Đây là một trongnhững hiệp ước song phương quan trọng nhất giữa hai cường quốc hạt nhân Mỹ - Nga trong lĩnh vực kiểm soát vũ trang và có ý nghĩa to lớn đối với quá trìnhchống phổ biến vũ
Trang 1TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ƯỚC START MỚI
Trang 2Có thể tìm hiểu Luận văn tại Thư viện Học viện Ngoại giao - Bộ Ngoại giao
Trang 3Ngoại giao và bài Luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực tìm tòi của bản thân, tôicòn may mắn nhận được nhiều sự giúp đỡ và đóng góp vô cùng to lớn của cácthầy, các cô, bạn bè trong Học viện
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn vô cùng sâu sắc đến
TS Đỗ Sơn Hải, Trưởng khoa Chính trị quốc tế và Ngoại giao Việt Nam,
Học Viện Ngoại Giao, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tôitrong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này Thầy đã dành cho tôi lòngnhiệt huyết, sự tận tâm và sự kiên nhẫn không mệt mỏi từ khi tôi còn lúngtúng, băn khoăn trong việc triển khai đề tài đến khi tôi hoàn thành luận vănnày Thầy cũng là người truyền cho tôi nhiệt huyết và lòng yêu nghề trongcông việc
Tôi xin gửi đến PGS TS Nguyễn Thái Yên Hương, trưởng khoa Đào
tạo sau Đại học lòng kính trọng và lời cảm ơn chân thành nhất Sự tận tụy, say
mê, nhiệt tình cũng như sự nghiêm khắc của cô đã giúp tôi trưởng thành hơntrong cuộc sống, trong học tập, và đặc biệt tôi đã học tập được rất nhiều điều
từ cô Đồng thời, tôi xin cảm ơn em Hà Huyền Trang vì sự giúp đỡ của emtrong suốt quá trình học Tôi cũng chị Quỳnh, anh Tân – Khoa Đào tạo sauĐại học vì những lời khuyên bổ ích dành cho tôi
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến giađình, bạn bè và những người luôn bên tôi trong suốt thời gian qua Gia đình lànguồn cổ vũ lớn lao, là nơi chắp cánh cho ước mơ của tôi thành hiện thực.Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP ƯỚC START 8
1.1 Vũ khí hạt nhân và vấn đề chống phổ biến vũ khí hạt nhân 8
1.1.1 Vũ khí hạt nhân 8
1.1.2 Phổ biến và chống phổ biến vũ khí hạt nhân 13
1.2 Tổng quan về các Hiệp ước START 16
1.2.1 Hiệp ước START I 17
1.2.2 Hiệp ước START II 22
1.2.3 Định hình Khuôn khổ Hiệp ước START III 25
CHƯƠNG 2 HIỆP ƯỚC START MỚI VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VẤN ĐỀ CHỐNG PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN 28
2.1 Cơ sở ký kết Hiệp ước START mới 28
2.1.1 Nguy cơ phổ biến VKHN sau chiến tranh lạnh 28
2.1.2 Những hạn chế của quá trình cắt giảm VKHN 34
2.1.3 Chính sách chống phổ biến VKHN của Nga và Mỹ thời hậu Chiến tranh lạnh 38
2.1.4 Lợi ích của Nga và Mỹ trong START mới 42
2.2 Quá trình ký kết và nội dung Hiệp ước START mới 45
2.2.1 Quá trình ký kết 45
2.2.2 Nội dung Hiệp ước START mới 55
2.3 Những tác động ban đầu của Hiệp ước START mới 62
2.3.1 Thúc đẩy cải thiện quan hệ Mỹ - Nga 63
2.3.2 Tăng cường tính ổn định hạt nhân chiến lược 66
2.3.3 START mới và Quy chế chống phổ biến hạt nhân NPT trên thế giới 68
2.3.4 Thúc đẩy giải quyết một số vấn đề quốc tế và khu vực 70
Trang 53.1.1 Về phía Mỹ 76
3.1.2 Về phía Nga 79
3.2 Tương lai của Hiệp ước START mới 81
3.2.1 Một số hạn chế của Hiệp ước START mới 81
3.2.2 Triển vọng hợp tác trong khuôn khổ Hiệp ước START mới và vấn đề chống phổ biến VKHN 87
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6CTBT Comprehensive Nuclear TestBan Treaty Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhântoàn diện
FMCT Fissile Material Cutoff Treaty
Hiệp ước cấm sản xuất chất phânhạch phục vụ chế tạo vũ khí hạt
nhânIAEA International Atomic Energy
Agency
Cơ quan năng lượng Nguyên tử
Quốc tếINF Intermediate Range NuclearForces Treaty nhân tầm trung và tầm ngắnHiệp ước hủy bỏ vũ khí hạt
MIRV Multiple Independently
targetable Reentry Vehicle
Tên lửa mang nhiều đầu đạn
có thể tự tách, định vị mục tiêu
độc lậpNATO North Atlantic treaty
Ozganization
Tổ chức Hiệp ước Bắc đại tây
dươngNPT Nuclear Non Proliferation Treaty Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt
nhânPTBT Partial Test Ban Treaty Hiệp ước cấm thử vũ khí hạtnhân từng phầnSALT I, II Strategic Arms Limitation Treaty Hiệp định hạn chế vũ khí
chiến lượcSLBM Submarine – Lauched BallisticMissile Tên lửa đạn đạo đặt tại tàunghầmSORT Strategic Offensive Reductions
Treaty
Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn
công chiến lượcSTART Strategic Arms Reduction Treaty Hiệp ước cắt giảm vũ khí
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược START mới được Mỹ - Nga ký kếtngày 8/4/2010 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 5/2/2011 Đây là một trongnhững hiệp ước song phương quan trọng nhất giữa hai cường quốc hạt nhân Mỹ
- Nga trong lĩnh vực kiểm soát vũ trang và có ý nghĩa to lớn đối với quá trìnhchống phổ biến vũ khí hạt nhân của nhân loại
Trong bối cảnh sau chiến tranh lạnh, nguy cơ phổ biến và rò rỉ kỹ thuật,công nghệ, nguyên liệu và vũ khí hạt nhân từ các nhà máy, các phòng thí nghiệmhay thậm chí từ các kho vũ khí của các quốc gia hạt nhân ngày càng gia tăng.Chủ thể muốn tìm kiếm và sở hữu công nghệ hạt nhân không chỉ là các quốc giađầy tham vọng, mà còn là các chủ thể phi nhà nước như các tổ chức tội phạmxuyên quốc gia, những thành phần khủng bố cực đoan… Nguy cơ về một cuộcchiến hạt nhân toàn diện đã giảm bớt, song nhân loại phải đối mặt với nguy cơ
về chiến tranh hạt nhân cục bộ, khủng bố hạt nhân Mặt khác, sau chiến tranhlạnh, tiến trình chống phổ biến vũ khí hạt nhân chưa thực sự đạt hiệu quả nhưmong đợi của cộng đồng quốc tế Các cơ chế đa phương vẫn chưa tìm được cácchế tài đủ mạnh để đối phó với các thách thức mới Thêm vào đó, quá trình đàmphán nhằm cắt giảm hai kho vũ khí lớn nhất thế giới là Mỹ - Nga không tạo ranhững khuôn khổ pháp lý phù hợp, mà điển hình là sự thất bại trong việc ký kếthiệp ước START II, START III, việc Mỹ đơn phương rút khỏi Hiệp ước ABM…Chính thực tế này đã khiến việc ra đời và thực thi hiệp ước START mới có ýnghĩa to lớn
Những vòng đàm phán đầu tiên của Hiệp ước START mới bắt đầu từ cuốinăm 2006, song đều thất bại do chính quyền của Tổng thống V Putin và chínhquyền G Bush không tìm được tiếng nói chung Các cuộc đối thoại chỉ bắt đầuđạt hiệu quả và đem lại những tiến bộ tích cực khi Tổng thống Obama lên cầmquyền vào năm 2009, thể hiện và muốn hiện thực hóa mục tiêu hướng đến “một
Trang 8thế giới không vũ khí hạt nhân” Quá trình đàm phán và ký kết hiệp ước STARTmới được coi là quá trình đấu tranh lợi ích giữa hai bên, đồng thời tác động lênnhiều mặt của tiến trình chống phổ biến vũ khí hạt nhân
Vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao Mỹ - Nga lại ký kết và phê chuẩn Hiệp ước START mới? mục đích của hai bên là gì? Hiệp ước START mới có tác động như thế nào đến vấn đề chống phổ biến vũ khí hạt nhân? Tương lai của Hiệp ước mới sẽ ra sao, liệu số phận của Hiệp ước mới có giống như START II năm 1993, hay Hiệp ước ABM?
Lĩnh vực nghiên cứu về vũ khí hạt nhân, phổ biến và chống phổ biến loại
vũ khí có tính hủy diệt cao này đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, các nhànghiên cứu về quan hệ quốc tế trên thế giới Trong khi đó, tại Việt Nam, việcnghiên cứu vấn đề phổ biến và chống phổ biến hạt nhân lại chưa nhận được sự
đầu tư, quan tâm thích đáng Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Tác động của Hiệp
ước START mới đến vấn đề chống phổ biến vũ khí hạt nhân” làm đề tài Luận
văn tốt nghiệp, với hy vọng sẽ đóng góp vào công tác nghiên cứu vấn đề phổbiến và chống phổ biến vũ khí hạt nhân giai đoạn sau chiến tranh lạnh
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung của luận văn hướng tới:
Làm sáng tỏ nội dung của Hiệp ước START mới, những điểm mới so vớiHiệp ước START I là gì?
Xem xét những tác động của Hiệp ước START mới đối với vấn đề chốngphổ biến vũ khí hạt nhân
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu, tác giả đưa ra những nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Tìm hiểu khái niệm về vũ khí hạt nhân; tính chất và vai trò của loại vũ khínày đối với nền chính trị quốc tế đương đại Làm rõ nội hàm của hai khái
Trang 9niệm khác là “phổ biến” và “chống phổ biến” vũ khí hạt nhân, qua đó trảlời câu hỏi “tại sao phải ngăn chặn loại vũ khí này lan tràn?”
Lý giải tại sao Mỹ - Nga tiến hành ký kết Hiệp ước START mới?
Nội dung của START mới và những tác động ban đầu của nó, đặc biệt làđối với việc chống phổ biến VKHN?
Đồng thời đánh giá quá trình thực thi Hiệp ước START của Mỹ - Nga gặpphải khó khăn gì? Những hạn chế mà hiệp ước chưa giải quyết được là gì?
Và đưa ra dự báo, tương lai Hiệp ước sẽ ra sao?
4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Việc nghiên cứu vấn đề chống phổ biến vũ khí hạt nhân nói chung thu hút
sự quan tâm tương đối lớn của các học giả nước ngoài Lý giải cho câu hỏi tạisao các quốc gia lại tìm kiếm vũ khí hạt nhân, có tác phẩm của Scott D Sagan
“Why do States Build Nuclear Weapons? Three Models in search of a Bomb” –
tác giả đã giải thích tại sao xu hướng phổ biến VKHN ngày càng tăng trong quan
hệ quốc tế, các quốc gia đưa ra những lý do gì để phát triển chương trình hạtnhân, cũng như đưa ra những đánh giá về vai trò của VKHN trên trường quốc tế.Những lập luận của tác giả, đồng thời, chính là lý do cản trở quá trình chống phổbiến VKHN trên thế giới
Đối với vấn đề chống phổ biến VKHN, có thể kể đến bài nghiên cứu
Resetting US – Russian Leadership on Nuclear Arms Reductions and Non – Proliferation của các tác giả Steven Pifer, Joseph Cirincione và Clifford Gaddy,
trong đó đề cập đến quá trình tái khởi động quan hệ Mỹ - Nga thời gian gần đây
và tái xác lập vị trí lãnh đạo của hai cường quốc này trong nỗ lực chung chốngphổ biến VKHN trên thế giới Bài viết cũng đưa ra các đề xuất giúp Mỹ - Ngatăng cường quan hệ và các biện pháp hợp tác vì mục tiêu “thế giới không vũ khí
hạt nhân” Tiếp đó, không thể không kể đến những báo cáo của Cơ quan nghiên cứu của Quốc hội Mỹ với một loạt các bài viết của các chuyên gia về tình trạng
kho vũ khí của Mỹ nói riêng và của các nước khác trên thế giới; hay tiến trình
Trang 10thảo luận, đàm phán các hiệp ước… Ngoài ra, các trung tâm nghiên cứu về chínhtrị và quan hệ quốc tế trên thế giới cũng tiến hành và đóng góp những nghiêncứu riêng về thực trạng phổ biến hạt nhân, các biện pháp cần làm để chống quá
trình này như Arms Control Association, Center for Strategic & International Studies, hay Monterey Institue of International Studies…
Riêng đối với Hiệp ước START mới được coi là một trong những thànhcông của việc hợp tác Mỹ - Nga để cắt giảm đáng kể số lượng vũ khí hạt nhân.Tuy là một hiệp ước mới ra đời song số lượng các bài nghiên cứu về START
mới ở nước ngoài là tương đối nhiều Ví dụ bài viết The Case for the New Strategic Arms Reduction Treaty của nhóm tác giả Tom Z.Collina, Daryl
G.Kimball và các nghiên cứu viên của Arms Control Association Trong đó,điểm qua những nội dung chính của Hiệp ước START mới cùng mối quan hệ
Mỹ - Nga trong việc thực thi Hiệp ước Hoặc bài nghiên cứu SORT-ing Out START: options for US – Russian Strategic Arms Reductions của Stephen J.
Cimbala, cho người đọc một cái nhìn sơ lược về nội dung của Hiệp ước STARTmới cũng như lực lượng hạt nhân của Mỹ - Nga trong tương lai khi thực hiệnthành công hiệp ước
Các tác phẩm, bài nghiên cứu đều thống nhất mối nguy hiểm của vũ khí hạtnhân ngày càng gia tăng và đòi hỏi các quốc gia phải hành động thực chất hơn đểngăn chặn sự phổ biến, lan tràn loại vũ khí này, đặc biệt tránh rơi vào tay những
kẻ khủng bố Đồng thời nêu ra những đóng góp ban đầu của Hiệp ước STARTmới vào tiến trình chống phổ biến hạt nhân trên thế giới Tuy nhiên, các tài liệuchưa nêu bật được những hạn chế của START mới, hay nói cách khác, là nhữngmặt chưa thực hiện được của START mới đối với quá trình chống phổ biếnVKHN toàn cầu
Tại Việt Nam, Hiệp ước START mới nói riêng và những vấn đề xungquanh việc phổ biến VKHN nói chung lại là một đề tài khá mới, hiện không cónhiều công trình nghiên cứu hoặc các ấn phẩm dạng sách viết bằng tiếng Việt
Trang 11Tại trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn Hà Nội có Luận án Tiến sỹ của
TS Nguyễn Thị Thanh Thủy với đề tài “Hoa Kỳ với quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong thời kỳ Chiến tranh lạnh (1945 - 1991)” Bên cạnh
đó, có luận văn thạc sỹ “Chính sách chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt của Mỹ sau sự kiện 11.9.2001” của ThS Nguyễn Thị Hương, Học viện Ngoại
giao Ngoài ra, cũng đã có một số bài báo, sách và đề tài đề cập gián tiếp đến chủ
đề mà Luận văn bàn tới
5 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: đề tài sẽ tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, ký kết và
phê chuẩn của Hiệp ước START mới từ năm 2006 đến nay Tuy nhiên, trong quátrình viết, tác giả sẽ đề cập đến các nỗ lực, biện pháp của các nước trên thế giớitrong các giai đoạn từ trong chiến tranh lạnh, sau chiến tranh lạnh đến nay
Về đối tượng nghiên cứu: đề tài sẽ nghiên cứu tổng thể lịch sử hình thành
Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược Mỹ - Nga, tuy nhiên sẽ tập trung vào Hiệpước START mới được ký kết năm 8/4/2010
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, cũng như thực hiện các nhiệm vụ nghiêncứu trên, Luận văn sẽ sử dụng các biện pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử: điểm lại lịch sử hình thành và phát triển của các hiệp
ước START, từ đó làm cơ sở để phân tích Hiệp ước START mới, lý giải tại saolại cần hiệp ước START mới
Phương pháp thống kê: người viết thu thập dữ liệu từ các thông tin chính
thức của các cơ quan chính phủ, Quốc hội, các Bộ của Mỹ, Nga hoặc các cơquan nghiên cứu trên thế giới Đây là bước cần thiết để xây dựng các giả thiết vàchứng minh cho rất nhiều phần trong bài viết
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn cũng phân tích các mặt tích
cực, và còn hạn chế của hiệp ước START mới đối với quan hệ Mỹ - Nga nóiriêng và đối với tiến trình chống phổ biến VKHN nói chung
Trang 12Phương pháp hệ thống: đặt Hiệp ước START mới trong tiến trình chung
giải giáp vũ khí của thế giới, để thấy vai trò của Hiệp ước START nằm ở đâu,tác động của START đến quy chế không phổ biến toàn cầu như thế nào
7 Bố cục và nội dung chính
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, phần chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về Hiệp ước START
Chương này sẽ làm rõ một số khái niệm dùng trong bài Luận văn: vũ khí hạtnhân là gì? Tính chất, vai trò của loại vũ khí này trong quan hệ quốc tế; cũng nhưkhái niệm và nội hàm về phổ biến và chống phổ biến vũ khí hạt nhân Mặt khác,chương I sẽ đưa ra một bức tranh tổng thể về quá trình đàm phán, ký kết một loạtcác hiệp định cắt giảm vũ khí song phương giữa Mỹ và Nga là START I, START II
và định hình khuôn khổ START III Từ đó, có thể thấy START mới là một trongnhững bước phát triển nữa của việc hợp tác giải giáp vũ khí của Mỹ - Nga
Chương 2: Hiệp ước START mới và những tác động đến vấn đề chống phổ biến vũ khí hạt nhân
Đây là phần chính của bài Luận văn Trong chương này, người viết sẽđưa ra các cơ sở ký kết hiệp ước nhằm trả lời cho câu hỏi: tại sao Mỹ - Ngalại ký kết START mới? lợi ích của Mỹ và Nga trong việc cắt giảm kho vũ khíhạt nhân của mình là gì? Đồng thời chương II sẽ hệ thống hóa lại các quátrình đàm phán, ký kết hiệp ước START mới giữa Mỹ - Nga, trong đó, ngườiviết có lý giải tại sao có giai đoạn đàm phán START mới không thành công.Người viết cũng nên ra những nội dung cơ bản của Hiệp ước START mới đểngười đọc có thể hình dung được những lĩnh vực Mỹ - Nga muốn cắt giảm,hạn chế Từ đó, làm nền tảng để xác định những tác động chính của Hiệp ướcđối với tiến trình chống phổ biến VKHN
Chương 3: Triển vọng thực hiện Hiệp ước START mới
Để có thể dự báo, xác định tương lai của Hiệp ước START và vấn đề chốngphổ biến VKHN sẽ đi đến đâu, người viết sẽ nêu ra những khó khăn trong quá
Trang 13trình thực hiện START mới, đặc biệt là việc phê chuẩn Hiệp ước Bên cạnh đó,chương III sẽ đề cập đến những hạn chế của Hiệp ước START mới trong quátrình thực thi Từ những dữ liệu về những khó khăn mang tính khách quan, vànhững hạn chế mang tính chủ quan của Hiệp ước, tác giả sẽ nêu ra triển vọnghợp tác trong khuôn khổ START mới giữa Mỹ - Nga cũng như trong lĩnh vựcchống phổ biến VKHN trong thời gian sắp tới./
Trang 14CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIỆP ƯỚC START
1.1 Vũ khí hạt nhân và vấn đề chống phổ biến vũ khí hạt nhân
1.1.1 Vũ khí hạt nhân
* Khái niệm
Vũ khí hạt nhân được biết đến là một trong những loại vũ khí hủy diệt hàng
loạt; khi nổ sẽ giải phóng một lượng nhiệt khổng lồ, do chuỗi phản ứng phânhạch hoặc/và nhiệt hạch tạo ra [87] Đây là loại vũ khí có khả năng sát thươngtrên phạm vi rộng lớn trong một lần sử dụng, đồng thời có sức công phá mạnhhơn bất kỳ loại vũ khí thông thường nào [3]
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nghiên cứu hạt nhân đã có những bướcphát triển đáng kể, khi mà các nhà khoa học đã giải mã được bí ẩn của sự phântách hạt uranium Trước khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ, các nhà khoa họcvật lý hàng đầu của Hoa Kỳ, trong đó có Albert Einstein đã cảnh báo chính phủ
Mỹ về sự nguy hiểm của bom nguyên tử và khả năng Adolf Hitler – Đức quốc xã
có thể chế tạo và sử dụng loại vũ khí này trong chiến tranh Năm 1939, Chiếntranh thế giới II nổ ra khiến việc nghiên cứu, sáng chế ra VKHN kết hợp chặtchẽ với chính trị, tác động mạnh đến quan hệ quốc tế Các nước lớn trên thế giớinhư Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Liên Xô thời kỳ này đã đầu tư một lượng lớn nhânlực, vật lực cho việc chế tạo nhằm chiếm được vị trí có lợi trong cuộc chiến [6;185] Đặc biệt, sau sự kiện Nhật Bản tấn công Hoa Kỳ ở Trân Châu Cảng tháng12/1941, Quốc hội Mỹ đã quyết định tài trợ nhiều hơn cho hoạt động nghiên cứuquân sự trong đó có chế tạo bom nguyên tử thông qua “Dự án Manhattan” trị giá
2 tỷ USD Ngày 16/7/1945, Hoa Kỳ đã thử thành công VKHN đầu tiên mangmật danh “Trinity” tại Alamogordo, bang New Mexico Mỹ trở thành quốc giađầu tiên và duy nhất vào thời điểm đó sở hữu thứ vũ khí mới này
Trang 15Sau chiến tranh thế giới II, kho VKHN trên thế giới đã không ngừng giatăng về số lượng, chủng loại do có nhiều quốc gia đã nghiên cứu thành công loại
vũ khí này: Tháng 8/1949, Liên Xô đã thử thành công bom nguyên tử; năm 1953
và 1954, cả Mỹ và Liên Xô đã lần lượt cho nổ thành công một loại VKHN cósức công phá lớn hơn nhiều so với bom nguyên tử - đó là bom khinh khí Anhđược Hoa Kỳ chia sẻ thông tin về dự án Manhattan, cũng đã trở thành nước thứ 3trên thế giới sở hữu VKHN vào năm 1953 Trong thập kỷ 1950 và 1960, Pháp,Trung Quốc lần lượt gia nhập “câu lạc bộ hạt nhân” trên thế giới; Ấn Độ, Israel,Nam Phi, Pakistan trong thời kỳ này đã tìm cách phát triển VKHN [6; 168] Các quốc gia không chỉ tìm cách nghiên cứu, chế tạo các loại VKHN khác
nhau như bom nguyên tử, bom khinh khí; mà các công cụ vận chuyển hạt nhân
cũng được chú ý nâng cấp như máy bay ném bom, tên lửa Tốc độ, lộ trình củamáy bay ném bom, chủng loại, tầm bắn, độ chính xác của tên lửa được nghiêncứu và phát triển không ngừng Các loại máy bay ném bom chiến lược và tên lửavượt đại dương có khả năng đưa đầu đạn hạt nhân đến đúng mục tiêu dù cách xahàng nghìn dặm Tên lửa mang một hoặc nhiều đầu đạn hạt nhân, tên lửa cơđộng, tên lửa hành trình… không chỉ bắn trúng mục tiêu mà còn khiến một quốc
gia không thể đề phòng Tóm lại, vũ khí hạt nhân không chỉ được hiểu là các loại bom gây nổ như bom nguyên tử, bom khinh khí mà còn bao gồm cả các công cụ vận chuyển chúng như tên lửa đạn đạo, máy bay ném bom hạng nặng…
* Tính chất và vai trò của VKHN trong quan hệ quốc tế
Trước hết phải khẳng định, VKHN có tính tàn phá và hủy diệt cao Vũ khí
có sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ có thể phá hủy hoàn toànmột thành phố Nếu sức công phá là 100 triệu tấn, thì có thể phá hủy một vùngvới bán kính 100 – 160 km Loại vũ khí này không chỉ có sức hủy diệt và pháhoại trên quy mô lớn mà còn để lại hậu quả nghiêm trọng đối với con người vàmôi trường trong hàng chục năm sau [87]
Trang 16Hai quả bom mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima và Nagasaki ngày 6 và ngày
9 tháng 8 năm 1945 đã chứng minh điều đó Sau vụ nổ khủng khiếp này, haiphần ba thành phố Hiroshima bị phá hủy với hơn 140.000 người chết và tạithành phố Nagasaki, hơn 80.000 người chết, hàng trăm nghìn người nhiễmphóng xạ, gây tổn thất lớn về cơ sở vật chất [45] Chỉ riêng hai quả bom nguyên
tử mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản đã có sức mạnh tương đương với tổng sốbom đạn ném xuống các thành phố của Đức trong Chiến tranh thế giới II, bêncạnh đó là những hậu quả lâu dài, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và môitrường mà Nhật Bản ngày nay vẫn đang phải đối phó Trong khi đó, một quảbom khinh khí có sức mạnh lớn gấp nhiều lần so với bom nguyên tử và tươngđương với vài trăm ngàn tấn thuốc nổ thông thường
Xuất phát từ tính chất hủy diệt ghê gớm của loại vũ khí này, VKHN trởthành một “thủ đoạn quân sự hoàn toàn khác so với vũ khí truyền thống hoặc vũkhí thông thường” [6; 188] Sự xuất hiện của nó đã có ảnh hưởng rất to lớn đếnnền chính trị quốc tế Việc làm chủ VKHN có thể làm gia tăng nhảy vọt sứcmạnh quốc gia cả về tiềm lực kinh tế, khả năng quốc phòng lẫn tinh thần dân tộc
và uy tín quốc tế Khác với các loại vũ khí thông thường, VKHN có thể làm đảo
lộn tương quan lực lượng và cân bằng chiến lược, trở thành một công cụ răn đe hiệu quả giữa các nước trên thế giới [62] Tuy nhiên, mặt trái của tham vọng sở
hữu VKHN không chỉ là sự tiêu tốn những nguồn lực khổng lồ, mà còn kíchđộng các chủ thể sở hữu hạt nhân trở nên liều lĩnh, khiến cho “bất cứ cuộc khủnghoảng nào giữa hai quốc gia cũng đứng trước rủi ro mất kiểm soát” [7; 3] Việcmột chủ thể trên trường quốc tế đạt được VKHN hoặc tiến tới ngưỡng hạt nhânchiến lược đều có thể gây xáo trộn nghiêm trọng cục diện thế giới Một cuộcchạy đua sản xuất VKHN, trước hết giữa Liên Xô và Mỹ, đã khiến cho quan hệquốc tế luôn bị đặt trong tình trạng căng thẳng “bên miệng hố chiến tranh” Song
do tính hủy diệt của loại vũ khí này, mức độ căng thẳng sẽ được kiểm soát,không dẫn đến sự đối kháng trực tiếp giữa các quốc gia, nói cách khác, ở phương
Trang 17diện toàn cầu, VKHN có vai trò tăng tính bền vững cho nền hòa bình thế giới, duy trì tính ổn định của cấu trúc quan hệ quốc tế Điều này đã được minh chứng
rất rõ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, khi hai siêu cường Mỹ và Liên Xô tiếnhành chạy đua vũ trang, lấy VKHN làm công cụ răn đe lẫn nhau:
Trong Chiến tranh lạnh, tư duy đối kháng quyết liệt theo kiểu phe, khối dẫnđến việc các quốc gia đặc biệt quan tâm đến các biện pháp nhằm tăng cường sứcmạnh quân sự Bởi tính chất tàn phá ghê gớm của VKHN, nên bất kỳ quốc gianào muốn tăng cường an ninh để tạo thế cân bằng với đối thủ đều tìm cách pháttriển loại vũ khí này như một công cụ răn đe Điều này vô hình chung lại tạo ramối đe dọa hạt nhân đối với các quốc gia khác trong khu vực và thế giới, từ đó,thúc đẩy các quốc gia này theo đuổi chương trình hạt nhân, phục vụ cho an ninh
quốc gia [74; 57] Chính tư duy này đã thúc đẩy sự phát triển của VKHN trong
giai đoạn Chiến tranh lạnh
Từ năm 1945 đến những năm đầu của 1950, Mỹ là quốc gia độc quyền vềhạt nhân, sử dụng VKHN để hỗ trợ khả năng quân sự, luôn ngụ ý rằng sẽ sửdụng chúng và liên tục thực hiện thử hạt nhân một cách công khai để buộc cácnước thực hiện theo ý chí của mình Tuy nhiên sau khi Liên Xô thử thành công
vụ nổ hạt nhân đầu tiên vào năm 1949, trò chơi răn đe hạt nhân nguy hiểm bắtđầu Cả hai siêu cường đều cảnh báo rằng nếu bị tấn công bằng VKHN, họ sẽ trảđũa ồ ạt Họ mở rộng những chiếc ô răn đe hạt nhân cho từng quốc gia đặc biệttrong quỹ đạo của họ Từ giữa thập kỷ 1950 cho đến cuối thập kỷ 60, hai siêucường chủ yếu chạy đua phát triển những công cụ vận chuyển hạt nhân chiếnlược tầm xa như máy bay ném bom chiến lược, tên lửa đạn đạo vượt đại dương[6; 210] Khi kho vũ khí của cả hai bên đã phát triển, họ xây dựng nên chínhsách về sự chắc chắn huỷ diệt lẫn nhau vì mỗi quốc gia đều có đủ vũ khí để tànphá hoàn toàn bên kia Sự nghi kỵ và không chắc chắn về ý đồ của nhau, nhữngxung đột về chính trị, quân sự, kinh tế xảy ra không ngừng khiến hai quốc gialuôn đẩy tình trạng an ninh của mình vào báo động đỏ, gia tăng nguy cơ chiến
Trang 18tranh hạt nhân1, cũng như nền hoà bình của thế giới luôn bên bờ “miệng hố chiến tranh”.
Bảng 1: Số lượng vũ khí hạt nhân trên thế giới trong Chiến tranh lạnh
1 Chiến tranh hạt nhân giữa hai cường quốc hạt nhân sẽ dẫn đến sự hủy diệt cho cả hai Những vụ nổ hạt nhân
và tia phóng xạ hạt nhân trong vụ nổ đó có thể gây tử vong cho hàng loạt cư dân Thậm chí, theo lý luận về Mùa đông hạt nhân do chiến tranh hạt nhân tạo ra, bất kể trái đất lúc đó là mùa xuân, hạ, hay thu đều xuất hiện khí hậu tượng trưng cho mùa đông Những đám bụi đất và khói lửa do các vụ nổ hạt nhân quy mô lớn sẽ tồn tại lâu, dần dần bao phủ trái đất, bịt kín ánh nắng mặt trời nhưng lại không ngăn được sự khuyếch tán vào không gian vũ trụ của nhiệt năng mặt đất với hình thức tia hồng ngoại Như vậy, toàn bộ trái đất chìm trong lạnh giá, tối tăm, nhiệt độ giảm đi vài chục độ, nguồn nước đóng băng, động thực vật sẽ biến mất.
2 Năm 1953, Anh thử thành công vũ khí hạt nhân đầu tiên; năm 1960, Pháp lần đầu tiên thử bom nguyên tử tại tây nam Rigan thuộc sa mạc Sahara, châu Phi; tuy nhiên mãi đến năm 1964, Pháp mới chính thức chế tạo được vũ khí hạt nhân hoàn chỉnh, trở thành cường quốc hạt nhân thứ 4 trên thế giới Đối với Trung Quốc, Liên Xô đã giúp nước này tiếp cận kỹ thuật chế tạo tên lửa đạn đạo từ giữa thập niên 50 khi quan hệ hai nước vẫn còn tốt đẹp Đến năm 1964, Trung Quốc tuyên bố thử nghiệm thành công bom nguyên tử đầu tiên tại bãi thử Lop Nor, thuộc vùng Tân Cương Ngoài ra, tới đầu thập niên 80, có nhiều quốc gia đã nắm được kỹ thuật hạt nhân, và có khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân như Israel, Nam Phi, Xiri, Ai cập, Ấn Độ, Pakistan, Brazil, Achentina
Trang 19Có thể nói, vai trò của VKHN trong quan hệ quốc tế rất to lớn, làm thay đổi
các quan niệm truyền thống như chiến tranh – hòa bình; lần đầu tiên có một loại
vũ khí ra đời không phải để sử dụng trong chiến tranh mà là một công cụ răn đe,thể hiện sức mạnh quốc gia, uy tín chính trị trên trường quốc tế Điển hình làtrong giai đoạn Chiến tranh lạnh, VKHN gây ra tình trạng căng thẳng trong quan
hệ giữa hai khối Đông – Tây, song trên bình diện toàn cầu, VKHN đã giúp nhânloại tránh một cuộc chiến tranh thế giới lần 3, tạo nên nền “hòa bình mong manh,bên miệng hố chiến tranh” Tính chất hủy diệt của VKHN và nguy cơ chiếntranh hạt nhân3 chính là những nguyên nhân cơ bản để nhân loại nói chung và
hai siêu cường Xô – Mỹ nói riêng tìm cách ngăn chặn sự phát triển của loại vũkhí này
1.1.2 Phổ biến và chống phổ biến vũ khí hạt nhân
* Phổ biến vũ khí hạt nhân
“Phổ biến” vũ khí hạt nhân hay phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đều
dùng để chỉ các hoạt động “tìm kiếm, phát triển và chuyển giao các nguyên vậtliệu, công nghệ kỹ thuật, chuyên môn” liên quan đến VKHN và “các phươngtiện vận chuyển chúng” từ một chủ thể này sang một chủ thể khác [87] Các chủthể được đề cập tới trong khái niệm này là các quốc gia trên thế giới hoặc cácchủ thể phi nhà nước Trước đây, trong giai đoạn chiến tranh lạnh, vấn đề phổbiến VKHN chủ yếu diễn ra giữa các quốc gia sở hữu công nghệ hạt nhân; tuynhiên, sau chiến tranh lạnh, các chủ thể phi nhà nước cũng có khả năng sở hữuVKHN, như các nhóm khủng bố quốc tế, các nhóm tội phạm xuyên quốc gia…;đặc biệt với sự phát triển của mạng lưới “chợ đen” chuyên buôn bán kỹ thuật,cung cấp nguyên liệu hạt nhân của nhà khoa học người Pakistan Abdul Qadeer
3 Cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba vào tháng 10/1962 là sự kiện nghiêm trọng nhất thể hiện nguy cơ chiến tranh hiện hữu giữa hai siêu cường Xô – Mỹ là có thật Mỹ tuyên bố bước vào tình trạng chuẩn bị chiến tranh hạt nhân để ép Liên Xô rút tên lửa ra khỏi Cuba Tổng thống Mỹ Kennedy tuyên bố: bất kỳ một quả tên lửa nào phóng đi từ Cuba tới các quốc gia ở Tây bán cầu sẽ dẫn đến sự “trả đũa toàn diện” của Mỹ đối với Liên
Xô Quân đội Mỹ bước vào tình trạng chuẩn bị chiến tranh cấp hai, máy bay ném bom chiến lược và tên lửa đạn đạo xuyên đại dương sẵn sàng chiến đấu Khi cả hai bên tiến sát đến bờ vực của chiến tranh hạt nhân, cũng là lúc hai bên đạt được thỏa hiệp
Trang 20Khan [34; 5] Rõ ràng từ sau chiến tranh lạnh, nguy cơ phổ biến hạt nhân có
những diễn biến phức tạp hơn nhiều so với giai đoạn trước và mang những tính chất mới, vừa nguy hiểm, vừa khó kiểm soát
Phổ biến hạt nhân được diễn ra với 4 hình thức chủ đạo: 1/ phổ biến các bộphận và nguyên liệu hạt nhân; 2/ phổ biến các loại vũ khí; 3/ phổ biến hệ thốngcác phương tiện vận chuyển VKHN; 4/ phổ biến công nghệ, bí quyết chế tạo vũkhí cũng như các chuyên gia có kiến thức và được đào tạo về hạt nhân (hay còngọi là “chảy máu chất xám”) Các phương thức tiến hành phổ biến hạt nhân nhưđánh cắp từ các kho vũ khí không được bảo vệ cẩn thận; đánh cắp nguyên liệuhạt nhân từ các phòng nghiên cứu, các lò phản ứng; buôn lậu trái phép; tiếp cậnthông tin, kiến thức về VKHN qua các nhà khoa học về hạt nhân…[59]
Trang 21Đấu tranh chống phổ biến VKHN, cắt giảm vũ khí chiến lược trên phạm vitoàn cầu đã diễn ra mạnh mẽ ngay từ khi loại vũ khí này ra đời Những ngườiđầu tiên ý thức được tính chất nguy hiểm và sức mạnh vô cùng to lớn của VKHN
là các nhà khoa học của Hoa Kỳ Tháng 6/1945, nhóm các nhà khoa học thamgia nghiên cứu và chế tạo bom nguyên tử ở các phòng thí nghiệm tại Chicago đãgửi kiến nghị lên Bộ Quốc phòng Mỹ, đề nghị chính quyền H Truman thậntrọng hơn trong việc sử dụng bom nguyên tử “chống lại bất cứ nước thù địchnào”; thay vào đó, chỉ nên tuyên bố với thế giới về thành công của việc chế tạo
loại vũ khí này Họ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đạt được một hiệp định quốc tế, trong đó có sự tham gia của Liên Xô nhằm thiết lập một cơ chế
giám định sử dụng loại vũ khí này, cùng với cơ chế kiếm soát quốc tế hiệu quảđối với vấn đề ngăn lượng nguyên tử, từ đó là cơ sở để ngăn ngừa chiến tranh hạtnhân [13; 95]
Sau khi Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố của NhậtBản, chứng kiến sức mạnh ghê gớm của loại vũ khí này, phong trào chống phổbiến VKHN ngày càng lan rộng, không chỉ giới hạn trong nước Mỹ Tháng10/1957, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ba Lan Adam Rapacki đưa ra sáng kiến thiếtlập khu vực phi hạt nhân ở Trung và Đông Âu, có tên gọi “Kế hoạch Rapacki”,sau đó kế hoạch này đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc phê chuẩn Tại Tây
Âu từ năm 1981 nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra ở Bon, London, Roma,Amsterdam phản đối việc Mỹ triển khai tên lửa Pershing và tên lửa hành trình ởcác nước thuộc NATO [14; 35]…
Áp lực từ phong trào chống phổ biến VKHN trên thế giới, ý thức về sứchủy diệt của loại vũ khí này đã khiến các cường quốc phải nghĩ đến những thiếtchế, các biện pháp nhằm cắt giảm, ngăn chặn quá trình phổ biến VKHN Đángchú ý là sự ra đời của Hiệp ước Không phổ biến NPT năm 1967; Hiệp định Cấmthí nghiệm hạt nhân toàn diện CTBT năm 1996; Hiệp ước Hạn chế vũ khí chiếnlược SALT I và II; Hiệp ước Cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược START I, II…
Trang 22Tóm lại, phổ biến và chống phổ biến vũ khí hạt nhân là hai quá trình trái
ngược nhau, nảy sinh ngay sau vụ nổ ở Hiroshima và Nagasaki Chống phổbiếnVKHN xuất phát từ ý chí của các quốc gia sở hữu hạt nhân nói riêng và cảnhân loại nói chung khi muốn kiểm soát và hướng tới loại bỏ hoàn toàn loại vũkhí hủy diệt ghê gớm này Ngược lại, phổ biến hạt nhân lại xuất phát từ mongmuốn của một số quốc gia sở hữu loại vũ khí này, trước hết là nhằm đánh trả sựrăn đe của các cường quốc hạt nhân Ngoài ra cũng phải kể đến những chủ thểphi chính phủ cũng muốn giành được công nghệ, kỹ thuật chế tạo VKHN
1.2 Tổng quan về các Hiệp ước START
Trong tiến trình chống phổ biến VKHN, hai quốc gia Mỹ và Nga (Liên Xô)được coi là hai chủ thể chính, chủ đạo do hai nước này sở hữu đến 95% tổng sốVKHN trên toàn thế giới [67; 2] Ngay từ trong chiến tranh lạnh, hai siêu cường
đã nỗ lực thiết lập các cơ chế pháp lý nhằm tăng lòng tin, giảm bớt và tiến tớiloại trừ khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân; bên cạnh đó nhằm giảm chi phíquân sự - cụ thể là chi phí dành cho kho VKHN trong cuộc chạy đua giữa haisiêu cường; hạn chế quá trình nghiên cứu, chế tạo VKHN của các quốc gia mới,không nằm trong “câu lạc bộ hạt nhân”
Hiệp ước cắt giảm VKHN chiến lược, viết tắt “START” là một trongnhững hiệp ước song phương được ký kết giữa Mỹ và Nga (Liên Xô cũ); bắt đầuđàm phán từ những năm 80 của thế kỷ XX Việc cắt giảm kho VKHN của haisiêu cường nằm trong nỗ lực chống phổ biến VKHN của toàn cầu nói chung vànhằm thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong khuôn khổ Cơ chế đa phươngChống phổ biến – NPT của mình nói riêng Quá trình cắt giảm VKHN của hai
nước diễn ra theo từng giai đoạn, và mỗi một giai đoạn cắt giảm tương ứng với một Hiệp ước START.
Trang 231.2.1 Hiệp ước START I
1.2.1.1 Bối cảnh đàm phán START I
Những vòng đàm phán cho một Hiệp ước cắt giảm VKHN – START I giữa
Mỹ và Liên Xô bắt đầu từ tháng 6 năm 1982, song bị ngưng trệ trong khoảngthời gian 1983 – 1985 do sự phản đối của Liên Xô đối với việc Mỹ triển khai tênlửa tầm trung tại Châu Âu [102] Các vòng đàm phán START I do Liên Xô chủđộng tìm cách nối lại, do chính quyền Gorbachev nhận định: lúc này cần chuyển
từ đối đầu sang hợp tác với phương Tây, mà trước hết là với Hoa Kỳ; đồng thờiLiên Xô không muốn tiếp tục chạy đua vũ trang, và cần sớm chấm dứt chạy đua
vũ trang để tập trung giải quyết các vấn đề nội tại trong nước Vì vậy, vào ngày15/1/1986, Liên Xô đã đưa ra “Chương trình giải trừ vũ khí hạt nhân đến năm2000” Về phía Mỹ, một hiệp định nhằm cắt giảm kho VKHN của Liên Xô rất có
ý nghĩa đối với an ninh của Mỹ, khi vào thời điểm này, Liên Xô đang đối mặtvới khủng hoảng, xuất hiện nguy cơ rò rỉ vũ khí, công nghệ hạt nhân Nếu những
vũ khí, kỹ thuật, công nghệ hạt nhân tiên tiến của nước này rơi vào tay nhữngnước đối địch với Hoa Kỳ thì sẽ là một điều rất bất lợi đối với nền an ninh Hoa
Kỳ Chính thực tế này đã khiến hai nước Mỹ và Liên Xô nối lại và xúc tiến cáccuộc đàm phán về START I
1.2.1.2 Nội dung START I và quá trình thực hiện
Cùng với việc đạt được thỏa thuận về Hiệp ước Hủy bỏ VKHN tầm trung
và tầm ngắn (INF) năm 1987, Hoa Kỳ và Liên Xô đã đi đến ký kết Hiệp ướcSTART I vào ngày 31/7/1991 tại Mát-xcơ-va Hiệp ước bao gồm 19 điều khoản,kèm theo một Bản ghi nhớ, các Nghị định thư và phụ lục Hiệp ước nêu rõ mụcđích của văn kiện này là đưa ra “các biện pháp cắt giảm VKHN tiến công chiếnlược để giảm bớt nguy cơ chiến tranh hạt nhân, củng cố hòa bình và an ninh củathế giới” [14; 165] Các bên cam kết cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược xuốngmức cân bằng nhau trong thời gian là 7 năm
Trang 24Bảng 2: Trọng tâm cắt giảm VKHN theo Hiệp ước START I
1 Phương tiện vận chuyển VKHN chiến lược
được triển khai
1600
3 Số đầu đạn trên các phương tiện vận chuyển
được triển khai
6000
Tổng số tải trọng tên lửa đạn đạo: 3600 tấn mét
Nguồn: [95]Hiệp ước này hạn chế lực lượng hạt nhân tầm xa của Mỹ và Liên Xô – baogồm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo đặt tại tàu ngầm(SLBM) và máy bay ném bom hạng nặng Bảng 2 đã cho thấy, mỗi bên Hiệpước có thể triển khai tối đa 6000 đầu đạn hạt nhân; duy trì 1600 tên lửa đạn đạo
và bom; với không quá 4900 đầu đạn trên ICBM và SLBM Trong suốt quá trìnhđàm phán, Mỹ đặt ưu tiên cao trong việc cắt giảm ICBM hạng nặng – được địnhnghĩa là những ICBM có tải trọng hơn 4350kg Do đó, START đã hạn chế tối đa
1540 đầu đạn hạt nhân trên 154 ICBM hạng nặng, cắt giảm hơn 50% số lượngđầu đạn SS-18 ICBM (loại ICBM hạng nặng) đã được triển khai tại các nướcLiên Xô cũ Thêm vào đó, mỗi bên chấp nhận có không quá 1100 đầu đạn trênICBM di động [40] Mỹ từ lâu đã muốn sử dụng quá trình cắt giảm kiểm soát vũkhí để hạn chế hoặc loại bỏ sự độc quyền của Liên Xô về ICBM hạng nặng bởi
họ tin rằng Liên Xô có thể tăng cường khả năng triển khai loại vũ khí này Mặtkhác, Mỹ không sở hữu bất kỳ loại tên lửa đạn đạo nào có kích cỡ như vậy, vàkhông có kế hoạch phát triển hay triển khai chúng, nên rõ ràng điều khoản nàychỉ dành riêng cho Liên Xô [103; 3]
Tuy nhiên, sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào tháng 12/1991 ngay lập tức
đã đặt ra một câu hỏi về tương lai của START I Vào thời điểm này, khoảng 70%
Trang 25VKHN chiến lược nằm trong phạm vi của hiệp ước là được triển khai tại các căn
cứ ở Nga, 30% nằm tại bốn nước: Ukraine, Kazakhstan, và Belarus Trong khi
đó, Nga là nước kế thừa duy nhất của Liên bang Xô viết thực hiện các hiệp ướcquốc tế; ba nước cộng hòa tách ra từ Liên Xô lại không muốn ủy quyền thựchiện Hiệp ước START I cho riêng Nga Vì vậy, vào tháng 5 năm 1992, 4 nướccộng hòa và Mỹ đã đi đến ký kết một Nghị định thư, trong đó bổ sung các bêntham gia thực hiện hiệp ước bao gồm: Nga, Ukraine, Kazakhstan, Belarus và
Mỹ Đồng thời, ba nước tách ra từ Liên Xô cũ cũng đồng ý loại bỏ tất cả VKHNtrên lãnh thổ của họ trong khoảng thời gian 7 năm theo Hiệp ước Họ cũng đã kýHiệp ước NPT và nhất trí trở thành các quốc gia không có VKHN “trong thờigian ngắn nhất” [24]
Điều đáng lưu ý là trước khi ký Nghị định thư, Tổng thống ba nước đã gửithư cho Tổng thống Mỹ Bush (cha) tuyên bố cam kết hủy bỏ các loại VKHN vàtôn trọng Hiệp ước START I, tuy nhiên ba nước đều cần đến sự hỗ trợ của Hoa
Kỳ để thực hiện Hiệp ước này Mỹ đã cam kết viện trợ 400 triệu USD mỗi nămcho việc phá hủy VKHN của các nước, đồng thời đồng ý mua lại uranium làmgiàu lấy từ các đầu đạn hạt nhân bị hủy với tổng giá trị khoảng 12 tỷ USD trongvòng 12 năm [14; 172] Rõ ràng điều này đã thể hiện quyết tâm của chính quyền
Mỹ trong việc hạn chế những tác động tiêu cực của vấn đề rò rỉ hạt nhân từkhông gian hậu Xô viết
Sau khi cả 3 nước Kazakhstan, Belarus và Ukraine hoàn thành các thủ tụccần thiết để thông qua NPT và START, ngày 5/12/1994, Hiệp ước START I bắtđầu có hiệu lực Chính quyền Bush (cha) đã từng bước thực hiện những cam kếttrong bản Hiệp ước Từ tháng 9/1991, Mỹ đã tiến hành rút VKHN được bố trí ởmột số nước đồng minh Ngày 27/9 cùng năm, Mỹ tuyên bố rút VKHN được bốtrí trên mặt đất khỏi Hàn Quốc và đơn phương cắt giảm đại bộ phận số VKHNtầm ngắn của Hoa Kỳ, chủ yếu là đầu đạn và tên lửa đặt tại Châu Âu Ngoài việcthực hiện theo lộ trình của START, Hoa Kỳ cùng với Liên Xô tiến hành hủy bỏ
Trang 26tất cả các loại đạn pháo hạt nhân, các đầu đạn hạt nhân dùng cho tên lửa chiến
thuật và các loại mìn hạt nhân [14; 171] Có thể thấy, việc thực hiện hiệp ước START I đã mở đường cho hai cường quốc hạt nhân tiến hành cắt giảm các loại VKHN khác
1.2.1.3 Đánh giá kết quả Hiệp ước START I
Hoa Kỳ
Các nước Liên Xô cũ
5 Số đầu đạn trên ICBM
Hiệp ước START I hết hiệu lực vào tháng 12/2009
Trang 27* Một số đánh giá chung về Hiệp ước START I
Hiệp ước START I ký kết và được thực hiện mang một ý nghĩa rất to lớn
đối với tiến trình cắt giảm và chống phổ biến VKHN trên toàn thế giới Bản Hiệpước lần đầu tiên thể hiện mức độ cắt giảm cân bằng kho vũ khí của hai nước, “sẽkhông cho phép một bên nào đơn phương chiếm ưu thế” START I đã giúp giảmtiềm năng tấn công hạt nhân của hai siêu cường bằng việc hạn chế số lượng đầuđạn trên những loại tên lửa đạn đạo có nguy cơ đe dọa nhất; tạo khung pháp lýnhằm chấm dứt chạy đua hạt nhân thời kỳ Chiến tranh lạnh; giảm mối nguy hiểmthực tế và hiện hữu về chiến tranh hạt nhân; tạo ra quyền hợp pháp cho cả haibên để kiểm tra mức độ tuân thủ Hiệp ước của nhau Đây chính là những cơ sở
để hạn chế rủi ro hạt nhân trong những tranh chấp chính trị tương lai4 Đồng thời,START I cũng là một kênh giao lưu, trao đổi mà qua đó, các nhà lãnh đạo, quanchức và giới học giả Mỹ, Nga có thể bàn bạc về những vấn đề cụ thể, những bấtđồng trong lĩnh vực hạt nhân [24]
Tuy nhiên, START I vẫn tồn tại những hạn chế: 1/ Hiệp ước chú trọng
việc giảm tên lửa tầm xa, đầu đạn và khả năng tải trọng (ICBM hạng nặng), cóhạn chế một phần các tên lửa chở bằng máy bay nhưng lại bỏ qua bom rơi tự do;
và hầu như bỏ qua tên lửa do các tàu hải quân phóng đi 2/ START I không yêucầu loại bỏ tất cả tên lửa đã không còn được sử dụng Các quốc gia phải phá bỏcác bệ phóng tên lửa vượt quá số lượng quy định trong hiệp ước, tuy nhiên, trongmột số trường hợp, tên lửa có thể được đưa trở lại trong kho và đầu đạn hạt nhân
có thể được tái sử dụng trên những tên lửa không bị loại bỏ 3/ Hiệp ước này đãcắt giảm một nửa số tên lửa đạn đạo xuyên lục địa hạng nặng của Liên Xô (còn
154 ICBM hạng nặng) Đây là loại VKHN được coi là nền tảng trong lực lượngchiến lược của quốc gia này Trong khi đó, cơ cấu lực lượng hạt nhân của Mỹvới hạm đội tàu ngầm đóng vai trò chủ đạo, trên thực tế, vẫn được giữ nguyên,
4 Hiệp ước START I bao gồm một chế độ kiểm tra việc thực hiện Hiệp ước khá phức tạp Điều này làm tăng tính minh bạch về số lượng và cấu trúc hạt nhân của hai bên, xây dựng lòng tin, và khuyến khích tinh thần cởi mở giữa các bên tham gia Hiệp ước Từ đó giúp hạn chế rủi ro hạt nhân
Trang 28dù tổng số SLBM bị cắt giảm Do đó, Hoa Kỳ chiếm ưu thế hạt nhân hơn Liên
Xô (Nga) 4/ START I không có điều khoản ràng buộc các bên tham gia phảituân thủ Hiệp ước Hạn chế Hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo (ABM) kýtrước đó vào năm 1972 Điều này đã tạo điều kiện cho Mỹ tái triển khai chươngtrình Sáng kiến phòng thủ chiến lược SDI Đến năm 2002, Mỹ đã rút khỏi hiệpước ABM Vì vậy, có ý kiến cho rằng chính quyền Gorbachev thời kỳ này đãnhượng bộ Mỹ khá nhiều trong việc đàm phán và ký kết các văn kiện cắt giảmVKHN; gây thiệt hai cho an ninh Liên Xô (Nga)
1.2.2 Hiệp ước START II
Nga và Mỹ ký kết Hiệp ước START II vào ngày 3/1/1993 sau gần 1 nămđàm phán Đây là giai đoạn 2 trong tiến trình cắt giảm kho VKHN của hai cườngquốc Tuy nhiên cả hai bên đều trì hoãn việc phê chuẩn Hiệp ước này trongnhững năm 1990s, và kết quả là hiệp ước START II chưa bao giờ có hiệu lựcthực thi, mặc dù có lúc Hiệp ước này đã được Thượng viện Mỹ và Đuma Quốcgia Nga đồng ý thông qua
1.2.2.1 Các điều khoản của START II
START II định ra mức trần bằng nhau đối với VKHN chiến lược của mỗibên START II được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn 1, mỗi bên phải giảmđược số lượng đầu đạn hạt nhân chiến lược đã triển khai xuống còn 3800 – 4250.Con số này bao gồm các đầu đạn trên SLBM, hay trên không Trong tổng số
3800 – 4250 đầu đạn, tối đa là 1200 đầu đạn có thể được triển khai trên tên lửa
có nhiều đầu đạn, tự tách và định vị mục tiêu một cách độc lập (viết tắt MIRV);tối đa 2160 trên các tàu và 650 trên ICBM hạng nặng Giai đoạn thứ 2, các bên
sẽ giảm tổng số đầu đạn hạt nhân chiến lược xuống còn 3500 trên những phươngtiện vận chuyển tấn công chiến lược – ICBM, SLBM và máy bay ném bom hạngnặng Hiệp ước cũng cấm tất cả tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mang nhiều đầuđạn (MIRV ICBM) và quy định mỗi bên được duy trì tối đa 1750 đầu đạn trênSLBM Về thời điểm kết thúc quá trình cắt giảm, tháng 9/1997, Mỹ và Nga đã
Trang 29ký Nghị định thư Helsinki thư để gia hạn từ đầu năm 2003 trở thành cuối năm
2007 [104; 3]
Như vậy, Hiệp ước START II nhằm hoàn thiện tính ổn định chiến lược
giữa hai cường quốc hạt nhân Nga – Mỹ thông qua việc loại bỏ các MIRVICBM là những bệ phóng hạt nhân có khả năng tham gia vào một cuộc tấn côngphủ đầu Việc áp dụng Hiệp ước này cũng sẽ giúp làm giảm 2/3 sức mạnh hạtnhân chiến lược mà Liên Xô cũ và Mỹ nắm giữ ở thời kỳ cao điểm trong Chiếntranh lạnh [41; 830] Bên cạnh đó, việc thi thực START II sẽ đạt được mục tiêucủa Mỹ là muốn loại bỏ loại SS-18 ICBM hạng nặng của Nga, loại vũ khí màtrước kia Liên bang Xô viết đã từ chối hạn chế Đổi lại, Nga cũng hạn chế được
số lượng đầu đạn hạt nhân trên SLBM của Mỹ, mặc dù sự cắt giảm này khônglớn như đối với MIRV ICBM
1.2.2.2 Vấn đề thông qua START II
Mặc dù được ký kết vào đầu năm 1993, song quá trình xem xét để thôngqua Hiệp ước này chỉ bắt đầu khi START I có hiệu lực vào cuối năm 1994.Thượng viện Mỹ đã trì hoãn việc thông qua hiệp ước này do những bất đồnggiữa Tổng thống Clinton và một số thành viên Thượng viện về nhiệm vụ, tổ chứccủa Cơ quan giải trừ và kiểm soát vũ khí, Bộ Ngoại giao Mỹ Cuối cùng,Thượng viện Mỹ đã đồng ý phê chuẩn START II với tỷ lệ bầu là 87 phiếu đồng
ý và 4 phiếu chống vào ngày 26/1/1996 [105; 10] Hạ viện Nga bắt đầu xem xétcác điều khoản của Hiệp ước này vào năm 1995, nhưng phải đến tận ngày14/4/2000 mới thông qua
Sở dĩ Đuma quốc gia Nga trì hoãn việc thông qua là do có nhiều nghị sĩ chorằng Hiệp ước có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lực lượng tấn công hạt nhân củanước này và một số khác lại phản đối những chi phí mà Nga phải chi trả khi thựchiện hiệp ước Nhiều thành viên chỉ trích về các điều khoản trong Hiệp định, chorằng chúng có lợi cho Hoa Kỳ và cản trở lực lượng răn đe hạt nhân của Nga khibuộc Nga phải loại bỏ MIRV ICBM Nếu giữ lại số vũ khí này, Nga có thể duy
Trang 30trì sự cân bằng chiến lược đối với Mỹ Do những người này lo ngại việc NATO
mở rộng thêm thành viên là các quốc gia Trung và Đông Âu, sẽ tạo ra mối đedọa đến an ninh của Nga, buộc Nga phải chống đỡ bằng VKHN khi lực lượnghạt nhân của Mỹ và NATO ngày càng tiến gần đến biên giới nước này
Bên cạnh đó, việc thông qua START II lại gắn chặt với việc thực thi Hiệpước ABM Vào tháng 1/1999, Mỹ tuyên bố kế hoạch đàm phán với Nga để thayđổi các điều khoản của Hiệp ước này, trong khi quan chức Nga cho rằng việcthay đổi Hiệp ước ABM không có lợi cho lợi ích quốc gia Nga Đối với Nga,ABM đã hình thành nên một khuôn khổ ổn định mang tính chiến lược và bất kỳ
sự thay đổi nào cũng có thể dẫn đến việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửađạn đạo quốc gia Việc Mỹ triển khai hệ thống này tại Alaska sẽ làm hạn chế khảnăng răn đe hạt nhân của Nga, phá vỡ tính ổn định chiến lược giữa hai nướcđược xây dựng thông qua Hiệp ước ABM Đồng thời, Nga cũng đặt câu hỏi vềnhu cầu cần một hệ thống phòng thủ chiến lược của Mỹ để chống lại những nguy
cơ mới từ các quốc gia như Bắc Triều Tiên, Iran, Iraq và nghi ngờ về việc cácnước này có khả năng kỹ thuật hoặc ý muốn sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt
để trở thành mối đe dọa đối với an ninh nước Mỹ Nói cách khác, Nga cho rằng
hệ thống phòng thủ tên lửa chiến lược của Mỹ nhằm chống lại lực lượng hạtnhân của Nga [104; 12] Ngoài ra, việc Đuma quốc gia Nga trì hoãn thông quaSTART II xuất phát từ sau một loạt sự kiện: Mỹ và Anh tấn công Iraq tháng12/1998; lực lượng NATO tiến hành chiến dịch oanh tạc không quân Yugoslaviavào tháng 4/1999 [72; 38]
Tuy nhiên, có ý kiến ủng hộ phê chuẩn hiệp ước cho rằng Nga không thểtiếp tục chi trả các khoản chi phí bảo dưỡng, tái cấu trúc lực lượng MIRV ICBM,nên cắt giảm loại vũ khí này là lựa chọn tốt nhất Với nỗ lực của chính quyềnTổng thống Putin, Hiệp ước START II đã được Đuma quốc gia Nga thông quasau khi Tổng thống hứa là sẽ rút khỏi Hiệp ước nếu Mỹ rút khỏi ABM 1972; và
Mỹ phải thông qua một vài thỏa thuận được ký năm 1997 liên quan đến hiệp ước
Trang 31ABM 1972 Tuy nhiên, Tổng thống Clinton đã không đệ trình những yêu cầu bổsung của Nga lên Thượng viện Mỹ để thông qua; còn Tổng thống G.Bush sau đó
đã tuyên bố rút khỏi Hiệp ước ABM vào tháng 6/2002 Do đó, Nga cũng rút khỏiHiệp ước START II và không thực hiện việc cắt giảm VKHN theo hiệp ước
1.2.3 Định hình Khuôn khổ Hiệp ước START III
Trong nỗ lực chung nhằm thực hiện lộ trình cắt giảm vũ khí tấn công chiếnlược, trong năm 1997, Tổng thống Nga Yeltsin và Tổng thống Mỹ Clinton đã cơbản đồng ý về một khuôn khổ hợp tác cho Hiệp ước START III Tuy nhiênnhững vòng đàm phán giữa hai bên chưa bao giờ đi được đến kết luận, nên chưathể hình thành một Hiệp ước như START I, START II Các vòng đàm phán nàyđều bị ảnh hưởng bởi kế hoạch của Mỹ về hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo vànhững vấn đề liên quan đến Hiệp ước ABM Khi Tổng thống G.Bush lên cầmquyền vào năm 2001, việc theo đuổi những thỏa thuận kiểm soát vũ khí với Ngakhông còn được ưu tiên hàng đầu Hơn nữa, Tổng thống Bush đã ký kết Hiệpước SORT với Nga năm 2002, trong đó Mỹ và Nga tự xác định nhịp độ, mức độcắt giảm lực lượng hạt nhân của mình trong giới hạn Hiệp ước, mà không cónhững hạn chế cụ thể nào
START III có mục tiêu cắt giảm số đầu đạn hạt nhân của hai bên xuống cònkhoảng từ 2000 – 2500 đầu đạn trên mỗi loại vũ khí tiến công chiến lược Mỹ vàNga đã tổ chức vài cuộc thảo luận về START III, song họ không tìm được nhữngđiểm đồng trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton kết thúc Tổng thốngBush đã không tiếp tục các vòng đàm phán này khi bắt đầu nhiệm kỳ vào năm
2001 Việc chấm dứt đàm phán đã khiến vấn đề trọng tâm trong tiến trình kiểmsoát vũ khí giữa Nga và Mỹ chưa được giải quyết Ví dụ, Tổng thống Clinton vàYeltsin đã đồng ý xây dựng các biện pháp hữu hiệu trong việc hạn chế các loạitên lửa tầm xa, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, tên lửa phóng từ tàu hải quân vàcác loại vũ khí hạt nhân chiến thuật khác Những loại vũ khí này chưa bị giớihạn bởi bất kỳ hiệp ước nào Thêm vào đó, khi thiết lập khuôn khổ hợp tác
Trang 32START III, cả Mỹ và Nga đều nhất trí sẽ tăng cường tính minh bạch và tính liêntục của quá trình cắt giảm Khá nhiều nhà phân tích cho rằng Hiệp ước STARTIII đóng vai trò quan trọng đối với quá trình cắt giảm VKHN kéo dài và có tính
dự đoán giữa hai cường quốc Tuy nhiên, Chính phủ Tổng thống Bush muốn bảotoàn tính linh hoạt của lực lượng hạt nhân Mỹ và khả năng triển khai các đầu đạnhạt nhân trong kho trên thực tế Điều này đã khiến hiệp ước START III khôngthể thực hiện
Tóm lại, VKHN ra đời là kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
sau chiến tranh thế giới lần 2, tuy nhiên, đặt trong bối cảnh chiến tranh lạnh, trật
tự thế giới hai cực với sự đối đầu quyết liệt giữa hai siêu cường Liên Xô – Hoa
Kỳ trên mọi lĩnh vực, thì số lượng, chủng loại loại vũ khí này phát triển vượtbậc; thậm chí số lượng chủ thể sở hữu VKHN cũng tăng Đây không phải là loại
vũ khí thông thường mà với sức mạnh hủy diệt của mình, đã trở thành một công
cụ răn đe chính trị giữa các quốc gia Sự xuất hiện của VKHN đã khiến quan hệquốc tế thay đổi đáng kể, VKHN trở thành biểu tượng sức mạnh của một nướclớn, với tiềm lực quân sự quốc phòng vững mạnh
Thời kỳ chiến tranh lạnh đã chứng kiến cuộc chạy đua vũ trang giữa haisiêu cường, tạo ra một nền hòa bình mong manh bên miệng hố chiến tranh Nỗi
sợ một cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện đã tác động mạnh đến dư luận quốc
tế đòi hỏi các siêu cường phải cắt giảm VKHN Việc đàm phán để xây dựng mộtkhung pháp lý cơ bản cho tiến trình giải giáp VKHN là yêu cầu cấp bách; màtrước hết phải bắt đầu từ hai quốc gia sở hữu đến 95% số lượng VKHN trên thếgiới Hai cường quốc Mỹ - Nga (tiền thân là Liên Xô) đã tiến hành đàm phánmột loạt các hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược START I, START II,START III Quá trình cắt giảm kho VKHN giữa hai Mỹ - Nga được chia theotừng giai đoạn, tuy nhiên, vì những tính toán lợi ích riêng, những bất đồng trongquá trình đàm phán, chỉ có Hiệp ước START I được thực hiện Điều này khiếncho khung pháp lý có tính nền tảng cho quá trình giải giáp vũ khí của hai cường
Trang 33quốc còn tương đối yếu, dẫn đến số lượng VKHN trên thế giới vẫn chưa đượccắt giảm như mong đợi
Trang 34CHƯƠNG 2 HIỆP ƯỚC START MỚI VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VẤN
ĐỀ CHỐNG PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN
2.1 Cơ sở ký kết Hiệp ước START mới
2.1.1 Nguy cơ phổ biến VKHN sau chiến tranh lạnh
Sau khi Liên Xô sụp đổ, chiến tranh lạnh kết thúc, sự đối đầu căng thẳng,quyết liệt giữa hai khối Đông – Tây không còn, và cuộc chạy đua vũ trangcũng ngừng lại Nguy cơ về một cuốc chiến hạt nhân toàn diện giảm dần, tuynhiên, sự kết thúc chiến tranh lạnh lại không dẫn đến việc biến mất củaVKHN, mà ngược lại nguy cơ phổ biến VKHN lại gia tăng Điều này có thể
lý giải bởi một số lý do sau:
1/ Trước hết, nguy cơ phổ biến VKHN xuất phát từ sự rò rỉ vật liệu, côngnghệ, kỹ thuật hạt nhân thuộc các nước Liên bang Xô viết cũ, hay nói cách khác
là từ các kho VKHN không được bảo vệ đầy đủ, đặt tại các quốc gia này trongthời kỳ Chiến tranh lạnh Sự bất ổn về chính trị và sự sụt giảm hơn 50% tổng sảnphẩm quốc nội của các nước trong không gian Liên xô cũ là nguồn gốc gây ra sựbất an về hạt nhân Hơn một nửa trong số 20 vụ rắc rối liên quan đến các thiết bịhạt nhân quân sự đã được ghi nhận trong khối Hiệp ước Vacsava cũ từ năm 1991đến năm 2001 Hơn nữa, trong một cuộc thăm dò ý kiến gần đây cho thấy 24%trong số 130.000 chuyên gia Liên Xô có tri thức trong việc chế tạo VKHN sẵnsàng phục vụ cho bất kỳ nhà nước nào để đổi lấy một khoản tiền thích hợp [11] 2/ Nguy cơ phổ biến hạt nhân còn đến từ thị trường chợ đen, đó là mạnglưới buôn bán bất hợp pháp của chuyên gia hạt nhân A.Q Khan bị phát hiện vàotháng 2/2004 Đây là một bằng chứng rõ ràng cho thấy nguy cơ phổ biến vũ khí,thiết bị, nguyên liệu, phương tiện vận chuyển hạt nhân ngày càng đáng lo, và cóthể nằm ngoài tầm kiểm soát của các thiết chế quốc tế [46] Từ những năm 80
Trang 35của thế kỷ trước, nhóm tội phạm này đã cung cấp công nghệ, hay còn gọi là “tổhợp khung để khởi đầu” cho tất cả những đối tượng quan tâm đến bom nguyên
tử như Bắc Triều Tiên, Iran – hai nước vốn được Mỹ và phương Tây liệt vàodanh sách nhóm nước “cứng đầu” và bất ổn [46] Ngoài hai nước này, còn cóLibi cũng là “khách hàng” của mạng lưới buôn lậu này; tuy nhiên Tổng thốngLibi đã quyết định từ bỏ chương trình hạt nhân và chuyển giao cho Mỹ và Anhbản tài liệu tổng hợp khá công phu về mạng lưới các công ty, các nhà tài chính,kinh doanh, xưởng chế tạo máy có quan hệ với Khan Mạng lưới này tỏa ra khắpthế giới, từ Dubai đến Malaysia và hàng loạt thủ đô ở Châu Âu Tuy ông trùmKhan đã bị bắt giữ, nhưng những phụ tá của nhân vật này vẫn tiếp tục bí mậthoạt động Thêm vào đó, trong những năm gần đây, một số chuyên gia đã khẳngđịnh: Bắc Triều Tiên đã trở thành một nguồn cung cấp công nghệ và thiết bị hạtnhân - khách hàng của Bắc Triều Tiên có thể là Iran và Mianma [9]
3/ Việc dễ dàng tiếp cận công nghệ hạt nhân đặt trong bối cảnh chủnghĩa khủng bố quốc tế phát triển như hiện nay khiến nguy cơ phổ biến hạtnhân càng đáng lo ngại đối với an ninh thế giới Sau sự kiện 11/9/2001, mối
lo ngại về việc VKHN có thể rơi vào tay những thành phần khủng bố cựcđoan trở nên hiện hữu và thường trực hơn đối với an ninh nước Mỹ; thậm chíChính phủ Mỹ cho rằng “Chưa có một nhiệm vụ an ninh quốc gia nào quantrọng hơn việc xử lý mối nguy hiểm hạt nhân mới mà Mỹ phải đối mặt trongthời kỳ sau chiến tranh lạnh” [1; 625]
Các nhóm khủng bố, hoặc các nhóm tội phạm xuyên quốc gia có thể sửdụng VKHN như một công cụ nhằm thực hiện mục tiêu chính trị, kinh tế củamình Đặc biệt trong thời gian gần đây, đã xuất hiện một dạng vũ khí mới, có tên
là “bom bẩn” – sử dụng chất nổ thông thường để rải chất phóng xạ trên một khuvực rộng lớn Những phần tử khủng bố có vẻ rất quan tâm đến loại bom này Nókhông tạo ra các cột khói hình nấm với mức độ hủy diệt cao như bom hạt nhân,
mà làm ô nhiễm môi trường một khu vực rộng đến hàng trăm dặm do nguyên
Trang 36liệu phóng xạ tạo ra Một vụ khủng bố bom bẩn có thể khiến khu vực bị tấn côngphải hạn chế đi lại trong một khoảng thời gian, có thể kéo dài đến vài năm; gây
tê liệt tạm thời về kinh tế (ví dụ như buộc phải đóng cửa cảng biển hoặc sơ tántrung tâm thành phố…); thậm chí để khắc phục hậu quả phải tốn khá nhiều chiphí; về lâu dài làm tăng nguy cơ ung thư, đồng thời tạo ra bầu không khí hoảngloạn sợ hãi trong dân chúng Một cuộc khảo sát năm 2007 do Đại học Chicago
Mỹ thực hiện đã chỉ ra rằng 65% dân chúng sẽ sơ tán ra khỏi khu vực bị tấn côngbom bẩn dù chính phủ không có lệnh sơ tán và 39% nói rằng họ sẽ kiên quyết sơtán kể cả khi chính phủ không đồng ý Chính từ những tác hại tiềm tàng này,bom bẩn đã bị liệt vào danh sách các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt [55; 3] Loại
vũ khí này lại dễ tiếp cận hơn và công nghệ để làm bom bẩn cũng không phứctạp như bom hạt nhân, bom khinh khí, hoặc các thiết vị vận chuyển VKHN khác.Theo số liệu của IAEA, có 540 vụ buôn lậu nguyên liệu phóng xạ đã được pháthiện và hơn 300 vụ khác chưa được làm sáng tỏ [35]
Ngoài ra, các kho dự trữ VKHN cũng dễ bị những kẻ khủng bố tấn công vìchúng có âm mưu đánh cắp các nguyên liệu hạt nhân hoặc thiết bị và kỹ thuậtcần thiết để sản xuất VKHN Theo Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ chịu tráchnhiệm về lĩnh vực An ninh quốc gia và Chống khủng bố, John Brennan, lựclượng khủng bố Al-Qaeda đang ra sức tìm cách có được VKHN trong 15 nămqua, tuy chúng chưa đạt được tiến bộ đáng kể nào Những kẻ khủng bố khôngđại diện cho bất kỳ một nước nào, do đó rất khó tìm ra cách giải quyết hiệu quảnhất Nếu một nước có thể sử dụng biện pháp răn đe hạt nhân để giải quyết xungđột với một nước khác thì nước đó gần như không thể đe dọa một tổ chức khủng
bố vì các nhóm này có thể hoạt động ở bên trong các đường biên giới của nhiềuquốc gia khác nhau [10]
4/ Do nguồn cung nhiên liệu tự nhiên như than đá, dầu mỏ… đang suygiảm trên phạm vi toàn cầu, mà nhu cầu năng lượng để phục vụ phát triển kinh tếcủa các quốc gia lại tăng cao; đã buộc các nước phải phát triển và mở rộng sử
Trang 37dụng năng lượng nguyên tử như một nguồn năng lượng thay thế Tuy nhiên, điềunày lại đặt ra những thách thức không nhỏ trong việc ngăn chặn phổ biếnVKHN Bởi công nghệ sản xuất nhiên liệu hạt nhân là lưỡng dụng, có thể được
sử dụng trong các lò phản ứng hòa bình hoặc có thể sản xuất vật liệu nổ choVKHN Vì vậy, một cơ sở sản xuất nhiên liệu thương mại có thể trở thành mộtnhà máy sản xuất bom hạt nhân tiềm ẩn [2; 16]
5/ Nguy cơ phổ biến VKHN còn xuất phát từ chính các kho VKHN củacác quốc gia mà trong đó, Mỹ và Nga sở hữu hai kho vũ khí khổng lồ nhấttrên thế giới
Bảng 4: Số lượng VKHN (ước tính) được triển khai trên thế giới
Tháng 1/2009
Quốc gia Năm nghiệm
thành công
Số đầu đạn chiến lược
Số đầu đạn không chiến lược
Tổng số đầu đạn được triển khai
Tất cả số liệu nằm trong ngoặc đơn () đều là những con số ước lượng;
Tổng số VKHN được kiểm kê của Mỹ là 9400 đầu đạn, trong đó có 5200đầu đạn nằm trong kho của Bộ Quốc phòng Mỹ (2700 đầu đạn chiến lược
và không chiến lược đã được triển khai và 2500 đang lưu kho) và 4200 đầuđạn dự kiến sẽ bị tháo dỡ vào năm 2022;
Trang 38 Tổng số VKHN được kiểm kê của Nga là 13.000 đầu đạn hạt nhân, trong
đó có 8166 đang lưu kho hoặc đang chờ tháo dỡ theo các Hiệp định;
Chưa có thông tin chính xác về số lượng đầu đạn hạt nhân không chiếnlược của Trung Quốc được triển khai nên không xác định được số lượngloại vũ khí này;
Theo các chuyên gia, Ấn Độ, Pakistan, và Israel mới chỉ triển khai mộtphần vũ khí trong kho VKHN của mình;
Trường hợp Bắc Triều Tiên dù đã tuyên bố thử thành công VKHN vào năm
2006, nhưng chưa có một thông tin chính thức nào xác nhận nước này cóVKHN đang được triển khai
Nhìn vào bảng 4, có thể thấy, số lượng VKHN được triển khai gần 8400đầu đạn trong đó có khoảng 2000 số vũ khí luôn trong tình trạng sẵn sàng chiếnđấu Nếu tính tất cả số VKHN được triển khai, chưa được triển khai, lưu trongkho, các vũ khí đang chờ dỡ bỏ, con số này có thể lên đến 23.300 đầu đạn Trong
đó, số lượng VKHN của Mỹ và Nga triển khai cao gấp nhiều lần so với nướcđứng thứ 3 là Anh Như vậy, để thúc đẩy tiến trình chống phổ biến VKHN, Mỹ
và Nga cần phải hành động mạnh mẽ hơn trong việc cắt giảm kho vũ khí củachính mình Hay nói cách khác, một trong những trụ cột của Quy chế Không phổbiến hạt nhân được xây dựng từ những năm 1990 là các hiệp định hợp tác songphương giữa Mỹ và Nga
6/ Cuối cùng, tư duy hạt nhân thời kỳ Chiến tranh lạnh vẫn còn ngự trị ở
không ít các quốc gia Một số nước vẫn coi VKHN là công cụ đảm bảo lợi íchquốc gia hiệu quả nhất Trước hết là đối với những lợi ích an ninh, loại vũ khínày vẫn đóng vai trò răn đe giữa các quốc gia trong việc giải quyết các xung đột,mâu thuẫn trong khu vực và thế giới Cách tư duy này tạo ra hai kiểu chính sách:đối với các nước sở hữu VKHN, họ tiếp tục củng cố hay hiện đại hóa khoVKHN sao cho phù hợp với tình hình sau Chiến tranh lạnh để đối trọng với các
“đối thủ” tiềm tàng; mặt khác, đối với các quốc gia không sở hữu VKHN, họ
Trang 39kiên trì theo đuổi chương trình hạt nhân, dù vấp phải sự phản đối của đông đảocác quốc gia khác trên thế giới.
Trung Quốc là một cường quốc mới nổi từ sau chiến tranh lạnh Tuy TrungQuốc luôn cam kết không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng VKHN trước, song thực
tế nước này vẫn chủ trương hiện đại hóa lực lượng quân đội, đặc biệt là xâydựng một lực lượng hạt nhân “tinh nhuệ và hiệu quả”, không theo đuổi ưu thế về
số lượng mà chú trọng đến chất lượng của các loại VKHN Đặc biệt là lực lượnghải quân Trung Quốc đã có tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược, nâng caotoàn diện khả năng “răn đe và phản kích chiến lược” [49; 5] Theo số liệu thống
kê, Trung Quốc hiện giờ ước tính 186 đầu đạn hạt nhân được triển khai (Xem chi tiết tại bảng số 4) Chính quá trình hiện đại hóa của Trung Quốc đã gây ra lo
ngại cho một số nước láng giềng như Nga, Ấn Độ… Ấn Độ đã quyết định ký kếtHiệp định hợp tác hạt nhân dân sự đầy tranh cãi với Mỹ năm 2005, còn Nga vẫntiếp tục tinh giảm VKHN cũ từ thời Liên Xô và tiến hành hiện đại hóa
Ngoài ra, có thể thấy, tại khu vực Nam Á, đang diễn ra “cuộc chạy đua hạtnhân” từ ngấm ngầm đến công khai giữa Ấn Độ và Pakistan [16; 100] Chươngtrình hạt nhân của Pakistan lấy tên là Ghauri một phần nhằm đối trọng vớichương trình hạt nhân Prithvi của Ấn Độ (cần lưu ý rằng tên của hai chươngtrình này lấy từ tên hai vị vua của hai nước) Vụ thử tên lửa Ghauri năm 1998 đãgiảm được khoảng cách chiến lược về lực lượng hạt nhân giữa Pakistan với Ấn
Độ Song sự kiện này đã khiến Ấn Độ tiếp tục một loạt các vụ thử hạt nhân khác.Việc Pakistan tuyên bố sẽ luôn thử vũ khí hạt nhân hơn Ấn Độ một lần, rõ ràng
là bằng chứng cho thấy những vụ việc này mang màu sắc cạnh tranh chính trị, uyhiếp, răn đe nhau hơn là vì lý do kỹ thuật [16; 102]
Bên cạnh đó, quan niệm VKHN thể hiện sức mạnh quốc gia, vị trí, tiếngnói của nước lớn trên trường quốc tế dường như vẫn không thay đổi trong cách
tư duy của các nhà hoạch định chính sách Có thể thấy rõ quan điểm này trongtrường hợp của Nga Nước Nga bước ra khỏi chiến tranh lạnh kế thừa di sản
Trang 40khổng lồ của Liên bang Xô viết, bao gồm một nền kinh tế khủng hoảng nghiêmtrọng, bất ổn xã hội – chính trị gia tăng, và một kho VKHN lớn thứ hai thế giới.Nếu địa vị kinh tế của Nga giảm khá nhiều so với thời kỳ chiến tranh lạnh thìtrong lĩnh vực hạt nhân, Nga vẫn được coi là “siêu cường” và Nga luôn lợi dụngVKHN như một cách thể hiện sức mạnh, gia tăng tầm ảnh hưởng của mình trêntrường quốc tế Thậm chí, tri thức về hạt nhân lại là một trong những lĩnh vựckinh tế duy nhất có giá trị cao mà ở đó, nước Nga có khả năng cạnh tranh Hợptác với các nước khác để xây dựng nhà máy hạt nhân là một trong những cáchNga triển khai sức mạnh hạt nhân của mình, gây tầm ảnh hưởng đối với một sốquốc gia trong khu vực và thế giới
Tóm lại, môi trường quốc tế sau Chiến tranh lạnh đã tạo điều kiện cho nguy
cơ phổ biến hạt nhân tăng cao Sự rò rỉ hạt nhân từ các lò phản ứng, từ thị trườngchợ đen… kết hợp với chủ nghĩa khủng bố quốc tế, ý chí của các quốc gia mongmuốn sở hữu công nghệ hạt nhân đã trở thành những thách thức lớn đối với anninh thế giới cũng như đối với mục tiêu “một thế giới không VKHN” của nhânloại Mặt khác, số lượng VKHN trong các kho vũ khí của Nga và Mỹ dù đã cắtgiảm nhưng vẫn còn tương đối lớn Chính thực tế phổ biến VKHN sau chiếntranh lạnh đã khiến Nga và đặc biệt là Mỹ điều chỉnh chính sách chống phổ biếnVKHN của mình Một trong những trọng tâm ưu tiên của chính quyền Obamathời gian gần đây là việc hợp tác với Nga nhằm cắt giảm và hạn chế kho VKHN
2.1.2 Những hạn chế của quá trình cắt giảm VKHN
Phong trào đấu tranh cắt giảm và chống phổ biến VKHN từ trong Chiếntranh lạnh diễn ra rất mạnh mẽ, nhận được sự hưởng ứng từ cộng đồng quốc tế.Tiến trình chống phổ biến loại vũ khí hủy diệt hàng loạt này cũng đã có nhữngbước tiến đáng kể như thiết lập quy chế Không phổ biến VKHN; thành lập cáckhu vực phi VKHN; các hiệp ước song phương cắt giảm VKHN giữa Nga và
Mỹ… Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ chế này vẫn chưa hiệu quả và chưa thực
sự đáp ứng được mong mỏi của nhân loại.