1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Phương pháp giải một số bài tập về kim loại tác dụng với dung dịch axit

46 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 543 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐỀ TÀI : “PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ BÀI TẬP VỀ KIM LOẠI TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH AXIT”... Đối với môn hóa học vô cơ nói riêng và môn hóa học nói chúng ta thường gặpnhiều

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI :

“PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ BÀI TẬP VỀ KIM LOẠI TÁC

DỤNG VỚI DUNG DỊCH AXIT”

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài: 02

2 Mục tiêu nghiên cứu: 02

3 Nhiệm vụ nghiên cứu: 02

4 Đối tượng nghiên cứu: 02

5 Phương pháp nghiên cứu: 03

6 Giả thuyết khoa học: 03

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC I.Bài tập hóa học 04

1.Khái niệm về bài tập hóa học 04

2 Tầm quan trọng của BTHH: 05

3.Phân loại BTHH: 06

II Tính chung của kim loại và axit: 07

1.Tính chất hóa học của kim loại: 07

2.Axit: 10

3.Một số phương pháp giải toán hóa vô cơ thông dụng: 11

Trang 3

CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI CÁC DẠNG BÀI TẬP KIM LOẠITÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH AXIT

I Một kim loại tác dụng với một axit: 16

II Hai kim loại tác dụng với một axit: 23

III Hai kim loại tác dụng với hai axit: 28

IV Một kim loại tác dụng với 2 axit: 32

C KẾT LUẬN: 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 4

A MỞ ĐẦU:

1 Lí do chọn đề tài:

Việc nghiên cứu các bài tập hóa học từ trước đến nay có nhiều tác giả rất quan tâm

và cũng có nhiều công trình nghiên cứu ở mức độ khác nhau Để góp phần nâng cao chấtlượng học tập môn Hóa học, giúp các em học sinh ở trường phổ thông ôn tập để có hệthống kiến thức cơ bản đến chuyên sâu nhằm rèn luyện cho các em khả năng tư duy, phântích các vấn đề trong bài tập Trong dạy học hóa học , bài tập hóa học là phương tiện vàphương pháp rất có lợi để hình thành các kĩ năng phát triển năng lực tư duy cho học sinh

Đối với môn hóa học vô cơ nói riêng và môn hóa học nói chúng ta thường gặpnhiều dạng bài tập khác nhau, trong đó dạng bài tập kim loại tác dụng với dung dịch axit

là điển hình, cơ bản thường gặp nhất trong các kì thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh vào cáctrường ĐH-CĐ, THCN

Xuất phát từ những cơ sở trên nên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là: “Phương pháp giải một số bài tập về kim loại tác dụng với dung dịch axit”.

Hóa học là ngành đặc thù có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, việc học tậpcác cơ sở lí thuyết phải luôn đi đôi với việc vận dụng vào việc giải bài tập mới nắm vữngđược kiến thức một cách sâu sắc nhất

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Nắm vững kiến thức về kim loại tác dụng với dung dịch axit, nhận dạng và phânloại các bài tập trên trong chương trình và vận dụng vào việc giải các bài tập

Làm tài liệu cho giáo viên và học sinh tham khảo

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 5

Nghiên cứu cơ sở lí thuyết các bài tập kim loại tác dụng với dung dịch axit trongchương trình hóa học phổ thông.

Phân loại và hệ thống hóa các bài tập kim loại tác dụng với dung dịch axit

4 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh ở trường phổ thông

5 Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu lí luận

6 Giả thuyết khoa học:

Nếu xác định các dạng bài tập và hiểu rõ các phương pháp giải sẽ giúp cho học sinhtích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, sẽ đạt trình độ cao hơn

B NỘI DUNG:

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC

I.Bài tập hóa học.

1.Khái niệm về bài tập hóa học.

Trong thực tiễn dạy học cũng như trong tài liệu giảng dạy ở THCS hayTHPT, các thuật ngữ, “Bài tập hóa học” được sử dụng cùng các thuật ngữ “ bài toán”,

“bài toán hóa học”, ở từ điển tiếng việt “ bài tập” và “bài toán” được giải nghĩa khácnhau: bài tập là bài ra cho học sinh để vận dụng những kiến thức đã học nhằm giải quyếtnhững dạng BTHH bằng những phép toán nhất định và là một trong những phương pháphọc tập hăng sai của học sinh, BTHH còn là một thông tin truyền thụ kiến thức cho họcsinh, con đường lĩnh hội đào sâu kiến thức cho học sinh và làm cho học sinh “thích thú,

Trang 6

khoái trí” khi tìm ra đáp án cũng như lời giải của đề bài Bài tập hóa học có tác dụng làmcho học sinh năng cao kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo khi nhận dạng bài tập hóahọc, làm cho học sinh cảm thấy vui sướng, ham thích học hóa học, có tính sáng tạo độclập khi giải bài tập Đặc biệt BTHH là phương tiện tốt nhất để hệ thống hóa kiến thức vàkích thích khả năng tư duy của học sinh Vậy bài tập hóa học là gì?

Theo các nhà lý luận dạy học của liên xô cũ cho rằng: “BTHH là một dạng bài làmgồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và cả câu hỏi, mà trong khihoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kỹ năng nhất định hoàn thiệnchúng”

Bài tập hóa học gồm có các dạng cơ bản sau: bài tập định tính, bài tập định lượng,bài tập trắc nghiệm và bài tập tổng hợp Để giải được những dạng BTHH này, học sinhcần phải có trí sáng tạo, khả năng suy luận hệ thống hóa kiến thức về mối liên hệ tínhchất hóa học của các chất từ đó lập luận thật chặt chẽ theo yêu cầu của đề bài, có kỹ năngnhận dạng bài tập hóa học, có trí tưởng tượng hóa học, biết cách tái hiện và vận dụng vàocác kiến thức đã học như: các khái niệm, định luật học thuyết, hiện tượng hóa học phéptoán, từ đó có cách giải hợp lý nhất Để học sinh làm được vấn đề trên, giáo viên hóahọc ở trường phổ thông cần nắm vững kỹ năng vận dụng BTHH như: xác định đúng dạngBTHH, áp dụng cách giải phù hợp đối với học sinh mà không làm quá tải hay nặng nềkiến thức của học sinh

Trang 7

2 Tầm quan trọng của BTHH:

Trong quá trình dạy học ở trường THCS hay THPT không thể thiếu BTHH,BTHH là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học , nó giữvững một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo: Nó vừa là mục đích, vừa

là nội dung, lại là phương pháp dạy học hiệu nghiệm BTHH không những cung cấp chohọc sinh kiến thức mà còn là con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú say mê họctập BTHH có những ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện cácnhiệm vụ trí dục, đức dục và giáo dục kỹ thuật tổng hợp

- BTHH có tác dụng giúp cho học sinh tư duy logic, tư duy sáng tạo vànăng lực giải quyết vấn đề được nâng cao

- BTHH góp phần làm củng cố kiến thức đã học một cách thườngxuyên và hệ thống kiến thức một cách có hiệu quả

- BTHH thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo cầnthiết về hóa học

- BTHH tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng lực tư duy Khi giảiBTHH, học sinh phải sử dụng các thao tác tư duy như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, kháiquát hóa, hệ thống hóa, suy luận

Trang 8

b Tác dụng đức dục

- Qua việc giải BTHH giúp học sinh rèn luyện được các phẩm chấtnhân cách: tính kiên nhẫn, trung thực, tính khoa học và tính độc lập, sáng tạo khi sử lí cáctình huống bài tập

- Với việc tự giải các bài tập, còn rèn luyện cho học sinh tinh thần kỹluật, tính tự kiềm chế, tính kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn , có tính chính xác khoahọc, kích thích hứng thú bộ môn hóa học nói riêng và học tập nói chung

Trang 9

c Tác dụng giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

- Các BTHH có nội dung về nhũng vấn đề kỹ thuật hóa học, công nghệhóa học, sản xuất hóa học, thưc tiễn hóa học, sẽ lôi cuốn học sinh suy nghĩ về hóa học,làm học sinh ngày càng say mê và yêu thích hóa học

3.Phân loại BTHH:

Hiện nay, BTHH được phân chia theo nhiều cách khác nhau chủ yếu dựa vàocác cơ sở sau:

- Dựa vào chủ đề (chương, mục, bài, )

- Dựa vào khối lượng kiến thức (Bài tập đơn giản, bài tập phức tạp, )

- Dựa vào nội dung bài tập ( bài tập dạng chuỗi phản ứng, tinh chế, tách, )

- Dựa vào mục đích dạy học (bài tập nghiên cứa tài liệu mới, bài tập cũng cố hoànthiện kiến thức, )

- Dựa vào hình thức hoạt động của học sinh khi làm bài tập (bài tập lí thuyết, bài tậpthực nghiệm , )

- Dựa vào phương pháp giải hay hình thức giải

- Dựa vào đặc điểm bài tập

- Dựa vào phương pháp hình thành kĩ năng, kĩ xảo khi giải bài tập

- Dựa vào mối liên hệ giữa kiến thức đã học với thực tế,

Các cơ sở trên chưa có ranh giới rõ rệt, có những bài tập chứa nhiều nội dung, phức hợpnhiều yêu cầu, nên rất khó tách riêng ra

Trang 10

Hiện nay ở phổ thông bài tập hóa học phân ra các dạng như: tự luận, trắc nghiệm

- Bài tập thực nghiệm: là những bài tập cần vận dụng kiến thức lí thuyết đểgiải quyết các vấn đề về thực nghiệm Bài tập thực nghiệm là những bài tập vừa manhtính chất lí thuyết vừa manh tính chất thưc nghiệm

+ Tính chất lí thuyết: phải nắm vững lí thuyết và vận dụng lí thuyết đểvạch ra phương hướng cần giải quyết

+ Tính chất thực nghiệm: vận dụng kỹ năng, kỹ xảo thực hành để thựchiện các phương án đã vạch ra

Tùy theo tính chất của các dạng bài tập mà người ta còn chia nhỏ ra thành bài tậpđịnh tính (không có tính chất tính toán), bài tập định lượng (có tính toán) và bài tập hỗnhợp (có sự kết hợp giữa định tính và định lượng)

Để giải được dễ dàng các bài toán hóa học yêu cầu học sinh:

Nắm vững tính chất hóa học của đơn chất, hợp chất để dự đoán các phản ứng

có thể xảy ra

Nắm vững một số thủ thuật tính toán thích hợp để giải nhanh chóng và ngắngọn bài toán phức tạp

Trang 11

Nắm vững ba loại phản ứng quan trọng trong hóa vô cơ: phản ứng trung hòa,phản ứng trao đổi và phản ứng oxi hóa khử.

II Tính chung của kim loại và axit:

1 Tính chất hóa học của kim loại:

Tính chất hóa học cơ bản của kim loại là tính khử



ne M n M

a Tác dụng với phi kim:

* Tác dụng với oxi tạo thành oxit bazơ ( trừ Au, Ag, Pt)4M + nO2 

* Tác dụng với H2: Các kim loại kiềm và kiềm thổ tác dụng với H2

ở nhiệt độ cao tạo thành muối hiđrua

2Li + H2  cao

o p

t , 2LiH

Trang 12

Chú ý: trường hợp bài toán hòa tan kim loại kiềm A và một kim loại B hóa trị n

vào H2O thì phải xét đến 2 khả năng

 B là kim loại trực tiếp tan như A (ví dụ: Ca, Ba)

 B là kim loại mà hiđroxit của nó lưỡng tính, lúc đó B sẽ phản ứngvới kiềm do A tạo ra

Ví dụ: hòa tan hỗn hợp Na và Al vào nước có các phản ứng:

2Na + 2H2O  2NaOH + H22Al + 2H2O + 2NaOH  2NaAlO2 + 3H2

d Tác dụng với axit.

Trang 13

* Tác dụng với HCl và H2SO4 loãng tạo thành muối thông thường vàgiải phóng khí hiđrô Nếu axit tác dụng do ion H+ (chất oxi hóa) chỉ có các kim loại đứngtrước H2 trong dãy hoạt động hóa học là cho phản ứng tạo ra muối ứng với số oxi hóathấp của kim loại (nếu kim loại có nhiều hóa trị như Fe, Cr) và khí H2.

Chú ý: H2SO4 đặc oxi hóa kim loại đến số oxi hóa cao nhất

H2SO4 đặc nguội không tác dụng với Fe, Al, Cr Các kim loại có tính khử mạnhkhi tác dụng với H2SO4 đặc nóng, ngoài sản phẩm SO2 có thể tạo thành S, H2S

VD: 4Zn + 5H2SO4 (đặc) 

o

t 4ZnSO4 + H2S+4H2O+ Tác dụng với HNO3( trừ Au, Pt) tạo thành muối + các khí NO2, NO, N2O,

N, NH3

VD: Fe + 4HNO3 (loãng)  t o Fe(NO3)3 + NO+2H2O

Chú ý: HNO3 oxi hóa các kim loại về số oxi hóa cao nhất Al, Fe, Cr không tác dụng vớiHNO3 đặc nguội Khi HNO3 đặc tác dụng với kim loại khí tạo thành là NO2 Khi HNO3

Trang 14

loãng tác dụng với kim loại đứng trước hiđrô thì nitơ từ số oxi hóa +5 có thể bị khử về sốoxi hóa +2(NO) số oxi hóa +1 (N2O), số oxi hóa 0 (N2), số oxi hóa -3 (NH4NO3).

e Tác dụng với dung dịch muối:

Các kim loại đứng trước đẩy được kim loại đứng sau (dãy hoạt độnghóa học) ra khỏi dung dịch muối của nó

VD 2: cho Na vào dung dịch Al2(SO4)3

2Na + 2H2O   NaOH + H26NaOH + Al2(SO4)3 3Na2SO4 + 2Al(OH)3NaOH(dư) + Al(OH)3  NaAlO2 +2H2O

2 Axit:

Từ axít có nguồn gốc từ tiếng Latinh acidus có nghĩa là "chua"

Nhà hóa học người Thụy Điển Svante Arrhenius định nghĩa axít, theo thuyết điện

li, là chất cho các ion (H+) khi hòa tan trong nước (sản phẩm của dung dịch, H2O + H+,gọi là ion hiđrôni, H30+) và anion gốc axit

Theo Bronsted và Lowry , axit là chất có khả năng cho proton.

Trang 15

Thuyết Lewis định nghĩa "Axít Lewis" như là chất nhận cặp điện tử.

a Axit oxi hóa cực mạnh:

H2SO4 đặc nóng, HNO3 là những axit chứa nguyên tố oxi hóa cực mạnh

là S+6, N+5 Do độ âm điện của nguyên tố này mạnh hơn rất nhiều lần so với H+ nên bánkín nhận electron của nó mạnh hơn Do đó:

Tất cả các kim loại trong dãy điện hóa (trừ Au,Pt) đều phản ứng vớidung dịch oxi hóa cực mạnh này Khi đó kim loại bị bức toàn bộ số electron ở lớp vỏngoài cùng và bị đẩy lên đến mức oxi hóa dương cao nhất

Tất cả oxit, hiđrôxit, muối axit yếu của các ion kim loại đều phản ứngvới dung dịch axit oxi hóa cực mạnh này Khi đó nếu kim loại hoặc phi kim có độ âmđiện yếu hơn chúng mà còn cho được electron thì quá trình oxi hóa khử vẫn tiếp tục xảy

ra Còn nếu không cho được electron thì phản ứng chỉ xảy ra ở cấp độ trung hòa

b Axit oxi hóa mạnh:

Gồm H2SO4 loãng, HX (với X: gốc axit) khi điện li trong nước tạothành ion H+ và cation gốc axit Do đó chỉ có ion H+ trong các phân tử axit này đóng vaitrò oxi hóa (nhận electron)

Do đó:

Khi cho kim loại phản ứng với dung dịch axit này thì khả năng phản ứngcũng như sản phẩm tạo thành phải tuân theo dãy hoạt động hóa học là chất khử mạnh tácdụng với chất oxi hóa mạnh trước

Tất cả các oxit, hiđrôxit, muối axit yếu không tan của kim loại (trừ CuS,PbS) đều phản ứng với dung dịch axit này nhưng phản ứng chỉ xảy ra ở cấp độ trung hòa

Trang 16

3 Một số phương pháp giải toán hóa vô cơ thông dụng:

a Phương pháp dựa theo số mol để giải toán hóa học:

* Nguyên tắc áp dụng: trong mọi quá trình biến đổi hóa học số mol

mỗi nguyên tố trong các chất luôn được bảo toàn

Cho 10,4gam hỗn hợp bột Fe và Mg (có tỉ lệ số mol 1:2) hòa tan vừa hết trong 600ml dung dịch HNO 3 x(M), thu được 3,36 lít hỗn hợp 2 khí N 2 O và NO Biết hỗn hợp khí có tỉ khối d = 1,195 Xác định trị số x.

Trang 17

) ( 15 , 0 4 , 22

b a

b a

mol b

) ( 05 , 0

mol b

mol a

Số mol HNO3 đã phản ứng bằng:

) (

9

,

0

1 , 0 05 , 0 2 2 , 0 2 1

mol

n n n

n n

9 , 0 )

* Nguyên tắc áp dụng: Dựa vào ĐLBT khối lượng: “Tổng khối lượng các

chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng các chất tạo thành sau phản ứng”.

*Ứng dụng:

Dùng ĐLBT khối lượng để tính khối lượng của một hợp chất hoặc làmột hỗn hợp mà trong quá trình giải toán ta thấy:

- Nguyên tố được cho ở dạng ẩn số m

- Phản ứng không có thứ tự ưu tiên mà tạo nhiều sản phẩm phức tạp

Ví dụ:

Hòa tan vừa đủ 6 gam hỗn hợp A gồm hai kim loại X, Y có hóa trị tương ứng là I,

II vào dung dịch hỗn hợp hai axit HNO 3 và H 2 SO 4 , thì thu được 2,688 lít hỗn hợp khí NO 2

và SO 2 ở (đktc) nặng 5,88 gam cô cạn dung dịch sau cùng thì thu được m(g) muối khan Tính m?

Hướng dẫn giải:

Trang 18

) ( 1 , 0

2 2

mol n

mol n

n

mol n

n

NO O

H

NO HNO

1 , 0

2 , 0 1 , 0 2 2

2 2

2 3

n

mol n

n

SO O

H

SO SO

H

04 , 0 02 , 0 2

2

04 , 0 02 , 0 2

2

2 2

2 4

2

Áp dụng ĐLBT khối lượng ta có:

mkim loại + m2 axit = mmuối khan + mkhí + mnước

 mmuối khan= 6 + (63.0,2 + 98.0,04) – 5,88 – 18.0,14 = 14,12 gam

c Phương pháp bảo toàn nguyên tố:

* Nguyên tắc áp dụng:

Dựa vào định luật bảo toàn nguyên tố: Tổng số mol nguyên tử của một nguyên tố A trước phản ứng hóa học luôn bằng tổng số mol của nguyên tố A đó sau phản ứng.

Ví dụ:

Trong phản ứng nhiệt nhôm xảy ra giữa a (mol) Al và b (mol) Fe 2 O 3 theo sơ đồ:

Trang 19

d Phương pháp bảo toàn electron:

* Nguyên tắc áp dụng: khi có nhiều chất oxi hóa và chất khử trong một hỗn

hợp phản ứng (nhiều phản ứng hoặc phản ứng qua nhiều giai đoạn) thì tổng số mol electron mà các chất khử cho phải bằng tổng số mol elelectron mà các chất oxi hóa nhận.

Dùng ĐLBT electron để giải bài toán về oxi hóa khử, đặc biệt là những dạngtoán phức tạp có nhiều nguyên tố oxi hóa và khử

Đối với các bài toán cần phải biện luận nhiều trường hợp có thể xảy ra, ápdụng phương pháp này rất có hiệu quả

Ví dụ:

Trang 20

Hòa tan hoàn toàn 9,6 gam Mg trong một lượng dung dịch axit HNO 3 thì thu được 2,464 lít khí A (ở 27,3 o C, 1 atm) Xác định công thức và gọi tên khí A.

Hướng dẫn giải:

Số mol của Mg: 0 , 4 ( )

24

6 , 9

mol

n Mg  

) 3 , 27 273 (

4 , 22

273 464 , 2 1

.

mol T

R

V P

Quá trình oxi hóa Mg và quá trình khử HNO3 trong phản ứng oxi hóa - khử: hòa tan

Mg bằng dung dịch HNO3, có thể biểu diễn bằng sơ đồ cho nhận electron sau:

Mg - 2e   Mg2+

0,4(mol) 0,8(mol)

N+5 + ne   A (khí có chứa nguyên tố N)

0,8(mol) 0,1(mol)Theo phương trình bảo toàn electron dễ dàng suy ra: n=8

Do đó: trong hợp chất A, nitơ phải có số oxi hóa là: -3(NH4NO3) hay +1(N2O) Rõ ràngkhí A chỉ có thể là N2O (còn NH4NO3 là muối tan

Vậy khí A là N2O (Đinitơ oxit)

Trang 21

Chương 2 PHÂN LOẠI CÁC DẠNG BÀI TẬP KIM LOẠI TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH AXIT

I Một kim loại tác dụng với một axit:

- Chú ý tới axit oxi hóa do ion H+ hay do anion

- Nếu kim loại với axit (đặc biệt HNO3) cho 2 phản ứng khác nhau (ví dụ vớiHNO3 cho ra NO và NO2 hoặc NO và N2O, ) nếu thấy viết 1 phương trình thấy khókhăn khi cân bằng thì ta viết 2 phương trình phản ứng và xem như 2 phản ứng này độclập thì sẽ dễ dàng hơn Chọn 2 ẩn (thường là số mol của 2 khí sản phẩm), lập 2 phươngtrình để xác định 2 ẩn, từ đó có thể suy ra số mol của kim loại phản ứng và số mol axit

- Kim loại tác dụng với axit là phản ứng oxi hóa - khử cũng có thể áp dụng ĐLBTelectron để giải bài tập

Ví dụ 1:

Lấy 9,6 gam kim loại M có hóa trị II hòa tan hoàn toàn trong dung dịch HCl,

cô cạn dung dịch sau phản ứng thì thu được 38 gam muối khan Hãy xác định kim loại M.

38 6

, 9

n M MCl

Trang 22

Vậy kim loại M là Mg

Cách 2 :Áp dụng định luật hợp phần khối lượng:

Khối lượng của nguyên tử Cl : mCl = 38-9,6=28,4(g)

Số mol của nguyên tử Cl : 0 , 8 ( )

5 , 35

4 ,

n Cl  

 Số mol của nguyên tử kim loại M là :

) ( 4 , 0 2

8 , 0

6 , 9

Trang 23

Hòa tan hoàn toàn 24,3 gam Al vào dung dịch HNO 3 loãng dư thu được hỗn hợp khí NO và N 2 O có tỉ khối hơi so với hiđrô là 20,25 và dung dịch B không chứa

NH 4 NO 3 Tính thể tích mỗi khí thoát ra.

Hướng dẫn giải

Cách 1: Phương pháp thông thường:

Gọi a, b lần lượt là số mol của NO và N2O ta có:

3

1 5 , 10

5 , 3

5 , 3 5 , 10

2 25 , 20 )

(

44 30

b a

b a

b a M

Hay a : b = 1: 3

Số mol của Al là: 0 , 9 ( )

27

3 , 24

mol

n Al  Phương trình phản ứng:

9Al + 34HNO3   9Al(NO3)3 + NO + 3N2O + 17H2O

Vậy thể tích mỗi khí thoát ra là:

) ( 72 , 6 4 , 22 3 , 0

) ( 24 , 2 4 , 22 1 , 0

V

l V

O N

Cách 2: Phương pháp bảo toàn electron:

Áp dụng sơ đồ đường chéo cho hỗn hợp hai khí NO và N2O ta có:

NO 30 3,5

Ngày đăng: 11/04/2015, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w