Một số vấn đề, quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng, Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc, hiện nay
Trang 1Một số vấn đề về quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng ở Cục thuế tỉnh Vĩnh
Phúc hiện nay
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ
QUY TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thuế giá trị gia tăng
1.1.2 Các phương pháp tính và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
1.1.3 Tính tất yếu của của việc áp dụng thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam
1.2 QUY TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM
1.2.1 Bản chất, vai trò và ý nghĩa của việc hoàn thuế giá trị gia tăng
1.2.2 Đối tượng và các trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng
1.2.3 Quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng
1.3 CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY TRÌNH
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
HIỆN NAY TẠI CỤC THUẾ VĨNH PHÚC
2.1 KẾT QUẢ THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI
CỤC THUẾ VĨNH PHÚC TRONG MỘT SỐ NĂM GẦN ĐÂY
2.1.1 Giới thiệu khái quát về Cục thuế Vĩnh phúc
2.1.2 Kết quả thực hiện luật thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế Vĩnh Phúc
trong một số năm gần đây
2.1.3 Những điều kiện cơ bản để thực hiện luật thuế giá trị gia tăng
2.2 THỰC TRẠNG CỦA QUY TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG TẠI CỤC THUẾ VĨNH PHÚC
2.2.1 Những vướng mắc, tồn tại
2.2.2 Những nguyên nhân
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY
TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Trang 23.1 NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THUẾ GIÁ
TRỊ GIA TĂNG
3.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY TRÌNH HOÀN
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
3.2.1 Giải pháp từ phía nhà nước
3.2.2 Giải pháp từ phía cơ quan thuế
3.2.3 Giải pháp từ phía đơn vị sản xuất-kinh doanh
KẾT LUẬN
LỜI MỞ ĐẦU
uật thuế giá trị gia tăng được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực thực hiện từ
1/1/1999 Ngoài mục đích đưa chính sách thuế của nước ta từng bước hoà
nhập với chính sách thuế của khu vực và trên thế giới, việc áp dụng thuế giá trị
gia tăng còn vươn tới cải cách hệ thống thuế khoá thích hợp cho việc chuyển
nền kinh tế từ kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN Thuế giá trị gia tăng là một sắc thuế đã được hơn 100 nước trên thế giới
sử dụng và thu được những thành công to lớn nhưng điều đó không có nghĩa
chúng ta áp dụng sắc thuế này là sẽ thu được thành công một cách dễ dàng Trên
thực tế, qua hơn 5 năm thực hiện ở nước ta, thuế GTGT đã chứng tỏ tính ưu việt
L
Trang 3của mình so với các sắc thuế khác Tuy nhiên những Nghị Định, Thông Tư
hướng dẫn thực hiện về những nội dung liên quan đến sắc thuế này là rất lớn và
không ngừng được sửa đổi, bổ sung, ban hành đã cho thấy tính phức tạp trong
khi thực hiện Luật thuế này Một trong những nội dung gây nhiều khó khăn,
phức tạp trong khi thực hiện Luật thuế được xã hội rất quan tâm chú ý là công
tác hoàn thuế giá trị gia tăng Thực hiện công tác hoàn thuế, các Cục thuế luôn
phải chịu áp lực đó là thời gian hoàn trả cho doanh nghiệp phải rút ngắn tới mức
thấp nhất và độ chính xác của những số tiền quyết định hoàn trả đó phải ở mức
cao nhất, điều này có liên quan đến lợi ích của cả hai bên: lợi ích quốc gia và lợi
ích của doanh nghiệp Đây là sắc thuế mới lần đầu áp dụng ở Việt Nam, công
tác hoàn thuế lại là công tác phức tạp, có liên quan đến nhiều khâu, nhiều quá
trình Thêm vào đó, điều kiện quản lý còn nhiều hạn chế nên những khó khăn,
vướng mắc trong khi thực hiện là điều không thể tránh khỏi
Xuất phát từ những khó khăn, vướng mắc trong công tác hoàn thuế và sự quan
tâm vào lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, đề tài: “Một số vấn đề về quy trình
hoàn thuế giá trị gia tăng ở Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
” đã được chọn làm chuyên đề tốt nghiệp
Nội dung chuyên đề được trình bày theo bố cục gồm có 3 chương sau:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ
QUY TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
HIỆN NAY TẠI CỤC THUẾ VĨNH PHÚC
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY
TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ
QUY TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu được nghiên cứu, áp dụng từ
sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) với mục đích động viên sự
đóng góp rộng rãi của đông đảo quần chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh Thuế doanh thu ra
đời ở Pháp từ 1917 Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thuế doanh thu cũng
xuất hiện nhược điểm đó là hiện tượng thuế đánh trùng lên thuế Vì vậy, yêu cầu
xuất hiện một loại thuế khác tiến bộ hơn để thay thế thuế doanh thu Trong quá
trình nghiên cứu tìm tòi đó, vào đầu những năm 50, một người Đức tên là: Carl
FRiedrich von Simens đã nghĩ ra một chính sách thuế mới có thể thay thế cho
thuế doanh thu Đó là thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hoá, dịch vụ khi qua mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Tên tiếng Anh: Value Added Tax Tên viết tắt là VAT
Tên tiếng Pháp: Taxe sur la Valeur Ajoutee Tên viết tắt là TVA
Pháp là nước đầu tiên áp dụng thuế GTGT (1/7/1954) vào hệ thống thuế
khoá của mình bởi Chính phủ Pháp rất quan tâm tới lĩnh vực tài chính mà trọng
tâm là đổi mới thuế gián thu trong khi đó nền kinh tế của Pháp là nước có nền
công nghiệp phát triển cao Việc áp dụng thuế GTGT ở Pháp đã thu được nhiều
thành quả to lớn và cho đến nay Pháp vẫn là nước đạt đỉnh cao nhất về sự hoàn
thiện loại thuế này Tuy nhiên, khi mới ra đời, thuế GTGT chỉ được áp dụng ở
một số ngành nghề cá biệt Đến năm 1968 mới áp dụng cho mọi ngành nghề,
trong mọi lĩnh vực
Năm 1953, ở Nhật Bản cũng nghiên cứu thuế GTGT và dự thảo ra một bộ
luật về thuế này nhưng không được quốc hội thông qua
Trang 6Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, thuế GTGT đã
ngày càng chứng tỏ được tác dụng của mình và ngày càng có nhiều nước áp
dụng sắc thuế này trong hệ thống thuế khoá của mình Từ năm 1954 đến năm
1988 chỉ có 47 nước áp dụng thì đến năm 1991 đã có hơn 100 nước áp dụng loại
thuế này Nhiều nước nhờ áp dụng sắc thuế này đã thu được những tiến bộ to
lớn về khoa học kỹ thuật, cải thiện nền kinh tế đất nước như Anh với thuế suất
15%, Đan Mạch với thuế suất 25%, Thuỵ Điển với 3 mức thuế suất: 6%, 15%,
22%…
Luật thuế GTGT đã được Quốc hội Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi
hành từ 1/1/1999 do yêu cầu thích ứng với việc chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa và
tham gia vào tiến trình hội nhập với nền kinh tế của khu vực và thế giới
1.1.2 Phương pháp tính và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
* Các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng lên của hàng hoá, dịch vụ ở
mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông cho đến khâu tiêu dùng Vì vậy nó không
gây ra sự trùng lặp trong tính thuế Một sản phẩm tuy qua nhiều khâu sản xuất
nhưng bộ phận giá trị tăng thêm của khâu nào thì nộp thuế ở khâu đó, sang khâu
sau thuế không tính trên phần giá trị đó nữa Để thực hiện việc đánh thuế chỉ
dựa trên phần giá trị tăng thêm Theo lý thuyết, trên thế giới có bốn phương
pháp tính thuế GTGT như sau:
- Phương pháp 1: Phương pháp cộng trực tiếp:
Thuế suất
Cách tính thuế này rất phù hợp với cách lý giải về giá trị hàng hoá của Mác
Theo Mác, giá trị hàng hoá chính là c + v + m, khi so sánh m với c + v thì m
Trang 7mang hình thái biến tướng thành lợi nhuận và lợi nhuận m cộng với tiền công v
chính là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ qua công đoạn đó
- Phương pháp 2: Phương pháp cộng gián tiếp
Thuế GTGT
phải nộp =
Lợi nhuận X
Thuế suất +
Tiền công x
Thuế suất
Người ta sử dụng phương pháp này khi quy định thuế suất của tiền công
và lợi nhuận khác nhau Nếu thuế suất của tiền công và lợi nhuận bằng nhau thì
đó chính là phương pháp cộng trực tiếp
Phương pháp 1 và phương pháp 2, mặc dù thuế đã tính được trên phần giá
trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nhưng đối với người nộp thuế, người ta có
thể coi thuế này đánh vào lợi nhuận của họ và tiền công mà họ trả cho người lao
động Thuế đánh vào tiền công chính là đánh vào việc sử dụng lao động, thuế
đánh vào lợi nhuận sẽ thì tạo ra cảm giác phải nộp 2 lần thuế thu nhập doanh
nghiệp Điều này gây nên tâm lý khó chịu cho người nộp thuế và gây khó khăn
cho việc thu nộp thuế Đối với Nhà nước thì chỉ khi hoàn thành một giai đoạn
nào đó, thường là một năm, mới tính chính xác được lợi nhuận và khi đó mới
quyết toán được thuế GTGT phải nộp dẫn tới việc thu thuế của Nhà nước không
Thuế suất
Phương pháp này tính thuế GTGT một cách đơn giản hơn 2 phương pháp
trên, cơ quan thuế chỉ cần quản lý doanh số mua vào và bán ra là đủ (doanh số
mua vào và bán ra tính theo giá chưa có thuế GTGT để tránh tình trạng thuế
trùng lên thuế)
Trang 8- Phương pháp 4: Phương pháp trừ gián tiếp
Thuế GTGT
phải nộp =
Doanh số bán ra x
Thuế suất đầu ra -
Doanh số mua vào x
Thuế suất đầu vào
Phương pháp này thuận lợi cho việc tính thuế khi thuế suất thuế GTGT
đầu ra và đầu vào khác nhau Đây là phương pháp tính thuế được áp dụng ở hầu
hết các nước trên thế giới bởi rất ít nước áp dụng một mức thuế suất
Trong 4 phương pháp tính thuế GTGT nói trên thì 3 phương pháp đầu
tiên trong thực tế rất ít áp dụng, đa số nước trên thế giới sử dụng phương pháp
trừ gián tiếp – phương pháp hoá đơn - do những ưu điểm của nó so với các
phương pháp khác như: che giấu được tiền thuế, tiền thuế do cơ sở sản xuất,
kinh doanh phải nộp, thuế được ẩn trong giá bán và người mua phải chịu vì thế
không gây nên những phản ứng của cả người nộp thuế và người chịu thuế Mặt
khác thuế GTGT được tính trên doanh thu đầu ra và được trừ phần thuế đã trả ở
đầu vào nên chỉ cần tính thuế GTGT đầu ra dựa trên doanh số bán ra căn cứ vào
hoá đơn bán hàng và thuế GTGT đầu vào ghi trên hoá đơn mua hàng
Công thức tính thuế GTGT theo phương pháp gián tiếp có thể viết lại như
sau:
Thuế GTGT
phải nộp =
Thuế GTGT đầu ra -
Thuế GTGT đầu vào
Thuế GTGT
Giá bán hàng hoá, dịch vụ x
Thuế suất thuế GTGT Thuế GTGT đầu vào căn cứ từ hoá đơn chứng từ ghi số thuế đã nộp từ các
khâu trước đó
* Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
Trang 9- Thứ nhất, thuế GTGT là một trong 4 loại thuế gián thu cùng với Thuế tiêu
thụ đặc biệt, Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu Người nộp thuế không đồng thời
là người chịu thuế: người nộp thuế là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng
- Thứ hai, thuế GTGT có phạm vi thu thuế rất rộng, đối tượng nộp thuế là
toàn bộ các cơ sở sản xuất, kinh doanh kể cả gia công, chế biến và hoạt động
dịch vụ có thu tiền, thuế GTGT được thu đối với các sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ
trong nước, kể cả hàng hoá nhập khẩu Tuy nhiên tuỳ vào Luật thuế GTGT mỗi
nước, một số hàng hoá dịch vụ được miễn thuế GTGT Ví dụ như ở nước ta,
những hàng hoá mua phục vụ cho mục đích quốc phòng, sản phẩm nông nghiệp
chưa qua chế biến, dịch vụ y tế, giáo dục… không phải chịu thuế GTGT
- Thứ ba, dù sản phẩm có trải qua bao nhiêu giai đoạn thì tổng số thuế phải
nộp cũng không thay đổi Đó là số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả:
- Thứ tư, thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao thể hiện ở chỗ nó
không phải là thu nhập hay chi phí của doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ là người
thu hộ thuế cho Nhà nước thông qua cơ chế giá, thuế ẩn trong giá hàng hoá và
người tiêu dùng phải trả khoản thuế này Ở nước ta hiện nay, trong quan niệm
của nhiều doanh nghiệp vẫn cho đó là một khoản thu nhập, chi phí của của hoạt
động sản xuất kinh doanh, hiểu như vậy là không đúng Thực chất nó chỉ là
khoản thu, khoản chi hộ
- Thứ năm, thuế GTGT không đánh vào đầu tư vì thuế nằm ngoài giá trị tài
sản cố định và giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Người mua phải trả thêm
tiền thuế GTGT và tiền thuế này sẽ được tách riêng để khấu trừ khi tính thuế
GTGT phải nộp ở giai đoạn sau
Tổng số thuế GTGT
Phải nộp cho 1 SP =
Thuế suất
x Giá mua của người tiêu
dùng cuối cùng
Trang 10- Thứ sáu, thuế GTGT được tính dựa trên giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ chứ không căn cứ vào hình thái hiện vật cũng như công dụng của chúng
1.1.3 Tính tất yếu của của việc áp dụng thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam
Một là: Thuế giá trị gia tăng khắc phục sự trùng lặp của thuế Doanh thu
Thuế GTGT đánh vào giá trị tăng thêm của sản phẩm ở từng khâu sản
xuất, lưu thông Thuế Doanh thu lại đánh trên toàn bộ doanh thu của sản phẩm
qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất đến lưu thông Có sự khác biệt này
bởi thuế GTGT có khấu trừ thuế ở giai đoạn trước còn thuế doanh thu thì không
Do có sự khác nhau đó nên tổng số thu của từng sản phẩm dù có trải qua bao
nhiêu công đoạn, tập trung sản xuất hay phân tán thì tổng số thuế thu được vẫn
không đổi Ngược lại, số thuế Doanh thu đối với từng sản phẩm phụ thuộc vào
sự tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế Sản phẩm hàng hoá càng trải qua
nhiều công đoạn sản xuất, kinh doanh lưu thông thì tổng số thuế thu được đối
với từng sản phẩm từ khâu đầu tiên tới khâu cuối cùng càng cao Do đó thuế
Doanh thu mà mỗi nhà sản xuất kinh doanh phải nộp không phản ánh được phần
giá trị mới sáng tạo mà họ đóng góp cho xã hội, không khuyến khích chuyên
môn hoá sản xuất, hạn chế sự phát triển phong phú các ngành, nghề, các loại
hình kinh doanh trong nền kinh tế Để thấy rõ điều này ta hãy xem xét ví dụ sau
với thuế suất thuế GTGT 10%
Đơn vị tính: 1000đồng
Ngành kinh
doanh
Giá đầu vào GTGT
Giá đầu ra (giá bán)
Thuế tính ở đầu ra
Thuế
đã nộp
ở đầu vào
Thuế còn phải nộp
Trang 11Tính thuế GTGT:
Tổng số thuế của 3 doanh nghiệp là 100 + 50 + 50 = 200, đúng bằng số
thuế người tiêu dùng phải trả: 2000 x 10% = 200
Tính thuế doanh thu:
Cũng với những dữ liệu như trên ta tính thuế doanh thu với mức thuế suất
5%:
+ Thuế doanh thu của người bán gỗ: 1000 x 5% = 50
+ Thuế doanh thu của người sản xuất đồ gỗ: (1000 + 500) x 5% = 75
+ Thuế doanh thu của người bán lẻ đồ gỗ: (1500 + 500) x 5% = 100
Sự trùng lặp của thuế doanh thu thể hiện ở chỗ người bán gỗ đã chịu thuế
doanh thu 50 trên số gỗ bán cho người sản xuất trị giá 1000 Số gỗ này được
người sản xuất gỗ mua và sản xuất tăng thêm giá trị là 500, họ bán số hàng này
và chịu thuế doanh thu là 1500 x 5% = 75 Như vậy 1000 chi phí đã tính thuế
doanh thu cho người bán gỗ bây giờ cộng với phần giá trị tăng thêm để tính thuế
doanh thu cho người sản xuất, tình trạng đánh thuế trùng đã xuất hiện Cứ như
vậy những công đoạn sau thì thuế đánh trùng lặp lại càng tăng Theo ví dụ thì
thuế suất thuế doanh thu chỉ là 5% nhưng người tiêu dùng phải trả số tiền là:
50 + 75 + 100 = 225, nhiều hơn so với thuế GTGT với thuế suất 10%
Hai là: tăng cường công tác hạch toán kế toán tại các doanh nghiệp,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Khi doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của thuế GTGT Thuế GTGT thì công
tác hạch toán kế toán sẽ được đẩy mạnh Có điều này bởi vì các doanh nghiệp
muốn được hoàn thuế sẽ phải chứng minh đầy đủ, rõ ràng các số liệu về hàng
hoá, giá cả, ngày giờ của các loại hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra để làm căn
cứ hoàn thuế Họ phải nghiêm chỉnh thực hiện một cách trung thực bởi cơ quan
thuế có thể kiểm tra trước hoặc sau hoàn thuế theo quy định của pháp luật về
thuế Mặt khác, khi công tác hạch toán kế toán được tiến hành đầy đủ sẽ giúp
Trang 12cho doanh nghiệp nắm được thực tế tình hình sản xuất kinh doanh từ đó vạch ra
những chiến lược kinh doanh hợp lý nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Ba là: khuyến khích đầu tư, xuất khẩu hàng hoá dịch vụ, bảo hộ sản
xuất trong nước
Thông qua cơ chế hoàn thuế cho các mặt hàng xuất khẩu và hàng hoá phục
vụ cho đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy đầu tư, thúc đẩy xuất
khẩu Theo đó, những mặt hàng xuất khẩu chịu mức thuế xuất 0%, có nghĩa là
những doanh nghiệp sản xuất loại hàng hoá xuất khẩu sẽ được khấu trừ toàn bộ
số thuế GTGT đầu vào hợp lý, hợp lệ để sản xuất nên hàng hoá này Đối với các
tài sản cố định được mua sắm để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh cũng được
khấu trừ hoàn thuế Đây có thể được xem như một phương thức hỗ trợ của Nhà
nước thông qua chính sách thuế, qua đó làm giảm giá thành của hàng hoá, dịch
vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo hộ hàng sản xuất trong nước
Bốn là: Thuế giá trị gia tăng được thực hiện như một công cụ định
hướng tiêu dùng, thay đổi cơ cấu đầu tư
Như chúng ta biết, người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng
Khi Nhà nước muốn hạn chế hay khuyến khích tiêu dùng một mặt hàng nào đó
thì thông qua thuế suất thuế GTGT họ có thể thực hiện được điều này Thuế
GTGT có tính trung lập cao tức là không tác động trực tiếp đến các nhà sản
xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ nhưng nếu người tiêu dùng thay đổi loại hàng
hoá, dịch vụ mà họ dùng thì cũng tác động đến nhà sản xuất kinh doanh làm họ
thay đổi các danh mục đầu tư, thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế Trên lý thuyết
là như vậy nhưng việc thực hiện điều này không dễ dàng bởi việc quyết định
đưa ra một mức thuế suất của từng loại mặt hàng có ảnh hưởng lớn đến nhiều
yếu tố Một mức thuế suất được đưa ra yêu cầu đặt ra là phải phù hợp cán cân
ngân sách theo quy định của Pháp lệnh ngân sách nhưng cũng đồng thời phải
khuyến khích phát triển sản xuất một cách có định hướng Thuế suất phải được
điều chỉnh phù hợp theo từng thời kỳ và có sự thông qua của Quốc Hội chứ
không thể tuỳ tiện nâng hay hạ mức thuế suất Tuy nhiên, để có những giải pháp
Trang 13tình thế thì các nhà hoạch định chính sách có thể điều chỉnh ở mức dưới luật
nhưng theo hướng có lợi cho người sản xuất (chỉ hạ mức thuế xuống thấp chứ
không nâng lên) Sự thay đổi thuế suất cũng không tác động lớn đối với những
mặt hàng thiết yếu Đối với loại mặt hàng này việc thay đổi thuế suất hầu như
không có tác dụng trong định hướng tiêu dùng và thay đổi cơ cấu đầu tư
Năm là: áp dụng thuế giá trị gia tăng góp phần hoà nhập với chính sách
thuế của khu vực và thế giới
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta không chỉ tham
gia vào khu vực ASEAN mà còn phải tham gia vào các tổ chức kinh tế thương
mại khác như WTO, APEC và các tổ chức mang tính đa phương khác trong
tương lai, trong đó lấy mục tiêu tham gia vào WTO làm định hướng xây dựng
các cam kết về thuế quan để thực hiện tự do hoá thương mại hoàn toàn vào năm
2020 Những bước đi để phù hợp với sự hội nhập đó chúng ta đã tham gia các
chương trình như Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT)
nhằm tiến tới khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), thực hiện những cam
kết trong khuôn khổ ASEAN + Trung Quốc – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
– Trung Quốc, ký Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ
Tuy nhiên, việc làm quan trọng nhất trong tiến trình hội nhập này là cải
cách hệ thống thuế của mình cho phù hợp với xu thế chung của các nước trong
khu vực và trên thế giới, trong đó điều quan trọng vào bậc nhất là đưa thuế
GTGT (áp dụng đối với cả hàng nhập khẩu) vào hệ thống thuế khoá của mình
bởi sắc thuế này hiện là sắc thuế được sử dụng rộng rãi trên thế giới và đã trở
thành một sắc thuế mang tính quốc tế Ngoài ra còn mở rộng diện chịu thuế tiêu
thụ đặc biệt đối với một số mặt hàng nhập khẩu đã làm cho chính sách thuế đánh
vào hàng nhập khẩu của Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện
cho Việt Nam thực hiện những cam kết song phương và đa phương Những cải
cách của hệ thống thuế sẽ làm nền tảng vững chắc cho chúng ta khi tham gia hội
nhập bởi khi tham gia hội nhập chúng ta không thể duy trì những sắc thuế mà
chỉ riêng Việt Nam áp dụng và những chính sách thuế quan của riêng mình như:
Trang 14hạn ngạch, quota, giấy phép nhập khẩu…của riêng mình trong tiến trình hội
nhập mà phải thực hiện theo xu thế chung
1.2 QUY TRÌNH HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM
1.2.1 Bản chất, ý nghĩa của việc hoàn thuế giá trị gia tăng
* Bản chất của việc hoàn thuế giá trị gia tăng
Như chúng ta đã biết, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu tính trên
phần giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cuối cùng Chính vì vậy mà
người tiêu dùng cuối cùng chính là người phải chịu thuế giá trị gia tăng, còn các
doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất-kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị
gia tăng trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất, lưu thông hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng không phải là người chịu khoản thuế giá
trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó, các sơ sở sản xuất-kinh doanh trên chỉ
đóng vai trò là người thu thuế hộ nhà nước và nộp vào ngân sách nhà nước theo
quy định của Luật thuế giá trị gia tăng Trong mọi trường hợp, cơ sở sản
xuất-kinh doanh đều phải thực hiện việc trả phần thuế giá trị gia tăng đầu vào cho các
nguyên liệu đầu vào ở khâu sản xuất hoặc cho hàng hoá ở khâu nhập (đối với
doanh nghiệp thương mại), khi tiến hành hoạt động bán hàng, cơ sở bán được
hàng hoá và phải thu phần thuế giá trị gia tăng đầu ra của hàng hoá bán ra và
tính ra số thuế giá trị gia tăng phải nộp vào ngân sách nhà nước bằng (=) tổng số
thuế giá trị gia tăng đầu ra của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng trừ (-)
tổng số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã trả ở khâu trước
Thuế GTGT
Thuế GTGT đầu ra -
Thuế GTGT đầu vào Trong trường hợp cơ sở sản xuất-kinh doanh trong kỳ chỉ có các hoạt động
phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu vào mà không có hoạt động phát sinh số
thuế giá trị gia tăng đầu ra hoặc có phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu ra
nhưng nhỏ hơn số thuế giá trị gia tăng đầu vào có đủ các điều kiện thuộc một
Trang 15trong các trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định thì được xét
hoàn lại số thuế giá trị gia tăng chưa được khấu trừ hết
Thuế đầu ra phát sinh trong tháng
Thuế phải nộp
Luỹ kế số thuế đầu vào chưa khấu trừ
Nguồn: số liệu giả định
Để dễ hiểu: Giả sử doanh nghiệp X trong suốt 3 tháng liên tiếp chi có hoạt
động nhập hàng hoá mà chưa không có bất kỳ một hoạt động bán hàng nào, theo
bảng trên thì số thuế luỹ kế đầu vào của doanh nghiệp X trong 3 tháng liên tiếp
đều âm (-), do đó doanh nghiệp X là doanh nghiệp thuộc đối tượng được xét
hoàn thuế giá trị gia tăng ở đây, doanh nghiệp X phải bỏ tiền ra để nộp khoản
thuế giá trị gia tăng của hàng hoá mua vào trong 3 tháng là 700 triệu đồng, nếu
doanh nghiệp bán được hàng hoá và thu về sóo thuế giá trị gia tăng của hàng hoá
bán ra thì doanh nghiệp được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào 700 triệu
đồng trên và phải nộp số thuế giá trị gia tăng còn phải nộp và ngân sách nhà
nước Song do không có phát sinh số thuế đầu ra nên 700 triệu đồng trên là số
thuế mà doanh nghiệp phải nộp hộ cho khâu tiếp theo của quá trình lưu thông
Vì vậy ta thấy rằng 700 triệu đồng tiền thuế giá trị gia tăng mà doanh nghiệp đã
nộp ở khâu mua hàng sẽ được thu về khi doanh nghiệp bán số hàng hoá nói trên
Trang 16Qua ví dụ nói trên ta thấy rằng thực chất của việc hoàn thuế giá trị gia
tăng là việc hoàn trả lại số tiền của doanh nghiệp mà doanh nghiệp đã nộp hộ
cho khâu tiếp theo dưới hình thức thuế giá trị gia tăng đầu vào thông qua doanh
nghiệp đã bán hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp
* Ý nghĩa của việc hoàn thuế giá trị gia tăng
Hoàn thuế giá trị gia tăng là một việc làm đúng đắn trong chính sách thuế
của chính phủ, nó có một ý nghĩa to lớn trong việc tạo lập sự công bằng giữa các
doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với nhà nước bởi lẽ:
- Số thuế giá trị gia tăng đầu vào chính là số tiền của doanh nghiệp mà
doanh nghiệp nộp hộ cho khâu tiếp theo của quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá, việc hoàn thuế giá trị gia tăng sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp được
công bằng với nhau trong quá trình tham gia vào sản xuất và lưu thông hàng
hoá Một doanh nghiệp luôn có số thuế giá trị gia tăng phải nộp dương (+) thì
được khấu trừ hoàn toàn số thuế giá trị gia tăng đầu vào, do vậy số thuế đầu vào
đã nộp hộ ở khâu trước được thu về ngay trong kỳ và lại được sử dụng vào chu
trình sản xuất-kinh doanh mới và tiếp tục sinh lời cho doanh nghiệp, tuy nhiên
đối với doanh nghiệp mà số thuế đầu vào luôn lớn hơn số thuế đầu ra có đủ các
điều kiện để xét hoàn thuế giá trị gia tăng thì một phần hoặc toàn bộ số thuế giá
trị gia tăng đầu vào không được khấu trừ, nếu không được hoàn thuế thì số tiền
này của doanh nghiệp sẽ nằm trong ngân sách nhà nước, do vậy số tiền đó sẽ
không được tham gia vào quá trình sản xuất, lưu thông mới và do đó không có
khả năng sinh lời Do vậy khi được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng trên thì
doanh nghiệp sẽ nhận được sự công bằng trong việc sử dụng nguồn vốn kinh
doanh của mình đối với các doanh nghiệp khác
- Hoàn thuế giá trị gia tăng đảm bảo công bằng giữa doanh nghiệp với nhà
nước: vì số thuế mà doanh nghiệp đã nộp hộ nếu không được ngân sách nhà
nước hoàn trả thì sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp Nhà nước có thể sử dụng số
tiền trên để đầu tư cho các chương trình, dự án và có khả năng sinh lời, còn
doanh nghiệp không được sử dụng số tiền trên Như vậy ta có thể hình dung ra
Trang 17rằng khoản lợi nhuận đáng ra doanh nghiệp được hưởng từ khoản tiền nói trên
đã thuộc về nhà nước Đó chính là sự không công bằng trong quyền sở hữu tài
sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền sở hữu nhưng lại không có quyền
sử dụng đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, điều này hoàn toàn trái
ngược với quy định về quyền sở hữu tài sản Do vậy ta có thể khẳng định: hoàn
thuế giá trị gia tăng là đảm bảo công bằng giữa doanh nghiệp với nhà nước
Hoàn thuế giá trị gia tăng còn có một ý nghĩa to lớn, thông qua hoàn thuế,
nhà nước đã hoàn trả cho doanh nghiệp một khối lượng vốn lớn, giúp doanh
nghiệp kịp thời khắc phục một số khó khăn về vốn trong hiện tại Xét một ví dụ
sau:
Ví dụ: Ông A là chủ một dự án đầu tư một dây chuyền sản xuất đồ nhựa
Ông A có số vốn là 4,5 tỷ đồng, vốn đầu tư cho xây dựng nhà xưởng, mua và lắp
đặt dây chuyền sản xuất tổng cộng hết 4 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng 0,4 tỷ
đồng Vốn lưu động để dây chuyền hoạt động hết công suất là 0,5 tỷ đồng Các
điều kiện về thị trường tiêu thụ đều tốt
Sau thời gian đầu tư ông A còn lại số tiền là 0,1 tỷ đồng, nếu ông A không
được hoàn lại số tiền thuế giá trị gia tăng là 0,4 tỷ đồng thì ông A phải lựa chọn
một trong hai phương án sau:
Phương án 1: chỉ dùng 0,1 tỷ đồng trên để mua nguyên liệu phục vụ cho
sản xuất
Phương án 2: vay thêm tiền ngân hàng (0,4 tỷ đồng) để dây chuyền hoạt
động hết công suất
Nếu ông A lựa chọn phương án 1 thì dây chuyền sẽ hoạt động với công
suất chỉ bằng 1/5, do vậy không khai thác hết tiềm năng của thị trường, không
thu hồi kịp khấu hao vô hình của tài sản cố định, thậm chí còn bị lỗ, do đó gây
nhiều thiệt hại cho ông A
Trang 18Nếu ông A lự chọn phương án 2 thì ông A sẽ phải trả lãi ngân hàng cho
khoản tiền vay là 0,4 tỷ đồng, do vậy hàng hoá sản xuất ra sẽ có sức cạnh tranh
yếu hơn và lợi nhuận đem lại cho ông A cũng bị giảm đi
Trường hợp sau thời gian đầu tư, đi vào hoạt động sản xuất, ông A được
hoàn trả lại số thuế giá trị gia tăng là 0,4 tỷ đồng thì ông A không phải mất thêm
khoản chi phí nào khác để cho dây chuyền hoạt động hết công suất, khai thác tối
đa tiềm năng của thị trường Do vậy ông A sẽ có khả năng tối đa hoá lợi nhuận
của mình
So sánh hai trường hợp trên ta thấy việc hoàn thuế giá trị gia tăng có ý
nghĩa vô cùng to lớn, nó giúp cho doanh nghiệp thoát khỏi những áp lực lớn về
tài vốn, đặc biệt là trong điều kiện tìm kiếm nguồn vốn khó khăn và chi phí cao
1.2.2 Đối tượng và các trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng
Đối tượng và các trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng được quy định
theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài Chính hướng
dẫn thi hành Nghị định số 158/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật thuế giá trị gia tăng số 07/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 bao
gồm:
1- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
thuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:
a) Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ
kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết
Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian
xin hoàn thuế Trường hợp này áp dụng cho cả cơ sở kinh doanh có đầu tư mới,
đầu tư chiều sâu
Ví dụ: doanh nghiệp X kê khai thuế GTGT có số thuế đầu ra, đầu vào như
bảng sau:
Trang 19Thuế đầu ra phát sinh trong tháng
Thuế phải nộp
Luỹ kế số thuế đầu vào chưa khấu trừ
Nguồn: số liệu giả định
Theo ví dụ trên, trong 3 tháng liên tục không phân biệt niên độ kế toán,
doanh nghiệp X có luỹ kế số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra, doanh nghiệp
được hoàn thuế với số tiền 175 triệu đồng
b) Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có số
thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu phát sinh trong
tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo
tháng Trường hợp trong tháng có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được
khấu trừ hết bao gồm cả thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ bán
trong nước thì cũng được tính vào số thuế được hoàn trong tháng
Đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, đối
tượng hoàn thuế là cơ sở có hàng hoá uỷ thác xuất khẩu, gia công chuyển tiếp
xuất khẩu Đối với trường hợp gia công uỷ thác thì đối tượng được hoàn thuế là
cơ sở trực tiếp gia công hàng hoá xuất khẩu
2- Đối với cơ sở kinh doanh đầu tư mới đã đăng ký kinh doanh, đăng ký
nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi
vào hoạt động, chưa phát sinh thuế đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên
được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm Số thuế giá trị gia tăng đầu vào của
tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét
hoàn thuế từng quý
3- Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế có dự án đầu tư của cơ sở sản xuất kinh doanh đang trong giai
Trang 20đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế,
có số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho dự án đầu tư từ 200
triệu đồng trở lên được xét hoàn thuế theo quý Cơ sở kinh doanh phải kê khai,
lập hồ sơ hoàn thuế riêng cho dự án đầu tư
4- Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải
thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà
nước có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa, số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa
được khấu trừ hết
5- Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật
6- Việc hoàn thuế giá trị gia tăng đã trả đối với các dự án sử dụng vốn
ODA như sau:
- Chủ dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại, dự án sử dụng vốn ODA
vay hoặc dự án sử dụng vốn ODA hỗn hợp thuộc đối tượng được ngân sách nhà
nước đầu tư không hoàn trả toàn bộ hoặc một phần được hoàn thuế giá trị gia
tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án Số thuế giá trị gia tăng
được hoàn là số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng của hàng
hoá, dịch vụ mua vào
- Trường hợp chủ dự án nêu trên không được ngân sách nhà nước bố trí vốn
đối ứng để thanh toán tiền thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử
dụng cho dự án; chủ dự án giao thầu cho các nhà thầu chính thuộc đối tượng nộp
thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế cung cấp các hàng hoá, dịch
vụ theo giá không có thuế giá trị gia tăng thì nhà thầu chính được tính khấu trừ,
hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ
Các chủ dự án sử dụng nguồn vốn ODA thuộc đối tượng được hoàn thuế,
phải ghi tăng nguồn vốn ngân sách cấp cho dự án số tiền thuế giá trị gia tăng đã
được hoàn Khi tính kế hoạch vốn đối ứng hàng năm cho dự án không phải tính
kế hoạch vốn đối ứng để nộp thuế giá trị gia tăng
Trang 21Trường hợp các chủ dự án được ngân sách nhà nước bố trí vốn đối ứng để
thanh toán cho nhà thầu theo giá có thuế giá trị gia tăng, thì các nhà thầu khi bán
hàng hoá, dịch vụ cho dự án phải tính thuế và kê khai nộp thuế giá trị gia tăng
theo quy định
7- Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn
lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ
thì được hoàn lại tiền thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng
khi mua hàng
Các cơ sở kinh doanh, tổ chức thuộc đối tượng được hoàn thuế giá trị gia
tăng theo quy định tại mục này phải là đối tượng đã được cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh (giấy phép đầu tư), có con dấu, lưu giữ sổ sách, chứng từ kế
toán theo chế độ quy định và có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
Các trường hợp cơ sở kinh doanh đã lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế thì không
được kết chuyển số thuế đầu vào đã đề nghị hoàn thuế vào số thuế khấu trừ của
tháng tiếp sau thời gian đã lập hồ sơ hoàn thuế
Trường hợp tháng trước thời gian xin hoàn thuế cơ sở có số thuế giá trị gia
tăng nộp thừa thì cơ sở được tính cộng số thuế giá trị gia tăng nộp thừa vào số
thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn trong kỳ, trường hợp cơ sở có số thuế nộp
thiếu thì phải nộp đủ số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước trước khi được
hoàn thuế
8- Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo Pháp lệnh về ưu
đẫi miễn trừ ngoại giao mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam được hoàn lại số
thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng Cơ sở kinh doanh tại
Việt Nam bán hàng hoá, dịch vụ cho các đối tượng này khi lập hoấ đơn giá trị
gia tăng vẫn phải tính thuế giá trị gia tăng Đối tượng, hàng hoá, dịch vụ, thủ tục
hồ sơ hoàn thuế cho trường hợp này theo hướng dẫn tại Thông tư số
08/2003/TT-BTC ngày 15 tháng 1 năm 2003
1.2.3 Quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng
Trang 22Quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng được thực hiện theo Quyết định số
1329 TCT/QĐ/NV1 của Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thuế ban hành Quy trình
quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng với nội dung sau:
I - Trách nhiệm của đối tượng đề nghị hoàn thuế
Người đại diện hợp pháp của đối tượng được hoàn thuế phải ký, gửi đơn dề
nghị hoàn thuế kèm đầy đủ hồ sơ hoàn thuế theo quy định cho cơ quan thuế trực
tiếp quản lý
Trường hợp hồ sơ lập không đầy đủ hoặc có sai sót, đối tượng đề nghị hoàn
thuế phải bổ sung, sửa đổi hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan thuế Ngày gửi bổ
sung hồ sơ (nếu có) được xác định là ngày gửi hồ sơ hoàn thuế đến cơ quan
thuế
Ngoài hồ sơ gửi đến cơ quan thuế theo quy định, các tài liệu, hồ sơ khác
liên quan đến hoàn thuế, đối tượng được hoàn thuế phải lưu giữ đầy đủ tại cơ sở
Đối tượng được hoàn thuế phải cung cấp các tài liệu liên quan đến việc hoàn
thuế khi cơ quan thuế yêu cầu
Đối tượng đề nghị hoàn thuế chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính
xác, trung thực của số liệu đã kê khai với cơ quan thuế
II- Trách nhiệm của cơ quan thuế
1- Tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế:
Cơ quan thuế trực tiếp quản lý Đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng có
trách nhiệm tổ chức tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế của đối tượng đề nghị hoàn thuế
theo đúng quy trình, thủ tục hành chính Khi nhận hồ sơ, bộ phận hành chính
phải ghi rõ ngày nhận hồ sơ, đóng dấu công văn đến, chuyển hồ sơ cho bộ phận
quản lý ngay trong ngày, hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo
2- Kiểm tra thủ tục hồ sơ hoàn thuế:
Khi nhận được hồ sơ do bộ phận hoàn thuế chuyển sang, bộ phận quản lý
thực hiện kiểm tra thủ tục, hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo các nội dung:
Trang 23- Kiểm tra thủ tục hồ sơ hoàn thuế theo quy định tại các văn bản pháp luật
về thuế giá trị gia tăng;
- Kiểm tra về đối tượng và trường hợp đề nghị hoàn thuế;
- Kiểm tra các chỉ tiêu, số liệu tổng hợp và chi tiết liên quan đến số thuế giá
trị gia tăng đề nghị hoàn trên hồ sơ của đối tượng
Trường hợp kiểm tra hồ sơ hoàn thuế thấy chưa lập đầy đủ, đúng quy định,
trong thời hạn 7 ngày (tính theo ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ), cơ
quan thuế phải thông báo bằng văn bản yêu cầu đối tượng hoàn thuế bổ sung
thêm các hồ sơ cong thiếu hoặc lập lại hồ sơ để gửi cho cơ quan thuế Trường
hợp không thuộc đối tượng được hoàn thuế, cơ quan thuế phải thông báo bằng
văn bản cho đối tượng đề nghị hoàn thuế Thông báo nêu rõ nội dung, tài liệu
cần giải trình, bổ sung hoặc lý do không được hoàn
3- Phân loại Đối tượng hoàn thuế:
a) Đối tượng áp dụng kiểm tra, thanh tra trước khi hoàn thuế:
- Cơ sở kinh doanh mới thành lập có thời gian kinh doanh dưới 1 năm, đề
nghị hoàn thuế lần đầu;
- Cơ sở kinh doanh đã có các hành vi vi phạm gian lận về thuế GTGT theo
hướng dẫn tại Mục VI Thông tư 82/2002
- Cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hóa là nông sản, lâm sản, thuỷ hải sản
chưa qua chế biến theo đường biên giới đất liền;
- Cơ sở kinh doanh chia tách, giải thể, phá sản
b) Đối tượng áp dụng hoàn thuế trước kiểm tra sau: là các đối tượng không
thuộc đối tượng quy định tại điểm a ở trên
Trường hợp cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm gian lận về thuế giá trị
gia tăng nêu trên thuộc đối tượng áp dụng kiểm tra trước khi hoàn thuế, sau 12
tháng kể từ khi phát hiện đối tượng có hành vi gian lận nếu đã chấp hành tốt các
quy định của luật thuế, chế độ quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ sẽ được áp
Trang 24dụng hoàn thuế trước kiểm tra sau Cơ quan thuế xem xét cụ thể từng trường
hợp này
4- Kiểm tra xác định số thuế được hoàn:
a) Đối tượng áp dụng hoàn thuế trước kiểm tra sau: bộ phận quản lý thu
thực hiện kiểm tra xác định số thuế hoàn theo nội dung sau:
- Đối chiếu các số liệu liên quan giữa số thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn,
biểu kê khai tổng hợp thuế giá trị gia tăng đầu ra, thuế giá trị gia tăng đầu vào
được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa khấu trừ hết với tờ khai nộp
thuế giá trị gia tăng tháng, quyết toán thuế của năm có liên quan, các bảng kê chi
tiết hoá đơn hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra, tình hình nộp thuế, hoàn thuế
các tháng trước, tình hình sử dụng hoá đơn, chứng từ;
- Kiểm tra thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trong trường hợp vừa
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng, vừa kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng; thuế giá trị gia tăng đã nộp ở khâu
nhập khẩu
Trường hợp qua kiểm tra hồ sơ phát hiện số liệu có sai lệch, bộ phận quản
lý thu trình lãnh đạo cơ quan thuế ra thông báo bằng văn bản cho đối tượng biết
để giải trình bổ sung
Sau khi kiểm tra đối chiếu số liệu trên hồ sơ và số liệu liên quan đến hồ sơ
hoàn thuế, bộ phận quản lý thu xác định số thuế giá trị gia tăng được hoàn để
trình lãnh đạo Cục thuế quyết định hoàn thuế
b) Đối tượng áp dụng kiểm tra, thanh tra trước khi hoàn thuế:
Căn cứ vào kết quả kiểm tra, thanh tra, quyết định xử lý vi phạm (nếu có),
nếu Đối tượng đã thực hiện các quyết định xử lý vi phạm của cơ quan thuế thì
phòng quản lý thu trình lãnh đạo Cục thuế ra quyết định hoàn thuế theo số thuế
được hoàn xác định lại qua kiểm tra, thanh tra
c) Trình tự kiểm tra xác đinh số thuế được hoàn đối với đối tượng do Chi
cục thuế quản lý như sau:
Trang 25- Tại Chi cục thuế: bộ phận quản lý thu thực hiện kiểm tra xác định số thuế
được hoàn như quy định đối với đối với đối tượng do Cục thuế quản lý nêu trên
Qua kiểm tra, nếu hồ sơ hoàn thuế đã đầy đủ, đúng quy định, bộ phận quản
lý thu trình lãnh đạo Chi cục thuế có công văn gửi Cục thuế kèm theo hồ sơ
hoàn thuế của đối tượng Công văn nêu rõ: kết quả kiểm tra hồ sơ; phần loại đối
tượng hoàn thuế; số tiền được hoàn
Đối với trường hợp kiểm tra, thanh tra trước khi hoàn thuế: căn cứ vào kết
quả kiểm tra, thanh tra, quyết định xử lý vi phạm (nếu có), nếu đối tượng đã
thực hiện các quyết định xử lý vi phạm của cơ quan thuế thì bộ phận quản lý thu
trình lãnh đạo Chi cục thuế có công văn gửi Cục thuế kèm theo số thuế được
hoàn xác định lại qua kiểm tra, thanh tra kèm theo hồ sơ đề nghị hoàn thuế và hồ
sơ kiểm tra, thanh tra của Chi cục thuế
- Tại Cục thuế: khi nhận được hồ sơ hoàn thuế do Chi cục thuế gửi lên,
phòng nghiệp vụ thuế thực hiện thẩm định hồ sơ hoàn thuế và trình lãnh đạo
Cục thuế ra quyết định hoàn thuế
Đối với những trường hợp thuộc đối tượng áp dụng hoàn thuế trước kiểm
tra sau, khi kiểm tra hồ sơ phát hiện có sai phạm tròn kê khai hoàn thuế hoặc có
dấu hiệu nghi ngờ bất thường, bộ phận quản lý thu báo cáo lãnh đạo cơ quan
thuế quyết định kiểm tra hoặc thanh tra tại cơ sở trước khi hoàn thuế
5- Ra quyết định hoàn thuế:
Lãnh đạo Cục thuế căn cứ vào hồ sơ hoàn thuế của phòng quản lý thu,
phòng nghiệp vụ thuế trình để ra quyết định hoàn thuế Quyết định hoàn thuế
được chuyển cho phòng Hành chính lưu hành
Thời gian xử lý hoàn thuế là 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ
đầy đủ, đúng quy định đến khi ra quyết định hoàn thuế; riêng với đối tượng sử
dụng vốn ODA; tổ chức, cá nhân ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo,
viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại
Việt Nam thuộc đối tượng được hoàn thuế là 03 ngày
Trang 26Trường hợp cần kiểm tra, thanh tra xác minh trước khi hoàn thuế, thời gian
tối đa là 60 ngày
6- Lưu hành quyết định hoàn thuế:
Quyết định hoàn thuế được gửi:
- 1 bản cho đối tượng được hoàn thuế
- 1 bản cho phòng kế hoạch tổng hợp
- 1 bản gửi cho kho bạc nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để
làm thủ tục hoàn thuế cho đối tượng
- 1 bản gửi cho phòng quản lý thu (phòng nghiệp vụ thuế đối với trường
hợp hoàn thuế do Chi cục thuế quản lý) để lưu hồ sơ đối tượng hoàn thuế
- 1 bản gửi cho Chi cục thuế (đối với trường hợp hoàn thuế do Chi cục thuế
quản lý)
- 1 bản gửi cho cơ quan tài chính quản lý vốn đầu tư đối với trường hợp
được hoàn thuế phải ghi tăng vốn đầu tư ngân sách nhà nước cấp để theo dõi
quản lý vốn đầu tư
- 1 bản lưu phòng hành chính
7- Lập chứng từ uỷ nhiệm chi hoàn thuế:
Phòng kế hoạch tổng hợp căn cứ vào quyết định hoàn thuế lập uỷ nhiệm
chi hoàn thuế gửi kho bạc nhà nước tỉnh, thành phố
8- Lập danh sách đối tượng được hoàn thuế, điều chỉnh số thuế giá trị gia
tăng phải nộp của đối tượng được hoàn thuế:
- Chậm nhất là 1 ngày sau khi có quyết định hoàn thuế, phòng quản lý thu,
phòng nghiệp vụ lập danh sách kết quả hoàn thuế theo mẫu quy định chuyển cho
phòng xử lý thông tin và tin học, Chi cục thuế (đối với đối tược hoàn thuế do
Chi cục thuế quản lý)
Trang 27- Phòng xử lý thông tin và tin học, bộ phận tính thuế tại Chi cục thuế căn
cứ vào danh sách kết quả hoàn thuế, kết quả kiểm tra, thanh tra hoàn thuế, số
liệu liên quan đến hoàn thuế điều chỉnh số thuế phải nộp cho kỳ tính thuế sau
9- Hạch toán, tổng hợp báo cáo số thuế đã hoàn:
Phòng xử lý thông tin và tin học nhận, nhập chứng từ hoàn thuế từ kho bạc
nhà nước, lưu chứng từ tại phòng, kế toán số thuế đã hoàn theo các đối tượng,
quyết định và chứng từ hoàn thuế Phòng xử lý thông tin và tin học lập báo cáo
kế toán hoàn thuế theo chế độ báo cáo hiện hành
10- Lưu hồ sơ hoàn thuế:
Bộ phận quản lý thu, phòng quản lý thu, tổ quản lý thu tại Chi cục thuế,
phòng nghiệp vụ tổ chức lưu hồ sơ hoàn thuế của đối tược hoàn thuế, biên bản
kiểm tra, thanh tra hoàn thuế và quyết định xử lý (nếu có)
11- Kiểm tra, thanh tra hoàn thuế tại cơ sở:
a) Đối tượng kiểm tra, thanh tra:
- Đối tượng kiểm tra, thanh tra tại cơ sở trước khi hoàn thuế: gồm các đối
tượng quy định tại điểm 3 và 4 ở trên (điểm 3, 4 Mục Phần B Quy trình quản lý
hoàn thuế giá trị gia tăng)
- Đối tượng kiểm tra, thanh tra tại cơ sở sau khi hoàn thuế theo kế hoạch
kiểm tra, thanh tra hàng năm của cơ quan thuế
b) Ra quyết định kiểm tra, thanh tra:
- Bộ phận quản lý thu (phòng quản lý thu, tổ quản lý thu) căn cứ vào hồ sơ
các đối tượng phải kiểm tra, thanh tra quy định tại điểm 11a nêu trên lập tờ trình
kiểm tra, thanh tra hoàn thuế tại cơ sở trong đó nêu rõ nội dung kiểm tra, thanh
tra kèm theo dự thảo quyết định kiểm tra, thanh tra (theo mẫu quy định) trình
lãnh đạo cơ quan thuế ra quyết định
- Trường hợp có vi phạm hoặc có dấu hiệu nghi ngờ, tính chất phức tạp,
nghiêm trọng, thời gian kiểm tra dài thì thực hiện dưới hình thức thanh tra
Trang 28- Thời hạn kiểm tra, thanh tra theo quy định hiện hành
- Quyết định kiểm tra, thanh tra hoàn thuế tại cơ sở phải được thông báo
cho cơ sở ít nhất là 3 ngày đối với quyết định kiểm tra và ít nhất là 7 ngày đối
với quyết định thanh tra trước khi tiến hành kiểm tra, thanh tra trừ trường hợp
kiểm tra, thanh tra bất thường khi phát hiện cơ sở có vi phạm pháp luật
c) Nội dung kiểm tra, thanh tra:
- Yêu cầu cơ sở được kiểm tra, thanh tra cung cấp tài liệu liên quan đến
hoàn thuế:
+ Tờ khai thuế GTGT tháng, quyết toán thuế GTGT năm liên quan
+ Hợp đồng kinh tế liên quan đến hoàn thuế
+ Tờ khai hàng hoá xuất khẩu có xác nhận theo quy định của cơ quan hải
quan về hàng hoá xuất khẩu
+ Hoá đơn chứng từ liên quan đến hàng hoá, dịch vụ mua vào bán ra
+ Chứng từ thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua bán liên quan đến hoàn
thuế, chứng từ nộp thuế GTGT, hoàn thuế GTGT
+ Tình hình nộp, hoàn thuế GTGT
+ Báo cáo kế toán, báo cáo xuất nhập tồn kho hàng hoá; báo cáo tiêu thụ và
các sổ sách kế toán chứng từ và hồ sơ tài liệu có liên quan đến việc xác định số
thuế GTGT được hoàn
2 Việc kiểm tra cần lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm, đạt hiệu quả,
phù hợp với thời gian kiểm tra theo nội dung:
+ Kiểm tra đối chiếu số liệu liên quan đến các vấn đề có nghi vấn cần kiểm
tra như: số liệu trên hồ sơ hoàn thuế với số liệu báo cáo tổng hợp và chi tiết về
doanh số mua, doanh số bán, tồn kho hàng hoá, các hoá đơn chứng từ liên quan
đến thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng đầu ra, định
mức sử dụng vật tư hàng hoá, căn cứ phân bổ thuế giá trị gia tăng đầu vào chứng
Trang 29từ liên quan đến tình hình nộp thuế, hoàn thuế của cơ sở, chứng từ thanh toán và
các tài liệu liên quan khác
+ Đối tượng hoàn thuế:
Lưu ý: Trường hợp hoàn thuế cho hàng hoá xuất khẩu phải xác định đối
tượng được hoàn thuế là chủ sở hữu hàng hoá, trường hợp xuất khẩu uỷ thác thì
đối tượng được hoàn thuế là cơ sở uỷ thác xuất khẩu; trường hợp hoàn thuế cho
các dự án sử dụng vốn ODA phải xác định đúng đối tượng có đủ điều kiện, thủ
tục theo quy định hiện hành; điều kiện thủ tục của hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu
được áp dụng thuế suất 0%
+ Đối chiếu xác minh các hoá đơn có nghi vấn
- Lập biên bản xác nhận số liệu với kế toán trưởng của cơ sở được kiểm tra
về nội dung có chênh lệch (hoặc không chênh lệch) giữa số liệu kiểm tra của
đoàn kiểm tra với số liệu trên hồ sơ đề nghị hoàn thuế của cơ sở Đề nghị kế
toán trưởng ký xác nhận và cung cấp các hoá đơn, chứng từ, tài liệu (bản
photocopy có xác nhận sao y bản chính của cơ sở kinh doanh có liên quan đến
nội dung giải trình)
- Lập biên bản kiểm tra, thanh tra:
Kết thúc kiểm tra, thanh tra, đoàn kiểm tra, thanh tra tiến hành lập biên bản
về nội dung đã được kiểm tra, thanh tra Biên bản kiểm tra, thanh tra được lập
với người đại diện hợp pháp của cơ sở theo thời gian quu định Trường hợp có
sở kinh doanh có vi phạm thì phải ghi rõ nội dung và mức độ của từng hành vi
vi phạm, căn cứ pháp lý để kết luận từng hành vi vi phạm đó Trên cơ sở kết
luận, đoàn kiểm tra, thanh tra kiến nghị với lãnh đạo cơ quan thuế ra quyết định
xử lý đối với các hành vi vi phạm của cơ sở Người được giao nhiệm vụ kiểm
tra, thanh tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận của mình
d) Xử lý kết quả kiểm tra, thanh tra:
- Căn cứ vào kết quả kiểm tra, thanh tra (biên bản kiểm tra, thanh tra) đoàn
kiểm tra, thanh tra về hoàn thuế báo cáo kết quả, kiến nghị xử lý qua kiểm tra,