1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài soạn triết học lớp cao hoc Quản trị kinh doanh

41 564 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 417 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể đối tượng, sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó m

Trang 1

SOẠN CÂU HỎI TRIẾT HỌC

CHƯƠNG I + II + III + IV :

Câu 1 : Phân tích tính quy luật về sự hình thành, phát triển của triết học? Vận dụng tính

quy luật vào sự phát triển của triết học Mác ?

Khái niệm quy luật: là những mối liên hệ bản chất tất nhiên phổ biến và lặp đi lặp lại của

các sự vật trong thế giới quan

1.1 Phân tích tính quy luật về sự hình thành, phát triển của triết học ?

Sự hình thành, phát triển của triết học có tính quy luật của nó Trong đó, các tínhquy luật chung là:

Sự hình thành và phát triển của triết học gắn liền với điều kiện kinh tế xã hội, với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội: Mỗi giai đoạn phát triển khác

nhau của xã hội, mỗi giai cấp, mỗi lực lượng xã hội khác nhau sẽ xây dựng nên các hệthống triết học khác nhau Sự phát triển và thay thế lẫn nhau giữa các hệ thống triết họckhác nhau Sự phát triển và thay thế lẫn nhau giữa các chế độ xã hội, phản ánh cuộc đấutranh giữa các giai cấp, các lực lượng trong xã hội

Sự hình thành và phát triển của triết học gắn liền với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội : Sự phát triển của triết học, một mặt phải khái quát được các

thành tựu của khoa học, mặt khác nó phải đáp ứng được nhu cầu phát triển của khoa họctrong từng giai đoạn lịch sử Vì vậy với mỗi giai đoạn phát triển của khoa học, nhất làkhoa học tự nhiên, thì triết học cũng có một bước phát triển đúng như Ph Ăng ghen đãnhận định: “ Mỗi khi có những phát minh mới của khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa duyvật cũng thay đổi hình thức” Do đó việc nghiên cứu các tư tưởng triết học không thể táchrời các giai đoạn phát triển của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên

Sự hình thành và phát triển của triết học gắn liền với sự thâm nhập và đấu tranh giữa các trường phái triết học với nhau: Trong lịch sử triết học luôn luôn diễn ra các

cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, mà điển hình nhất là cuộc đấu tranh giữnchủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trong quá trình đấu tranh đó, các trường pháitriết học vừa gạt bỏ lẫn nhau, vừa kế thừa lẫn nhau, và mỗi trường phái đều không ngừngbiến đổi, phát triển lên một trình độ mới cao hơn Chính cuộc đấu tranh giữa các trườngphái triết học đã làm cho triết học không ngừng phát triển

1.2 Vận dụng tính quy luật vào sự phát triển của triết học Mác ?

a điều kiện kinh tế xã hội : Triết học Mác cũng như các bộ phận cấu thành chủ nghĩa

Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX Cùng với sự ra đời và phát triển của chủnghĩa tư bản, giai cấp vô sản thế giới hình thành và phát triển như một lực lượng chính trịđộc lập, một giai cấp cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đã xuấthiện những mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của sản xuất công nghiệpvới hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa

Trang 2

Câu 2 : Phân tích những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của TH Phật giáo đ/v đời sống

xã hội ở nước ta ?

A về mặt tích cực

2.1 ảnh hưởng của triết học phật giáo đến đạo đức:

Hơn 20 thế kỷ qua Phật giáo đã chung sống với dân tộc ta Triết lý nhân sinh củaphật giáo đã thấm thấu vào tinh thần dân tộc và có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân sinh quancon người Việt Nam, góp phần đắc lực tao nên nhân cách của nhiều người dân Việt Nam.Phật giáo đề cập rất nhiều đến thuyết nhân duyên, đến quan hệ nhân quả, nhìn sự vật từkết quả để tìm nguyên nhân và từ kết quả này lại là nguyên nhân của kết quả khác trongmối liên hệ khác Luân hồi nghiệp báo là giáo lý phật giáo dựa trên luật nhân quả Luậtnhân quả của phật giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân sinhquan và đạo đức trong nhân dân ta

Nhưng quan điểm ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão, nhân nào quả đấy, cha mẹhiền lành để đức cho con, bản chất từ bi hỷ xả trong triết lý nhân sinh phật giáo thấm sâuvào đời sống tinh thần dân tộc hướng mọi tầng lớp nhân dân vào con đường thiện nghiệp

tu dưỡng đạo đức vì dân vì nước Có tác giả nhận xét: cái sống đời đời trong đạo đức phậtgiáo là từ bi và cứu khổ cứu nạn Nó vượt thời gian, không gian, bởi vì nó nhằm bảo vệ,phát huy dùy trì nhân bản “ làm điều lành”, “ hướng về điều lành” hoặc ít nhất “ đừnglàm điều ác”, “ đừng hướng về cái ác”

Luật nhân quả theo phật giáo đề cập đến dòng biến động, sinh diệt nói tiếp nhau,

đã chỉ cho các tín đồ điều kiện để đạt đến đỉnh cao của trí tuệ, thì người tu hành phải cóđức độ, long từ bi không ỷ lại hay tự ty với chính mình Luật nhân quả còn khẳng địnhkhi chúng ta gieo nhân tức là đã gây nghiệp, gây nghiệp lành được quả lành, gây nghiệp

dữ bị quả dữ Vì vậy hướng con người vào việc thiện, xa lánh điều ác Nếu chúng ta gạt

bỏ điều kiện thần bí về kiếp người trong luật nhân quả, sẽ thấy được tinh thần nhân bảntrong việc giáo dục con người sống lành mạnh, làm việc tốt, từ đó góp phần vào việc xâydựng xã hội yên lành và có nhân tính hơn Ngoài ý nghĩa tích cực trong việc giáo dục vàxây dựng một gia đình tốt, một xã hội yên bình, phật giáo còn nhấn mạnh sự nỗ lực làyếu tố quyết định của mỗi con người trong quá trình tu tập đi đến giác ngộ Giáo lý nhânquả của phật giáo không ra lệnh cũng không trừng phạt, mà đưa con người về vị trí thực

sự của họ, không tách khỏi ý thức trách nhiệm vai trò vị trí của mình trong gia đình và xãhội

Nhân sinh quan Phật giáo đã hòa đồng với các tôn giáo khác, cũng như tập quántín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt Nam Đạo lý từ - bi - hỉ - xả, bình đẳng, củaphật giáo đã ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tính thần người Việt , là một trong nhữngyếu tố tham gia vào quá trình hình thành giá trị văn hóa dân tộc Đạo đức xã hội coi trọngchữ tâm là gốc để tạo nên sức mạnh và là động lực cho sự phát triển xã hội Tư tưởng,hành vi đạo đức phật giáo phù hợp với truyền thống nhân đạo, thương người như thểthương thân của đạo lý người Việt Nam

Bầu ơi thương lấy bí cùngTuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Trong gia đình việc, việc thờ cúng tổ tiên là truyền thống của con người ViệtNam Truyền thống đó được cộng hưởng bởi đạo đức phật giáo Cho đến tận ngày naytrong mỗi gia đình người Việt Nam, thậm trí ở cả nước ngoài, khi mở đầu bài khấn lễ giatiên, hay trước khi tiến hành các thủ tục tế lễ thì bao giờ cũng mở đầu bằng câu “ Nam

mô a di đà phật”

Trang 3

Tóm lại mặt tích cực của nhân sinh quan phật giáo nói chung và đạo đức phật giáobao gồm nhiều khía cạnh Trước hết, nó góp phần củng cố đạo đức xã hội, tôn vinhnhững giá trị văn hóa dân tộc, khơi dậy tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, lá lànhđùm lá rách góp phần tạo nên nhân cách con người Việt Nam.

2.2 ảnh hưởng của triết học phật giáo đến lối sống.

Lối sống con người Việt Nam có nhiều nét đặc thù Về cơ bản, đời sống tinh thầncủa con người Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều của tư tưởng Tam giáo, trong đó cócác vấn đề nhận thức luận, thế giới quan và đặc biệt là nhân sinh quan trong phật giáo Hệthống chùa – tháp, một bộ phận cấu thành giá trị vật chất và tinh thần của di sản văn hóadân tộc Chùa là nơi biểu hiện quan niệm từ - bi - hỷ - xả … gợi cho con người sự hướngthiện, hướng về những điều thanh cao trong cuộc sống

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông

Người Việt đến chùa với long thành kính cầu mong sự an bình, hạnh phúc cho cánhân và cho người thân, kể cả cầu mong sự thanh thản cho người đã quá cố ở cõi vĩnhhằng mà không năng nề về phần cúng lễ để xin sự phú quý giàu sang

Đạo lý “Thương người như thể thương thân” của người Việt được biểu hiện quahành động của từng cá nhân và lối sống của cộng đồng Nhân sinh quan phật giáo quanniệm cuộc đời chúng sinh tràn ngập trong khổ đau Từ đó, đạo phật ( còn gọi là đạo từ

bi ) đòi hỏi tình thương nhân loại đối với tất cả mọi người, phải giúp đỡ, san sẻ, đùm bọc,không vụ lợi, không đợi chờ sự đền đáp và hoàn toàn mang tính tự nguyện

Nếp sống của con người Việt Nam nghiêng về nội tâm, hướng nội Ngày nay, saukhi đã trải qua nhiều mất mất, hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ, Người dân Việt Nam rất nhạy cảm trước mọi niềm vui, và nỗi buồn của mọi người,sẵn sàng chia sẻ, đồng cam cộng khổ với những người xung quanh Dân ta có câu “ hàngxóm láng giềng những khi tối lửa, tắt đền có nhau” có ý nghĩa muốn đùm bọc, quan tâmchu đáo, chia sẻ lẫn nhau khi gặp khó khăn Đây là một nghĩa cử cao đẹp của con ngườiViệt Nam Cho đến nay, đối với nhiều gia đình người Việt Nam thì mười điều tâm niệm

và mười bốn điều răn của phật được xem là những giá trị đạo đức điều răn thứ sáu trongmười bốn điều phật dạy có ghi: “ tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu Cần phảiphụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu, thay mặt cha mẹ thực hiện những việc cần thiếtthuộc bổn phận của cha mẹ, duy trì bảo vệ làm vẻ vang truyền thống của gia đình, giữ gìntài sản của gia đình do cha mẹ tích lũy được, sau khi cha mẹ mất làm lễ thành phục theođúng lễ, tổ chức an tang trọng thể

Vợ chồng phải chung thủy, kính trọng và thông cảm lẫn nhau Cha mẹ phảithương yêu con cái, “ phải tránh cho con rơi vào ác đạo, dạy con cái làm những công việchữu ích, đem lại cho con cái một sự giáo dục tốt đẹp, cưới vợ gả chồng cho con cái thànhhôn với con em những gia đình lương hảo …

B về mặt tiêu cực

Triết học phật giáo đem lại nhiều giá trị tích cực đối với đời sống xã hội ngườiViệt Nam Tuy nhiên, sẽ không đầy đủ nếu như chỉ nhấn mạnh những giá trị tích cực, màkhông thấy ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với đời sống tinh thần nói chung và đạo đức xãhội của người Việt Nam

Cũng như tôn giáo khác, phật giáo là niềm an ủi cho con người bằng sự đền bù hư

ảo, hay là đem lại sự thỏa mãn nhu cầu tâm linh một cách ảo tưởng, coi sự giải thoát khỏithế giới trần tục làm cứu cánh cho cuộc đời đau khổ của mình Các Mác từng nói: “ Tôn

Trang 4

giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bi áp bức, là trái tim của thế giới không trái tim, cũnggiống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiệncủa nhân dân”

Thuyết nhân quả của phật giáo tạo cho mọi người tính nhẫn nhục, cam chịu bằnglòng với số phận của mình ở cuộc sống trần gian Như vậy vô hình chung đã tạo điều kiệnthuận lợi để giai cấp thống trị lợi dụng ru ngủ nhân dân, loại bỏ ý thức vươn lên đấu tranhcủa họ, dẫn đến sự cai trị của chúng dễ dàng hơn

Mặt khác, trong thực tế chùa chiền trở thành nơi ẩn náu của một số người tỏ ra bấtmãn trước cuộc sống, gặp khó khăn hay thất bại trong cuộc sống và chưa làm chủ đượccuộc sống của mình, do vậy họ vào chùa nương nhờ cửa phật, lẩn chốn thực tại Là mộttôn giáo có những yếu tố thần bí, phật giáo đã làm cho con người tin tưởng một cách mùquáng, mà không thấy cuộc sống của mình do mình làm chủ, không dựa vào trí thức ,không dựa vào khoa học để chiến thắng khổ nạn, cố gắng tự vươn lên làm chủ trong mọihoàn cảnh giành lấy hạnh phúc cho mình

Quan niệm đời là bể khổ, cuộc sống là trần gian tạm bợ, là sự chuẩn bị bắt đầucho cuộc sống ở cõi Niết bản Điều này làm con người xa lánh cuộc đời, an phận thủthường, thu mình trước mọi bất công, nảy sinh tâm trạng bi quan, yếu thế trước cuộcsống Đó là điều không phù hợp và thậm trí là sự cản trở đối với sự tiến bộ của nhân loại,đặc biệt là trong điều kiện hiện nay Con người sống trong thế giới thực tại càng phải cóniềm tin, lý tưởng, biết vươn lên trong mọi khó khăn , thử thách làm chủ cuộc sống củamình cần thiết phải có thái độ lạc quan yêu đời, tin vào bản thân mình

Mặt tiêu cực thêm nữa là nhìn đời một cách bi quan, có pha trộn chất hư vô chủ nghĩa, nặng về tin tưởng ở quyền năng và phép màu nhiệm của một vị siêu nhiên mà nhẹ

về tin tưởng năng lực hoạt động của con người, nếp sống thì khổ hạnh và không tránh khỏi nương theo những nghi lễ thần bí Đặc biệt là có hiện tượng mê tín dị đoan như: Lênđồng, đốt vàng mã, những đồ dùng bằng giấy Những tư tưởng mê lầm đó vừa phung phí tiền bạc, thời gian lại làm xuất hiện trong xã hội những loại người chỉ dựa vào những nghề nghiệp ấy mà kiếm sống gây ra một sự bất công trong xã hội

Câu 3: Phân tích phạm trù nhân, lễ, chính danh của TH Nho giáo Từ đó trình bày suy nghĩ của mình về sử dụng cán bộ hiện nay ở nước ta?

3.1 Phân tích phạm trù nhân, lễ, chính danh của TH Nho giáo.

+ Thứ hai, về mặt dụng, - nhân là long thương người, là sửa mình theo lễ, hạn chế dụcvọng, ích kỷ, hành động theo trật tự lễ nghi đạo đức Muốn làm điều tốt và lam điều tốtcho người khác, rằng: “ điều gì muốn thành công cho mình, thì nên giúp người khácthành công”

Trang 5

Nhân là phạm trù cao nhất của luân lý, đạo đức, là phạm trù trung tâm trong họcthuyết đạo đức – chính trị của nho giáo Nhân tùy thuộc vào phẩm hạnh, năng lực, hoàncảnh mà thể hiện Trong xã hội luôn tồn tại hai hạng người đối lập nhau: quân tử - tiểunhân về chính trị, luân lý, đạo đức: “ Kẻ quân tử bất nhân thì cũng có, nhưng chưa baogiờ lại có kẻ tiểu nhân lại có nhân cả”.

b Thuyết về “ Lễ”:

Lễ đóng vai trò quan trọng nhất trong đời sống đạo đức và lối sống chính trị Lễ theoquan niệm của khổng tử vừa là nghĩa lễ vừa là tế lễ, vừa là thể chế chính trị vừa là quyphạm đạo đức Theo nghĩa rộng chữ lễ đã định ở trên, thì tác dụng của lễ có hể chia ralàm bốn chủ đích như: là để hàm dưỡng tính tình, là để giữ những tình cảm cho thích hợpđạo trung, là định lẽ phải trái và là tiết chế cái thường tình của con người

Như vậy lễ là sự tôn trong lẫn nhau, ý nghĩa sâu xa của chữ lễ là cách đối nhân xử thếtrong đạo làm người, trong đó có cách đối xử kính cẩn với người khác và hàm dưỡng tinhthần cho chính mình Khổng tử nói : “ điều gì không phải thì đừng nhìn, không phải lễ thìđừng nghe, không phải lễ thì đừng nói, không phải lễ thì đừng làm”

Trong nho giáo, Nhân và Lễ không tách rời nhau, chúng có quan hệ mật thiết vớinhau Nhân là nội dung, lễ là hình thức, lễ biểu hiện của nhân Vì vậy, không thể người

có tính nhân mà vô lễ được Khổng tử nói: “ Một ngày biết nén mình theo lễ thì thiên hạ

sẽ quay mình về nhân vậy”

c Thuyết về “ Chính danh”:

Khổng tử cho rằng thiên hạ bị rối loạn vì vua không ra vua, tôi không ra tôi, chakhông ra cha, con không ra con, … Từ đó ông đưa ra học thuyết “ Chính danh địnhphận” làm căn bản cho việc định quốc

Chính danh là danh ( tên gọi, chức vụ, địa vị, thứ bậc, …) và phận ( phận sự, nghĩa

vụ, quyền lợi ) phải phù hợp với nhau Danh không phù hợp là loạn danh Danh và phậncủa một người trước hết là do những mối quan hệ xã hội quy ( ngũ luân ( tam cương ),ngũ thường ) Để chính danh, nho giáo không dung pháp trị mà dung đức trị, dung luân lýđạo đức điều hành xã hội

Ý nghĩa sâu xa của chính danh thường thể hiện ở mặt dụng với ba khía cạnh: trướchết là phân biệt cho đúng với tên gọi Mỗi sự vật cũng như con người phải thể hiện đúngbản tính của mình, mỗi cái tên bao hàm thái độ, trách nhiệm, bổn phận … để thực hiệnbản tính vốn có của nó.Thứ hai, phân biệt cho đúng danh phận, ngôi vị Thứ ba, danhmang tính phê phán khẳng định chân lý, phân biệt đúng, sai, tốt, xấu, …

3.2 Trình bày suy nghĩ của mình về sử dụng cán bộ hiện nay ở nước ta.

( Phần này anh chi tự soạn, vì mỗi người phải có quan điểm riêng, không ai giống ai được )

CHƯƠNG V : CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG – CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC.

Câu 4 : Phân tích nội dung và bản chất của Chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC) với tính cách là hạt nhân lý luận của Thế gới quan khoa học (TGQKH) Trong các nội dung anh chi tâm đắc nội dung nào nhất vì sao?

Trang 6

4.1 Nội dung: Có 2 nhóm quan điểm:

Quan điểm duy vật về thế giới:

Tồn tại của thế giới là tiền đề thống nhất thế giới: Trước khi thế giới có thể làmột thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại Tính thống nhất thật sự của thế giới

là ở tính vật chất của nó, tính vật chất này được chứng minh bằng một sự phát triển lâudài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên

 Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, có nội dung như sau:

 Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận

 Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các quá trình vật chất cụ thể, có mức độ

tổ chức nhất định; đang biến đổi chuyển hóa lẫn nhau là nguồn gốc, nguyên nhân củanhau; cùng chịu sự chi phối bởi các quy luật khách quan của TGVC

 Ý thức, tư duy con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có tổchức cao; thế giới thống nhất và duy nhất

 Phạm trù vật chất: vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại kháchquan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác

 Phạm trù ý thức, quan hệ giữa ý thức và vật chất: Ý thức của con người tồn tạitrước hết trong bộ óc con người, sau đó thông qua thực tiễn lao động nó tồn tại trong cácvật phẩm do con người sáng tạo ra Ý thức gồm nhiều yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin,

ý chí… trong đó tri thức và tình cảm có vai trò rất quan trọng Thông qua hoạt động thựctiễn, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất tạo nên sức mạnh tinh thần tácđộng lên thế giới góp phần biến đổi thế giới

Quan điểm duy vật về xã hội:

 Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, nó là kết quả phát triển lâu dài của tựnhiên, có quy luật vận động, phát triển riêng, sự vận động, phát triển của xã hội phảithông qua hoạt động thực tiễn

 Sản xuất vật chất là cơ sở đời sống xã hội: Nền sản xuất vật chất trong từng giaiđoạn lịch sử gắn liền với một phương tiện sản xuất nhất định, sự thay đổi PTSX sẽ làmthay đổi mọi mặt của đời sống xã hội

 Sự phát triển của xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên, là lịch sử phát triển các hìnhthái kinh tế xã hội một cách đa dạng nhưng thống nhất từ thấp đến cao, mà thực chất làlịch sử phát triển của xã hội

LLSX ↑→ QHSX ↑→PTSX ↑→(CSHT + KTTT) ↑→HTKTXH ↑

 Quần chúng nhân dân (QCND) là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử: QCND

là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần, quyếtđịnh thành bại của mọi cuộc cách mạng Vai trò chủ thể QCND biểu hiện khác nhau ởnhững điều kiện lịch sử khác nhau và ngày càng lớn dần; sức mạnh của họ chỉ được pháthuy khi họ được hướng dẫn, tổ chức, lãnh đạo

4.2 Bản chất của CNDVBC:

 CNDVBC đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn: CNDV cũ thiếu quan điểm thực tiễn, máy móc → không thấy được tính năng động của ý thức; riêng CNDVBC khẳng định vật chất có trước và quyết định ý thức; trong hoạt độngthực tiễn ý thức tác động tích cực làm biến đổi hiện thực vật chất theo nhu cầu của con người

 CNDVBC đã thống nhất TGQDV với phép biện chứng: CNDV cũ mang nặngtính siêu hình, PBC được nghiên cứu trong hệ thống triết học duy tâm Æ Mác cải tạo

Trang 7

CNDV cũ, giải thoát PBC ra khỏi tính thần bí, tư biện Æ xây dựng nên

CNDVBC; thống nhất giữa TGQDV với PBC

 CNDVBC là CNDV triệt để; nó không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còntrong lĩnh vực xã hội CNDVLS là cống hiến vĩ đại của C.Mác cho kho tàng tư tưởng củaloài người: CNDV cũ không triệt để; CNDV lịch sử ra đời là kết quả vận dụng CNDVvào nghiên cứu lĩnh vực xã hội, tổng kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xãhội trên cơ sở khái quát thực tiễn mới của giai cấp vô sản Với CNDVLS nhân loại tiến

bộ có được một công cụ vĩ đại trong nhận thức, cải tạo thế giới

 CNDVBC mang tính thực tiễn - cách mạng, nó hướng dẫn con người trong hoạtđộng thực tiễn cải tạo thế giới:

 CNDVBC là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản: Lợi ích giai cấp vô sảnphù hợp lợi ích nhân loại tiến bộ, được luận chứng bằng những cơ sở lý luận khoa học →CNDVBC trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản có sự thống nhất tính khoa học vàtính cách mạng

 CNDVBC không chỉ giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo thế giới

 CNDVBC khẳng định sự tất thắng của cái mới: nó xóa bỏ cái cũ lỗi thời,xây dựng cái mới tiến bộ

 CNDVBC là một hệ thống mở, là kim chỉ nam cho mọi hành động

Câu 5: Anh ( chị) hảy phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?

* Cơ sở lý luận :

Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện

- Vật chất là cái có trước tư duy Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát

từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng Không ép đối tượng thỏa mãn một

sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng- cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó.

- Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính

nó Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng

Trang 8

- Giới tự nhiên và xã hội không bao giờ tự phơi bày tòan bộ bản chất của mình ra thành các hiện tượng điển hình Con người không phải chỉ nhận thức những cái gì bộc lộ ra trước chủ thể Do đó để phản ánh khách thể như một chỉnh thể, chủ thể tư duy không thể không bổ sung những yếu tố chủ quan như đề xuất các giả thuyết, đưa ra các dự đóan khoa học ….Thiếu những điều này tư duy sẽ không mang tính biện chứng, sẽ không thể hiện bản tính sáng tạo thông qua trí tưởng tượng của chính mình Yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể đòi hỏi chủ thể tư duy phải biến đổi, thậm chí cải tạo đối tượng để tìm ra bản chất của nó Những biến đổi, cải tạo đó là chủ quan nhưng không phải tùy tiện, mà

là những biến đổi và cải tạo đối tượng phù hợp quy luật của hiện thực thuộc lĩnh vực nghiên cứu.

- Yêu cầu khách quan trong xem xét có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội Đối tượng nghiên cứu bao gồm cái vật chất và cái tinh thần chứa đầy những cái chủ quan, những cái lý tưởng và luôn chịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tự nhiên lẫn lực lượng tự giác (ý chí, lợi ích, mục đích, nhân cách, cá tính khác nhau) của con người Ở đây đối tượng, khách thể tư duy quyện chặt vào chủ thể tư duy bằng hệ thống những mối liên hệ chằng chịt Do đó cần phải cụ thể hóa nguyên tắc khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội, tức là phải kết hợp nó với các yêu cầu phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng Điều này có nghĩa là nguyên tắc khách quan trong xem xét không chỉ bao hàm yêu cầu xuất phát từ chính đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triển của nó, không được thêm bớt tùy tiện chủ quan, mà nó còn phải biết phân biệt những quan hệ vật chất với những quan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tố chủ quan, thừa nhận các quan hệ vật chất khách quan tồn tại xã hội là nhân tố quyết định.còn những hiện tượng tinh thần, tư tưởng được quy định bởi đời sống vật chất của con người và các quan hệ kinh tế của họnhưng chúng có ảnh hưởng ngược lại tồn tại

xã hội Phải coi xã hội là một là một cơ thể sống tồn tại và phát triển không ngừng chứ không phải là cái gì đó kết thành một cách máy móc Phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái kinh tế xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái

xã hội đó.

- Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng Việc xem thường nguyên tắc này

dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp.

Trang 9

* Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:

Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc biện chứng Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:

 Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải:

- Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có

mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan.

- Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm.

 Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải :

- Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó.

- Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.

Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới.

* Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam:

Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất Cụ thể là:

- Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước.

- Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước.

- Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc

là động lực chủ yếu để phát triển đất nước Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội ) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới.

- Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.

Biết phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của các yếu tố chủ quan (tri thức, tình cảm…) tức phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và thực tiển:

- Coi sự thống nhất giữa tình cảm (nhiệt tình cách mạng, lòng yêu nước, ý chí quật cường…) và tri thức (kinh nghiệm dựng nước và giữ nước, hiểu biết khoa học) là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc đổi mới Chống lại thái độ ỷ lại, trì trệ, chỉ biết làm theo cách cũ mà không biết dũng cảm làm theo cái mới, biết khơi

Trang 10

dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường… phải phổ biến tri thức khoa học, công nghệ hiện đại cho đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, biết nâng cao dân trí, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài.

- Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng Đặc biệt là giáo dục chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đông đảo người Việt Nam chúng ta Phải nâng cao và đổi mới tư duy lý luận mà trước hết là chủ nghĩa

xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

- Kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí,lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng

mà bất chấp quy luật khách quan, coi thường tình hình thực tế.

III.NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG NÓ VÀO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM ( thêm)

1.Tôn trọng khách quan.

Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất Điều này đòi hỏi con người trong nhận thức và hành động của mình phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hành động của mình

Một số biểu hiện của việc tôn trọng khách quan là:

-Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, việc nhận định đúng thời cơ cách mạng để phát động quần chúng nổi dậy giành thắng lợi quyết định cho cách mạng là vấn đề hết sức quan trọng Nếu phát động sớm, không đúng thời cơ, cách mạng sẽ gặp nhiều khó khăn, chiu nhiều tổn thất, nhưng trái lại nếu bỏ lỡ thời cơ lại là lỗi lầm lịch sử nguy hại cho cách mạng Thời cơ có thể do hoàn cảnh bên ngoài đưa lại mang nhiều yếu tố bất ngờ; song nó phải được xem xét trong tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng ở trong nước Một trong những bài học kinh nghiệm về phương pháp cách mạng của Đảng ta là nắm vũng phương châm chiến lược lâu dài, đồng thời biết tạo thời cơ và nắm vững thời

cơ mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đè bẹp quan địch giành thắng lợi cuối cùng

Trong khoảng 10 năm sau khi thống nhất đất nước, bên cạnh những thành tực đã đạt được, chúng ta nôn nóng, tách rời hiện thự, vi phạm nhiều quy luật khách quan trong đó quan trọng nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, nên đã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu, xác định các bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế.Hiện nay thực trạng trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp; cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chưa đủ, chưa vững chắc, đời sống của nhân dân chưa cao, trong khi chúng ta còn nhiều tiềm năng cả về tài nguyên thiên nhiên, con người cũng như các quan hệ trong và ngoài nước mà chúng ta chưa khai thách một cách tốt nhất thì việc Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện công ngh hoá, hiện đạ hoá; thực hiện chủ trươngnhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phát huy tối ưu tài lực, trí lực, nhân lực còn tiềm tàng ấy, nhằm tạo ra sự chuyển hoá về chất trong toàn bộ đời sống xã hội để đáp ứng nhu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam đang đặt ra

-Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng, phải tổ chức được lượng vật chất để

Trang 11

Thời kỳ chiến tranh, chúng ta rất thành công trong việc huy động, tổ chức sức mạnh của mỗi người, mỗi vùng, sức mạnh của cả nước, sức mạnh trong và ngoài nướx, sức mạnh quá khứ và tương lai tạo nên một lực lượng vật chất khổng lồ của chiến tranh nhân dân, đánh bại những thế lực hơn chúng ta nhiều lần về tiềm lực kinh tế và quân sự để bảo vệ độc lập, chủ quyền hoàn toàn thống nhất đất nước.

Ngày nay với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, chúng ta xác định:” động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa côngnhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và củatoàn xã hội” chúng ta kêu gọi kiều bào ở nước ngoài về xây dựng đất nước và bằng chứng

là đã có rất nhiều kiều bào ta ở nước ngoài đã trở về quê hương để kinh doanh góp phần xây dựng và phát triển đất nước Đây chính là tạo lực lượng vật chất để thực hiện nhiệm cách mạng trong giai đoạn mới

2.Phát huy tính năng động chủ quan.

Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thưc và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa những tính chất ấy.Một số biểu hiện cơ bản:

-Phải tôn trọng tri thức khoa học

Tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới được khái quát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm Tri thức khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người vì nó là một trong những động lực phát triển xã hội Mọi bước tiến trong lịch

sử nhân loại đều gắn liền với những thành tựu mới của tri thức khoa học

Tri thức khoa học thể hiện trong các khoa học khác nhau phản ánh những lĩnh vực khác nhau của thế giới, song bản thân các lĩnh vực khác nhau này không tồn tại cô lập, tách rờinhau nên tri thức khoa học phản ánh chúng không cô lập, tách rời nhau Việc phân chia khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội, khoa học nhân văn hay khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, v.v chỉ có tính tương đối Vì vậy tôn trọng tri thức khoa học không chỉ là chống sự tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm, xem thường khoa học

mà còn là không tuyệt đối hóa một loại khoa học nào trong hệ thống các khoa học Đây làtiền đề giúp con người không chỉ hoạt động có hiệu quả trong ngành nghề của mình mà còn giúp con người thực hiện hoạt động ấy theo những giá trị nhân văn của xã hội

Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của khoa học, đối với cách mạng Việt Nam, Đảng

và nhà nước ta khẳng định:” Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốcsách hàng đầu”; trong đó, “nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” nhằm “đào tạo con người toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng đậc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;

Trang 12

hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đối với khoa học, Đảng và Nhà nước chủ trương “thực hiện cơ chế kết hợp chặt chẽ giữa khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ… phát huy tính sáng tạo, tính dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, thu hút chuyên gia giỏi của thế giới đóng góp vào sự phát triển của đất nước bằng nhiều hình thức thích hợp”.-Phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành động.

Từ tôn trọng khoa học đến làm chủ khoa học là cả một quá trình Nó liên quan đến quan niệm của con người về khoa học mà còn liên quan đến năng lực, nghị lực, quyết tâm của con người và những điều kiện vật chất để thực hiện nó Mặt khác sức mạnh và hiệu quả của tri thức khoa học phụ thuộc vào mức độ thâm nhập của nó vào quần chúng, nên sự thâm nhập này trở thành một trong những điều kiện trực tiếp để phát huy vai trò nhân tố con người trong hoạt động vật chất hóa tri thức

Ở nước ta hiện nay, việc khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, việc đầu tư có trọng điểm trong hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học; việc chủ trương xã hội hoá giáo dục, cả nước trở thành cả một xã hội học tập, chủ trương sử dụng tối ưu những phương tiện thông tin đại chúng cũng như đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền; việc động viên các nhà khoa học bám sát cơ sở sản xuất, hướng dẫn nhân dân nắm bắt và làm chủ những tri thức mới về khoa học và công nghệ mà Đảng, Nhà nước vàtoàn dân đang tiến hành là những hoạt động sống động về việc phát huy tính năng động chủ quan phù hợp với yêu cầu và điều kiện của xã hội hiện tại

Câu 6: Đảng ta khẳng định: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Anh chị hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó?

Trả lời:

Ở Việt Nam, do bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ & hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng đã xuất hiện trước Đổi mới có nguyên nhân và gây ra tác hại lớn.

Xuất phát từ hiện thực khách quan của nước ta yếu kém về năng lực tư duy, lạc hậu về lý luận, ít kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý đất nước; Đồng thời

do sai lầm ấu trĩ “tả” khuynh, xảy ra trong một điều kiện lịch sử rất đặc biệt của dân tộc ta (Biết phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, khao khát thoát ra khỏi cuộc sống lầm than, nô lệ ) nhưng lại không xuất phát từ hiện thực, bất chấp quy luật, coi thường tri thức KH,… Nên tạo ra những chính sách sai lầm, gây ra những hậu quả về nhiều mặt (kinh tế, xã hội…) rất nghiêm trọng & kéo dài

Để có thể khắc phục triệt để chủ nghĩa chủ quan phải quán triệt thực hiện nguyên tắc khách quan Vì nguyên tắc khách quan là nguyên tắc đầu tiên của tư duy biện chứng, Vận dụng nguyên tắc khách quan kết hợp với chủ quan trong hoạt động nhận thức sẽ tránh được những sai lầm trong chính sách phát triển đất nước

Trên cơ sở quy luật khách quan đó, Đảng ta khẳng định “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Để làm

Trang 13

được điều đó Phải tôn trọng hiện thực kh.quan, tôn trọng vai trò quyết định của

 Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Coi đại đoàn kết toàn dân tộc

là động lực chủ yếu phát triển đất nước Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi ích khác nhau (kinh tế, chính trị, tinh thần, ; cá nhân, tập thể, xã hội) thành động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới

Đồng thời phải phát huy tính năng động, sáng tạo của YT, ph.huy vai trò của các yếu tố chủ quan (t.thức, t.cảm, ý chí, lý trí, ), tức ph.huy vai trò nhân tố CN trong h.động nhận thức & thực tiễn cải tạo đất nước Cụ thể:

 Coi sự thống nhất nhiệt tình CM & tri thức KH là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc Đổi mới; Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ trì trệ; Bồi dưỡng nhiệt tình, phẩm chất cách mạng; Khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường, tài trí người Việt Nam,…

 Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng HCM); Nâng cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH & con đường đi lên CNXH);

 Phổ biến tri thức KH cho cán bộ, đảng viên, nhân dân.

 Kiên quyết khắc phục & ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ, hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan

ảo tưởng; bất chấp quy luật khách quan.

CHƯƠNG VI : PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT PHƯƠNG PHÁP LUẬN NHẬN THỨC KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN.

Câu 7: Những nội dung cơ bản của phép biến chứng duy vật ? việc vận dụng những nội dung này sẽ khắc phục những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động thực tiễn?

7.1 Phân tích nội dung, ý nghĩa nguyên lý mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.

a Nguyên lý mối liên hệ phổ biến :

Khái niệm : Mối liên hệ là phạm trù triết học dung để chỉ sự quy định, sự tác động qua

lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật ,của một hiện tượng trng thế giới

Tính chất:

Mọi mối liên hệ của sự vật hiện tượng là khách quan, là vốn có của sự vật hiệntượng Tuy nhiên mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan, mà nó còn mang tính phổbiến Tính phổ biến mối liên hệ thể hiện:

+ Thứ nhất, bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng khác.Không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Trong thời đại ngày này khôngmột quốc gia nào không có quan hệ, không có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt

Trang 14

đời sống xã hội Chính vì thế hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàncầu hóa, khu vực hóa, khu vực hóa moi mặt đời sống xã hội Nhiều vấn đề đã và đang trởthành vấn đề toàn cầu như: đói nghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh thái …

+ Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theođiều kiện nhất định Song, dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hện của mốiliên hệ phổ biến nhất, chung nhất Những hình thức liên hệ riêng rẽ, cụ thể được các nhàkhoa hoc cụ thể nghiên cứu Phép biện chứng duy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệchung nhất, bao quát nhất thế giới Bởi thế ăng ghen viết : “ Phép biện chứng là khoa học

về sự liên hệ phổ biến” Cùng với những lý do nêu trên, triết học gọi mối liện hệ đó làmối liên hệ phổ biến Nghiên cứu mối liên hệ của sự vật, hiện tượng trng thế giới cònthấy rõ tính đá dạng, nhiều vẻ của nó Nhờ vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra cácmối liên hệ khác nhau theo từng cặp: Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mốiliên hệ chủ yếu và mối liên hệ tứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ ko bản chất,mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên, mối liên hệ chug bao quát toàn bộ thếgiới và mối liên hệ riêng bao quát một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực của thế giới, mốiliên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp, trong sự tác động qua lại phải thông qua trunggian mới thực hiện được, mối liên hệ giữa các sự vật và mối liên hệ giữa các mặt haygiữa các giai đoạn phát triển của sự vật để tạo thành lịch sử phát triển của sự vật

có thể tác động đối với sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật

Mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên cũng cotính chất tương tự như nêu trên, ngoài ra chúng còn có những nét đặc thù Chẳng hạn cái

là ngẫu nhiên khi xem xét trong quan hệ này lại là tất nhiên, khi xem xét trong một mốiquan hệ khác ; ngẫu nhiên lại là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cái tất yếu, hiệtượng là hình thức biểu hiện ít nhiều đầy đủ của bản chất Đó là những hình thức đặc thùcủa sự biểu hiện những mối liên hệ tư tưởng

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượngchúng ta cần rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức, xem xét các sự vật và hiệntượng cũng như trong hoạt động thực tiễn Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phântích về sự vật phải đặt nó trong mối quan hệ với sự vật khác Đồng thời phải nghiên cứutất cả những mặt, những yếu tố, những mối liên hệ vốn có của nó Qua đó có thể xác địnhđược mối liên hệ bên trong, bản chất, … để từ đó có thể nắm được bản chất, quy luật của

sự vật và hiện tượng

Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu vật phải thấy sự tồn tại vận động

và phát triển của bản thân các sự vật, hiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tínhlịch sử cụ thể Cho nên khi phân tích tính toàn diện về các mối liên hệ của các sự vật phảiđặt nó trong mối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử cụ thể của các mối quan hệ

đó

b Nguyên lý về sự phát triển :

Trang 15

Khái niệm : Phát triển là một phạm trù triết học dung để khái quát quá trình vận động

tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Tính chất:

Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan Bởi vì, theo quan điểm duy vậtbiện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Đó là quá trìnhgiải quyết lien tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động sự vật Nhờ đó

sự vật luôn luôn phát triển Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộcvào ý muốn nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người Dù con người có muốn hay khôngmuốn, sự vật vẫn luôn phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất

Sự phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nódiễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thếgiới khách quan Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằmtrong quá trình vận động và phát triển, hoặc đúng hơn, mọi hình thức của tư duy cũngluôn phát triển Chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là cáckhái niệm, các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và pháttriển

Ngoài tính khách quan và tính phổ biến, sự phát triển còn có tính đa dạng, phongphú Khung hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng.Song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tồn tại ởkhông gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau Đồng thờitrong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu nhiều sự tác động của các sự vật, hiệntượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm

sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật,thậm trí làm cho sự vật thụt lùi

Phân loại và vị trí của nó:

+ Mối quan hệ bên trong và bên ngoài: bên trong chuyển hóa bên ngoài và ngược lại Cáinào quyết định cái nào, cái nào có trước cái nào có sau

+ Mối quan hệ Trực tiếp và gián tiếp : tùy mối quan hệ mà sử dụng hình thức trực tiếphay gián tiếp

+ Mối quan hệ cơ bản và không cơ bản

+Mối quan hệ chủ yếu và không chủ yếu

7.2 Phân tích nội dung, ý nghĩa những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.

Các mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng được phép duy vật biện chứngkhái quát thành các cặp phạm trù cơ bản như sau:

- Cặp phạm trù Cái chung - cái riêng - cái đơn nhất

- Cặp phạm trù Tất nhiên - ngẫu nhiên

- Cặp phạm trù Bản chất - hiện tượng

- Cặp phạm trù Nguyên nhân - kết quả

- Cặp phạm trù Khả năng - hiện thực

- Cặp phạm trù Nội dung - hình thức

Trang 16

Các cặp phạm trù này được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhậnthức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội.

A Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

A.1 Khái niệm: Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,

một quá trình riêng lẻ nhất định Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt,những thuộc tínhchung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn lặp đilặp lại trong nhiều sự vật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác Cái đơn nhất là phạm trù

để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính… chỉ có một sự vật, một kết cấu vật chất,

mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác

A.2 Quan hệ biện chứng giữa “ cái riêng” “ cái chung” và cái đơn nhất.

Phép biện chứng duy vật cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tạikhách quan, giữa chúng có mối lien hệ hữu cơ với nhau Điều đó thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện

sự tồn tại của mình Nghĩa là không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng Rõràng cái chung tồn tại thực sự, nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cáiriêng.Chẳng hạn không có cái cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào

cụ thể Nhưng cây cam, cây quýt, cây đào nào cũng có rễ, có thân, có lá, có quá trìnhđồng hoá, dị hoá để duy trì sự sống Những đặc tính chung này lặp lại ở những cái câyriêng lẻ,và được phản ánh trong khái niệm “cây” Đó là cái chung của những cái cây cụthể Rõ ràng cái chung tồn tại thực sự, nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thôngqua cái riêng.

Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối lien hệ với cái chung Nghĩa là không cócái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có lien hệ với cái chung, Ví dụ nền kinh tếcủa mỗi quốc gia , dân tộc với tất cả những đặc điểm phong phú của nó là một cái riêng.Nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung – cầu, quy luật quan hệ sảnxuất phù hợp với tính chất và phát triển của lực lượng sản xuất, đó là cái chung Như vậy,

sự vật, hiện tượng riêng nào cũng bao hàm cái chung

Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộphận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài nhữngđặc điểm chung Cái riêng còn có cái đơn nhất

Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính, nhữngmối lien hệ ổn định, tất nhiên lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cáigắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng

Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình pháttriển của sự vật sở dĩ như vậy vì trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng đơn nhất Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiệndần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến Ngưộc lại cái cũ lúc đầu là cáichung, cái phổ biến, nhưng về sau không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần đi trởthành cái đơn nhất Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiệncủa quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại sự chuyển hóa từ từ cái chungthành thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định.Thí dụ,

sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường diễn rabằng cách, ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt Do phù hợp với điềukiện mới, đặc tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều

cá thể Những đặc tính không phù hợp với điều kiện mới, sẽ mất dần đi và trở thành cáiđơn nhất

Trang 17

A.2 ý nghĩa phương pháp luận.

Muốn nhận thức được cái chung, phải nghiên cứu cái riêng và ngược lại muốnnhận thức được cái riêng, một mặt phải nghiên cứu cái đơn nhất, nhưng đồng thời cũngphải nghiên cứu cái chung, để thấy được vai trò quyềt định của cái chung với cái riêng

Muốn vận dụng cái chung cho từng trường hợp của cái riêng, nếu không chú ýđến những tính cá biệt và điều kiện lịch sử và cái riêng thì cũng chỉ là nhận thức giáođiều, áp dụng rập khuôn máy móc Nhưng ngược lại, trong hoạt động thực tiễn nếu khônghiểu biết những nguyên lý chung phổ biến thì hoạt động của con người cũng mang tính

mù quáng, kinh nghiệm và cảm tính

Phê phán những quan điểm phủ nhận sự tồn tại khách quan của cái chung và cáiriêng, tuyệt đối hóa cái chung hoặc cái riêng, không thấy được quan hệ biện chứng giữacái chung cái riêng, đó duy thực và duy danh trong triết học

B Nguyên nhân và kết quả

B.1 Khái niệm nguyên nhân và kết quả:

Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong sự vật hoặcgiữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó Còn kết quả là nhữngbiến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong sự vật hoặc giữa các sự vậtvới nhau gây ra

B.2 Tính chất của mối lien hệ nhân quả

Phép biện chứng duy vật khẳng định mối lien hệ nhân quả có tính khách quan,tính phổ biến, tính tất yếu

Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối lien hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân

sự vật Không phụ thuộc vào ý thức con người dù con gnười biết hay không biết, thì các

sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định

Tính phổ biến thể hiện ở chỗ : mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên và trong xãhội đều có nguyên nhân nhất định gây ra Không có hiện tượng nào không có nguyênnhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi Không nênđồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối lien hệ nhân quả với vấn đề tồn tại củamối luên hệ đó trong hiện thực

Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nghuyên nhân nhất định Trong điều kiệngiống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau Tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nàotồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hòan toàn giống nhau Do vậy tính tất yếu củamối lien hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: nguyên nhân tác động trong nhữngđiều kiện và hòan cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra cànggiống nhau bấy nhiêu

B.2 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:

a Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn luôn có trước kếtquả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện

Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điềukiện và hoàn cảnh khác nhau Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Mặtkhác, một nguyên nhân trong những điều kiện khác nhau cũng có thể sinh ra những kếtquả khác nhau VD chặt phá rừng có thể gây ra nhiều hậu quả như lũ lụt hạn hán , thayđổi khí hậu của một vùng …, nếu nhiều nguyên nhân cùng tồn tại và tác động cùng chiềuđến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất hiện nhanh hơn Ngược lại nếu nhữngnguyên nhân tác động đồng thời theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở tác dụng củanhau Điều đó ngăn cản sự xuất hiện của kết quả Do vậy trong hoạt động thực tiễn cần

Trang 18

phải phân tích vai trò của từng loại nguyên nhân , để có thể chủ động tạo ra điều kiệnthuận lợi cho những nguyên nhân quy định sự xuất hiện của kết quả ( mà con ngườimong muốn) phát huy tác dung

b Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân:

Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnhhưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnh hưởng đó thể hiện dưới hai hướng: thúc đẩy sựhoạt động của nguyên nhân( hướng tính cực), hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân( hướng tiêu cực) VD trình độ dân trí thấp do kinh tế kém phát triển, ít đầu tư cho giáodục Nhưng dân trí thấp lại là nhân tố cản trở việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vàosản xuất, vì vậy lại kìm hãm sản xuất phát triển Ngược lại trình độ dân trí cao là kết quảcủa chính phát triển kinh tế và giáo dục đúng đắn Đến lượt nó, dân trí cao lại tác dụngtích cực đến sự phát triển kinh tế và giáo dục

c.Nguyên nhân và kết quả có thể thay đội vị trí cho nhau

Điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này lànguyên nhân, nhưng tong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại Vì vậy PH.Ăngghen nhận xét rằng: Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa lànguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định.Nhưng một khi ta nghiên cứu trường hợp riệng biệt ấy trong mối lien hệ chung của nó vớitoàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhau trong một khái niệm về sự tácđộng qua lại một cách phổ biến , trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí chonhau

B.3 Ý nghĩa phương pháp luận:

Căn cứ phân biệt các loại nguyên nhân và những điều kiện khách quan lịch sử cụthể của nó, cũng như phân biệt nguyên nhânvà nguyên cớ

Muốn xóa bỏ một sự vật, hiện tượng và một kết quả nào đó, thì cần phải loại bỏcác nguyên nhân sinh ra nó( thông qua quy luật khách quan vốn có của nó) Ngược lại,muốn làm xuất hiện một sự vật, hiện tượng và một kết quả nào đó, thì phải phát hiệnnguyên nhân, tạo điều kiện cần thiết cho nguyên nhân sinh ra nó phát huy được tác dụng.Phê phán những quan điểm duy tâm, siêu hình về mối quan hệ nhân quả

C Tất Nhiên và ngẫu nhiên

C.1 Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên:

Tất nhiên (tất yếu) là cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu vậtchất quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế chứ không thểkhác được

Ngẫu nhiên là cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết cấu vật chất, bêntrong sự vật quyệt định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự ngẫu hợp nhiều hoàn cảnhbên ngoài quyết định Do đó nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất nhưthế này, hoặc có thể xuất hiện như thế khác

C.2 Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

a Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con

người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật

Trong quá trình phát triển của sự vật không phải chỉ có cái tất nhiên mới đóng vaitrò quan trọng mà cả tất nhiên và ngâu nhiên đều có vai trò quan trọng Nếu cái tất nhiên

có tác dụng chi phối sự phát triển của sự vật thì cái ngẫu nhiên có tác dụng làm làm cho

sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hoặc chậm Thí dụ, cá tính của lãnh tụ một phongtrào là yếu tố ngẫu nhiên, không quyết định xu hứớng phát triển của phong trào, nhưng

Trang 19

lại có ảnh hưởng làm cho phong trào phát triển nhanh hoặc trậm, mức độ sâ sắc củaphong trào đạt được như thế nào …

b Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng không tồn tại biệt lập dướidạng thuẩn túy cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần túy

Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau Sự thốngnhất hữu cơ này thể hiện ở chỗ: cái tất nhiên bao giờ cũng thể hiện sự tồn tại của mìnhthông qua vô số cái ngẫu nhiên Còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tấtnhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất nhiên, như Ph.Ăngghen nhận xét: sự xuất hiệncác nhân vật xuất sắc trong lịch sử là tất nhiên do nhu cầu xã hội phải giải quyết nhữngnhiệm vụ chin muồi của lịch sử tạo nên Nhưng nhân vật đó là ai lại không phải là cái tấtnhiên, vì cái đó không phụ thuộc vào tiến trình chung của lịch sử Thí dụ sự xuất hiệnlãnh tụ của của giai cấp vô sản có quan điểm duy vật về lịch sử giữa thế kỷ XIX là nhucầu tất yếu của sự phát triển của thực tiễn xã hội Nhưng người đầu tiên đó là C.Mác vàPh.Ăngghen lại là điều ngẫu nhiên

C tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau

Tất nhiên và ngẫu nhiên không nằm yên ở trạng thái cũ mà thay đổi cùng với sựthay đổi của sự vật và trong những điều kiện nhất định tất nhiên có thể chuyển hóa thànhngẫu nhiên và ngược lại

Sự chuyển hóa giữa tất nhiên và ngẫu nhiên còn thể hiện ở chỗ, khi xem xét trongmối quan hệ này, thông qua mặt này thì sự vật, hiện tượngđó là cái ngẫu nhiên, nhưng khixem xét trong mối quan hệ khác , thông qua mặt khác thì sự vật hiện tượng đó lại là cáitất yếu

C.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động thực tiễn, phải căn cứ vào cái tất nhiên, chứ không thể dựa vàocái ngẫu nhiên và dừng lại ở cái ngẫu nhiên Bởi vì cái tất nhiên là cái tất yếu phải xảy rathì ngược lại, cái ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra hoặc không

Muốn nhận thức được cái tất nhiên, phải nghiên cứuvố số cái ngẫu nhiên Bởi vì,vái tất nhiên thể hiện ra bên ngoài cái ngẫu nhiên, định hướng cho sự phát triển của mình

đi qua vô số cái ngẫu nhiên

D Nội dung và hình thức:

D.1 Khái niệm nội dung và hình thức:

Nội dung là tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật Cònhình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệtương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó

D.2 Mối liên hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức.

a Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức

Vì nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, còn hình thức là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nội dung Nên nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất Không có hình thức nào tồn tại thuần túy không chứa đựng nội dung, ngược lại không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định Nội dung nào có hình thức đó

Nội dung và hình thức không tồn tại tác rời nhau, nhưng không phải vì thế mà lúc nào nộidung và hình thức cũng phù hợp với nhau Không phải một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất định và một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, mà một nội dung trong quá trình phát triển có nhiều hình thức thể hiện, ngược lại, một hình thức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau Ví dụ, quá trình sản

Trang 20

xuất ra một sản phẩm có thể bao gồm những yếu tố nội dung giống nhau như: con người, công cụ, vật liệu nhưng cách tổ chức, phân công quá trình sản xuất có thể khác nhau Như vậy nội dung quá trình sản xuất được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Hoặc cùng một hình thức tổ chức sản xuất như nhau nhưng được thực hiện trong những ngành, những khu vực, với những yếu tố vật chất khác nhau, sản xuất ra những sản phẩm khác nhau Vậy là một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung khác nhau.

b Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động và phát triển của sự vật

Vì khuynh hướng chủ đạo của nội dung là biến đổi, còn khuynh hướng chủ đạo của hình thức là tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với nội dung Dưới sự tác động lẫn nhau của những mặt trong sự vật, hoặc giữa các sự vật với nhau trước hết làm cho yếu tố của nội dung biến đổi trước; còn những mối liên kết giữa các yếu tố nội dung, tức hình thức thì chưa biến đổi ngay, vì vậy hình thức sẽ trở lên lạc hậu hơn so với nội dung và sẽ trở thành nhân tố kìm hãm nội dung phát triển Do xu hướng chung của sự phát triển của sự vật, hình thức không thể kìm hãm mãi sự phát triển của nội dung và sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung mới Ví dụ: quan hệ giữa lực lượng sản xuất (nộidung của phương thức sản xuất) với quan hệ sản xuất (hình thức của quá trình sản xuất)

C Sự tác động trở lại của hình thức với nội dung

Hình thức do nội dung quyết định, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung Sự tác động của hình thức đến nội dung thể hiện ở chỗ: nếu phùhợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển; nếukhông phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung

D3 Ý nghĩa phương pháp luận:

Trong hoạt động thực tiễn cần chống những khuynh hướng tách rời nội dung vớihình thức, hoặc tuyệt đối hóa nội dung và hình thức Phải thấy được sự thống nhất biệnchứng giữa nội dung và hình thức ở trong sự vật Muốn hình thức thay đổi , trước hếtphải chú ý đến sự thay đổi của nội dung Mặt khác phải biết sử dụng hình thức phù hợpvới nội dung, tác động tích cực đến nội dung, phục vụ sự phát triển của nội dung theo yêucầu của thực tiễn

D4 Ý nghĩa của nó đối với cách mạng Việt Nam.

Vì nội dung và hình thức luân gắn bó với nhau trong quá trình vận động, phát triển của sựvật, do vậy trong lãnh đạo cách mạng Đảng ta đã không tách rời, tuyệt đối hóa giữa nội dung và hình thức của cuộc cách mạng cũng như trong xây nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chủ động sử dụng nhiều hình thức khác nhau, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động cách mạng trong những giai đoạn cách mạng khác nhau

Ví dụ: trong cơ chế bao cấp ở nước ta trước đây, do quan hệ sản xuất chưa phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nên không kích thích được tính tích cực của người sản xuất, không phát huy được năng lực sản xuất của chúng ta Nhưng với nhận thức đúng đắn Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, từ nền kinh tế tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần và định hướng

xã hội chủ nghĩa do đó kết quả trong hơn hai mươi năm qua đã là minh chứng cho sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức nói riêng

E Bản chất và hiện tượng :

E1 Khái niệm bản chất và hiện tượng:

Ngày đăng: 12/04/2015, 08:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w