtnhiều… Bởi vậy việc tìm hiểu, khảo sát các lỗi viết sai chính tả của học sinh để

từ đó có những biện pháp, phơng hớng khắc phục các lỗi sai Đó là một việclàm có ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lợng dạy học Tiếng Việt nói chung vàviệc dạy học chính tả nói riêng, đặc biệt là luyện viết đỳng hai phụ õm l/n Quátrình dạy chính tả cho học sinh không chỉ sử dụng một phơng pháp mà phải sửdụng phối hợp nhiều phơng pháp một cách hợp lí nhằm đạt tới hiệu quả dạyhọc cao

Trang 2

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Nõng cao chất lượng dạy học phõn mụn chớnh tả lớp 4”.

II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài tôi nghiên cứu nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau:

1 Khảo sát phân loại lỗi chính tả của học sinh lớp 4 B

2 Tìm ra nguyên nhân của các lỗi chính tả mà học sinh thờng mắc phải

3 Rút ra một số biện pháp thích hợp để khắc phục các lỗi chính tả đó

III Đối tợng nghiên cứu:

Đối tợng nghiên cứu của đề tài là:

+ Việc dạy luyện viết hai phụ õm l/n và học chính tả ở khối 4

+ Các bài tập làm văn, chính tả, các loại vở ghi của học sinh khối 4 TrờngTiểu học Chơng Dơng

+ Chơng trình, sách giáo khoa dạy và học chính tả, sỏch tham khảo, sáchgiáo viên chỉ đạo việc dạy chính tả

IV Phơng pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Nõng cao chất lượng dạy học phõn mụn chớnh tả lớp 4” Tôi sử dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu hỗ trợ nhau.

Song một số phơng pháp đặc trng đợc sử dụng nhiều nhất trong suốt quá trìnhnghiên cứu là:

1 Phơng pháp nghiên cứu lý luận:

Đọc tài liệu, sách tham khảo, sách giáo khoa…có liên quan đến việc dạycó liên quan đến việc dạyhọc chính tả

2 Phơng pháp khảo sát thực tiễn dạy và học chính tả:

Qua các giờ dạy và học chính tả, kiểm tra, khảo sát lại các bài viết chínhtả của học sinh để phát hiện những biến đổi trong bài viết của học sinh về số l-ợng và chất lợng do tác động của phơng pháp giảng dạy

3 Phơng pháp thống kê, so sánh đối chiếu:

- Phơng pháp này nhằm thống kế các lỗi chính tả của học sinh th ờngmắc phải, so sánh cách dạy thông thờng và cách dạy đang nghiên cứu và đốichiếu

Trang 3

1 Cơ sở tâm lí giáo dục của việc dạy chính tả:

Nh chúng ta đã biết, mục đích của việc dạy chính tả là hình thành chohọc sinh năng lực viết thành thạo, thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo cácchuẩn mực chính tả, nghĩa là giúp học sinh hình thành các kĩ xảo chính tả

Hình thành cho học sinh kĩ xảo chính tả là giúp học sinh viết đúng chínhtả một cách tự động hoá, không cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả

Để đạt đợc điều này có thể tiến hành theo hai cách:

* Có ý thức và không có ý thức:

- Cách không có ý thức (còn gọi là phơng pháp máy móc cơ giới): Chủ

tr-ơng dạy chính tả không cần đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cầnhiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp củachính tả mà chỉ đơn thuần là việc viết đúng từng trờng hợp, từng từ cụ thể: Cáchdạy học này tốn nhiều thời gian công sức, không thúc đẩy đợc sự phát triển của

t duy chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định

- Cách có ý thức (còn gọi là phơng pháp có ý thức, có tính tự giác): Chủ

trơng cần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật chính tả.Trên cơ sở đó tiến hành luyện tập và từng bớc đạt tới các kĩ xảo chính tả Việchình thành kĩ xảo chính tả bằng con đờng có ý thức sẽ tiết kiệm đợc thời giancông sức Đó là con đờng ngắn nhất và có hiệu quả cao

Đối với học sinh Tiểu học, cần vận dụng cả hai cách có ý thức và không

có ý thức Trong đó:

Cách không có ý thức chủ yếu đợc sử dụng ở các lớp đầu cấp

Cách có ý thức cần đợc sử dụng thích hợp ở các lớp cuối cấp của bậcTiểu học

2 Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy học chính tả:

Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị

đ-ợc ghi bằng một con chữ Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết thống nhấtvới nhau Đọc nh thế nào viết nh thế ấy, nếu đọc sai sẽ dẫn đến viết chữ sai.Trong giờ học chính tả học sinh sẽ xác định đợc cách viết đúng, (đúng chính tả)bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói (Ví dụ: Hình thức chính tảnghe - viết) Cơ chế của cách viết đúng là xác lập đợc mối liên hệ giữa âm thanh

và chữ viết Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả (chính tả nghe - viết)

có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhng lại có quy trình hoạt động trái ngợcnhau

Nếu tập đọc là sự chuyển hoá văn bản viết thành âm thanh thì chính tả lại

là sự chuyển hoá văn bản dới dạng âm thanh thành văn bản viết Tập đọc có cơ

sở chuẩn mực là chính âm, còn tập viết (viết chính tả) có cơ sở là chính tự

Trang 4

(chính tự là biểu hiện của quy tắc chính tả ở một đơn vị “từ,…có liên quan đến việc dạy” một từ xét vềmặt chính tả đợc gọi là một chính tự).

Ta thờng nói rằng chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học, giữa cách

đọc và cách viết thống nhất với nhau là nói về nguyên tắc chung, còn trong thực

tế, sự biểu hiện của mối quan hệ giữa đọc (phát âm) và viết (viết chính tả) kháphong phú và đa dạng, mà chính tả Tiếng Việt không dựa hoàn toàn vào cáchphát âm thực tế của các phơng ngữ đều có những sai lệch so với chính âm, nênkhông thể thực hiện phơng châm “Nghe nh thế nào, viết nh thế ấy” đợc (nhcách phát âm của phơng ngữ vùng Kì Dơng, Chơng Lộc: lòng súng, nợn nòi,long lia…có liên quan đến việc dạy)

Mặc dù chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhng trong thực tếmuốn viết đúng chính tả thì việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng Hiểu nghĩacủa từ là một trong những cơ sở giúp ngời học viết đúng chính tả: Ví dụ: Nếugiáo viên đọc một từ có hình thức ngữ âm là “Za” thì học sinh có thể lúng túngtrong việc xác định hình thức chữ viết của từ này Nhng nếu đọc là “gia đình”hoặc “da thịt” hay “ra vào” (đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định)thì học sinh dễ dàng viết đúng chính tả Vì vậy, có thể hiểu rằng chính tả TiếngViệt còn là loại chính tả ngữ nghĩa

Đây là một đặc trng quan trọng về phơng tiện ngôn ngữ của chính tảTiếng Việt

3 Các nguyên tắc, phơng pháp dạy chính tả.

3.1 Nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực:

Dạy chính tả theo khu vực nghĩa là nội dung giảng dạy về chính tả phải sáthợp với địa phơng Nói cách khác xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tảcủa học sinh ở từng khu vực, từng vùng để hình thành nội dung giảng dạy, phảixác định đợc các trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh ở từng khu vực, từng

địa phơng Từ đó tập trung vào các lỗi phát âm ở từng địa phơng mà lu ý để viếtcho đúng Bởi nh ta đó biết cách phát âm địa phơng có ảnh hởng trực tiếp đếnviệc viết chính tả Đối chiếu với âm, ta thấy cách phát âm của ba vùng phơng ngữ

đều còn có những chỗ cha chuẩn xác, còn sai lệch

Trang 5

“Con lươn” phát âm và viết thành “con lươn”.

Với nguyên tắc này yêu cầu giáo viên trớc khi dạy cần tiến hành điều tracơ bản để năm lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựa chọn nội dung giảngdạy phù hợp (Nhất là đối với chính tả so sánh)

Nguyên tắc này cũng lu ý giáo viên cần tăng cờng sự linh hoạt, sáng tạotrong giảng dạy, cụ thể trong việc xây dựng nội dung bài sao cho phù hợp vớihọc sinh lớp mình dạy, có thể lợc bớt những nội dung trong sách giáo khoa xétthấy không phù hợp với đối tợng học sinh, đồng thời bổ sung những nội dungdạy cần thiết mà sách giáo khoa cha đề cập đến

3.2 Nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức và chính tả không có ý thức:

Trong quá trình dạy chính tả cho học sinh, giáo viên không chỉ sử dụngmột phơng pháp mà phải sử dụng phối hợp hai phơng pháp; có ý thức và không

có ý thức một cách hợp lý nhằm đạt tới hiệu quả dạy học cao

Trong nhà trờng, việc sử dụng phơng pháp có ý thức vẫn đợc coi là chủyếu, nhng cũng không phủ nhận phơng pháp không có ý thức Phơng pháp này

đợc khai thác, sử dụng hợp lý ở các lớp đầu cấp, gắn liền với các kiểu bài nh tậpviết, tập chép…có liên quan đến việc dạyCác kiểu bài này nhằm giúp học sinh nhanh chóng làm quen vớihình thức của các con chữ, hình thức chữ viết của các từ Đây là những tiền đề,những xuất phát cần thiết đối với học sinh mới làm quen với hệ thống chữ viếtTiếng Việt Phơng pháp không có ý thức còn phát huy tác dụng khi giáo viên h-ớng dẫn học sinh ghi nhớ các hiện tợng chính tả có tính chất võ đoán, hoặckhông gắn với một quy luật, một quy tắc nào nh: Viết phân biệt (r/d/gi, ch/tr,l/n…có liên quan đến việc dạy)

Đối với phơng pháp có ý thức giáo viên cần sử dụng, khai thác tối đa

ph-ơng pháp này Muốn vậy chúng ta phải biết vận dụng những kiến thức về ngữ

âm học Tiếng Việt vào việc phân loại lỗi chính tả, phát hiện đặc điểm của từngloại lỗi nhất là việc xây dựng các quy tắc chính tả, các “mẹo” chính tả, giúp họcsinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát và có hệ thống

Trang 6

Âm “ngờ” viết là “ng”

- Khi đứng trớc âm đệm (âm đẹm viết là u) thì âm “cờ” viết là “q”

* Các mẹo chính tả:

Khi viết ch hay tr

Nếu chúng chỉ đồ dùng trong gia đình thì hầu hết đợc viết là ch (cái chai,cái chén, cái chậu, cái chảo…có liên quan đến việc dạy)

Hoặc chỉ mối quan hệ trong gia đình đều viết ch chứ không viết tr: (cha,chú, cháu, chị, chồng, chút…có liên quan đến việc dạy)

 Tóm lại:

Hiện nay trong nhà trường núi chung và lớp tụi dạy núi riờng đang luyệncho học sinh cỏch phỏt õm và viết đỳng hai phụ õm l/n để phỏt huy tớnh tớchcực trong dạy chính tả sẽ tiết kiệm đợc thời gian và mang lại kết quả nhanhchóng, chắc chắn, cụ thể (có thể kiểm tra đợc ngay), hơn nữa còn gây đợchứng thú cho học sinh giỏo viờn phải sửa lỗi cho học sinh cả khi núi và viếtcho học sinh cú thúi quen ngay ở cấp tiểu học

3.3 Nguyên tắc phối hợp giữa phơng pháp tích cực với phơng pháp tiêu cực (xây dựng cái đúng loại bỏ cái sai):

Nói cách khác việc hớng dẫn học sinh viết đúng chính tả cần tiến hành

đồng thời với việc hớng dẫn học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trong các bài viếtcủa mình

Để học sinh sửa các lỗi chính tả theo hớng loại bỏ cái sai, xây dựng cái

đúng Giáo viên có thể nêu ra những đoạn văn, đoạn thơ trong đó có nhiều từviết sai lỗi chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai

và viết lại cho đúng

Phơng pháp tiêu cực giúp học sinh phát hiện óc phân tích, xét đoán, đồngthời kiểm tra củng cố đợc kiến thức về chính tả của học sinh

Phơng pháp tiêu cực chỉ nên coi là thứ yếu có tính bổ trợ cho phơng pháptích cực

Trong quá trình giảng dạy chính tả, giáo viên cần phối hợp một cách hợp

lý, hài hoà và có hiệu quả hai phơng pháp này

4 Đặc điểm của chữ Tiếng Việt:

Chữ Tiếng Việt là chữ ghi âm vị, chữ viết Tiếng Việt do các cố đạo đã

m-ợn các con chữ La Tinh để ghi âm Tiếng Việt Chữ viết ghi âm vị là một loạihình chữ viết tiến bộ nhất, cơ sở của nó dựa trên con chữ La Tinh phổ biến rộngrãi nhất trên thế giới, về hiệu quả ghi âm thì hiện nay chữa Việt còn theo gần sátvới ngữ âm Tiếng Việt Nó dễ học, dễ viết và có thể giúp ta dễ dàng tiếp thu cácngoại ngữa quan trọng nhất cùng một hệ chữ La Tinh

Trang 7

Tuy nhiên, chữ Việt cha phải là hoàn thiện Do những nguyên nhân lịch

sử, nó còn có những nhợc điểm sau đây:

+ Không đảm bảo sự tơng ứng một - đối - một giữa âm và chữ, âm vị /k/ghi bằng một trong ba con chữ c - k - q; con chữ “g” ghi lại một trong hai âm

vị / d, z/…có liên quan đến việc dạy

+ Có những nhóm hai, ba con chữ không cần thiết để ghi âm vị: ph, ngh Những nhợc điểm đó gây nên những hiệu quả không tốt, việc dạy và họcgặp những khó khăn vô ích

Chữ viết Tiếng Việt có hai lối viết: Lối viết tay và viết in Mỗi lối chữ cóhai kiểu: Chữ thờng và chữ hoa Chữ viết phải đúng kiểu, không nên viết chữ inxen lẫn với chữ viết tay

- Khi viết chữ viết tay có thể viết nghiêng hay viết đứng không nên viếtnửa nghiêng, nửa đứng; viết các dấu phụ trên chữ viết tay, dấu (v), dấu (^), dấurâu (?) phải viết cho vừa phải, cân xứng với các nguyên âm mang những dấu ấy(ví dụ: Câu hỏi, nguyên nhân, chăm chỉ…có liên quan đến việc dạy) các dấu thanh phải đặt đúng vị trítrên hay dới các nguyên âm của âm tiết

+ Nếu nguyên âm đôi có âm tiết mở: (ví dụ: Mía, chú…có liên quan đến việc dạy) thì dấu thanh

+ Các dấu thanh đi đôi với nguyên âm có dấu (^) thì đặt bên phải dấu mũ

* Viết các dấu ngắt câu:

+ Các dấu chấm lửng (…có liên quan đến việc dạy), vạch ngang (-) thì viết đúng trên dòng kẻ.+ Các dấu hai chấm (:), chấm hỏi (?), chấm than (!), ngoặc đơn, ngoặckép thì viết từ hàng kẻ trở lên

+ Dấu phẩy (,) viết từ hàng kẻ trở xuống

+Dấu (;) thì viết dấu chấm ở trên dòng kẻ và dấu phẩy ở d ới dòng kẻ trởxuống

5 Một số quy tắc quy định về chuẩn chính tả Tiếng Việt:

Chuẩn chính tả Tiếng việt phải đợc quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ

và phải đợc mọi ngời tuân theo Vì vậy phải có các quy tắc quy định về chuẩnchính tả Tiếng Việt nh sau:

- Cách viết âm tiết của Tiếng Việt: Các âm tiết viết tách rời nhau Trờnghợp âm tiết có nguyên âm “ i ” ở cuối thì viết thống nhất bằng “ i ”, trừ “uy”, ví

dụ (duy, nguy…có liên quan đến việc dạy) “ i ” hoặc “y” đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn theothói quen cũ (ý nghĩa, y tế, yêu, “y”, âm ỉ, ỉ eo, “ i ”)

Trang 8

- Cách viết các đơn vị từ: theo truyền thống vẫn viết rời từng âm tiết, trừhai trờng hợp sau đây viết liền các âm tiết theo đơn vị từ:

+ Các phiên âm nớc ngoài: Radio

+ Các tên riêng không phải Tiếng Việt: CuBa, Ma-lai-xi-a…

- Cách viết tên riêng Tiếng Việt:

+ Tên ngời và tên địa lí:

Viết hoa tất cả các âm tiết (con chữ đầu của âm tiết)

Ví dụ: Trần Thị Phơng Thảo; Thờng Tín; Hà Nội

+ Các tên riêng khác: (tên cơ quan, tên tổ chức xã hội…có liên quan đến việc dạy) chỉ viết hoa chữ

đầu của âm tiết đầu:

Ví dụ: Trờng Đại học S phạm Hà Nội

Trờng Trung cấp S phạm Hà Nội

- Chuẩn về phụ âm đầu cần nhớ một số quy tắc và mẹo luật sau: Hiện naytrong nhà trường đang rốn luyện kỹ năng đọc viết thành thạo hai phụ õm l/n.Nếu học sinh đọc sai giỏo viờn phải sửa ngay cho học sinh, nều khụng sửa ngay

sẽ tạo thành thúi quen xấu theo cỏc em

+ Phân biệt l/n:

n không (hoặc ít) kết hợp với âm đệm (trừ hai âm tiết Tiếng Việt nay ítdùng là noãn và noa) Nhng ( l ) lại kết hợp đợc với âm đệm (loè loẹt, lở loét,loà xoà, loang lổ, loắt choắt, luẩn quẩn, liên luỵ, luyến tiếc…có liên quan đến việc dạy)

n xuất hiện trong các từ láy âm (no nê, nóng nảy, nao núng…có liên quan đến việc dạy)

l xuất hiện trong các từ láy vần (lệt bệt, lõm bõm, lộp độp, lờ đờ, lai rai,lim rim, lơ mơ, lanh chanh, lao xao…có liên quan đến việc dạy)

Một số từ đơn một tiếng dùng để chỉ trỏ có phụ âm đầu viết n (này nọ,

Trang 9

Về mặt kết hợp ở trong âm tiết, s không đi với các vần bắt đầu bằng oa,oã, oe, uê Do đó ta có: (xuề, xoà, xoay xở, xuệch xoạc, xoèn xoẹt, xoen xoét )

mà không bao giờ có soa, seo Ngoại lệ là “soát” trong “soát lại”, còn đều dodiệp (s) trong láy âm (suýt soát, sột soạt, sờ soạng)

Về mặt láy âm: (x) và (s) đều lsy điệp âm đầu, nhng (s) lại không láyvới (x) Do đó cả hai chữ đều phải hoặc là điệp (s) hoặc là điệp (x)

Điệp s: sờ soạng, sục sạo, sung sớng, sỗ sàng, san sát, sừng sững, sụt sùi,sang sảng, sững sờ, sắc sảo…có liên quan đến việc dạy

Điệp x: xào xạc, xao xuyến, xôn xao, xanh xao, xao xác, xấp xỉ, xí xoá,xì xào…có liên quan đến việc dạy

s không láy âm với những âm đầu khác, trái lại x láy âm với một số âm

đầu khác (loà xoà, lao xao, xoi mói, xích mích…có liên quan đến việc dạy)

Danh từ chỉ ngời: ông s, bà sãi, nguyên soái, sứ thần…có liên quan đến việc dạy

Tên cây: cây sen, cây sim, cây sung, cây sắn, cây si…có liên quan đến việc dạy

Hiện tợng tự nhiên, sao, suối, sơng, sông…có liên quan đến việc dạy

Đồ vật: hòn sỏi, song cửa, cái sọt, cái sớ, sợi dây…có liên quan đến việc dạy

Động vật: cá sấu, con sóc, con sò, con sên, con sếu

* Ngoại lệ có: xơng, cái xe, cái xuồng, cây soan, cây xoài, trạm xá, mùaxuân

Một số từ láy bắt chớc tiếng động thờng có phụ âm đầu r (ma rơi) rảrích, (nớc chảy) róc rách, (tiếng đàn) réo rắt, (sóng vỗ (rì rào…có liên quan đến việc dạy)

Trang 10

* Chuẩn về thanh điệu:

+ Phân biệt dấu hỏi (?) dấu ngã (~)

Ngoài biện pháp dựa vào nghĩa của từ để xác định viết với dấu hỏi (?)hoặc dấu ngã (~) còn có những biện pháp khác:

Ví dụ: trong từ láy, thanh điệu thuộc về hai nhóm: sắc, hỏi, không dấu vàhuyền, ngã, nặng Dựa vào quy luật này để xác định và viết đúng dấu hỏi / dấungã (nghỉ ngơi, nghĩ ngợi, mở mang, mỡ màng…có liên quan đến việc dạy)

* Chuẩn về âm cuối: (trờng hợp viết i hay y)

Trờng hợp các âm tiết có nguyên âm “ i ” ở cuối thì viết thống nhất bằng

“ i ” trừ “uy”, “oay”, “uây” nh (duy, quy, dạy, dậy, nguây nguẩy…có liên quan đến việc dạy)

* Chuẩn về vần:

Cần nhớ cách viết phân biệt một số các khuôn vần nh:

- Viết âm đệm “u” bằng chữ cái “o” khi “u” xuất hiện trớc các âm chính

là các nguyên âm “a” (oa, oac, oai, oam, oan, oang, oao, oap, oat, oay); nguyên

âm “ă” (oăc, oăm, oăn, oăng, oăp, oăt); nguyên âm “e” (oe, oen, oeng, oeo, oet

và oach oanh)

- Viết âm chính là “ơ” khi xuất hiện trong khuôn vần có âm cuối )ơi, tơc,ngơi…có liên quan đến việc dạy)

- Viết âm chính là “a” khi không có âm cuối đứng sau trong khuôn vần

(-a, m(-a, cha…có liên quan đến việc dạy)

- Viết âm chính là “ua” khi có âm cuối đứng sau trong khuôn vàn (ua,mua, chua…có liên quan đến việc dạy)

- Viết âm chính là “uô” khi có âm cuối đứng sau trong khuôn vần (muôn,khuôn, chuôi…có liên quan đến việc dạy)

- Viết âm chính là “iê” khi xuất hiện trong khuôn vần có âm cuối vàkhuôn vần có âm đầu phụ âm đứng trớc (xiếc, liên, tiêng, kiêu, biêm, thiêt…có liên quan đến việc dạy).Ngoài lệ khuôn vần “iêc” khi không có âm đầu đứng trớc cũng viết bằng “iê”

- Viết âm cuối là “o” khi xuất hiện trớc nguyên âm “a”: (ao, oao); nguyên

âm “e” (eo, oeo)

- Viết âm cuối là “u” khi “u” xuất hiện trớc nguyên âm “iê” (iêu…có liên quan đến việc dạy); xuấthiện trớc nguyên âm “e” (êu)

- Vần “ơu” chỉ xuất hiện trong một số trờng hợp nh (cái bớu, con hơu, conkhớu, rợu) Đặc biệt không có từ Hán Việt nào xuất hiện với vần “ơu”

II Cơ sở thực tiễn.

Nhìn vào thực trạng dạy chính tả hiện nay cho thấy: Để nâng cao chất l ợng dạy chính tả còn là một việc làm rất hạn chế Việc rèn luyện kĩ năng viết

Trang 11

-cha đợc chú ý đúng mức nên học sinh còn viết sai rất nhiều lỗi và chữ viết cònxấu Qua khảo sát điều tra thực tiễn tôi đã thu thập đợc một số vấn đề lu ý sau:

1 Về chơng trình:

ở bậc Tiểu học, chơng trình của môn chính tả có nhiều dạng từ đơn giản

đến phức tạp theo lứa tuổi của học sinh Đồng thời chơng trình chính tả ở cáclớp cũng có tính đồng tâm Càng lên lớp trên càng đợc mở rộng, nâng cao dần

2 Thực tiễn của giáo viên:

Trong thực tiễn, mỗi buổi lên lớp, giáo viên phải dạy nhiều tiết, soạngiảng nhiều môn, lớp lại có nhiều học sinh nên thờng giáo viên chỉ truyền thụcho học sinh hết kiến thức quy định chép (viết), ít có thời gian để rèn luyện kĩnăng cho học sinh Không ít giáo viên chỉ dạy qua loa, chiếu lệ, chứ không đisâu vào các quy tắc, mẹo luật chính tả, để giúp học sinh viết thông thạo Tiếtchính tả trí nhớ, yờu cầu học sinh phải học thuộc lũng ( thuộc từ mụn tậpđọc )nhớ được cả cỏc dấu thanh, cỏc loại dấu cõu Bản thõn giỏo viờn phỏt õmcũng phải đọc cho học sinh thật chuẩn

3 Về phía học sinh:

Trên thực tế, đã có một số học sinh có sự chuẩn bị chu đáo, tích cực nên

đã học tốt môn chính tả Cơ bản nắm đợc quy tắc, mẹo luật chính tả nên đã vậndụng tốt vào các bài tập làm văn, sử dụng câu văn đúng ngữ pháp, viết đúngchính tả

Tuy nhiên vẫn còn một số em cha ý thức đợc tầm quan trọng của mônhọc chính tả Nên các em cha có sự chuẩn bị và phơng pháp học tập tốt

Nhìn chung phân môn chính tả ở bậc tiểu học cha đợc giáo viên và họcsinh nhận thức đúng tầm quan trọng của nó trong nhà trờng Mặt khác một sốbài còn cha thực tế và cũng cha phù hợp với địa phơng, các dạng bài tập cũngcha thực sự kích thích đợc học sinh học tốt hơn

a, Qua nghiên cứu, khảo sát một số vở bài tập làm văn và chính tả với các

vở ghi khác của học sinh lớp 4B học kì I năm học 2011 - 2012 Tôi thấy họcsinh còn mắc rất nhiều lỗi chính tả và đợc thống kê qua bảng sau:

Trang 12

bài lỗi P.A Đ Vần Âm cuối Thanh

Nhận xét giữa vở Tập làm văn, vở chính tả với các vở ghi khác ta thấy:

Vở chính tả học sinh viết sai lỗi ít hơn vở Tập làm văn và các vở ghikhác Điều đó chứng tỏ rằng trong giờ chính tả học sinh chú ý viết cẩn thận hơncác giờ khác

b, Phân loại lỗi chính tả của học sinh lớp 4B:

* Lỗi về phụ âm đầu:

Các lỗi về phụ âm đầu mà học sinh sai nhiều nhất là: l/n, ch/tr, s/x, r/d/gi,c/k,q, ng/ngh, gh - g

Học sinh: Nguyễn Thu Trang đã viết sai từ “luống hoa” thành “nuốnghoa”, “nắng vàng” thành “lắng vàng”

+ tr / ch:

Ví dụ: Chú trú, trên chên, tra cha, cha tra, trong chong, chọn trọn, chị - trị, chăng - trăng, chín - trín, trồng - chồng, trờng - chờng, chống -trống, chúng - trúng

-Cụ thể: Trong bài viết chính tả (nghe - viết) bài kéo co:

Học sinh: lờ Thị Phương và Nguyễn Thị Hường đã viết sai từ kéo cothành céo co

Môn tập làm văn học sinh viết bài tả đồ vật, học sinh viết sai nhiều lỗi.+ s / x:

Ví dụ: xấu - sấu cụ thể viết cả từ “cây sấu - cây xấu”, “xấu xí - sấu sí ”,

“hoa sen - hoa xen”, “xen kẽ - sen kẽ”, “sơng sa - xơng xa”

Cụ thể: Trong bài viết chính tả, có bài phân biệt âm s/x trong phần luyệntập, nhiều học sinh không xác định đợc đâu là đúng và sai, thành thử các em

điền phụ âm đầu vào vần đều bị sai

+ r/d/gi:

Ví dụ: ra vào - da vào, da dẻ - gia dẻ, con gián - con dán, rá đỡ - dá đỡ,

có nghĩa là các em cha hiểu rõ về nghĩa của từng từ, nếu các em điền phụ âm rvào vần, từ rá đỗ thì nghĩa của nó là: Hạt đậu đợc ngâm và cài chặt vào chõ hay

Trang 13

xoong để 3 - 4 ngày, mỗi ngày cho chõ đỗ đó xuống 1 - 2 lần nớc, hạt đỗ đó nởdài dần ra thành rá, rá thờng để xào hoặc luộc để ăn Còn từ giá thì phải đi kèmvới tiếng đỡ nh: thành từ giá đỡ, giá nh, giỏ mà….

Từ da dẻ - gia dẻ - ra dẻ - da rẻ - ra giẻ

Từ dịu dàng - dịu giàng - rịu ràng

Nhiều em viết sai giữa phụ âm với vần

+ c / k / q:

Ví dụ: có em viết tiếng quả viết thành coả, kẻo hoặc cẻo, không hiểu âmquy ghép với âm đệm u thì không cần phải viết thêm âm o vào nữa nhng họcsinh vẫn viết, có nghĩa là khi học sinh này khi học từ lớp 1, 2 cha thông hiểu vềcác âm ghép với nhau tạo thành tiếng, từ và hiểu nghĩa của nó, bạ đâu là viết đó

Ví dụ nh: học sinh Nguyễn Văn Sơn tất cả các môn học, em này tuy đợcthầy cô dày công để sửa nhng không nhớ, vậy đó là do đâu? Hay là viết tiếngkêu viết là cêu, kin viết là cin, que - coe - keo, kem - cem, quốc chỉ tổ quốc viết

là cuốc chỉ cái cuốc, đó là sai về nghĩa hay là em Phạm Quốc Đoàn, PhạmVăn Tiến, Lê Anh Tuấn, Lê Thị Hiếu.cũng viết nh vậy

- Trong bài chính tả phân biệt phụ âm ng/ngh có hai cách đọc là ngờ đơn(ng), ngờ kép (ngh) hay ng đọc là e - nờ - giê, ngh đọc là e - nờ - giê - hát Đểhọc sinh phân biệt rõ 2 phụ âm này Bớc đầu học sinh phải hiểu 2 phụ âm này

đợc viết với âm, vần nào là hợp lý Ví dụ: ngh chỉ đợc ghép với nguyên âm i, e,iêm nh nghỉ, nghĩ, nghiêm

Âm ng ghép với a, ơ, u, nh: nga, ngơ, ngu, ng v.v…có liên quan đến việc dạy

Nhiều em khi gặp bài tập hoặc viết văn hay môn học khác hay mắc lỗi

điền phụ âm ng/ngh: nghiêm nghỉ - ngiêm ngỉ, nghỉ ngơi - ngỉ ngơi, ngủ - nghủ,ngô - nghô, nghiêng - ngiêng

Học sinh Trần Thế Trung hay bị mắc lỗi: “ngọng nghịu” viết là “nghọngnghịu”, ngồi trên ghế - nghồi trên gế v.v…có liên quan đến việc dạy

* Lỗi về phần vần: u - iu, trong từ quả lựu - quả lịu, ơu - iêu trong từ conhơu viết thành con hiêu, u - iu (con cừu), oa - ao (hoa - hao); uê - êu (hoa hệu); -

ơu/iêu (con khớu - con khiếu); u - iu (cứu bạn - cíu bạn)

- ơu - iêu: hơu - hiêu, bớu - biếu, khớu - khiếu, rợu - riệu…có liên quan đến việc dạy

- eo - oe: khoẻ - khẻo, khéo - khoé, heo - hoe…có liên quan đến việc dạy

- oa - ao: loa - lao, hoa - hao, cao - kao…có liên quan đến việc dạy

Cụ thể: Trong bài chính tả (so sánh) phân biệt ơu/ u/ in/ iêu/ êu:

Học sinh Lê Huân Chơng, Nguyễn Quốc Trờng, Nguyễn Tiến Đạt viết saitừ: “hơu: thành “hiêu”, “kêu cứu” thành “cêu cíu”

Hay trong bài văn (tả cây cối) “Tả cây hoa mà em thích”

Ngày đăng: 12/04/2015, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w