1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

62 1,3K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Người hướng dẫn Cô Lương Thị Bảo Thanh
Trường học Đại Học Tây Đô
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Lương Thị Bảo Thanh đã hướngdẫn, tận tình giúp đỡ, động viên và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốtquá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin gởi lời cám ơn đến tất cả quý Thầy Cô giảng viên Khoa Sinh Học Ứng Dụng,trường Đại Học Tây Đô, đã quan tâm, giúp đỡ, dạy bảo tôi trong suốt quá trình họctập tại giảng đường

Nhân đây, tôi cũng xin cám ơn các bạn lớp nuôi trồng thủy sản k1 và các bạn bè thânthuộc, luôn cùng tôi sát cánh bên nhau để vượt qua chặng đường khó khăn này

Để có được thành quả như ngày hôm nay là có một phần đóng góp không nhỏ của giađình tôi, xin cám ơn cha, mẹ và anh chi em tôi

Chân thành cám ơn!

Trang 2

TÓM TẮT

Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2010 đến 06/2010, thông quakhảo sát 30 hộ nuôi cá tra thâm canh tại Thoại Sơn, An Giang, nhằmtổng hợp tình hình thực tế sử dụng thức ăn của người nuôi cá travùng Thoại Sơn, là cơ sở cho các nghiên cứu sử dụng hiệu quảnguyên liệu làm thức ăn, đồng thời góp phần cải thiện qui trình kỹthuật nuôi cá tra tại huyện Thoại Sơn nói riêng và tỉnh An Giang nóichung

Kết quả khảo sát cho thấy, các hộ nuôi có diện tích nuôi trung bình là 12.222m2 , Tuymới phát triển từ năm 2007, nhưng kinh nghiệm nuôi trung bình của người nuôi khálâu (4,4±3,1), mật độ thả nuôi bình quân là 64 con/m2 , kích cỡ thả giống nhiều nhất là(1,5-2 cm) chiếm 90%, hệ số thức ăn dao động (1,72 đối với TACN và 1,94 đối vớiTATC) Có 73,3% hộ nuôi sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp trong quá trìnhnuôi, còn lại 26,7% số hộ nuôi vừa sử dụng thức ăn công nghiệp vừa sử dụng thức ăn

tự chế (thức ăn công nghiệp chủ yếu sử dụng ở giai đoạn ương giống và hai tháng cuối

vụ nuôi) Cá tạp (chiếm 100%) và cám (chiếm 75%) là hai loại nguyên liệu được sửdụng nhiều nhất trong công thức chế biến Thức ăn công nghiệp Việt Thắng (chiếm từ34,6-36,7%) và thức ăn UP (chiếm từ 15,4-33,3%) là hai loại được sử dụng phổ biếntại địa bàn Chi phí thức ăn chiếm tỉ lệ cao nhất (85% đối với TACN và 83% đối vớiTATC), giá thành nuôi của (TATC là 15.436±360 đồng/kg cá) thấp hơn TACN(16.790±784 đồng/kg cá), giá thành bán của (TATC là 15.900±598 đồng/kg cá) thấphơn nhưng không cao TACN (16.850±106 đồng/kg cá), chênh lệch này không cao daođộng từ 5.000-1.000 đồng/kg cá, so với giá thành nuôi thì TATC sử dụng có lợi nhuậncao hơn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT .ii

MỤC LỤC .iii

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH .vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU .2

2.1 Đặc điểm sinh học cá tra .2

2.2 Tình hình nghề nuôi cá tra An Giang .3

2.2.1 Tình hình phát triển nghề nuôi thủy sản ở An Giang qua các thời kỳ .3

2.2.2 Những khó khăn đang gặp của nghề nuôi cá tra ở An Giang .4

2. 2.3 Đặc điểm nghề nuôi cá tra tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang .5

3 2.4 Các nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cá da trơn .6

2.4.1 Nhu cầu protein (chất đạm) và acid amin .6

2.4.2 Nhu cầu carbohydrate (chất bột đường) .7

2.4.3 Nhu cầu lipid (chất béo) .8

2.4.4 Nhu cầu vitamin .8

2.4.5 Nhu cầu về khoáng chất .8

2.4.6 Nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho giống cá Pangasius ở Việt Nam .9

2.5 Đặc điểm một số nguyên liệu chính làm thức ăn cho cá tra .9

2.5.1 Nhóm nguyên liệu thức ăn cung cấp năng lượng .9

2.5.2 Nhóm nguyên liệu thức ăn cung cấp Protein .10

2.5.3 Thành phần các nguyên liệu sử dụng .11

Trang 4

CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .12

4 3.1 Phương tiện nghiên cứu 12

5 3.2 Phương pháp nghiên cứu 12

3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu .12

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu .12

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu .12

3.2.4 Các biến chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu .12

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .13

4.1 Thông tin chung .13

4.2 Thông tin về mô hình nuôi .14

4.3 Thông tin về thức ăn .15

4.3.1 Các loại thức ăn sử dụng phổ biến trong nuôi cá tra .15

4.3.2 Tình hình sử dụng TATC tại địa bàn nghiên cứu .15

4.3.3 Tình hình sử dụng TACN tại địa bàn nghiên cứu .20

4.4 Thông tin về hạch toán kinh tế .23

4.4.1 Hệ số và chi phí thức ăn .23

4.4.2 Cơ cấu chi phí .24

4.4.3 Hiệu quả sản xuất .25

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .29

5.1 Kết luận .27

5.2 Đề xuất .27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

PHỤ LỤC .viii

Trang 5

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên 2

Bảng 2.2 Nhu cầu protein tối ưu của một số loài cá 7

Bảng 2.3 Tỉ lệ % tinh bột sử dụng tối đa trong thức ăn cho một số loài cá .7

Bảng 2.4 Sử dụng carbohydrate ở 3 loài cá (cá tra, cá basa, cá hú) .8

Bảng 2.5 Mức sử dụng tối đa lipid trong thức ăn trên một số loài cá .8

Bảng 2.6 Thành phần sinh hóa một số nguồn thực vật cung cấp tinh bột 9

Bảng 2.7 Thành phần acid béo của một số nguồn dầu động thực vật…………10

Bảng 2.8 Thành phần cơ bản của một số loại bột cá thành phẩm (% khối lượng) 10

Bảng 2.9 Thành phần dinh dưỡng của một số nguồn protein thực vật 10

Bảng 2.10 Các loại nguyên liệu chế biến thức ăn cho cá tra nuôi thương phẩm ở vùng nuôi truyền thống 11

Bảng 2.11 Các loại nguyên liệu làm thức ăn nuôi cá tra ao thương phẩm ở vùng nuôi mới ……… 11

Bảng 4.1 Thông tin chung về mô hình nuôi 15

Bảng 4.2 Các loại nguyên liệu làm thức ăn nuôi cá tra ao thương phẩm tại Thoại Sơn ……… 16

Bảng 4.3 Thông tin về giá một số nguyên liệu theo số liệu điều tra 17

Bảng 4.4: Tỉ lệ phối trộn nguyên liệu làm thức ăn nuôi cá tra thương phẩm tại Thoại Sơn……… 18

Bảng 4.5: Hiệu quả sử dụng thức ăn cho các ao nuôi tại Thoại Sơn……… 23

Bảng 4.6: Tổng kết hiệu quả sản xuất mô hình nuôi .25

Trang 6

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Hình dạng ngoài của Cá Tra (Pangasianodon hypophthamus) 2

Hình 2.2 Biểu đồ sản lượng thủy sản An Giang từ năm 1995-2008 .3

Hình 2.3 Biểu đồ số hộ nuôi thủy sản trong ao tại An Giang .4

Hình 2.4 Bản đồ hành chánh tỉnh An Giang và vùng nghiên cứu 5

Hình 2.5 Biểu đồ số hộ nuôi cá tra huyện Thoại Sơn .6

Hình 4.1: Trình độ văn hóa của các hộ nuôi cá tra (%) 13

Hình 4.2: Nguồn lao động phục vụ nghề nuôi cá ở Thoại Sơn 14

Hình 4.3 Các loại thức ăn sử dụng trong nuôi cá tra ở Thoại Sơn .15

Hình 4.4 Sơ đồ chế biến thức ăn nuôi cá tra .19

Hình 4.5 Nhà máy ép viên thức ăn tại nông hộ ở Thoại Sơn .20

Hình 4.5 Các loại thức ăn công nghiệp được các hộ nuôi cá sử dụng giai đoạn giống tại địa bàn nghiên cứu 21

Hình 4.6 Các loại thức ăn công nghiệp được các hộ nuôi cá sử dụng giai đoạn thịt tại địa bàn nghiên cứu .22

Hình 4.7 Sơ đồ kênh phân phối TACN .23

Hình 4.8 Cơ cấu các loại chi phí nuôi cá tra trong ao sử dụng TATC 24

Hình 4.9 Cơ cấu các loại chi phí nuôi cá tra trong ao sử dụng TACN .25

Trang 7

TATC Thức ăn tự chế

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

An Giang là tỉnh có diện tích nuôi và sản lượng thủy sản nước ngọtdẫn đầu cả nước năm 2008 và năm 2009 (Tổng cục thống kê, 2009)

Cá tra là đối tượng nuôi truyền thống và lâu đời ở An Giang nhưng ởThoại Sơn cá tra chỉ mới bắt đầu nuôi từ năm 2007 Sản lượng nuôi trồngthủy sản năm 2008 của huyện đạt gần 30.000 tấn, tăng gần 27.000 tấn so với năm

1998 Các hộ nuôi cá ao hầm đều áp dụng kỹ thuật nuôi công nghiệp với 195 ha, trong

đó trên 90 ha chuyên canh nuôi cá xuất khẩu (Nguyễn Quốc Khánh, 2010)

Trong năm 2009, vấn đề suy thoái kinh tế ảnh hưởng nghiêm trọngđến nền kinh tế Thế Giới và Việt Nam, đồng thời khiến nghề nuôi cátra rơi vào tình trạng khó khăn Người nuôi cá không thu được lợinhuận, nhiều hộ bỏ ao hay chuyển sang nuôi các đối tượng khác(năm 2009 tỉnh An Giang có hơn 200 ha ao hầm bị treo) (Trần Thanh

Phong và ctv, 2009) Thêm vào đó, theo Nguyễn Thanh Phương và ctv

(2004), hiệu quả kinh tế trong mô hình nuôi cá tra được quyết địnhbởi thức ăn (chi phí thức ăn chiếm 77,7% giá thành sản xuất) Vìvậy, để nghề nuôi cá tra tiếp tục duy trì và phát triển việc tìm rabiện pháp sử dụng hiệu quả thức ăn cho cá tra là vấn đề cần giảiquyết

Tuy nhiên, giá nguyên liệu làm thức ăn không ổn định và tăng giánhiều lần trong năm 2010 (Chí Nhân, 2010), gây khó khăn cho việc xác

định tình hình sử dụng thức ăn hiện nay Vì vậy, đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang” được thực hiện nhằm tổng hợp tình hình thực tế sử

dụng thức ăn của người nuôi cá tra vùng Thoại Sơn, đồng thời là cơ

sở cho các nghiên cứu sử dụng hiệu quả nguyên liệu làm thức ăn,góp phần cải thiện qui trình kỹ thuật nuôi cá tra tại huyện Thoại Sơnnói riêng và tỉnh An Giang nói chung

Nội dung nghiên cứu:

Điều tra tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyệnThoại Sơn, tỉnh An Giang

So sánh hiệu quả của việc sử dụng thức ăn viên công nghiệp và thức

ăn tự chế trong nuôi cá tra tại An Giang

Trang 9

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học cá tra

Theo Rainboth (1996) cá tra thuộc:

Ngành: Chordata

Lớp: Ostelchithyes

Bộ: Siluriforrmes

Họ: Pangasiidae Giống: Pangasinodon Loài: Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878.

Hình 2.1: Hình dạng ngoài của Cá Tra (Pangasianodon hypophthamus)

Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn,không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dướibóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của

cá thiên về ăn thịt Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính

ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể

ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương

Theo Trần Thanh Xuân (1994), cá tra là loài cá ăn tạp thiên về độngvật (bảng 2.1), nhưng trong quá trình ương nuôi thành cá giốngtrong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa cỡmiệng của chúng và các thức ăn nhân tạo (Đỗ Hữu Minh, 2007).Bảng 2.1: Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên

Cá con 20 ngày tuổi sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến (Lê Như

Xuân và ctv, 2000) Cá tra càng lớn phổ thức ăn càng rộng, ăn tạp

thiên về động vật Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với

Trang 10

nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy Cá tra cókhả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn có hàm lượng proteinkhác nhau, nhưng trong điều kiện thiếu thức ăn cá có thể sử dụngcác loại thức ăn bắt buột như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốcđộng vật (Trần Thanh Xuân, 1994)

2.2 Tình hình nghề nuôi cá tra An Giang

2.2.1 Tình hình phát triển nghề nuôi thủy sản ở An Giang qua các thời kỳ

An Giang là nơi khởi nguồn cho nghề nuôi cá tra, cá basa trong khuvực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nghề nuôi thủy sản ở AnGiang trong thời kỳ đầu mới phát triển có các hình thức nuôi như:ương cá tra bột, nuôi cá tra trong ao hầm, và nuôi cá basa tronglồng bè (Trần Văn Nhì, 2005) Cuối thập niên 90, sự phát triển củathị trường xuất khẩu cá basa phi lê, các nhà máy chế biến thủy sảnxuất khẩu trong và ngoài tỉnh, tăng cường thu mua nguyên liệu nênsản lượng cá tra và cá basa tăng đột biến, từ 34.000 tấn năm 1998tăng lên 50.000 tấn năm 1999 Do gia tăng nhanh về sản lượng vàdiện tích các nguồn nguyên liệu làm thức ăn cho cá tại địa phươngkhông đủ cung cấp, do đó các nguồn nguyên liệu khác và thức ăncông nghiệp đã được đưa vào sử dụng phục vụ nuôi trồng thủy sản

(Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2004, trích dẫn bởi Trần Văn Nhì,

2005)

0 50000 100000

Hình 2.2: Biểu đồ sản lượng thủy sản An Giang từ năm 1995-2008 (Tổng

cục thống kê, 2009)Tình hình thủy sản An Giang tăng dần qua các năm (Hình 2.2),nhưng hiện nay số hộ nuôi có chiều hướng giảm (theo báo cáo tìnhhình kinh tế xã hội năm 2009 của cục thống kê), sản lượng cá tra thuhoạch năm 2009 ước tính đạt hơn 1 triệu tấn, giảm 6,9% so với năm

2008, diện tích nuôi cá tra tỉnh An Giang 1.108 ha, giảm 9% so với

2008 Nuôi cá tra xuất khẩu còn gặp nhiều khó khăn, nông dân “treo ao” nhiều, dogiá thức ăn nuôi cá tăng liên tục, trong khi giá cá trên thị trường thế giới lại giảm vàrất khó tiêu thụ (Vương Thoại Trung, 2009)

Trang 11

Trước đây, ở An Giang mô hình nuôi chủ yếu là nuôi lồng bè Trong vòng mười năm,

từ 1990-2000 làng bè An Giang, Châu Đốc tăng lên hơn 4.200 chiếc lớn nhỏ, neo đậukín bờ sông Tiền từ Tân Châu qua An Phú, Châu Đốc trên sông Hậu và kéo dài xuốngChâu Phú, Phú Tân, Châu Thành đến tận Long Xuyên Đó là thời vàng son của nghềnuôi cá bè Từ năm 2000-2003 cá tra bè tiếp tục bắt đầu thô lỗ vì “cá tra nuôi bè mỡnhiều, tỷ lệ phi lê thấp, chi phí nuôi quá cao, thường bị bệnh chết ồ ạt và bị doanhnghiệp chế biến thu mua với giá thấp hơn giá thành sản xuất 20-30%, nên nghề nuôi

cá bè dần dần suy sụp Hiện nay, cá bè An Giang chỉ còn hơn 2.000 bè, công suất nuôichưa tới 50% (Hùng Anh, 2010)

Theo thống kê của Chi cục thủy sản An Giang, hộ nuôi thủy sản chủ yếu lànuôi ao hầm, năm 2009 có hơn 3 ngàn hộ nuôi cá tra trong ao Trong

đó, Thoại Sơn là huyện tuy phát triển nghề nuôi sau các địa phương trong tỉnhnhưng số hộ nuôi thủy sản khá cao (386 hộ), đồng thời chưa có nhiều nghiên cứu cũngnhư các thông tin về tình hình nuôi của huyện Vì thế, để quản lý hiệu quảvùng nuôi thủy sản mới, cần tiến hành điều tra tình hình nuôi cá củahuyện

185 351

351

1026

500 386

585 357

Tân Châu

Châu Phú

Phú Tân

An Phú

Tịnh Biên

Châu Thành

Thoại Sơn

Chợ Mới

Long Xuyên

Hình 2.3: Biểu đồ số hộ nuôi thủy sản trong ao tại An Giang (Chi cục Thủy

Một khó khăn khác là vùng nguyên liệu thủy sản được đánh giákhông ổn định do chịu ảnh hưởng của thời tiết (biến đổi khí hậu) chi phí

Trang 12

đầu tư nuôi trồng hầu hết được trang trải bằng vốn vay ngân hàng,việc đầu tư không đồng bộ và chưa được kiểm soát chặt chẽ Vì vốnvay hạn hẹp, nuôi không có lời, nhiều nông dân đã bỏ ao, treo hầm.Năm 2009 tỉnh An Giang có hơn 200 ha ao hầm bị treo, giá thức ănliên tục tăng khiến nông dân không dám mạnh dạn đầu tư nuôi nêndiện tích nuôi sụt giảm mạnh Mặc dù giá cá tra nguyên liệu có tăngnhưng giá thức ăn cũng tăng khiến người nuôi không có lãi Mỗi kg

cá tra thương phẩm nông dân phải lời từ 2.000 đồng trở lên thì mới

đảm bảo cho họ đầu tư (Trần Thanh Phong và ctv, 2009).

Ở đây, người nuôi cá sử dụng rất nhiều loại thức ăn, nhiều loạinguyên liệu khác nhau để phối chế thức ăn và phương thức phối chếcũng đa dạng Các hộ nuôi cá tra chủ yếu sử dụng các loại nguyênliệu từ phụ phẩm nông nghiệp như cá tạp, rau xanh… sẵn có tại chỗ,

rẻ tiền để phối chế thức ăn Tuy nhiên nguồn nguyên liệu không ổnđịnh phụ thuộc vào tự nhiên và mùa vụ Đồng thời việc sử dụng thức

ăn tự chế đã và đang gây ra những hậu quả nhất định cho môi

trường nuôi (Lê Thanh Hùng và ctv, 2006) Vì thế các hộ nuôi bắt

đầu sử dụng thức ăn công nghiệp và loại thức ăn này ngày càngđược sử dụng rộng rãi Nhưng chi phí sử dụng thức ăn công nghiệpluôn lớn hơn chi phí sử dụng thức ăn tự chế Dù người dân sử dụngthức ăn công nghiệp hay thức ăn tự chế thì giá thức ăn không ổnđịnh và tăng cao Hiện nay, tình hình sử dụng thức ăn rất đa dạng vàphong phú, người dân làm thế nào để giải bài toán khó về “nguyênliệu” để chi phí sản xuất thấp nhất, điều này ảnh hưởng rất lớn đếnhiệu quả cũng như lợi nhuận của người nuôi

Để có những thông tin chính xác làm cơ sở cho việc phát triển nghềnuôi cá tra ở An Giang cần phải tiến hành điểu tra tình hình nuôi,nhiều vấn đề về kỹ thuật, đặc biệt là vấn đề về thức ăn Đáp ứngnhu cầu dinh dưỡng cho cá, mang lại hiệu quả kinh tế cho ngườinuôi

2.3 Đặc điểm nghề nuôi cá tra tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Trang 13

3 4 1

11

55

19 42

15 11

3

23 16

Hình 2.4: Bản đồ hành chánh tỉnh An Giang và vùng nghiên cứu (Ủy ban

nhân dân tỉnh An Giang, 2010)Huyện Thoại Sơn có diện tích 46.872 km2, phía Bắc giáp huyện ChâuThành, phía Tây giáp huyện Tri Tôn, phía Đông giáp thành phố Long Xuyên, phíaNam giáp tỉnh Kiên Giang Huyện có 3 thị trấn (Núi Sập, Phú Hoà, Óc Eo) và 14 xã(Phú Thuận, Vĩnh Khánh, Vĩnh Chánh, Định Thành, Định Mỹ, Vĩnh Trạch, BìnhThành, Thoại Giang, Vọng Đông, Vọng Thê, An Bình, Tây Phú, Vĩnh Phú, Mỹ PhúĐông) Được kênh đào Thoại Hà cung cấp nguồn nước dồi dào thuận lợi phát triểnthủy sản (Nguyễn Quốc Khánh, 2010)

Bắt đầu phát triển nghề nuôi cá tra vào đầu năm 2007, huyện Thoại Sơn khôngphải là “vương quốc cá ao hầm” như Châu Phú và càng không phải là cái nôi của nghềnuôi cá bè như Châu Đốc hay của làng cá đăng quầng như các huyện đầu nguồn Ởvào thời điểm mà người tiêu dùng lo sợ dịch cúm gia cầm, lo sợ bệnh heo tai xanh,bệnh lở mồm long móng… thì con cá bắt đầu lên ngôi Rất nhạy bén với tình hình

“kinh tế thị trường” nên người dân Thoại Sơn đã đào ao nuôi cá, diện tích nuôi cá ởhuyện tăng lên vùn vụt, lấn át cả diện tích nuôi tôm càng xanh, đến nỗi chính quyềnThoại Sơn phải can thiệp, điều chỉnh diện tích đào ao nuôi cá ra khỏi vùng quy hoạchnuôi tôm càng xanh Có hơn 210 ha đất trồng lúa ở Phú Thuận, Vĩnh Chánh, VĩnhTrạch… đã được đào ao chuyển qua nuôi cá tra ao hầm, nhiều hơn gấp 5 lần so nămtrước, năm 2007 đã thu hoạch lứa cá đầu, năng suất đạt 300 tấn/ha, lợi nhuận hơnnhiều lần so với làm lúa (Nguyễn Thủy, 2007)

Đến năm 2008, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt gần 30.000 tấn, tăng gần 27.000 tấn

so với năm 1998 Các hộ nuôi cá ao hầm đều áp dụng kỹ thuật nuôi công nghiệp với

195 ha, trong đó trên 90 ha chuyên canh nuôi cá xuất khẩu (Nguyễn Quốc Khánh,2010)

Hình 2.5: Biểu đồ số hộ nuôi cá tra huyện Thoại Sơn (Chi cục Thủy sản tỉnh

Trang 14

Năm 2009, theo thống kê của Chi cục thủy sản An Giang, huyện Thoại Sơn có hơn1.333 ha nuôi cá tra, 229 hộ nuôi cá tra trong ao Tất cả các địa phương tronghuyện (hình 2.5) đều nuôi cá tra Đây là loài đang được ưa chuộngvới qui mô sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu gia tăng nhanhchóng cho chế biến và tiêu thụ nội địa Do cá tra dễ nuôi, mau lớn,thích nghi tốt với môi trường khắc nghiệt Kỹ thuật nuôi cá tra rất đadạng và không ngừng phát triển Nhưng nuôi cá tra nếu chỉ có kỹthuật thì chưa đủ cần có kinh nghiệm và am hiểu thị trường ThoạiSơn là huyện có phong trào nuôi cá tra khá mới mẻ (chỉ mới hainăm) Vì vậy cần nắm được tình hình nuôi cá, nhất là tình hình sửdụng thức ăn Để giúp người dân cải thiện quy trình nuôi, nhiều nhàkhoa học đã miệt mài nghiên cứu về sinh lí, môi trường nuôi, đặcbiệt là các nhu cầu về dinh dưỡng của cá tra góp phần tăng năngsuất, giảm giá thành, giúp người nuôi sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

2.4 Các nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cá da trơn

2.4.1 Nhu cầu protein (chất đạm) và acid amin

Nhu cầu protein của động vật thủy sản thường lớn hơn động vật trêncạn, nhu cầu protein của cá dao động từ 25 đến 55%, trung bình là30% Nhu cầu protein của một loài nào đó phụ thuộc vào nguồn

nguyên liệu làm thức ăn (tỉ lệ protein và năng lượng, thành phần

amino acid và độ tiêu hóa protein), giai đoạn phát triển của cơ thể,các yếu tố bên ngoài khác Khi động vật thủy sản sử dụng thức ănkhông có protein thì cơ thể giảm khối lượng, vì chúng sẽ sử dụngprotein của cơ thể để duy trì các chức năng hoạt động tối thiểu của

cơ thể để tồn tại Trái lại nếu thức ăn được cung cấp quá nhiềuprotein thì cơ thể cá không hấp thu lượng protein dư mà sử dụng đểchuyển hóa thành năng lượng hoặc thải ra ngoài Vì thế sinh trưởngcủa cơ thể giảm vì phải tốn năng lượng tiêu hóa protein dư thừa(Trần Thị Thanh Hiền, 2009)

Trang 15

Bảng 2.2: Nhu cầu protein tối ưu của một số loài cá

lượng (g)

2.4.2 Nhu cầu carbohydrate (chất bột đường)

Theo Trần Thị Thanh Hiền (2009), khả năng sử dụng carbohydratecủa động vật thủy sản khác nhau, đặc biệt là giữa các loài, trong đótính ăn là khâu quyết định đến khả năng sử dụng carbohydrate.Những loài ăn tạp, thực vật có khả năng sử dụng carbohydrate tốthơn loài ăn động vật Bổ sung carbohydrate vào thức ăn cho độngvật thủy sản nhằm mục đích sau:

Giảm giá thành, do carbohydrate là nguồn cung cấp năng lượng rẻtiền

Trang 16

Giảm việc sử dụng protein như là nguồn năng lượng (hoạt độngprotein thay thế carbohydrate), từ đó protein cung cấp từ thức ănđược động vật thủy sản sử dụng hiệu quả cho sinh trưởng.

Tăng độ bền trong nước

Giảm độ nát, bụi của thức ăn

Bảng 2.3: Tỉ lệ phần trăm (%) tinh bột sử dụng tối đa trong thức ăn cho một số loài cá

Cá tra

Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền (2009).

Nghiên cứu về khả năng sử dụng carbohydrate của Trần Thị ThanhHiền (2009) trên 3 loài: cá tra, cá basa, cá hú ở giai đoạn nhỏ chothấy các loài cá có khả năng sử dụng carbohydrate khác nhau

Bảng 2.4: Sử dụng carbohydrate ở 3 loài cá (cá tra, cá basa, cá hú)

Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền (2009).

2.4.3 Nhu cầu lipid (chất béo)

Nhu cầu lipid của động vật thủy sản được xác định dựa vào nhu cầu

về năng lượng, yêu cầu về acid béo cần thiết, nhu cầu vềphospholipid và cholesterol, đặc điểm sống, dự trữ lipid của loài.Bảng 2.5: Mức sử dụng tối đa lipid trong thức ăn trên một số loài cá

Cá nheo Mỹ

Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền (2009).

Năng lượng thức ăn không sử dụng ngay mà được dự trữ dưới dạngglycogen và mỡ Cá da trơn có dự trữ năng lượng rất thấp nên mỡ làdạng dữ trữ năng lượng chính Lipid được dự trữ trong gan, cơ và cácdạng mô mỡ bao quanh thành ruột, hay tạo lớp mỡ rất lớn như cábasa chiếm 25% thể trọng cá khi cá ăn thức ăn có quá nhiều nănglượng (Mertrampf, 1992, trích dẫn bởi Trần Văn Nhì, 2005)

thay thế protein Do cá có khả năng sử dụng hạn chế tinh bột nên

Trang 17

lipid được xem là nguồn năng lượng thức ăn chính của một số loài cá

da trơn Người sản xuất sẽ cân nhắc sẽ sử dụng nguồn lipid vừa bổsung năng lượng vừa bổ sung acid béo thiết yếu, hoặc là sử dụngtinh bột làm nguồn cung cấp năng lượng và bổ sung tỉ lệ nhỏ lipidvừa cung cấp thêm năng lượng vừa cung cấp acid béo thiết béo thiếtyếu (Lê Thanh Hùng, 2000, trích dẫn bởi Trần Văn Nhì, 2005)

2.4.4 Nhu cầu vitamin

Nhu cầu về vitamin và các triệu chứng do thiếu vitamin ở cá nheo

Mỹ được nghiên cứu rất kỹ về các triệu chứng điển hình khi thiếutừng loại vitamin Triệu chứng chung thường thấy là kém ăn, chậmlớn và tỉ lệ sống giảm

Theo Robinson (1989) nhu cầu vitamin A của cá nheo Mỹ là 450 –

900 UI/kg thức ăn (trích dẫn bởi Trần Văn Nhì 2005) Ngoài cá nheo

Mỹ các đối tượng khác rất ít được nghiên cứu về nhu cầu vitamin của

cá nheo Mỹ cũng tương tự như các loài cá da trơn khác (Wilson vàMoreau, 1996, trích bởi Trần Văn Nhì, 2005)

2.4.5 Nhu cầu về khoáng chất

Theo Trần Thị Thanh Hiền (2004) có một trở ngại khi nghiên cứu vềnhu cầu khoáng cho động vật thủy sản là do động vật thủy sản cóthể hấp thu khoáng trực tiếp từ môi trường nước hoặc hấp thu qua

da, mang Do đó rất khó xác định nhu cấu khoáng chính xác chođộng vật thủy sản

Đến nay người ta đã xác định 11 nguyên tố cần thiết cho cá da trơn,bao gồm 4 nguyên tố đa lượng (canxi, phospho, magie, kali) và 7khoáng vi lượng (sắt, đồng, chì, mangan, iod, cobalt và selenium)(Trần Văn Nhì 2005)

2.4.6 Nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho giống cá Pangasius ở Việt Nam

Các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và chế biến thức ăn cho cácloài cá da trơn thuộc giống pagasius thực hiện tại trường Đại HọcCần Thơ từ năm 1995 đến nay Các nghiên cứu tập trung về nhu cầucác chất dinh dưỡng như đạm và chất bột đường, khẩu phần ăn, khảnăng sử dụng các nguồn nguyên liệu khác nhau Trần Thị Thanh

Hiền và ctv (2004) nghiên cứu nhu cầu chất đạm, chất bột đường và

phát triển thức ăn cho ba loài cá trơn nuôi phổ biến cá basa

Pangasius bocourti, cá tra Pangasius hypophthalmus, cá hú Pangasius conchophilus ở giai đoạn giống Nguyễn Thanh Phương

và ctv (2006) nghiên cứu tình hình nuôi và sử dụng thức ăn cho cá tra (pangasius hypophthalmus) nuôi ao và bè ở An Giang Lê Thanh Hùng và ctv (2006) trường Đại Học Cần Thơ nghiên cứu tình hình sử dụng thức ăn trong

nuôi cá tra và basa khu vực ĐBSCL

Trang 18

Tuy nhiên các nghiên cứu trên tập trung ở giai đoạn giống Giai đoạnnuôi thịt vẫn chưa được quan tâm và nghiên cứu chưa đầy đủ, thànhphần thức ăn ở mỗi thời kì có giá thành khác nhau, cách sử dụng

cũng khác nhau, dẫn đến chi phí thức ăn cũng thay đổi Vì thế cần

có nghiên cứu theo từng thời điểm để xây dựng quy trình kỹ thuậthợp lý cho cá tra

2.5 Đặc điểm một số nguyên liệu chính làm thức ăn cho cá tra

2.5.1 Nhóm nguyên liệu thức ăn cung cấp năng lượng

Theo Trần Thị Thanh Hiền (2009), Nhóm nguyên liệu thức ăn cungcấp năng lượng gồm nhóm cung cấp carbohyrate (chủ yếu là nhómthực vật cung cấp tinh bột) và nhóm dầu mỡ (dầu động vật và thựcvật)

Tinh bột có nhiều trong các mô tích lũy của thực vật như khoai, hạtngũ cốc và các chế phẩm của nông nghiệp như cám, gạo, bắp, bánhmì

Bảng 2.6: Thành phần sinh hóa một số nguồn thực vật cung cấp tinh bột

8,512,812,83,20,99,512,911,716,4

3,64,613,71,71,71,91,71,24,0

2,35,311,12,20,80,82,51,39,9

1,37,411,62,60,72,11,60,45,3

Nguồn: NRC, 1993 (trích dẫn bởi Trần Thị Thanh Hiền, 2009).

Ngoài ra dầu động thực vật cũng là nguồn cung cấp năng lượngquan trọng trong thức ăn, cung cấp các acid béo không no cần thiếtcho động vật thủy sản, là chất tạo mùi cho thức ăn

Trang 19

Bảng 2.7: Thành phần acid béo của một số nguồn dầu động thực vật

011101

000000

000000

121013

16128101312

14185101010

Nguồn: Hertrampf và Piedad-Pascual, 2000 (trích dẫn bởi Trần Thị Thanh Hiền, 2009)

2.5.2 Nhóm nguyên liệu thức ăn cung cấp Protein

Theo Trần Thị Thanh Hiền (2009), nguồn nguyên liệu cung cấpprotein chia làm hai nhóm phụ thuộc vào nguồn gốc: protein thựcvật và protein động vật

Nhóm protein động vật thường được động vật thủy sản sử dụng cóhiệu quả hơn nguồn protein thực vật Trong số các nguồn proteinđộng vật (bột cá, bột đầu tôm, bột huyết, bột xương, bột mực ), bột

cá là nguồn cung cấp protein tốt nhất

Bảng 2.8: Thành phần cơ bản của một số loại bột cá thành phẩm (% khối lượng)

%)

Tro thô(%

)

Xơ thô(

%)

Bột cá Kiên Giang 65% protein

Bột cá Kiên Giang 60% protein

Bột cá Kiên Giang 55% protein

65,2660,4055,6755,1360,4455,5655,3060,0365,0461,0665,94

6,196,947,897,376,426,807,136,976,104,984,92

19,0820,5024,2322,7221,2023,3524,1620,7218,2519,9718,96

1,011,891,882,331,541,80,831,151,51,471,48

Nguồn Nguyễn Văn Nguyệt và ctv, 2006

Trang 20

Nguồn protein thực vật gồm đậu nành, đậu phộng, hạt bông vải Trong đó đậu nành được xem là nguồn protein thực vật thay thế bột

cá tốt nhất

Bảng 2.9: Thành phần dinh dưỡng của một số nguồn protein thực vật

dầu Đậu nành

Bánh dầu Bông vải

Bánh dầu Dừa

Bánh dầu Đậu phộng

91411,429,16,517,99,1

9021,51,643,97,016,1-

8945-481,1-4,5

Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền (2009).

Trang 21

Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng lại có tới 70% nguyên liệu (22 loại nguyên liệu)dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu gần như là 100% loại nguyên liệudùng để sản xuất thức ăn hỗn hợp Hệ quả, mỗi khi thị trường nguyên liệu thức ănchăn nuôi thế giới tăng cao thì giá các loại thức ăn chăn nuôi trong nước cũng tăngtheo, thiệt hại cuối cùng vẫn chính là nông dân (Văn Phúc Hậu, 2009) Như vậy, cầnnắm rõ tình hình sử dụng thức ăn hiện nay của người nuôi, góp phần giúp người nuôigiải bài toán về “nguyên liệu” để thu lại lợi nhuận cao nhất

Trang 22

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương tiện nghiên cứu

Mẫu phiếu phỏng vấn các hộ nuôi cá tra

Máy tính phục vụ cho việc nhập, xử lý số liệu và viết bài báo cáo

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2010 đến tháng 06/2010

Địa điểm thực hiện:

Điều tra, thu số liệu tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Phân tích, xử lý số liệu và viết báo cáo tại thành phố Cần Thơ

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Thông tin thứ cấp: liên hệ với các cơ quan ban ngành tại địa bàn

nghiên cứu để lấy thông tin, kết hợp tham khảo các tài liệu như:sách, tạp chí, internet và các nghiên cứu trước để tìm thông tin liênquan tới đề tài

Thông tin sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi cá để thu thập

những thông tin cần thiết của đề tài Tổng số hộ phỏng vấn là 30 hộnuôi cá tra

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được kiểm tra sau đó tiến hành nhập vào máy vi tính, sau đó

mã hóa và được kiểm tra kỹ trước khi tiến hành phân tích số liệu

Sử dụng các phần mềm vi tính: Excel (phiên bảng 2003) để xử lí vàphân tích số liệu Đồng thời kết hợp với Word (phiên bảng 2003) đểviết báo cáo

3.2.4 Các biến chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu

Thông tin chung về hộ nuôi cá (tên, tuổi, trình độ kỹ thuật )

Thông tin về quy trình kỹ thuật nuôi

Thông tin về các loại thức ăn:

Thức ăn công nghiệp: lượng cho ăn và chi phí cho vụ nuôi và cácthông tin khác như giá thức ăn, hiệu quả sử dụng thức ăn

Thức ăn chế biến: cách phối chế thức ăn, lượng cho ăn và chi phí cho

vụ nuôi và các thông tin khác như giá thức ăn, hiệu quả sử dụngthức ăn

Hoạch toán kinh tế vụ nuôi

Trang 23

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thông tin chung

Trình độ văn hóa

Trình độ văn hóa ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật để ứng dụng vàotrong sản xuất Người có học vị càng cao thì khả năng tiếp thu khoa học công nghệcàng nhanh, có thể ứng dụng vào thực tiễn thuận lợi hơn

Kết quả điều tra về trình độ văn hóa ở các hộ nuôi cho thấy, người nuôi chủ yếu dựavào kinh nghiệm nên số chủ hộ có trình độ đại học chiếm 10%, số chủ hộ có trình độtrung cấp chiếm 3%, cấp 3 chiếm 27% Nhiều nhất là số chủ hộ cấp 1 và cấp 2 chiếm60%

27%

60%

Đại học Trung cấp Cấp 3 Cấp 2 và cấp 1Hình 4.1: Trình độ văn hóa của các hộ nuôi cá tra (%)Nhìn chung trình độ văn hóa của các chủ hộ nuôi ở Thoại Sơn những năm gần đây đãcải thiện hơn, điều này ảnh hưởng rất lớn đến công tác tuyên truyền và tập huấn cũngnhư nhận thức của người dân tại địa bàn nghiên cứu

Lao động thuê mướn thường xuyên

Do diện tích nuôi của các chủ hộ nuôi cá thường rất lớn Đồng thời công việc cho cá

ăn tương đối vất vả nên cần nhiều lao động Vì thế hầu hết các hộ nuôi đều thuê mướnlao động tùy theo diện tích nuôi, có 86,7% số hộ nuôi thuê mướn lao động, chỉ có13,3% số hộ có diện tích nuôi nhỏ không thuê mướn, sử dụng lao động gia đình để tiếtkiệm chi phí Kết quả khảo sát 30 hộ, trung bình mỗi hộ thuê khoảng 6 lao động/vụ.Những hộ nuôi sử dụng TACN (trung bình mỗi hộ thuê khoảng 5 lao động/vụ) mướn

ít lao động hơn những hộ cho ăn TATC (trung bình mỗi hộ thuê khoảng 11 laođộng/vụ)

Trang 24

Kinh nghiệm nuôi

Phong trào nuôi cá tra ở Thoại Sơn tuy mới phát triển từ năm 2007, nhưng vốn đầu tưnuôi rất lớn, mức sống của người dân tại địa phương không cao nên chủ yếu các chủ

hộ nuôi lớn từ Phú Hòa, Mỹ Hòa Hưng – An Giang Đó là những nơi nuôi cá lâu đờicủa An Giang, có rất nhiều hộ nuôi có kinh nghiệm 10 năm, trung bình là (4,4±3,1)năm Kinh nghiệm nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất nuôi, kinh nghiệm cànglâu càng giúp các hộ tích lũy được vốn kiến thức cũng như kỹ thuật, kết hợp với khoahọc kỹ thuật sẽ mang lại hiệu quả rất cao

4.2 Thông tin về mô hình nuôi

Mật độ giống thả

Mật độ thả là một yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất nuôi Khi mật độ thảtăng thì năng suất thường tăng theo nhưng đồng thời yếu tố rủi ro sẽ cao hơn Trungbình mật độ thả của các hộ là 64 con/m2, hộ thả cao nhất là 158 con/m2, hộ thả thấpnhất là 40 con/m2 Mật độ này cao hơn rất nhiều so với khuyến cáo (25con/m2)

Trang 25

Nguồn giống

Cá giống được mua từ các trại giống trong và ngoài tỉnh Vào thời điểm năm 2005,người dân mua giống chủ yếu từ vùng Tân Châu - An Giang và Hồng Ngự - ĐồngTháp (Trần Văn Nhì, 2005) Do hai nơi này là vùng sản xuất giống cá tra lớn nhấtĐBSCL, nhưng hiện nay chỉ có một số ít hộ nuôi lấy giống từ hai vùng đó, vì kỹ thuậtsản xuất giống đã được nhân rộng, các hộ nuôi chủ yếu bắt giống tại Thoại Sơn, để đỡtốn chi phí vận chuyển Qua thống kê kết quả điều tra cho thấy, có 40% số hộ mua cá

từ Thoại Sơn, 33,3% số hộ mua cá các nơi khác trong tỉnh An Giang (chủ yếu từ TânChâu, Phú Tân), còn lại 26,7% số hộ mua cá từ các tỉnh khác (Phụ lục D)

Diện tích nuôi

Diện tích bình quân nuôi cá tra tại địa bàn nghiên cứu tương đối lớn(12.222±8.395m2) Diện tích hộ nuôi nhỏ nhất là 18.000m2, hộ nuôi có diện tích lớnnhất là 30.000m2

Bảng 4.1: Thông tin chung về mô hình nuôi

Diện tích (m2) 30.000 18.000 12.222 ± 8.395

4.3 Thông tin về thức ăn

4.3.1 Các loại thức ăn sử dụng phổ biến trong nuôi cá tra

Thức ăn là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong nuôitrồng thủy sản Để cá có thể phát triển tốt cần sử dụng loại thức ăn đảm bảo đầy đủ vềchất dinh dưỡng Thức ăn nuôi cá tra có hai loại chính: thức ăn công nghiệp (TACN)

Trang 26

Hình 4.3: Các loại thức ăn sử dụng trong nuôi cá tra ở Thoại Sơn

Trang 27

4.3.2 Tình hình sử dụng TATC tại địa bàn nghiên cứuThành phần nguyên liệu sử dụng

Theo tác giả Trần Văn Nhì, 2005 các hộ nuôi sử dụng nguyên liệu làm thức ăn cho cágồm: cám, cá tạp, tấm, bột cá, men, vitamin Có 100% số hộ nuôi ở vùng nuôi truyềnthống sử dụng cám và 94,4% số hộ sử dụng cá tạp Ở vùng nuôi mới các nguyên liệuđược các hộ sử dụng làm thức ăn cho cá đa dạng hơn Ngoài hai nguồn nguyên liệuchính là bột cám và cá tạp còn sử dụng thêm các nguồn nguyên liệu khác như bột đậunành, men

Tại địa bàn nghiên cứu, có 10 loại nguyên liệu được sử dụng làm thức ăn cho cá tragồm: cám, tấm, bột cá, bột mì, khoai mì, bột đậu nành, cá tạp, lysine, methionine,vitamin

Bảng 4.2: Các loại nguyên liệu chế biến thức ăn cho cá tra nuôi thương phẩm tại ThoạiSơn

Hai nguồn nguyên liệu cổ điển và luôn chiếm tỉ lệ cao là cám và cá tạp Đây cũng làhai thành phần chủ yếu trong thức ăn theo kết quả khảo sát của Trần Văn Nhì, 2005.Hiện nay có nhiều loại cám dùng làm thức ăn nuôi cá tra: cám y, cám lau basa 1, cámlau basa 2 Từ ba loại cám cơ bản này người dân chế biến thêm các loại cám khác nhưcám sấy, cám ly trích, cám pha Các hộ chủ yếu sử dụng cám lau, được mua trực tiếp

từ các nhà máy Trước đây, vào thời điểm năm 2005, cám được mua chủ yếu từthương lái vì tại thời điểm đó đa số các hộ nuôi sử dụng TATC, nên nhu cầu sử dụngcám rất lớn Năm 2005, tại ĐBSCL có khoảng 280.000-300.000 tấn cám được tiêu thụ(Trần Văn Nhì, 2005) Hiện nay, các hộ sử dụng TATC còn lại rất ít nên chủ yếu cámđược mua trực tiếp từ nhà máy để đỡ tốn chi phí Giá cám thấp nhất trong năm tại thờiđiểm thu hoạch vụ Đông Xuân (tháng 1-3) khoảng 4.000 đồng/kg, đây là lúc các kho

và người nuôi cá mua cám dự trữ nhiều Giá cám cao trong năm vào thời điểm mưanhiều (tháng 7-8) và cao nhất vào lúc lũ rút cho đến cuối năm (tháng 10-12) khoảng5.300 đồng/kg

Trang 29

Bảng 4.3: Thông tin về giá một số nguyên liệu theo số liệu điều tra

Bột đậu nành (đồng/kg) 11.000 9.000 10.378 ± 569Nguồn nguyên liệu quan trọng thứ hai là cá tạp Có hai nguồn cá tạp phổ biến là cá tạpnước ngọt và cá biển Từ năm 2005, tác giả Trần Văn Nhì khảo sát được người dân ít

sử dụng cá tạp nước ngọt vì nguồn cá này ít hơn cá biển và giá cả cao hơn cá biển,một số người nuôi theo kinh nghiệm cho thấy nhóm cá nước ngọt cho cá tra ăn thì thịt

cá có màu vàng Thực tế hiện nay các hộ đều sử dụng cá biển, do các thương lái chở

từ Kiên Giang vào với giá dao động từ 5.000-7.000 đồng/kg Giá cá cao nhất vàonhững lúc mưa bão và gần Tết Nguyên Đán do các tàu thuyền không thể ra khơi.Hai nguồn cung cấp đạm rất tốt cho cá tra là bột cá và bột đậu nành Qua khảo sát chothấy bột cá và bột đậu nành chiếm 37,5% tổng số hộ sử dụng TATC Tuy đề tài khôngthu mẫu trực tiếp từ nông hộ để kiểm tra, nhưng qua điều tra và phỏng vấn, các hộ chobiết, có hiện tượng gian lận thương mại khi các cơ sở sản xuất ghi độ đạm trên nhãnmát và độ đạm trên thực tế không đúng (thấp hơn) Theo kết quả phân tích của TrầnVăn Nhì (2005), có loại bột cá ghi trên nhãn 55%, khi phân tích chỉ có 42,6% Thực tếkhảo sát trong 25% số hộ bị gian lận chênh lệch về độ đạm Bột cá là nguồn đạm cónhững ưu điểm hơn hẳn khi so sánh với các nguồn đạm thực vật như bánh dầu đậunành, bông vải Bột cá chứa hàm lượng protein cao, trung bình 40-60 % đạm tùytheo nguồn gốc và phương pháp chế biến, chứa đầy đủ các acid amin thiết yếu, đặcbiệt là các acid béo HUFA và PUFA mà các loại nguyên liệu khác không cung cấpđược Bột cá giàu vitamin A, muối khoáng, có độ tiêu hóa cao 80-90%, làm cho thức

ăn ngon miệng và hấp dẫn (Lê Thanh Hùng, 2008) Hiện nay, giá bột cá tăng nhanhvào thời điểm điều tra, những tháng đầu năm 2010 giá lên tới 14.700 đồng/kg, trongkhi đó các hộ nuôi cho biết năm 2009 giá bột cá chỉ khoảng 7.000-8.000 đồng/kg.Nhưng sản lượng bột cá ngày càng khan hiếm, giá thành ngày càng gia tăng, trong khi

đó giá thành phẩm của cá tra nguyên liệu thường biến động (thấp), nếu tăng thi tăng ít

và vẫn thấp hơn giá tăng của các nguyên liệu chế biến (Thái Thị Thanh Thúy, 2009).Điều này làm ảnh hưởng đến hiệu quả của người nuôi Hiện nay có nhiều nghiên cứu

về việc thay thế bột cá bằng nguồn protein rẻ tiền Vừa giảm được chi phí, vừa cungcấp đầy đủ chất dinh dưỡng Bột cá không còn là nguồn nguyên liệu rẻ tiền, chấtlượng lại không ổn định nên việc thay thế bột cá bằng các nguồn protein thực vật là tấtyếu Vì thế bột đậu nành ngày càng được sử dụng rộng rãi, bởi nguồn protein cao, ổnđịnh và giá lại rẻ hơn bột cá, vào thời điểm điều tra giá bột đậu nành dao động từ9.000-11.000 đồng/kg

Các nguồn nguyên liệu còn lại là tấm và bột mì chủ yếu đưa vào thành phần thức ănvới vai trò làm chất kết dính và cung cấp một phần năng lượng Tấm chủ yếu đượcmua từ các nhà máy Còn bột mì, các hộ chủ yếu sử dụng bột mì lát

Tỷ lệ phối chế nguyên liệu trong thức ăn

Theo Nguyễn Thanh Phương (1998) (trích dẫn bởi Trần Văn Nhì, 2005) người nuôi cábasa và cá tra An Giang trước đây sử dụng nhiều loại nguyên liệu để phối trộn thức ăn

Trang 30

cho cá, những nguyên liệu này được lấy từ các loại phụ phẩm nông nghiệp và nguồn

cá tạp sẵn có tại chỗ với giá cả rất rẻ tiền như cám, tấm, cá biển, cá linh, bí đỏ, khoailang, rau muống, bắp, khoai mì… Hiện nay, người nuôi đã biết được các loại nguyênliệu có nguồn gốc thực vật và nhóm cá tạp ăn thực vật như cá linh làm ảnh hưởng xấuđến chất lượng thịt cá và định mức chế biến thấp không đạt các yêu cầu chế biến xuấtkhẩu Các nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc thưc vật thường chứa sắc tố màu vàng, làmàu mà người tiêu dùng không chấp nhận ở thịt cá hồi và cá da trơn Chất tạo ra sắc

tố màu vàng này là hợp chất carotenoid, chỉ có các loài thực vật mới có khả năng tổnghợp chất carotenoid Cá cũng như các loại động vật trên cạn không có khả năng tựtổng hợp nên hợp chất này (Trần Văn Nhì, 2005)

Năm 2005, theo tác giả Trần Văn Nhì ở vùng nuôi cũ, số hộ nuôi sử dụng công thứcthức ăn nhiều nhất là 70,2% cá tạp: 29,8% cám (tương đương với 7 cá tạp: 3 cám) Ởvùng nuôi mới, tỉ lệ thức ăn là 57,8% cám: 42,2% cá tạp (tương đương với 6 cá tạp: 4cám)

Bảng 4.4: Tỉ lệ phối trộn nguyên liệu chế biến thức ăn cho cá tra nuôi thương phẩm tạiThoại Sơn

Tỉ lệ phối trộn nguyên liệu %

Lysine Methionine Khoai

Ở đây, các hộ không sử dụng khoáng trong thành phần thức ăn, với lí do đơn giản làtiết kiệm chi phí nuôi và có 70% số hộ được hỏi là không cần thiết, chi phí cao nhưngtheo Lê Thanh Hùng (2008), điều này không hợp lí vì nhu cầu khoáng của động vậtthủy sản tuy chỉ chiếm một tỉ trọng rất nhỏ 3-10% trong thức ăn nhưng nếu thiếukhoáng cá sẽ chậm tăng trưởng

Phương thức chế biến thức ăn

Trang 31

TATC tại các hộ nuôi cá tra đa phần là thức ăn dạng ẩm chiếm 75%, do chi phí muatrang thiết bị quá đắt Nên các hộ vẫn biết sử dụng thức ăn viên nổi sẽ tốt hơn, nhưnggiá thành trang thiết bị quá cao nên chỉ chế biến bằng phương pháp đơn giản Phươngthức chế biến thức ăn cho cá tra tại nông hộ theo sơ đồ sau:

Hình 4.4: Sơ đồ chế biến thức ăn nuôi cá traTrước tiên, các loại nguyên liệu được tính toán sẵn va cân khối lượng từng loại, kếtiếp cho nước vào lò nấu trộn để nấu trước một số nguyên liệu như cá tạp, kế đến chocám vào trộn đều và nấu tiếp tục cho đến khi các nguyên liệu kết dính lại với nhau Cóthể trộn nấu thêm tấm để làm dẻo khối thức ăn Sau đó để nguội khối thức ăn trong lònấu trộn thêm các nguên liệu khác vào (như bột đậu nành, bột cá…), xới thức ăn rakhỏi lò và để nguội tiếp tục Sau khi làm nguội thức ăn xong, nhồi trộn vitamin hoặcthuốc vào khối thức ăn, chia khối thức ăn lớn ra thành từng miếng nhỏ hơn để cho vàomáy ép viên và cho cá

Lượng thức ăn cho ăn theo nhu cầu của cá, nghĩa là cho ăn đến khi cá ngừng bắt mồi.Theo tác giả Trần Thị Thanh Hiền (2009), nhận xét về một vài khía cạnh của thức ẩm

có một số ưu điểm là tính sẵn có, ngon miệng và giá thành thấp Bên cạnh đó cũng cómột số nhược điểm như hiệu quả sử dụng thức ăn thấp, do tan nhanh trong môi trườngnước dẫn đến ô nhiễm môi trường nuôi, thời gian bảo quản ngắn, thức ăn mau hư vàmang nhiều mầm bệnh Để khắc phục vấn đề trên, một số hộ nuôi qui mô lớn đã đầu

tư máy ép đùn viên nổi, đảm bảo thức ăn có độ ngon, bảo quản lâu Nhưng do máy ởqui mô nông hộ nên công suất các máy ép với độ gia nhiệt không lớn nên tình trạng ônhiễm vẫn còn xảy ra

Cân nguyên liệuTrộn và nấu nguyên liệu trong lò

Để nguộiTrộn thêm nguyên liệu

Ép viên và cho ăn

Ngày đăng: 04/04/2013, 08:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên (Trang 11)
Hình 2.4: Bản đồ hành chánh tỉnh An Giang và vùng nghiên cứu (Ủy ban nhân dân tỉnh An  Giang, 2010) - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Hình 2.4 Bản đồ hành chánh tỉnh An Giang và vùng nghiên cứu (Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, 2010) (Trang 14)
Bảng 2.2: Nhu cầu protein tối ưu của một số loài cá - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.2 Nhu cầu protein tối ưu của một số loài cá (Trang 17)
Bảng 2.3: Tỉ lệ phần trăm (%) tinh bột sử dụng tối đa trong thức ăn cho một số loài cá - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.3 Tỉ lệ phần trăm (%) tinh bột sử dụng tối đa trong thức ăn cho một số loài cá (Trang 17)
Bảng 2.4: Sử dụng carbohydrate ở 3 loài cá (cá tra, cá basa, cá hú) - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.4 Sử dụng carbohydrate ở 3 loài cá (cá tra, cá basa, cá hú) (Trang 18)
Bảng 2.6: Thành phần sinh hóa một số nguồn thực vật cung cấp tinh bột - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.6 Thành phần sinh hóa một số nguồn thực vật cung cấp tinh bột (Trang 19)
Bảng 2.7: Thành phần acid béo của một số nguồn dầu động thực vật - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.7 Thành phần acid béo của một số nguồn dầu động thực vật (Trang 21)
Bảng 2.8: Thành phần cơ bản của một số loại bột cá thành phẩm (% khối lượng) - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.8 Thành phần cơ bản của một số loại bột cá thành phẩm (% khối lượng) (Trang 21)
Bảng 2.9: Thành phần dinh dưỡng của một số nguồn protein thực vật - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.9 Thành phần dinh dưỡng của một số nguồn protein thực vật (Trang 21)
Bảng 2.10: Các loại nguyên liệu làm thức ăn nuôi cá tra ao thương phẩm ở vùng nuôi truyền  thống (An Giang). - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.10 Các loại nguyên liệu làm thức ăn nuôi cá tra ao thương phẩm ở vùng nuôi truyền thống (An Giang) (Trang 22)
Bảng 2.11 : Các loại nguyên liệu làm thức ăn nuôi cá tra ao thương phẩm ở vùng nuôi  mới (An Giang). - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 2.11 Các loại nguyên liệu làm thức ăn nuôi cá tra ao thương phẩm ở vùng nuôi mới (An Giang) (Trang 22)
Bảng 4.2: Các loại nguyên liệu chế biến thức ăn cho cá tra nuôi thương phẩm tại Thoại Sơn. - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 4.2 Các loại nguyên liệu chế biến thức ăn cho cá tra nuôi thương phẩm tại Thoại Sơn (Trang 27)
Bảng 4.3: Thông tin về giá một số nguyên liệu theo số liệu điều tra - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 4.3 Thông tin về giá một số nguyên liệu theo số liệu điều tra (Trang 29)
Bảng 4.4: Tỉ lệ phối trộn nguyên liệu chế biến thức ăn cho cá tra nuôi thương phẩm tại Thoại  Sơn. - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Bảng 4.4 Tỉ lệ phối trộn nguyên liệu chế biến thức ăn cho cá tra nuôi thương phẩm tại Thoại Sơn (Trang 30)
Hình 4.4: Sơ đồ chế biến thức ăn nuôi cá tra - Khảo sát tình hình sử dụng thức ăn nuôi cá tra trong ao ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Hình 4.4 Sơ đồ chế biến thức ăn nuôi cá tra (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w