Nó có thẩm quyền xử lý những vụ việc giữa những quốc gia với nhau, giữa các thể nhân, pháp nhân, về những vấn đề hình sự, kinh tế, dân sự...Để hiểu rõ hơn về hai tính chất đan xen này, t
Trang 1MỤC LỤC TRANG
án công lý Châu Âu
1
A LỜI NÓI ĐẦU
Liên minh Châu Âu – một mô hình liên kết vô cùng chặt chẽ với những thiết chế chặt chẽ và hoạt động vô cùng hiệu quả Là một tổ chức mà những
Trang 2hiệu quả nó đem lại được cả thế giới công nhận Tòa án công lý Châu Âu – một trong bảy thiết chế quan trọng của EU vừa có tính chất như một tòa quốc
tế, vừa là một tòa quốc gia Nó có thẩm quyền xử lý những vụ việc giữa những quốc gia với nhau, giữa các thể nhân, pháp nhân, về những vấn đề hình
sự, kinh tế, dân sự Để hiểu rõ hơn về hai tính chất đan xen này, trong phạm
vi bài tập nhóm tháng, nhóm chúng em xin trình bày hai vụ việc để chứng minh rằng Tòa án Công lý Châu Âu vừa là tòa quốc tế, vừa là tòa quốc gia
B NỘI DUNG
I Một số kiến thức cơ bản về Liên minh Châu Âu và toàn án công
lý Châu Âu
Liên minh châu Âu (European Union), viết tắt là EU, là một liên minh
kinh tế chính trị bao gồm 27 quốc gia thành viên thuộc Châu Âu Liên minh châu Âu có nguồn gốc từ Cộng đồng Than Thép châu Âutừ 6 quốc gia thành viên ban đầu vào năm 1951, được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht năm
1992 dựa trên Cộng đồng châu Âu Những thể chế chính trị quan trọng của Liên minh châu Âu bao gồm Ủy ban châu Âu, Nghị viện Châu Âu Hội đồng Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu, Tòa án Công lý Liên minh châu Âu
và Ngân hàng Trung ương châu Âu
Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn EU duy trì các chính sách chung về thương mại,[nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương Là một tổ chức quốc tế, EU hoạt động thông qua một hệ thống chính trị siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp
Tòa án Công lý Châu Âu (the Court of Justice of the Eropean
Communnities) là toà án tối cao của Liên minh Châu Âu giải quyết những vấn
đề liên quan đến các vấn đề luật pháp của tổ chức này Được thành lập vào năm 1952, đặt trụ sở tại Luxembourg, Tòa án Công lý Châu Âu vừa là cơ quan thống nhất pháp luật vừa là tòa án quốc tế và vừa là tòa Hiến pháp, hành
Trang 3chính, dân sự và thương mại Tòa bao gồm 27 thẩm phán và 8 công tố viên có nhiệm kỳ 6 năm và có thể được tái bổ nhiệm Các thẩm phán sẽ bầu ra chánh tòa với nhiệm kỳ 3 năm và có thể được tái bổ nhiệm Tòa án châu Âu được cơ cấu thành các phân tòa (phân toa có gồm 5 thẩm phán với chánh án có nhiệm
kỳ 3 năm và phân tòa gồm 3 thẩm phán với chánh án có nhiệm kỳ 1 năm) Về thẩm quyền, tòa án công lý Châu Âu có các chức năng cụ thể sau: tư vấn (tuy không bắt buộc phải tham vấn tòa nhưng ý kiến của tòa có tính bắc buộc); giải thích pháp luật ( theo thủ tục giải thích tiền tài phán); đảm bảo pháp chế của EU; giải quyết tranh chấp
II Một số vụ việc
1 Vụ việc thứ nhất
Case C-364/10,Thực hiện theo điều 259 TFEU do không thực hiện nghĩa vụ, ngày 08 tháng 07 năm 2010
a) Các bên liên quan
Nguyên đơn : Hunggary
Bị đơn: cộng hòa slovakia
b) Nội dung vụ việc:
Ngày 21/8, Slovakia không cho phépTổng thống Hungary Laszlo Solyom nhập cảnh khi ông tới thăm một thị trấn biên giới ở Slovakia có đông người nói tiếng Hungary sinh sống
Một công hàm ngoại giao gửi Đại sứ Hungary tại Bratislava, Chính phủ Slovakia đã thông báo ông Solyom không được nhập cảnh vào Slovakia và ông "sẽ được chào đón ở Slovakia vào một dịp khác" Biện minh cho hành động này, đầu tiên công hàm dựa vào các quy định trong Chỉ thị 38/2004 cũng như các quy định của pháp luật trong nước về quản lý người nước ngoài
cư trú Thứ hai, ngày 21/8 cũng là một ngày nhạy cảm ở slovakia khi mà vào ngày này năm 1968, lực lượng vũ trang cảu năm nước thuộc hiệp ước Warsaw, trong đó có Hungary, đã xâm lược nước cộng hòa dân chủ Tiệp Khắc
Trang 4Tổng thống Solyom đã hủy bỏ chuyến thăm và tổ chức cuộc họp báo tối 21/8 ngay bên cầu sông Danube nối Hungary và Slovakia Ông đã chỉ trích quyết định cấm nhập cảnh của Chính phủ Slovakia là "một hành động chưa hề
có tiền lệ và không thể lý giải được" giữa các đồng minh cùng thuộc Liên minh châu Âu (EU) và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)
Ngoại trưởng Hungary Peter Balazs, cũng cho biết chuyến thăm đã được lên kế hoạch từ trước và được thông báo cho Bộ Ngoại giao Slovakia, đồng thời dọa sẽ thông báo vấn đề này cho EU Trong khi đó, phía Slovakia
đã triển khai một lực lượng cảnh sát lớn ở biên giới với Hungary
Hungary sau đó bắt đầu thủ tục tố tụng trước Tòa án đối với bản cáo buộc chống lại Slovakia (trên cơ sở của điều 259 TFEU), cáo buộc Cộng hòa Slovak vi phạm điều 21 TFEU và Chỉ thị 2004/38 khi từ chối Tổng thống Hungary nhập cảnh vào lãnh thổ của mình Đặc biệt Hungary tuyên bố Chỉ thị 2004/38 này áp dụng cho tất cả công dân của Liên minh, bao gồm cả người đứng đầu một quốc gia, và áp dụng với mọi chuyến thăm, dù là chính thức hay mang tính chất cá nhân
Cụ thể yêu cầu của Hungary như sau:
Thứ nhất, Cộng hòa Slovakia vi phạm Chỉ thị 2004/38/EC của Nghị
viện Châu Âu và của Hội đồng ngày 29 tháng tư năm 2004 về các quyền của công dân Liên minh và các thành viên gia đình của họ trong việc di chuyển và
cư trú một cách tự do trong phạm vi lãnh thổ của các nước thành viên, sửa đổi Quy định (EEC) số 1612/68 và Chỉ thị bãi bỏ 64/221/EEC, 68/360/EEC, 72/194/EEC, 73/148/EEC, 75/34/EEC, 75/35 / EEC, 90/364/EEC, 90/365/EEC và 93/96/EEC (OJ L 158 2004, p 77) và Điều 21 TFEU, theo đó, Công hàm ngày 21 tháng 8 năm 2009 đưuọc ban hành dựa trên chỉ thị 2004/38 nhưng không đúng với những quy định của chỉ thị, đã không cho phép Tổng thống Hungary, ông Sólyom, nhập vào lãnh thổ của mình;
Trang 5Thứ hai, Xác nhận hành vi bất hợp pháp như vậy có thể tái phát, xung
đột với luật pháp của Liên minh châu Âu, đặc biệt là Điều 3 TEU và Điều 21 TFEU;
Thứ ba, Tuyên bố rằng Cộng hòa Slovak đã áp dụng sai quy định của
EU khi không cho phép Tổng thống Sólyom nhập cảnh vào lãnh thổ của slovak ngày 21 tháng 8 năm 2009
c) Lập luận của các bên
Hungary : Hungary cho rằng Cộng hòa Slovak đã vi phạm Điều
21 TFEU và Chỉ thị 2004/38 khi từ chối Tổng thống Hungary nhập cảnh vào lãnh thổ của mình “mọi công dân của Liên minh di chuyển tự do trong Liên minh châu Âu” và trường hợp này không thuộc ngoại lệ nào của quy định Cụ thể:
Thứ nhất, ông Sólyom đe dọa cho bất kỳ lợi ích căn bản nào của xã hội Thứ hai, không có thông báo nào được gửi đến ông Sólyom để thông
báo với ông về căn cứ ra quyết định cũng như biện pháp khắc phục sự cố
Hungary cũng cho rằng slovakia đã lạm dụng quyền khi đưa ra khái niệm và “lạm dụng quyền” theo quy định của Tòa án lệ vì trên thực tế, Slovakia đưa ra việc dẫn này vì mục đích chính trị
Slovakia: Cộng hòa Slovak cho rằng chuyến thăm này không đơn
thuần là một chuyến thăm của một công dân liên minh mà là của một nguyên thủ quốc gia Vì vậy, Tòa án không có thẩm quyền lắng nghe và giải quyết tranh chấp này vì luật pháp của EU không áp dụng cho tình huống này Cụ thể là: slovakia cho rằng các Điều 3, 4, 5, TEU không áp dụng cho quan hệ ngoại giao song phương giữa các nước thành viên Hơn nữa cũng không có quy định nào trong các điều ước quốc tế quy định một cách rõ ràng việc trao thẩm quyền cho Liên minh châu Âu trong việc điều chỉnh các mối quan hệ ngoại giao giữa các nước thành viên
Trang 6Hơn nữa, nếu pháp luật EU được áp dụng trong trường hợp này thì nguyên thủ quốc gia sẽ được hưởng quyền ưu đãi dựa trên pháp luật của nước đó
Như vậy trong mọi trường hợp, Slovakia đều phủ nhận việc áp dụng pháp luật liên minh đặc biệt là chỉ thị 2004/38 Đồng thời Công hàm ngày 21/8/2009 chỉ là một phần trong trao đổi ngoại giao liên quan đến chuyến thăm slovakia của tổng thống Hungary nên không được coi là một “quyết định” Hơn nữa Công hàm này được viết bởi Bộ ngoại giao chứ không phải một sĩ quan cảnh sát trong các dịch vụ kiểm soát biên giới nên Công hàm này không đúng thẩm quyền
Như vậy vấn đề ở đây là liệu luật của EU có được áp dụng trong trường hợp này và slovakia có vi phạm các quy định của pháp luật EU
Lập luận của Tòa án:
Trước hết, việc có áp dụng luật EU hay không là thuộc thẩm quyền của
Tòa án Đồng thời theo Điều 259 TFEU, Tòa án sẽ quyết định việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong trường hợp này hay không Nên yêu cầu của Slovakia cho rằng Tòa án không có thấm quyên bị từ chối
Thứ hai, công dân của liên minh có địa vị pháp lý cơ bản của công dân
ở các nước thuộc EU (điều 20, TFEU) và có quyền đi lại, cư trú tự do trên lãnh thổ của các nước thành viên EU (Điều 21, TFEU) Đồng thời, cần xác định ông Solyom thực hiện chuyến đi với vai trò của một nguyên thủ quốc gia, khi đó ông phải có nghĩa vụ tuân theo việc hạn chế quyền tự do đi lại theo TFEU và được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ cũng như hưởng sự bảo hộ theo pháp luật quốc tế theo điều 1 của Công ước New York ngày 14 Tháng 12 năm
1973 Như vậy, khi một nguyên thủ quốc gia ở trên lãnh thổ của một quốc gia khác có nghĩa vụ tuân theo các yêu cầu của quốc gia dó để đảm bảo việc bảo
hộ được thực hiện Từ đó có thể kết luận, cả điều 21 TFEU cũng như chỉ thị 2004/38 đều không bắt buộc Slovakia bảo đảm việc nhập cảnh của tổng thống Hungary nên yêu cầu của Hungary là không có căn cứ
Trang 7Thứ ba, không đủ cơ sở chứng minh có sự lạm dụng quyền vì Tòa án
đã cho rằng bằng chứng của hành vi lạm dụng đòi hỏi, đầu tiên, một sự kết hợp của hoàn cảnh khách quan, thứ hai, có yếu tố chủ quan là tạo ra một cách giả tạo các điều kiện quy định để đạt được lợi thế từ các quy định Liên minh châu Âu
Kể từ khi có Công hàm ngày 21/8/2009 thì không có thêm một phán quyết nào từ cơ quan có thẩm quyền của Slovakia, một điều nữa, thông báo gửi đến ông solyom cũng phù hợp với điều 30, chỉ thị 2004/38
Với những điều trên thì khiếu nại của Hungary về việc Slovakia đã lạm quyền là không có cơ sở
Thứ tư, mục đích của Hiệp Ước TFEU là loại bỏ những hành vi vi
phạm thực tế của các nước thành viên và hậu quả của nó nên việc khiếu nại về hành vi vi phạm có thể tái diễn trong tương lai hay về việc giải thích luật của
EU là không được chấp nhận
Phán quyết của Tòa Án:
- Bác bỏ đơn kiện
- Nộp lệ phí đối với những yêu cầu của Hungary
- Nộp lệ phí đối với những yêu cầu của Ủy ban
2 Vụ việc thứ hai
Case C-89/11 E ON Energie AG và Ủy ban Châu Âu (EC) : PE.ON
energie AG kháng cáo đối với bản án của tòa án chung về quyết xử phạt của
EC đối với hành vi phá dỡ dấu niêm phong trong quá trình điều tra vụ việc cạnh tranh
a Các bên liên quan đến quá trình tố tụng
- Nguyên đơn: Công ty E ON Energie AG, thành lập tại Munich
(Đức), đại diện bởi A Rohling, F Dietrich và R Pfromm, Rechtsanwalte,
- Bị đơn: Ủy ban châu Âu, đại diện bởi A Bouquet, V Bottka và
R Sauer
Trang 8b Nội dung vụ việc:
Năm 2006, Ủy ban Châu Âu (EC) tiến hành một cuộc kiểm tra tại các
cơ sở thương mại của Công ty E ON Energie AG tại Munich (Đức) để xác nhận những nghi ngờ của mình rằng công ty đó đã tham gia vào các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Do việc khám xét không thể hoàn thành trong cùng một ngày nên phải kéo dài thời gian làm việc sang ngày hôm sau Toàn bộ các loại tài liệu được cho là có liên quan và cần được xem xét kỹ đã được lực lượng khám xét tập hợp lại và lưu giữ trong một căn phòng được E.ON giao quyền sử dụng cho EC Sau khi kết thúc ngày làm việc, cửa của căn phòng chứa tài liệu đã được khóa và được người của EC đóng dấu niêm phong
Dấu niêm phong mà EC sử dụng được làm từ một loại chất dẻo tự kết dính (self-adhesive plastic) Nếu niêm phong bị bóc hay bị lực tác động thì sẽ không rách nhưng có dấu vết để lại là những vết khuyết rỗng xuất hiện ở cả mặt trước và mặt sau của niêm phong mà không thể che dấu được
Khi nhóm điều tra viên trong vụ việc trở lại làm việc vào sáng ngày hôm sau họ phát hiện ra rằng các dấu vết để lại rõ ràng trên các bề mặt của niêm phong cho thấy niêm phong đã bị phá dỡ Vì vậy, bằng Quyết định ngày 30/2008, EC đã tuyên phạt E.ON số tiền 38 triệu Euro do có hành vi phá dỡ dấu niêm phong được đóng trong quá trình điều tra
Không đồng ý với quyết định xử phạt, E.ON đã khiếu nại đối với quyết định này và đưa vụ việc ra Tòa sơ thẩm Châu Âu (General court/ Court of first instance - CFI) nhưng, ngày 15/12/2010, CFI đã ra phán quyết bác bỏ kháng cáo Trong khiếu nại gửi cho CFI, bên khiếu nại không thừa nhận hành
vi và cho rằng dấu niêm phong có thể đã bị lỗi nhưng không viện dẫn được những chứng cứ cần thiết để chứng minh
E.ON tiếp tục thực hiện kháng cáo lên Tòa án công lý Châu Âu (European Court of Justice - ECJ) đối với phán quyết của CFI Nội dung kháng cáo có kiến nghị giảm mức tiền phạt bởi vì E.ON cho rằng EC đã không có đủ các bằng chứng để chứng minh rằng cửa của căn phòng được
Trang 9niêm phong đã bị mở hoặc là những tài liệu được lưu giữ trong căn phòng đã
bị lấy đi Tuy nhiên, ECJ xác định rằng việc một ai đó có thực sự đã vào phòng niêm phong và lấy đi các tài liệu được lưu giữ hay không là không liên quan đến sự việc ECJ chỉ tập trung xem xét ba lý do được CFI đưa ra tại đoạn 294 của bản án đang được kháng cáo, cho ba lý do giải thích quyết định của mình về số tiền phạt 38 triệu euro cụ thể là:
Thứ nhất, tính chất đặc biệt nghiêm trọng của hành vi phá dỡ dấu niêm
phong,
Thứ hai, quy mô và doanh thu của E.ON,
Thứ ba, sự cần thiết phải đưa ra một mức xử phạt tương xứng có tác
dụng ngăn chặn hiệu quả những dạng hành vi tương tự
c Phán quyết của Tòa án Công lý Châu Âu.
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 256 TFEU về thẩm quyền giải quyết kháng cáo đối với phán quyết của Tòa chung Châu Âu của Tòa công lý Châu Âu
Căn cứ vào các điều khoản: Điểm d khoản 2 điều 20, điểm e, khoản 1 điều 23, khoản 2 điều 23 Quyết định số 1/2003 của Hội đồng Châu Âu (EC)
số 1/2003 ngày 16 tháng năm 2002 về việc thực hiện các quy định về cạnh tranh
Ngày 22/11/2012, ECJ đã đưa ra phán quyết cuối cùng trong đó bác bỏ toàn bộ các luận điểm của E.ON và công nhận phán quyết của CFI Bên cạnh
đó, ECJ cũng đưa ra thông điệp rằng EC có thể quyết định mức xử phạt lên tới 10% doanh thu năm của E.ON nếu có đủ chứng cứ chứng minh cho hành
vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Và mức xử phạt 38 triệu Euro áp dụng cho E.ON đối với hành vi phá dỡ dấu niêm phong trong quá trình điều tra, tương đương với 0,14% doanh thu năm, không phải là quá cao nếu xem xét trong mối quan hệ với sự cần thiết phải đưa ra một mức xử phạt tương xứng có tác dụng ngăn chặn hiệu quả những dạng hành vi tương tự
Phán quyết của ECJ là một thông điệp cho thấy sự ủng hộ tuyệt đối đối với các quyết định của EC liên quan đến những hành vi vi phạm thủ tục hành
Trang 10chính trong quá trình điều tra các vụ việc cạnh tranh Điều này cũng có nghĩa
là những hành vi vi phạm thủ tục hành chính được xem xét và xử phạt tách biệt với hành vi vi phạm các quy định của Luật Cạnh tranh
3 Chứng mình Tòa Công lý châu âu vừa là toàn quốc tế vừa là tòa quốc gia
Từ hai vụ việc mà nhóm đã phân chỉ ra ở trên, có thể nhận thấy rõ rằng tòa Công lý châu âu vừa là tòa quốc tế vừa là tòa quốc gia Để chứng minh cho khẳng định đó, nhóm xin đưa ra những lý luận sau:
3.1 Tòa Công lý Châu Âu là tòa quốc tế
- Thứ nhất, trong hệ thống nguồn của luật EU, các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia thành viên được coi là luật gốc, điều chỉnh tất
cả các vấn đề pháp lý về hoạt động của EU như mục tiêu, cơ cấu tổ chức và phương pháp thực hiện, thẩm quyền hay hoạt động của các thiết chế EU Dưới góc độ luật quốc tế, những điều ước này chính là nguồn của luật tổ chức quốc tế
- Thứ hai, Tòa án công lý châu âu còn có thẩm quyền thụ lí, giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế: đó có thể là quốc gia, các tổ
chức phi chính phủ, các tổ chức liên quốc gia… theo Điều 258, 259, 260
TFEU.
Thẩm quyền của Tòa thể hiện trước hết ở chức năng giải thích luật của
EU và đảm bảo cho cho pháp luật của liên minh được các thiết chế thuộc EU, các quốc gia thành viên và các công dân của các nước thành viên tuân thủ
Thẩm quyền của Tòa án Liên minh châu Âu rất rộng, bao trùm lên tất
cả các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp Ví dụ: xem xét và đưa ra phán quyết về các hành vi thiết chế trong cộng đồng và các phán quyết của Tòa
Từ những phân tích trên, ta có thể khẳng định Tòa án Công lí Châu âu
có tính chất như một tòa quốc tế Có thể dẫn chiếu lại về vụ việc số một để thấy rõ hơn tính quốc tế của Tòa Công lý Châu Âu Chủ thể trong vụ việc số