1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẨU TRANG GIẤY” VÀ NHU CẦU TIÊU THỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

37 857 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khẩu Trang Giấy Và Nhu Cầu Tiêu Thụ Của Người Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 284,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHẨU TRANG GIẤY” VÀ NHU CẦU TIÊU THỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Trang 1

“KHẨU TRANG GIẤY” VÀ NHU CẦU TIÊU THỤ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY ĐỐI VỚI LOẠI SẢN PHẨM NÀY

CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN

SẢN PHẨM MỚI - LÝ THUYẾT HÀNH VI TIÊU DÙNG

Trong đó AX là thái độ của NTD đối với thương hiệu X;

bi là niềm tin về thuộc tính I của thương hiệu X,

ei là đánh giá của họ về thuộc tính I và n là số lượng thuộc tính

1.1.2 Giá cả

Giá cả là những gì mang lại doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng lạitạo ra chi phí khách hàng Tùy vào những mức giá cả khác nhau của một loai hàng hóa

mà khách hàng có những độ nhạy khác nhau đối với hàng hóa đó gọi là độ nhạy về giá

1.1.3 Kênh phân phối

Là một tập hợp các công ty và cá nhân có tư cách tham gia vào quá trình lưuchuyển sản phẩm đến với người tiêu dùng Địa điểm phân phối đóng vai trò rất quantrọng trong quyết định mua hàng của khách hàng, nhất là hàng tiêu dùng, địa điểm muahàng nào càng gần thì khả năng mua hàng của người tiêu dùng càng cao

1.2 Các kích tố phi marketing

1.2.1 Yếu tố văn hóa

Văn hóa là yếu tố cơ bản quyết định nhu cầu và hành vi con người Nhánh văn hóa

là bộ phận nhỏ hơn cấu thành văn hóa như nguồn gốc dân tộc, chủng tộc, tín ngưỡng vàmôi trường địa lý

1.2.2 Yếu tố xã hội:

Trang 2

Đó là những nhóm nguời, gia đình, vai trò xã hội và quy tắc chuẩn mực xã hội.Trong đó gia đình có ảnh hưởng rất lớn tới hành vi của nguời tiêu dùng Mặt khác nhữngngười ở chung địa vị xã hội có khuynh hướng xử sự giống nhau.

1.2.3 Yếu tố cá nhân:

 Nghề nghiệp: những nghề nghiệp khác nhau cần những loại hàng hóa khácnhau

 Tình trạng kinh tế: đưa ra giới hạn cho nguời tiêu dung

 Nhân cách: tự tin, thận trọng, tự chủ, hiếu thắng…đưa ra những hướng tiêudùng, cách lựa chọn khác nhau khi đứng trươc những loại hàng hóa thuộc cùng một dòng

1.2.4 Yếu tố tâm lý

Là động cơ của NTD tiêu dùng những hàng hóa phục vụ cho mục tiêu đề ra theothứ tự: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu tựkhẳng định mình

2/ Quá trình trong mô hình hành vi tiêu dùng

Tùy theo mỗi loại khách hàng và mỗi loại sản phẩm khác nhau mà quá trình muahàng là khác nhau Quá trình này gốm 3 bước:

2.1 Nhận dạng nhu cầu (Need Recognition)

Do kích thích từ nội tại bản thân (đói, khát…) hoặc kích thích do môi trường bênngoài (ảnh hưởng từ bạn bè, yêu cầu của công việc…) mà hình thành nên nhu cầu về sảnphẩm Nhu cầu ở đây dược hiểu là những đòi hỏi cơ bản nhất của con người

Theo Maslow các thang bậc nhu cầu được sắp xếp như sau:

Tự thể hiện

Xã hội

An toàn Sinh lý Tháp nhu cầu của Maslow

Trang 3

2.2 Tìm kiếm thông tin ( Prepurchase search)

 Từ nhóm: Gia đình, bạn bè, hàng xóm…Đây là nguồn thông tin mang nặngquan điểm cá nhân nhưng có ảnh hưởng mạnh nhất đến quá trình mua hàng

 Từ hoạt động marketing: Các mẫu quảng cáo trên các phương tiện truyềnthông, người bán hàng, trưng bày sản phẩm…

 Từ công chúng: Đánh giá chung của người tiêu đùng, báo chí, các bảng xếphạng sản phẩm chất lượng được yêu thích…

 Từ kinh nghiệm của bản thân khi đi mua hàng qua tiếp xúc, dùng thử sảnphẩm…

2.3 Đánh giá các thay thế ( Evaluation of alternatives)

Với mỗi loại sản phẩm và nhu cầu, người tiêu dùng có các tiêu chí đánh giá khácnhau, bao gồm: chức năng công dụng của hàng hóa, chỉ tiêu thẩm mỹ, sự thuận tiện trong

sử dụng, khả năng an toàn và vệ sinh của hàng hóa, độ bền chắc và hợp lý về giá cả

3/ Quyết định mua hàng

Có hai yếu tố ảnh hưởng tới việc “quyết định mua”của người tiêu dùng

3.1 Thái độ của người khác.

Mức độ thay đổi thì tùy thuộc vào hai yếu tố:

Mức độ phản đối của người khác đối với phương án ưa thích của người tiêu dùng

Mức độ người tiêu dùng tiếp nhận ý kiến của người khác.Thái dộ đồng tình hayphản đối của người khác càng quyết liệt và người đó càng gần gũi với người tiêu dùng thìngười tiêu dùng càng quyết tâm hơn trong việc xem xét ý định mua hàng

3.2 Những yếu tố không mong đợi, bất ngờ

Những yếu tố bất ngờ phát sinh đột ngột và làm thay đổi ý định mua hàng có thể làmất việc, hàng khác cấp thiết hơn hoặc có lời đồn đại không tốt về món hàng …

4/ Quy trình mua hàng với sản phẩm mới

4.1 Khái niệm

Sản phẩm mới là hàng hóa, dịch vụ hay ý tưởng mà bộ phận tiềm ẩn tiếp nhậnchúng như một cái gì đó mới mẻ Sản phẩm mới có thể đã có mặt trên thị truờng trongmột thời gian nào đó nhưng người tiêu dùng chỉ mới nhận biết nó lần đầu tiên

Trang 4

4.2 Quy trình chấp nhận “sản phẩm mới”

Quá trình chấp nhận sản phẩm mới bao gồm 5 giai đoạn:

 Nhận biết: NTD nghe thấy về sản phẩm nhưng chưa có đầy đủ thông tin về nó

 Quan tâm: NTD bị kích thích đi tìm kiếm thông tin về sản phẩm mới

 Đánh giá: NTD quyết định có nên dùng thử sản phẩm mới hay không

 Dùng thử: NTD dùng thử sản phẩm ở số lượng ít để có ý niệm đầy đủ hơn vềgiá trị của nó

 Chấp nhận: NTD quyết định sử dụng thường xuyên và đầy đủ sản phẩm mới

Từ đó cho thấy để đưa sản phẩm mới ra thị trường, nhà marketing cần phải suynghĩ làm thế nào để dẫn dắt mọi người từ giai đoạn này đến giai đoạn kia một cách hợp lísao cho khách hàng dễ dàng chấp nhận sản phẩm mới của mình hơn

4.3 Các dạng khách hàng của sản phẩm mới

Con người rất khác nhau về thái độ sẵn sàng dùng thử sản phẩm mới.Sự nhạy cảm

với cái mới – “đó là mức độ đi trước tương đối của cá thể so với những thành viên khác của xã hội trong việc chấp nhận những ý tưởng mới”

Theo Rogers, có năm dạng khách hàng sau:

 Người khai phá (innovators): là những người ưa thích cái mới vì khi sử dụngsản phẩm mới họ cảm thấy có tính phiêu lưu, đặc biệt

 Người tiên phong (early adopters): là những người chấp nhận cái mới rất sớmnhưng với một thái độ thận trọng, họ có khả năng dẫn dắt dư luận trong môi trường củamình

 Số đông chấp nhận sớm (early majority): là những người chấp nhận sản phẩmmới một cách dè dặt Họ chấp nhận cái mới sớm hơn người trung bình nhưng ít khi làngười tiên phong

 Số đông chấp nhận muộn (late majority): là những người có tính hoài nghi, họchỉ chấp nhận cái mới sau khi nó đã được sử dụng thử

 Người chấp nhận trễ (laggards): là những người lạc hậu, họ chịu nhiều ảnhhưởng của phong tục tập quán, không thích sự đổi mới và chỉ chấp nhận cái mới trongmột chừng mực nhất định

Người khai phá Người Người Người Người

2,5% tiên phong đến sớm đến muộn lạc

13,5% 34% 34% hậu 16%

Trang 5

4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chấp nhận sản phẩm mới

4.4.1 Ảnh hưởng của cá nhân

Trong quá trình chấp nhận cái mới, mỗi cá nhân người tiêu dùng đóng một vai tròrất lớn không chỉ bởi họ là người tiêu thụ sản phẩm Ảnh hưởng của cá nhân là hiệu quả

do lời giới thiệu hàng hóa của một cá nhân nào đó gây ra đối với thái độ của người kháchay đối với xác suất để người đó mua hàng

4.4.2 Ảnh hưởng của tính chất hàng hóa đến nhịp độ chấp nhận nó

 Tính ưu việt tương đối của sản phẩm: thể hiện ở tính năng, chất lượng củasản phẩm vượt trội hơn so với các sản phẩm khác

 Tính tương hợp: sản phẩm mới có phù hợp với thói quen, sở thích , nhu cầucủa người tiêu dùng hay không

 Tính phức tạp: thể hiện trong những chi tiêt mới của sản phẩm có nhữngđiểm còn khó hiểu và khó sử dụng đối với khách hàng

 Khả năng phân chia quá trình tiếp cận và làm quen với sản phẩm, tức khảnăng dùng thử sản phẩm còn ở quy mô hạn chế

 Tính chất thông tin trực quan: tức mức độ thể hiện rõ ràng hay khả năng

mô tả cho người khác những kết quả sử dụng nó

Ngoài ra còn có một số tính chất khác của sản phẩm mới có ảnh hưởng đến nhịp

độ chấp nó như: giá cả, chi phí, sản phẩm cạnh tranh, tỷ lệ rủi ro…Do đó, những ngườibán sản phẩm mới cần phải nghiên cứu tất cả những yếu tố này, tập trung chú ý vào

Trang 6

những điểm mấu chốt về đặc trưng của sản phẩm mới cũng như các giai đoạn soạn thảochương trình marketing cho nó.

CHƯƠNG II: MÔ TẢ VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ

ĐƯA RA

o Tiến hành lập đề cương đề tài nghiên cứu một cách sơ lược

o Tham khảo ý kiến của thầy phụ trách và đưa ra bản đề cương chính thức(xem phần phụ lục)

o Từ mục tiêu nghiên cứu và những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra, tiến hànhphác thảo bảng câu hỏi điều tra

o Gửi bảng câu hỏi chưa chính thức cho thầy đồng thời phát thử điều tra một

số bảng, qua đó đánh giá sơ lược về chất lượng bảng hỏi xem có đủ khả năng lấy đượcnhững thông tin mà nhóm thực hiện đề tài muốn lấy (xem đối tượng được điều tra cóhiểu ý câu hỏi hay không, có hiểu cách làm hay không…)

o Tổng hợp ý kiến của thầy cũng như rút kinh nghiệm từ các bảng phát thử đểđưa ra một bảng câu hỏi điều tra hoàn chỉnh (xem phụ lục)

o Chọn mẫu và điều tra

 Cỡ mẫu là 472

 Điều tra tại một số công ty, trường đại học, siêu thị, côngviên, khu vui chơi giải trí, trên interner Tất cả bảng hỏi thu về saukhi điều tra đều hợp lệ

o Mã hóa thông tin đưa vào máy tính xử lý

 Thông tin được mã hóa bằng phần mềm

 Xử lý thông tin và kết quả đưa ra

o Phân tích kết quả thông tin đưa ra

o Tổng hợp và báo cáo đề tài nghiên cứu

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG THÔNG TIN - KÊT

LUẬN VÀ GIẢI PHÁP

3.1 Sử dụng khẩu trang và vấn đề vệ sinh sức khỏe.

Trang 7

3.1.1 Tổng quan về thị trường khẩu trang hiện nay.

Bây giờ ra đường, chuyện mang khăn bịt mặt đã trở nên quá phổ biến Với nhiềungười, việc này đã trở thành thói quen không thể bỏ Thực tế cho thấy, trước khi Nhànước và các cơ quan quản lý môi trường nỗ lực làm giảm mức độ ô nhiễm không khí,người ta đã bắt đầu tìm kiếm sự phòng hộ cho mình Mới đầu chỉ dùng khăn mùi xoa cộtchéo phía sau và hầu như chỉ phụ nữ mới che mặt, chủ yếu để bảo vệ làn da Sau này,mức độ ô nhiễm do khói bụi ngoài đường gia tăng, cánh đàn ông cũng quan tâm hơn đếnsức khỏe của mình nên cũng bịt mặt Từ đó, dịch vụ kinh doanh các loại khẩu trang,khăn che mặt, áo chống nắng, chống bụi đã trở thành một dịch vụ cũng kiếm ra khá nhiềutiền

Từ chiếc khẩu trang đơn giản chỉ để che mũi và miệng như khẩu trang vải có dâythun móc vào tai giá 2.000 - 3.000 đồng/chiếc, khẩu trang có nhiều lớp giấy dai ở giữa,khẩu trang giấy có chứa bột than hoạt tính với giá 5.000-10.000 đồng/chiếc, đến khẩutrang đặc dụng giống như loại mặt nạ chống hơi độc với bộ phận lọc khí bên trong với giátrên dưới 100.000 đồng/chiếc Riêng các loại khẩu trang 2 trong 1 vừa tránh ô nhiễm, vừache nắng mà hầu hết các phụ nữ đều sử dụng, như khăn che mặt che kín đầu (tất nhiên trừđôi mắt) có miếng dán hai đầu khăn (giá từ 8.000 - 12.000 đồng tùy theo chất liệu vải).Loại khăn lớn hơn che mặt và cả phần cổ, phần mũi và miệng được may phồng ôm lấymũi và miệng với tác dụng chống nghẹt thở và không làm lem phấn son ở vùng này củaquý bà, quý cô có giá từ 12.000 - 20.000 đồng cũng tùy theo chất liệu vải

Song, cái "sự" tránh nắng và tránh ô nhiễm của quý bà, quý cô chưa dừng ở đó.Nhiều nhà thiết kế còn tung ra thị trường loại áo "3 trong 1": Chỉ với một chiếc áo có thểthay thế cho: áo khoác, găng tay và khăn che mặt với phần thân áo khá dài, rộng có tấmkhăn lớn che cổ và mặt được đính liền với phần sau của cổ áo, hai đầu có miếng dán,dưới tay áo được may thêm phần tam giác dài, có dây xỏ ngón để che kín mu bàn tay Áonày có giá từ 120.000 - 150.000 đồng/chiếc, với chất liệu vải coton, màu sắc trang nhãđược bán tại một số điểm bán áo, mũ nón, khẩu trang ở một số cửa hàng

Nhìn chung, thị trường khẩu trang hiện nay rất phong phú và đa dạng, không chỉ

đa dạng về kiểu dáng mà còn rất đa dạng về chất liệu, nhiều chức năng, và giá cả cũng đủloại Tất cả đều nhằm mục đích đáp ứng tối đa nhu cầu của con người

Trang 8

3.1.2 Mục đích sử dụng khẩu trang của người tiêu dùng.

Theo kết quả nghiên cứu cho thấy mục đích chính sử dụng khẩu trang của ngườitiêu dùng là nhằm tránh nắng và tránh khói bụi hay những mùi khó chịu, một số ít là dovấn đề da liễu nên sử dụng, nhất là với những người có làn da nhạy cảm, dễ bị dị ứng vớibụi bẩn cũng như những chất độc hại Điều này đúng với dự đoán ban đầu mà nhóm đãđưa ra

Không quan trọng

Bình thường Quan trọng Rất quan trọng

Trang 9

Tránh khói, bụi, mùi khó chịu

Không quan trọng

Bình thường Quan trọng Rất quan trọng

Không quan trọng

Bình thường Quan trọng Rất quan trọng

Nhìn vào biểu đồ ta thấy như sau: với mục đích tránh nắng có 68.7% người đượcphỏng vấn cho rằng đây là vấn đề rất quan trọng, mục đích tránh khói bụi chiếm 80.3%

Trang 10

Bên cạnh đó là vì những vấn đề da liễu đối với những người có làn da nhạy cảm, dễ bị dịứng do nhiễm bẩn Kết quả này cho thấy khi mà nền công nghiệp đang ngày càng pháttriển như hiện nay, khói bụi ngày một tỏa ra nhiều từ các nhà máy gây ô nhiếm không khínặng nề, đồng thời cùng với hiện tượng Trái Đất đang ngày càng nóng dần lên, ánh nắngmặt trời ngày một tỏ ra gay gắt hơn, thì người tiêu dùng cũng ngày càng quan tâm hơnđến vấn đề tự bảo vệ mình trước những hiểm họa luôn đe dọa sức khỏe của mình Từ đóviệc tìm đến một công cụ để có thể giúp họ tự bảo vệ mình như chiếc khẩu trang là mộtđiều cần thiết hiện nay.

3.1.3 Sự quan tâm của người tiêu dùng đến vấn đề vệ sinh cho chiếc khẩu trang mỗi khi sử dụng nó.

Như đã phân tích ở trên, trước những vấn đề ô nhiễm hiện nay của môi trường, thì ngườitiêu dùng sử dụng khẩu trang ngày càng nhiều và thường xuyên hơn Việc giữ cho chiếc khẩutrang luôn sạch sẽ cũng rất cần phải được quan tâm vì nếu người sử dụng không thường xuyêngiặt khẩu trang, phơi khô trước khi sử dụng lại (với loại thông thường), hoặc thay mới (vớinhững loại có màng hoạt chất chống độc) thì những vi khuẩn tích tụ trên bề mặt khẩu trang sẽtrực tiếp đi qua đường miệng, đường mũi của người sử dụng vào bên trong cơ thể Ngoài ra,khẩu trang bẩn còn có thể là tác nhân dẫn đến các bệnh ngoài da Như vậy, nếu không giữ vệsinh đúng cách cho chiếc khẩu trang thì đôi khi chính nó sẽ là ổ vi khuẩn gây ra nhiều bệnh tậtcho người dùng Theo kết quả điều tra cho thấy, có 81,5% số người được phỏng vấn quan tâmđến việc vệ sinh cho chiếc khẩu trang để nó luôn được sạch sẽ

Mức độ quan tâm chiếc khẩu trang

có sạch hay không?

Trang 11

Mức độ quan tâm chiếc khẩu trang

Không quan tâm

Bình thường Quan tâm Rất quan tâm

Và sự quan tâm của họ có thể được thể hiện bằng cách thường xuyên giặtkhẩu trang, hoặc mua cùng lúc nhiều chiếc khẩu trang để có thể thay thế nhau nếu không

có nhiều thời gian cho việc vệ sinh nó Nhưng công việc đó đôi lúc cũng mang lại nhiềuphiền phức cho người sử dụng, làm mất thời gian của họ, nhất là trong thời buổi hiện nay:các bạn trẻ thì luôn thích sự độc đáo, mới mẻ và sự tiện lợi, còn những người mà côngviệc của họ lúc nào cũng bận rộn, quỹ thời gian được sử dụng tối đa thì họ sẽ không thể

có thời gian để nghĩ đến những công việc nhỏ đó Do vậy, một chiếc khẩu trang vừa tiệnlợi nhưng phải đủ khả năng bảo vệ họ sẽ là một sản phẩm mà họ mong muốn

3.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng khiến người tiêu dùng có sự quan tâm khác nhau đến việc vệ sinh cho chiếc khẩu trang.

- Với yếu tố giới tính, theo kết quả khảo sát ta thấy rằng:

Mức độ quan tâm chiếc khẩu trang có sạch hay không?

Rấtkhôngquan tâm

Không quantâm

Bìnhthường

Quantâm

Rất quan tâm

Tổng cộng

(Bảng 1)

Trang 12

+ Trong 100% người được phỏng vấn thì có 3.9% người là nam giới vàquan tâm đến vấn đề vệ sinh cho chiếc khẩu trang, đồng thời cũng có 22.3% người lànam giới và rất quan tâm đến vấn đề này Như vậy, có 26.2% (3.9% + 22.3%) người lànam giới có quan tâm đến việc vệ sinh cho chiếc khẩu trang trong tổng số 100% ngườiđược chọn làm mẫu đại diện.

+ Tương tự ta thấy, với nữ giới, trong 100% người được phỏng vấn thì có55.3% người là nữ giới có quan tâm đến vấn đề vệ sinh này

Như vậy, có sự chênh lệch khá lớn giữa nam và nữ trong việc quan tâm đếnvấn đề đang nghiên cứu, điều đó cho thấy giới tính là một yếu tố ảnh hưởng Điều này cóthể được giải thích một phần là do nữ giới hầu hết đều thích đẹp và thích làm đẹp, họquan tâm đến việc chăm sóc sắc đẹp nhiều hơn so với nam giới, họ luôn muốn làm sao để

họ ngày càng đẹp hơn, mà bụi bặm và nắng nóng là một trong nhiều tác nhân khiến damặt họ bị dị ứng xấu, chính vì điều đó mà họ quan tâm nhiều hơn đến việc vệ sinh chochiếc khẩu trang đang dùng để nó luôn sạch và bảo vệ họ một cách tốt nhất

o Với yếu tố thời gian trung bình mỗi ngày phải lưu thông trên đường thì quakết quả khảo sát, ta có thể thấy được:

Mức độ quan tâm chiếc khẩu trang có sạch hay không?

Rấtkhôngquan tâm

Khôngquantâm

Bìnhthường

Quantâm

Rất quantâm

Tổngcộng

Thời gian trung

Trang 13

+ Tương tự, trong 16.5% người có thời gian trung bình lưu thông trênđường trên 2h thì có 27.3% người quan tâm và 44.2% người rất quan tâm Nhìn chung thìtrong 16.5% người này, có 71.5% người có quan tâm đến việc vệ sinh mà ta đề cập.

Như vậy, dường như sự chênh lệch không lớn lắm giữa hai nhóm người Điều

ta có thể thấy là dù thời gian đi trên đường là ít hay nhiều thì họ đều quan tâm và rất quantâm đến vấn đề vệ sinh của chiếc khẩu trang Yếu tố này có ảnh hưởng không rõ rànglắm Điều này có thể được ly giải là bởi vì khi người dân đã y thức vấn đề bảo vệ sứckhỏe là quan trọng thì bất kể khi nào ra đường, bất luận thời gian đi lâu hay mau thì họđều mong muốn luôn được bảo vệ tốt nhất, họ đều quan tâm như nhau đến việc vệ sinhcho chiếc khẩu trang để đảm bảo nó luôn sạch sẽ mà sử dụng

- Với yếu tố mức thu nhập, theo kết quả khảo sát ta thấy rằng:

Mức độ quan tâm chiếc khẩu trang có sạch hay không?

Rấtkhôngquantâm

Khôngquantâm

Bìnhthường

Quantâm

Rấtquantâm Tổng cộng

+ Đối với nhóm người có thu nhập dưới 3 triệu/ tháng thì có tồn tại tình

trạng không quan tâm và rất không quan tâm đến vấn đề vệ sinh này.

+ Đối với nhóm người có thu nhập từ 3-5 triệu/tháng thì tình trạng không quan tâm và rất không quan tâm không còn nữa, thái độ họ tỏ ra là: hoặc bàng quang,

hoặc quan tâm, hoặc rất quan tâm

+ Đối với nhóm người có thu nhập trên 5 triệu/ tháng thì họ rất quan tâmđến vấn đề vệ sinh này

Như vậy, rõ ràng yếu tố thu nhập có ảnh hưởng đến vấn đề ta nghiên cứu Ly do

có thể được giải thích theo ly thuyết thang nhu cầu của Maslow: khi mà nhu cầu cấp thấp1của con người đã được thỏa mãn đầy đủ thì họ sẽ có những nhu cầu mới ở cấp độ cao

Trang 14

hơn cần được thỏa mãn Với những người có mức thu nhập cao thì nhu cầu về sinh ly của

họ đã được đảm bảo ổn định, lúc này họ sẽ có những nhu cầu cao hơn về tinh thần như sựgiải trí, suy nghĩ về tương lai Và việc họ quan tâm đến vấn đề bảo vệ sức khỏe, kéo dàituổi thọ cũng là điều dễ hiểu

- Với yếu tố phương tiện đi lại được sử dụng khi lưu thông trên đường thì tathấy rằng:

Mức độ quan tâm khẩu trang có sạch không?

Rấtkhôngquan tâm

Khôngquan tâm

Bìnhthường

Quan tâm

Rất Quan tâm

Tổng cộng

+ Những người sử dụng xe máy và có quan tâm đến vấn đề này chiếm tỷ

lệ cao hơn hẳn so với người sử dụng các phương tiện còn lại (chiếm tới 55.8% ngườitrong số 100% người được phỏng vấn)

+ Còn với người đi bộ hoặc đi xe buyt mà cũng có sự quan tâm đến vấn

đề này thì tỷ lệ là như nhau (giữa 18% so với 15.4% thì sự chênh lệch không đáng kể)

+ Còn với người đi xe đạp mà có quan tâm thì chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ hơnnhiều so với người đi bằng xe buyt hoặc đi bộ Điều này có thể được giải thích là do xeđạp ít được xem là phương tiện để đi làm của người dân thành phố, nó được sử dụng chủyếu cho mục đích đi dạo, tản bộ, mà khi đã đi dạo thì người ta sẽ chọn những thời điểm lytưởng trong ngày để đi nên họ cũng không nhất thiết dung khẩu trang trong những lúc

Trang 15

như thế, vì vậy họ cũng không cần quan tâm lắm đến chuyện sạch sẽ của chiếc khẩutrang.

Như vây, phương tiện đi lại có ảnh hưởng đến vấn đề ta đang nghiên cứu Cụthể như sau: với người sử dụng xe máy thường xuyên thì họ quan tâm nhiều hơn đến vấn

đề này, vì họ là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi khói bụi và khí độc trên đường,còn những người sử dụng các phương tiện lưu thông công cộng thì mức độ quan tâm của

họ thấp hơn vì ít ra họ cũng được che chắn một phần nhờ cửa kính xe (dù sự che chắn đóchẳng đáng gì nhưng nó cũng tạo một phần cảm giác an tâm cho người đi đường vìkhông phải tiếp xúc trực tiếp)

- Với yếu tố tuổi tác:

Mức độ quan tâm khẩu trang có sạch không?

Rấtkhôngquantâm

Khôngquantâm

Bìnhthường

Quantâm

Rấtquantâm

Tổngcộng

Trang 16

=> Tóm lại, mức thu nhập, giới tính, tuổi tác và phương tiện đi lại có thể đượcxem là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất khiến sự quan tâm của người tiêu dùng đếnvấn đề vệ sinh của chiếc khẩu trang có sự khác nhau.

3.1.5 Những vấn đề người tiêu dùng thường gặp phải với chiếc khẩu trang vải

sử dụng khi đi đường.

Với chiếc khẩu trang vải thông thường, người tiêu dùng có thể gặp phải một sốvấn đề như mất thời gian để giặt (42% người rất khó chịu về vấn đề này), hoặc nó gâycảm giác hầm nóng khi đeo, gây khó chịu (34.9%), hoặc dây đeo mau giãn(37.9%), khókhăn khi giao tiếp (23.9% ), hay vấn đề che không kín mặt- không ôm sát mặt (30.9% )…

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, chiếc khẩu trang vải cũng gây ra không ít sự bấttiện cho người dùng Cụ thể như sau:

+ Với một chiếc khẩu trang vải thông thường, bạn có thể dùng nhiều lần,nhưng sau mỗi lần sử dụng, bạn không thể làm cho nó trở nên sạch như ban đầu, hay đảmbảo độ sạch sẽ sau mỗi lần sử dụng một cách dễ dàng ngoài việc sau mỗi lần dùng bạnphải giặt rồi phơi khô nó để đảm bảo mỗi lần sử dụng là nó có độ sạch như nhau Mà vấn

đề giặt như thế thì không thể nào thực hiện được vì lý do trong một ngày bạn phải dùng

nó không biết bao nhiêu lần, sử dụng rất thường xuyên khi ra đường, như vậy, bạn khôngthể sau mỗi lần dùng lại đem giặt.(rất mất thời gian và công sức) Để giải quyết điều đó,bạn có thể mua thêm nhiều khẩu trang khác để dùng thay thế, nhưng cách này cũngkhông khả thi vì bạn không thể mua đủ số cái đúng với số lần sử dụng của bạn được,nhiều lắm cũng chỉ tối đa 5 chiếc, mà thường cũng sẽ rất ít giặt, do đó, cũng sẽ lại khôngthể đảm bảo là nó luôn sạch đúng nghĩa mỗi lần sử dụng

+ Với người đi học hay đi làm, việc sử dụng khẩu trang vải có lúc sẽ gây cho họnhiều bất tiện, vì họ không phải lúc nào cũng phải giữ khư khư nó bên người Tuy cáikhẩu trang rất nhỏ, không đáng gì, nhưng trong nhiều trường hợp ta cũng không biết cất

nó vào đâu (nhất là với phái nam, họ không có thói quen mang giỏ xách), hoặc với phái

nữ nhiều dịp không cần mang theo giỏ xách nhưng vì những thứ linh tinh như cái khẩutrang chẳng hạn cũng khiến họ phải suy nghĩ có nên mang theo hay không (ví dụ nhưtrong những dịp đi hội thao, hay những chuyến đi chơi mà yêu cầu hạn chế sự cồng kềnhcàng nhiều càng tốt…)

Trang 17

+ Trong nhiều trường hợp đi đường xa với bạn bè, trên đường đi thường nóichuyện với nhau, nếu dùng khẩu trang vải mà nói chuyện thì khi nói chuyện, nước bọtvăng ra sẽ khiến chiếc khẩu trang bị ướt, hoặc do đường xa phải đeo lâu, hơi nước trongkhí thở ra cũng sẽ làm nó ướt, gây cảm giác rất khó chịu.

+ Đối với những người mắc các bệnh về đường hô hấp (như bệnh cúm, dễ lây chongười khác…) khi mà họ dùng khẩu trang vải, lúc tiếp xúc, nói chuyện với người khác sẽkhông có cảm giác thoải mái do vấn đề ẩm ướt như đã đề cập

+ Trong nhiều trường hợp đi chơi xa, để đảm bảo cho chiếc khẩu trang vải luônsạch thì rất khó, mà trong những chuyến đi xa như thế, sử dụng đồ dùng càng tiện lợi,càng tiết kiệm được nhiều thời gian càng tốt

+ Với những người khi đi tàu xe thường khó chịu với hơi xăng, hơi xe nên phải bịtmặt để giảm bớt sự khó chịu, chống xay xe, thì chiếc khẩu trang vải không có tính hút

ẩm, lại không có tẩm mùi thơm (như hương của vỏ quýt, vỏ cam, hay chanh, hay tinhchất trà xanh – là những mùi người ta thường dùng để chống đỡ cảm giác nhức đầu, khóchịu do mùi xe gây nên, đồng thời tạo cảm giác thơm mát) Điều này, sẽ khiến người đi

xe không có cảm giác dễ chịu khi đi xe, lại không có thể nói chuyện một cách thoải máivới người bên cạnh vì cảm giác khó chịu khi khẩu trang bị ẩm do hơi nước

Những tình huống nêu ra ở trên có thể nói là những bất tiện điển hình, dễdàng nhận thấy của một chiếc khẩu trang vải thông thường.Và với những bất tiện đã nêu,thì chiếc khẩu trang mới sẽ giúp khắc phục phần nào những hạn chế đó của chiếc khẩutrang vải, mang lại một sự thoải mái, dễ chịu hơn cho khách hàng mỗi khi sử dụng sảnphẩm này

3.2 Khẩu trang giấy có than hoạt tính và khả năng ứng dụng của nó.

3.2.1 Mô tả về sản phẩm – những đặc tính vượt trội.

Khẩu trang mới được thiết kế khác hoàn toàn với khẩu trang loại thông thường

- Khẩu trang có 3 lớp, được thiết kế đặc biệt để tránh được gần 90% bụi đường

và khí độc hại, bao gồm:

+ Lớp ngoài cùng là màng Polype

+ Lớp lưới mềm bên trong được làm từ Polyeste tạo độ thoáng và bảo vệ da mặt

Trang 18

+ Lớp chính giữa cấu tạo từ nhiều lớp giấy dai, mềm có tính năng hút ẩm, khiến bềmặt luôn luôn khô thoáng Loại giấy này được làm chủ yếu từ bột giấy với than hoạt tínhtrộn vào nhau, dẻo dai, bền chắc, mịn màng

- Chất liệu than hoạt tính trong giấy với các hạt TiO2 cỡ nanomet (phần tỷ mét)

sẽ phát ra các chất oxy hóa cực mạnh để phân hủy các hợp chất hữu cơ, khí thải độc hại,rêu mốc, vi khuẩn,… thành những chất vô hại Khi bụi và khí ô nhiễm đi qua khẩu trang,lớp giấy hoạt tính có tác dụng lọc và giữ lại bụi bẩn cũng như khí độc để cho ra khí sạch

Nó có tác dụng bảo vệ phổi khỏi bụi và các khí ô nhiễm như khói ô tô, khói xe máy, hơixăng, dầu, khói thuốc lá, các khí độc như SO2, CO, H2S…thậm chí những hạt bụi cókích thước nhỏ

- Dùng tinh chất trà xanh bổ sung vào chiếc khẩu trang giấy để giúp khử mùihôi trong miệng thở ra trong trường hợp phải đeo lâu, tinh chất trà xanh sẽ có tác dụnglàm se da và kháng khuẩn, tạo cảm giác thoải mái và thơm mát Ngoài ra, cũng có thể sửdụng nhiều mùi hương khác nhau để bổ sung vào chiếc khẩu trang

- Với lớp ngoài cùng ta có thể sử dụng màng nilon thông thường, hoặc cao cấphơn là màng nilon thở, màng dạng vải, và cao cấp nhất là màng đáy thoáng khí dạng vải(còn gọi là màng giấy thở) Như vậy, tùy theo chất liệu sản xuất cũng như thêm các tínhnăng phụ trội mà sản phẩm sẽ được thiết kế từ loại thông thường cho đến loại cao cấpnhất với các mức giá phù hợp

- Để giúp phụ nữ trong việc ngăn ngừa tia UV làm hại da mặt, có thể bổ sungchất chống tia UV vào chiếc khẩu trang, nhờ đó, tăng thêm tính năng của sản phẩm

- Sản phẩm cũng được thiết kế với những mẫu mã, kiểu dáng và kích thướcphù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính,… để đáp ứng tốt nhất nhu cầu đa dạng của người tiêudùng

- Khẩu trang mới với tên và nhãn hiệu riêng, là sản phẩm của một thương hiệutoàn cầu vốn nổi tiếng với những dòng sản phẩm chăm sóc sức khỏe chất lượng cao như

Tã giấy Huggies, BVS Kotex,…được nhiều người tin dùng Điều này sẽ đem lại sự tintưởng cho khách hàng

- Vì chức năng chính của chiếc khẩu trang là chống bụi và khí độc nên lớpthan hoạt tính có trong giấy phải được thay sau một khoảng thời gian tiếp xúc với không

Ngày đăng: 04/04/2013, 08:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w