Sau đó dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Kim Long, tôi đã hoàn thành đồ án với đề tài : “ Nghiên cứu mối tương quan giữa độ thấm, độ rỗng theo kích thước hạt trung bình dựa trên tài liệ
Trang 11
LỜI CẢM ƠN
Sau khi hoàn thành xong các môn học trong chương trình đào tạo theo qui định của
bộ Giáo Dục và Đào Tạo, được sự đồng ý của bộ môn Địa Chất Dầu Khí – khoa Dầu Khí – Trường0020Đại học Mỏ Địa chất, Viện nghiên cứu khoa học và thiết kế dầu khí biển (NIPI), tôi đã đến thực tập tại phòng thí nghiệm mô hính hóa và vật lý của Viện nghiên cứu khoa học và thiết kế dầu khí biển Sau hơn hai tháng thực tập tại Viện, dưới
sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh, các chú trong thí nghiệm cũng như mọi người trong Viện nghiên cứu khoa và thiết kế dầu khí biển, đặc biệt là chú Nguyễn Đức Lân, trưởng phòng thí nghiệm mô hình hóa và vật lý vỉa đã giúp tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập tại Viện Sau đó dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Kim Long, tôi đã hoàn
thành đồ án với đề tài : “ Nghiên cứu mối tương quan giữa độ thấm, độ rỗng theo
kích thước hạt trung bình dựa trên tài liệu mẫu lõi và phân tích độ hạt tầng Oligocen trên, Miocen dưới mỏ X lô 09/1 bể Cửu Long”
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn: Nguyễn Kim Long, giảng viên bộ môn Địa Chất Dầu Khí – trường đại học Mỏ Địa Chất và TS Nguyễn Đức Lân trưởng phòng phòng thí nghiệm mô hình hóa và vật lý vỉa cùng với các anh các chú trong phòng thí nghiệm
Trong quá trình thực hiện đồ án do khả năng của bản thân có hạn và thời gian thực hiện đồ án còn hạn chế nên đồ án không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đồ án được hoàn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày , tháng ,năm 2014
Sinh viên thực hiện
Đỗ Quang Tùng
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
DANH MỤC PHỤ LỤC 7
PHỤ BẢN 7
MỞ ĐẦU 9
PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỂ TRẦM TÍCH CỬU LONG VÀ LÔ 09-1 11
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ VÀ NHÂN VĂN 12
1.1:Đặc điểm địa lý tự nhiên 12
1.1.1: Vị trí địa lý 12
1.1.2: Đặc điểm địa hình 13
1.1.3: Đặc điểm khí hậu 13
1.2: Đặc điểm kinh tế nhân văn 14
1.2.1: Đặc điểm dân cư 14
1.2.2: văn hóa – xã hội 14
1.2.3: Đặc điểm giao thông vận tải 17
1.2.4: Đặc điểm kinh tế 18
1.3: Đánh giá thuận lợi và khó khăn đến ngành dầu khí 19
1.3.1: Thuận lợi 19
1.3.2: Khó khăn 20
CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHU VỰC BỂ CỬU LONG VÀ LÔ 09-1 21
2.1: Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí của bể 21
2.1.1: Giai đoạn trước năm 1975 21
2.1.2: Giai đoạn từ năm 1975-1979 22
2.1.3: Giai đoạng từ năm 1980-1988 22
2.1.4: Giai đoạn từ năm 1989 đến nay 23
2.2: Lịch sử nghiên cứu mỏ X, lô 09-1 24
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27
3.1: Địa tầng 27
3.1.1: Móng trước Kainozoi 30
3.1.2: Thống Oligocen dưới 31
3.1.3: Thống Oligocen trên 32
3.1.4: Thống Miocen dưới 33
3.1.5: Thống Miocen giữa 34
3.1.6: Thống Miocen trên 34
3.1.7: Pliocen – Đệ Tứ 35
Trang 33
3.2 Cấu trúc 35
3.2.1: Các yếu tố cấu trúc 35
3.2.2: Phân tầng cấu trúc 37
3.2.3: Cấu tạo mỏ X, lô 09-1 38
3.3: Hệ thống đứt gãy 45
3.3.1: Hệ thống đứt gãy bể Cửu Long 45
3.3.2: Hệ thống kiến tạo mỏ X trong lô 09-1 46
3.4: Lịch sử phát triển địa chất 47
3.4.1: Thời kỳ trước tạo Rift 48
3.4.2: Thời kỳ đồng tạo Rift 49
3.4.3: Thời kỳ sau tạo Rift 50
CHƯƠNG 4 TIỀM NĂNG DẦU KHÍ CỦA BỂ CỬU LONG VÀ LÔ 09-1 52
4.1: Biểu hiện dầu khí và các tích tụ dầu khí 52
4.2: Đặc điểm đá sinh 52
4.2.1: Độ phong phú vật chất hữu cơ 53
4.2.2: Loại vật chất hữu cơ và môi trường tích tụ 53
4.2.3: Độ trưởng thành của vật chất hữu cơ 54
4.2.4: Quy mô phân đới sinh dầu của các tầng đá mẹ 55
4.3: Đặc điểm đá chứa 56
4.3.1: Đá móng trước Kainozoi 56
4.3.2: Đá chứa cát kết Oligocen 56
4.3.3: Đá chứa cát kết Miocen hạ 57
4.4: Đặc điểm đá chắn 58
4.4.1: Tầng chắn mang tính khu vực 58
4.4.2: Tầng chắn mang tính địa phương 58
4.5: Di chuyển và nạp bẫy 60
4.6: Các play hydrocarbon và các kiểu bẫy 60
4.6.1: Play đá móng nứt nẻ (play 1) 60
4.6.2: Play Oligocen (play 2) 61
4.6.3: Play Miocen hạ (play 3) 61
PHẦN 2: NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỘ THẤM, ĐỘ RỖNG THEO KÍCH THƯỚC HẠT TRUNG BÌNH CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 63
CHƯƠNG 5: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 64
5.1: Phương pháp xác định độ rỗng 64
5.1.1: Khái niệm và phân loại độ rỗng 64
5.1.2: Phương pháp xác định độ rỗng 65
5.2: Phương pháp xác định độ thấm 66
5.2.1: Khái niệm và phân loại độ thấm 66
5.2.2: Phương pháp xác định độ thấm 67
5.3: Các phương xác định kích thước hạt 70
CHƯƠNG 6: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, THẠCH HỌC VÀ TÍNH CHẤT VẬT LÝ ĐÁ CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 77
6.1: Đặc điểm địa chất của đối tượng nghiên cứu 77
6.1.1: Đặc điểm địa chất hệ tầng Trà Tân 77
Trang 46.1.2: Đặc điểm hệ tầng Bạch Hổ 79
6.2: Đặc Điểm thạch học của đối tượng 81
6.2.1: Đặc điểm thạch học trầm tích Oligocen trên hệ tầng Trà Tân 81
6.2.2: Đặc điểm thạch học trầm tích Miocen dưới hệ tầng Bạch Hổ 84
6.3: Tính chất vật lý đá của đối tượng 86
6.3.1: Tính chất vật lý đá của trầm tích Oligocen trên hệ tầng Trà Tân 86
6.3.2: Tính chất vật lý đá của trầm tích Miocen trên hệ tầng Bạch Hổ 87
CHƯƠNG 7: NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỘ HẠT, MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỘ RỖNG, ĐỘ THẤM, KÍCH THƯỚC HẠT TRUNG BÌNH 88
7.1: Mối tương quan giữa độ thấm, độ rỗng theo các nhóm kích thước hạt trung bình 88
7.1.1: Mối tương quan giữa kích thước hạt trung bình và độ rỗng, độ thấm 88
7.1.2: Mối tương quan giữa độ thấm, độ rỗng 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 96
Trang 55
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1 Hình 1.1 Sơ đồ phân bố mỏ X trong bể Cửu Long 12
2 Hình 3.1 Cột địa tầng tổng hợp bể Cửu Long 28
3 Hình 3.2 Cột địa tầng tổng hợp của mỏ X 29
4 Hình 3.3 Cấu tạo mặt móng bể Cửu Long 31
5 Hình 3.4 Sơ đồ phân vùng kiến tạo bể Cửu Long 36
6 Hình 3.5 Mặt cắt ngang trũng chính bể Cửu Long 37
13 Hình 3.12 Quá trình phát triển địa chất bể Cửu Long 49
14 Hình 4.1 Mức độ trưởng thành vật chất hữu cơ 53
15 Hình 4.2 Môi trường thành tạo vật chất hữu cơ 54
16 Hình 4.3 Sự biến đổi các chỉ số sinh dầu theo mặt cắt
17 Hình 4.4 Sự phân bố các tầng chắn trên mặt cắt địa chấn 59
18 Hình 5.1 giao diện thao tác của chương trình thiết lập
trong máy Poroperm chế độ đo Single step 69
19 Hình 5.2 giao diện thao tác của chương trình thiết lập
trong máy Poroperm chế độ đo Multi step 69
Trang 628 Hình 7.3 Mối tương quan giữa độ thấm và độ rỗng 90
29 Hình 7.4 Mối tương quan giữa độ thấm, độ rỗng 91
2 Bảng 6.1 Bảng phân chia độ hạt, thang Kachinskii (Nga) 71
3 Bảng 6.2 Bảng chia kích thước hạt theo Hoa Kỳ 71-72
4 Bảng 6.3 Bảng kích thước hạt theo Vietsovpetro 72
5 Bảng 6.4 Bảng phân tích kích thước hạt của mẫu 4-1-34
Trang 77
DANH MỤC PHỤ LỤC
1 Phụ lục 1 Bảng phần trăm khối lượng theo kích thước hạt
2 Phụ lục 2 Bảng phần trăm khối lượng theo kích thước hạt
102-103
7 Phụ lục 7
Sai số bình phương và tổng sai số bình phương của tần suất tích lũy khối lượng giữa logarit kích thước hạt với kích thước hạt giếng khoan X-2X
103-104
8 Phụ lục 8 Kết quả phân tích kích thước hạt trung bình (Md)
và độ lệch chuẩn (std) bằng Solver của mỏ X 104-105
PHỤ BẢN
1 Sơ đồ phân bố mỏ X trong bể Cửu Long
2 Cột địa tầng tổng hợp của bể Cửu Long
3 Cột địa tầng tổng hợp của mỏ X
4 Sơ đồ phân vùng kiến tạo bể Cửu Long
Mặt cắt ngang trũng chính bể Cửu Long
5 Bản đồ cấu tạo SH-11 ( nóc hệ tầng Trà Cú)
6 Bản đồ cấu tạo SH-7 ( nóc hệ tầng Trà Tân)
7 Mặt cắt địa chất qua giếng khoan X-1X và X-2X
8 Bản đồ đẳng nóc Oligocen trên bể Cửu Long
Bản đồ đẳng nóc Miocen dưới bể Cửu Long
Trang 89 Bảng số liệu tính toán kích thước hạt trung bình
10 Biểu đồ tương quan giữa kích thước hạt trung bình và độ thấm
Biểu đồ tương quan giữa kích thước hạt trung bình và độ rỗng
11 Biểu độ tương quan giữa độ thấm và độ rỗng
Biểu đồ tương quan giữa độ thấm và độ rỗng theo kích thước hạt trung bình
Trang 99
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác tìm kiếm, thăm dò một mỏ dầu khí không thể bỏ qua các công tác đánh giá, xác định các thông số vật lý đá của mỏ cũng như yếu tố thủy lực Đối với mỏ X đang trong quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí, công tác tính toán thông số độ thấm,
độ rỗng và yếu tố thủy lực của mỏ là không thể thiếu Trong đồ án nghiên cứu này với
sự giúp đỡ của phòng thí nghiệm mô hình hóa và vật lý vỉa, Viện nghiên cứu khoa học
và thiết kế dầu khí biển, tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá thông số độ thấm, độ rỗng
và yếu tố thủy lực của mỏ X thuộc lô 09/1 bể Cửu Long qua đề tài: “ Nghiên cứu mối tương quan giữa độ thấm, độ rỗng theo kích thước hạt trung bình dựa trên tài liệu mẫu lõi và phân tích độ hạt của tầng Oligocen trên, Miocen dưới mỏ X, lô 09/1 bể Cửu Long”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đồ án này là phân tích kích thước hạt trung bình của mỏ, quá đó đánh giá khả năng ảnh hưởng của kích thước hạt trung bình tới thông số độ rỗng, độ thấm của mỏ Qua đó nhận định tính collector của mỏ
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tầng Oligocen trên trong phạm vi mỏ X lô 09/1 bể Cửu Long Do tính chất thông số độ thấm, độ rỗng ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, ứng với mỗi môi trường thành tạo thì các yếu tố ảnh hưởng là khác nhau với các mức độ ảnh hưởng là khác nhau nên rất khó để áp dụng đồ án này trên phạm vi lớn
4 Nội dung nghiên cứu
Dựa vào tài liệu độ hạt, độ thấm, độ rỗng thu thập được từ mỏ X, tiến hành phân tích và phân chia kích thước hạt trung bình, qua đó đánh giá môi tương quan giữa kích thước hạt trung bình với độ thấm, độ rỗng và mối tương quan giữa độ rỗng, độ thấm theo kích thước hạt trung bình
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và phân chia nhóm kích thước hạt Lập các biểu đồ tương quan giữa kích thước hạt trung bình với độ thấm, độ rỗng, giữa độ thấm, độ rỗng theo kích thước hạt trung bình, qua đó đánh giá thông số độ thấm, độ rỗng và khả năng tương quan của chúng trong mỏ X
Trang 10Phần 1: Khái quát trung về bể trầm tích Cửu Long
Chương 1: Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế, nhân văn
Chương 2: Lịch sử nghiên cứu khu vực bể Cửu Long và lô 09/1
Chương 3: Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu
Chương 4: Tiềm năng dầu khí của bể Cửu Long và lô 09/1
Phần 2: Nghiên cứu mối tương quan giữa độ thấm, độ rỗng theo kích thước hạt
trung bình của đối tượng nghiên cứu
Chương 5: Phương pháp nghiên cứu
Chương 6: Đặc điểm địa chất, thạch học và tính chất vật lý đá của đối tượng nghiên cứu
Chương 7: Mối tương quan giữa độ thấm, độ rỗng theo kích thước hạt trung bình của đối tượng nghiên cứu
Kết luận
Trang 1111
PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỂ TRẦM
TÍCH CỬU LONG VÀ LÔ 09-1
Trang 12CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ VÀ NHÂN VĂN 1.1:Đặc điểm địa lý tự nhiên
Hình1.1: Sơ đồ phân bố mỏ X trong bể Cửu Long
(Báo cáo trữ lượng mỏ X (Vietsovpetro) )
Trang 1313
Độ sâu nước biển tại vùng mỏ khoảng 50m, thuận lợi cho việc sử dụng các giàn khoan tự nâng Các kết quả nghiên cứu địa chất công trình biển cho thấy phần trên của đáy biển thuận tiện cho việc xây dựng các công trình biển
Mỏ X nằm ở lô 09-1, cách giếng khoan BK-14 của mỏ Bạch Hổ 7 km về phía Đông Nam; cách giếng khoan RC-3 của mỏ Rồng 9 km về phía Đông và cách thành phố Vũng Tàu khoảng 120 km về phía Đông Nam Trong lô 09-1 có nhiều mỏ đã và đang khai thác như mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng, Đông Rồng, Đông Nam Rồng hoặc trong quá trình thăm dò, thẩm lượng như mỏ Mèo Trắng cách BK-14 của mỏ Bạch Hổ 8 km về phía Tây Nam; cách RC-3 của mỏ Rồng 6 km về phía Tây Bắc và cách thành phố Vũng Tàu khoảng 120 km về phía Đông Nam
1.1.2: Đặc điểm địa hình
Đồng bằng sông Cửu Long có bờ biển dài trên 700 km với diện tích khoảng 39.734
km2 bao gồm phần đất nằm trong phạm vi tác động của các nhánh sông Cửu Long (thượng và hạ châu thổ) và phần đất nằm ngoài phạm vi tác động đó (đồng bằng phù sa
ở rìa)
Phần thượng châu thổ là một khu vực tương đối cao (2 – 4m so với mực nước biển), nhưng vẫn bị ngập nước vào mùa mưa Phần lớn bề mặt có nhiều vùng trũng rộng lớn Vào mùa mưa, chúng chìm sâu dưới nước, còn vào mùa khô chỉ là những vũng nước tù đứt đoạn Đây là vùng đất rộng, dân cư còn thưa, chưa được khai thác nhiều
Phần hạ châu thổ thấp hơn, thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều và sóng biển Mực nước trong các cửa sông lên xuống rất nhanh Các đồng bằng phù sa ở rìa tuy nằm ngoài phạm vi tác động trực tiếp của sông nhưng vẫn được cấu tạo bởi phù sa sông (như đồng bằng sông Đồng Nai, đồng bằng Cà Mau)
Trang 14tiết, khí hậu đôi khi có thể xảy ra
Trong khu vực đôi khi có gió thổi mạnh với tốc độ khoảng 35km/giờ Tháng 4 và tháng 10 là những tháng chuyển mùa, gió thổi nhẹ, ngoài khơi sóng nhỏ Biển Vũng Tàu ít bão tố hoặc ảnh hưởng của bão không đáng kể vì thế trở thành nơi trú ngụ tốt cho thuyền bè
Chế độ thuỷ triều thuộc loại bán nhật triều, mỗi ngày đều có hai lần thuỷ triều lên xuống, biên độ triều lớn nhất là 4 - 5 m Nhiệt độ nước biển ít thay đổi, quanh năm nhiệt độ mặt nước khoảng 24 - 29 độ C, nhiệt độ đáy biển khoảng 20,5 – 220C
1.2: Đặc điểm kinh tế nhân văn
1.2.1: Đặc điểm dân cư.
Diện tích của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là 1.982 𝑘𝑚2 Mật độ bình quân dân số khoảng
503 người/𝑘𝑚2 Tổng số dân của tỉnh đến tháng 4/2010 là 1.009.719 người
Năm 1992 1994 1996 1999 2000 2001 2003 2005 2009 2010 Dân Số 673,0 670,8 706,2 800,6 822,0 841,5 884,9 913,1 996,7 1.009,7
(Dân số : ngàn người) Theo thống kê dân số tháng 4 năm 2009 thì: Dân số thành thị chiếm 49,85% dân số toàn tỉnh Nam giới chiếm 49,99% dân số toàn tỉnh Tỉnh có cơ cấu dân số như sau: Nhóm tuổi từ 0-14: 25,46% (Nam giới là 131.886 người chiếm 52% dân số nhóm tuổi này): Nhóm tuổi từ 15-59: 67,74% (Nam giới là 328.906 người chiếm 49% dân số nhóm này): Nhóm tuổi từ 60 trở lên: 6,8% (Nam giới là 27.338 người chiếm 40% dân
số nhóm này)
Thành phần dân tộc: Kinh (97,53%), Hoa (1,01%), Chơ Ro (0,76%), Khmer (0,23%), Tày (0,14%) Các dân tộc khác chiếm 0,33% dân số tỉnh, trong đó người nước ngoài là 59 người Tỷ lệ số dân theo Phật giáo là 21,66% (trong đó 48,4% là Nam); Công giáo là 25,8% (trong đó 49,6% là Nam); Cao Đài là 0,99%; Tin Lành là 0,41%; Tôn giáo khác là 4,34% và không theo bất kỳ tôn giáo nào là 46,11%
1.2.2: văn hóa – xã hội
Theo Báo cáo của UBND tỉnh năm 2011, trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hội của cả nước gặp nhiều khó khăn, thách thức do lạm phát, lãi suất ngân hàng, nguyên liệu đầu vào, giá cả các mặt hàng tăng cao nhưng kinh tế xã hội của tỉnh vẫn tiếp tục
Trang 1515
phát triển ổn định Lĩnh vực văn hóa-xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu
cơ bản đạt so với Nghị quyết:
Giáo dục đào tạo: Phát triển ổn định và có nhiều mặt tích cực: Đã đưa vào sử dụng
11 trường với 300 phòng học, nâng tổng số trường trên toàn tỉnh lên 382 trường học
Số trường đạt chuẩn Quốc gia của tỉnh là 116 trường, đạt 30,4% (NQ 34%); tỷ lệ huy động cháu đi nhà trẻ đạt 22,2% (NQ 21%); trẻ đi mẫu giáo, đạt tỷ lệ 81% (NQ 81%); tỷ
lệ tốt nghiệp THPT đạt 97,27%; số học sinh bỏ học đầu năm học giảm 0,18% so với năm học trước Về xã hội hóa giáo dục, năm 2011 đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 4
dự án xây dựng trường mầm non Tính đến nay có 25 dự án của doanh nghiệp đầu tư cho giáo dục, trong đó có 6 dự án đã đi vào hoạt động, 1 dự án đang xây dựng, 9 dự án
đã cấp giấy chứng nhận đầu và 9 dự án đã được chấp nhận chủ trương Bà Rịa Vũng Tàu có trình độ văn hóa tương đối cao, cơ sở vật chất hiện đại Tỉnh có khá nhiều trường Đại học như: Đại học Bà Rịa, Cao đẳng Sư Phạm, Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa Vũng Tàu, Cao đẳng Nghề Dầu khí, cơ sở của Đại học Mỏ-Địa chất, Đại học Dầu khí…
Về công tác dân số-y tế: Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được đảm bảo Tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 12% (NQ 12,5%), tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi tiêm chủng mở rộng đạt 98% Thực hiện khám, chữa bệnh cho khoảng 2 triệu lượt người (NQ 2 triệu lượt) Đưa vào sử dụng mới Trung tâm y tế huyện Đất Đỏ, Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trường Trung cấp y tế và 2 hệ thống xử lý rác thải tại bệnh viên Lê Lợi và bệnh viện Bà Rịa Hoàn tất các thủ tục đầu tư đối với 4 trung tâm
y tế tuyến huyện tại Tân Thành, Châu Đức, Long Điền và Côn Đảo Thêm 02 xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế, nâng tổng số xã, phường đạt chuẩn lên 75/82, chiếm tỷ lệ 91,56% (NQ 94%)
Về văn hóa-thể thao: Công tác tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị được
triển khai thực hiện tốt Tổ chức thành công chương trình kỷ niệm 20 năm thành lập tỉnh Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được tổ chức nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, cơ bản đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa, vui chơi giải trí của nhân dân địa phương và du khách Triển khai Đề án phát triển văn hóa nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2011-2015 Đưa vào sử dụng đền thờ Côn Đảo và Trung tâm văn hóa tỉnh tại Bà Rịa
Trang 16Trên lĩnh vực thể dục, thể thao đạt được những thành tích đáng khích lệ: Các vận động viên giành được 290 huy chương các loại ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng được duy trì và mở rộng Đã phê duyệt và triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển ngành thể dục, thể thao tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020
Phát thanh-truyền hình: Đã tổ chức tốt công tác tuyên truyền thực hiện Nghị quyết
số 11/NQ-CP của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; Duy trì thời lượng phát sóng, phát thanh 24 giờ/ngày
Các chính sách an sinh xã hội: Được đặc biệt quan tâm Giải quyết việc làm cho
33.500 lượt lao động, trong đó giải quyết việc làm mới cho 16.500 lượt lao động; tỷ lệ thất nghiệp 3% Xét duyệt cho 1.300 dự án vay vốn giải quyết việc làm với tổng kinh phí 27 tỷ đồng Tổ chức đào tạo nghề cho 25.500 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 58%, đạt 100% so với NQ Tính đến cuối năm, dự kiến có 6.000 hộ thoát nghèo theo chuẩn tỉnh, 1.800 hộ nghèo chuẩn quốc gia; giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tỉnh còn 9,76%, theo chuẩn quốc gia còn 3,47 Giải quyết cho 21.000 lượt hộ nghèo vay vốn với doanh số cho vay là 252 tỷ đồng; cấp mới 105.500 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo; miễn giảm học phí cho 24.871 học sinh Thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo, người có công, đối tượng chính sách Song song với công tác đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện được các
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, các hộ gia đình hưởng ứng tích cực
Công tác bảo vệ môi trường: Có những chuyển biến đáng kể Tỷ lệ rác thải nguy
hại xử lý đạt 100% Đã đưa vào sử dụng 06 lò đốt rác thải y tế, tỷ lệ rác thải y tế được
xử lý đạt 100%; rác thải sinh hoạt đang được chôn lấp tạm tại các bãi rác trên địa bàn tỉnh, tỷ lệ rác thải sinh hoạt được xử lý đạt 83% Tỷ lệ rác thải công nghiệp xử lý đạt 80%, dự kiến năm 2012 xử lý đạt 100% Trên địa bàn hiện có 12 dự án xử lý rác thải, trong đó có 3 dự án đã đi vào hoạt động; 01 dự án đang xây dựng giai đoạn 2 và 08 dự
án đang hoàn tất các thủ tục đầu tư Có 5/8 khu công nghiệp đi vào hoạt động đã cơ bản hoàn thành nhà máy xử lý nước thải tập trung Về dự án Hạ tầng kỹ thuật xử lý chất thải tập trung 100 ha Tóc Tiên, huyện Tân Thành dự kiến hoàn thành trong Quý I/2012 Về lâu dài, tỉnh cũng đã triển khai xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với
Trang 17Cùng với sự phát triển kinh tế, các vấn đề an sinh xã hội trong vùng cũng có những bước tiến đáng kể Về công tác giáo dục, việc đào tạo nguồn nhân lực ngày càng phát triển và có chất lượng cao, tăng cả về mặt số lượng và chất lượng Trong đó, thành phố Vũng Tàu có đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật vừa đông vừa có chất lượng cao đến từ các tỉnh thành trong cả nước
1.2.3: Đặc điểm giao thông vận tải
Bà Rịa – Vũng Tàu nằm ở miền Đông Nam Bộ, tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai ở Phía Bắc, với Thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, với tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, còn phía Nam giáp biển Đông Vị trí này rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ hướng ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ Vị trí này rất thuận lợi cho tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển, vận tải biển, đánh bắt nuôi trồng và chế biến hải sản, phát triển du lịch biển
Đường bộ: Tỉnh có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh nối các huyện thị với nhau Quốc lộ 51A (4 làn xe) chạy qua tỉnh dài gần 50 km Trong 5-7 năm tới sẽ có đường cao tốc Biên Hoà-Vũng Tàu 8 làn xe song song với Quốc lộ 51A
Đường sông: Hệ thống các cảng biển các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây
Từ Vũng Tàu có thể đi Thành phố Hồ Chí Minh bằng tàu cánh ngầm
Hàng không: Sân bay Vũng Tàu chủ yếu tiếp nhận cho máy bay trực thăng phục vụ cho tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí Trong tương lai, Sân bay Quốc tế Long Thành được xây dựng cách Vũng Tàu khoảng 70 km
Đường sắt: Hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh Theo quy hoạch của ngành đường sắt đến năm 2015, một đường sắt cao tốc khổ rộng 1.435 m sẽ được xây dựng nối Tp HCM và Vũng Tàu, tốc độ thiết kế: trên 300 km/h
Trang 181.2.4: Đặc điểm kinh tế
Bà Rịa Vũng Tàu thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hoạt động kinh tế của tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí Trên thềm lục địa Đông Nam Á tỷ lệ các mũi khoan tìm kiếm, thăm dò gặp Dầu khí khá cao Tại đây đã phát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (lớn nhất Việt Nam), Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông và các mỏ mới như Mèo Trắng, Gấu Trắng Đương nhiên xuất khẩu dầu đóng góp một phần quan trọng trong GDP của Bà Rịa-Vũng Tàu (ngành dầu khí đóng góp 24% GDP cho nước nhà năm 2011)
Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa Vũng Tàu còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước Trung tâm điện lực Phú Mỹ và Nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện năng của cả nước (trên 4000 MW trên tổng số gần 10.000 MW của cả nước)
Công nghiệp nặng gồm có: sản xuất phân đạm ure (800.000 tấn/năm), sản xuất polyetylen (100.000 tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép (hiện tại tỉnh có hàng chục nhà máy lớn đang hoạt động gồm VinaKyoei, Pomina, Thép miền Nam (South Steel), Bluescopes, Thép Việt, Thép Tấm ( Flat Steel), Nhà máy thép SMC và Posco Vietnam đang thi công nhà máy thép cán nguội đã đi vào hoạt động từ năm
2009
Về lĩnh vực cảng biển: kể từ khi chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội ô Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam bộ Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây Sông Thị Vải
có luồng sâu đảm bảo cho tàu có tải trọng trên 50.000 tấn cập cảng
Về lĩnh vực du lịch: tỉnh này là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước Trong thời gian qua, chính phủ đã cấp phép và đang thẩm định một số dự án du lịch lớn như: Saigon Atlantis (300 triệu USD), Công viên giải trí Bàu Trũng và Bể cá ngầm Nghinh Phong (500 triệu USD), công viên bách thú Safari Xuyên Mộc (200 triệu USD)
Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2006 – 2010 đạt 17,78% Công nghiệp - xây dựng chiếm 64,3% (giảm 0,26% so với năm 2005); thương mại – dịch vụ
Trang 1919
giảm từ 31,2% (tăng 3,48% so với năm 2005), nông nghiệp chiếm 4,5% (giảm 3,22%
so với năm 2005)
Phấn đấu đến năm 2015, thành phố Vũng Tàu trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh
và đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 14%/năm, kể cả dầu khí bình quân 10,8%/năm Về cơ cấu kinh tế, công nghiệp xây dựng 62%, dịch vụ 35%, nông nghiệp 3% Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tỉnh từ 21,69% xuống dưới 2,35% (theo chuẩn mới), cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia Mức hưởng thụ văn hóa đạt 42 lần/người/năm; 92% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa; 92% thôn, ấp đạt chuẩn văn hóa; 99% dân số nông thôn được sử dụng điện và nước hợp vệ sinh
Đến năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 295 dự án nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 28,1 tỷ USD Trong đó, có 118 dự án trong KCN với tổng vốn đầu
tư hơn 11,14 tỷ USD và 177 dự án ngoài KCN với tổng vốn đầu tư gần 17 tỷ USD Vốn đầu tư thực hiện đến nay đạt gần 6,43 tỷ USD, chiếm 22,9 % trong tổng vốn đăng
ký đầu tư Trong những năm gần đây tỉnh luôn đứng trong tốp những địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất tại Việt Nam
Kinh tế trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu vượt qua nhiều khó khăn lớn hồi đầu thập kỷ 1990, sớm tạo được thế ổn định và đạt tốc độ phát triển khá; chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa với cơ cấu công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp Năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh tăng nhanh Hàng năm Bà Rịa Vũng Tàu đóng góp GDP rất lớn cho nền kinh tế quốc dân GDP bình quân đầu người là 5.800 USD cao gấp 5 lần bình quân cả nước (năm 2011)
1.3: Đánh giá thuận lợi và khó khăn đến ngành dầu khí
1.3.1: Thuận lợi
Do điều kiện tự nhiên và lịch sử, Vũng Tàu nằm trên giao điểm nối Miền Đông và miền Tây Nam Bộ, có hệ thống giao thông đường biển, đường bộ, đường thủy và đường hàng không phát triển Nguồn nhân lực dồi dào hầu hết tập trung từ các tỉnh thành trong cả nước nên có trình độ học vấn, kỹ thuật cao
Vũng Tàu nằm ở vị trí thuận lợi cho việc mở rộng xây dựng các cảng dịch vụ dầu khí phục vụ cho việc khai thác dầu ở thềm lục địa phía Nam
Là một thành phố trẻ, Vũng Tàu có nguồn cung cấp nhân lực dồi dào, được đào tạo bài bản Giao thông vận tải đáp ứng nhu cầu di chuyển cũng như vận chuyển hàng hoá
Trang 20Vị trí của thành phố thuận lợi cho việc giao lưu xuất khẩu dầu thô với các nước trong khối Đông Nam Á cũng như quốc tế
Mặt khác, chính trị của tỉnh ổn định, tạo điều kiện và thu hút đầu tư của các Tập đoàn, các Công ty nên rất thuận lợi cho công tác thăm dò và khai thác Dầu khí cũng như các ngành nghề khác Vì vậy, Bà Rịa Vũng Tàu thu hút được rất nhiều của các Tập đoàn, Công ty trong và ngoài nước vào lĩnh vực dầu khí đầu tư như: PVEP, Vietsovpetro, PVD, PTSC, DMC, BP, Total, ConocoPhillip, Petronas …
1.3.2: Khó khăn
Từ tháng 5 đến tháng 10 là vào mùa mưa nên gây khó khăn cho công tác tìm kiếm, thăm dò Dầu khí Bão tố xảy ra gây khó khăn cho các tàu thuyền ngoài khơi cũng như các công trình Dầu khí trên biển Mùa khô cũng cần để ý đến gió mùa thổi mạnh , gió mùa Đông Bắc - Tây Nam thổi theo hai chiều ngược nhau trong hai mùa cũng gây trở ngại cho
việc thăm dò và khai thác Dầu khí
Các mỏ dầu và khí nằm ở xa bờ, độ sâu nước biển tương đối lớn do đó chi phí cho công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tương đối cao
Việc đào tạo và tuyển dụng đội ngũ có trình độ kỹ thuật cao chưa đáp ứng được nhu cầu Nguyên do là việc đào tạo vẫn thiếu rất nhiều công nghệ, thiết bị hiện đại nên phải mất một thời gian dài đào tạo lại
Tuy trong khu vực đã phát triển các ngành công nghiệp như sửa chữa tàu, sửa chứa
và đóng mới giàn khoan… nhưng đó mới chỉ là bước đầu Phần lớn các tàu và thiết bị hỏng vẫn phải gửi ra nước ngoài sửa chữa gây tốn kém Các phương tiện hiện đại vẫn phải nhập khẩu với chi phí rất cao
Vấn đề phòng chống ăn mòn các công trình Dầu khí ngoài biển cũng là một khó lớn trong công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển dầu khí
Vấn đề bảo vệ và cải tạo môi trường là vấn đề bức xúc đặt lên hàng đầu do rác thải của công nghiệp Dầu khí, công nghiệp đóng tàu
Chúng ta phải thuê các thiết bị hiện đại để bảo vệ vùng biển và vùng khai thác dầu khí, thuê các chuyên gia về Dầu khí với chi phí cao
Trang 2121
CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHU VỰC BỂ CỬU LONG
VÀ LÔ 09-1 2.1: Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí của bể
Trong những mỏ đã và đang khai thác hiện nay ở Việt Nam thì mỏ Bạch Hổ là mỏ dầu lớn nhất được phát hiện trên thềm lục địa Việt Nam do XNLD Vietsovpetro điều hành Mỏ được đưa vào khai thác từ năm 1986 Hiện nay mỏ đang ở cuối giai đoạn khai thác thứ 3 và dự tính đến năm 2025 thì mỏ sẽ được khai thác hết Hiện nay, có rất nhiều mỏ đã và đang được Vietsovpetro đưa vào khai thác như mỏ Rồng, Đông Rồng, Đông Nam Rồng, Rạng Đông… và các mỏ đang trong thời kỳ thăm dò, thẩm lượng như Nam Rồng-Đồi Mồi, Mèo Trắng, A …
Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí bể Cửu Long gắn liền với lịch sử tìm kiếm thăm
dò dầu khí của thềm lục địa Nam Việt Nam Căn cứ vào quy mô, mốc lịch sử và kết quả thăm dò, lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí của bể Cửu Long được chia thành 4 giai đoạn
2.1.1: Giai đoạn trước năm 1975
Đây là thời gian đầu tiên thực hiện các công tác khảo sát địa vật lý khu vực như từ, trọng lực và địa chấn để phân chia các lô, chuẩn bị cho công tác đấu thầu, ký các hợp đồng dầu khí
Năm 1967, US Navy Oceanographic Office đã tiến hành khảo sát từ hàng không gần như khắp lãnh thổ Miền Nam Năm 1967 – 1968, hai tàu Ruth và Maria của Alpine Geophysical Corporation đã tiến hành đo 19.500 km tuyến địa chấn ở phía Nam Biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long
Năm 1969, công ty Ray Geophysical Mandrel đã tiến hành đo địa vật lý biển bằng tàu N.V.Robray I ở vùng thềm lục địa Miền Nam và vùng phía Nam của Biển Đông với tổng số 3.482 km tuyến trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long
Trong năm 1969 US Navy Oceanographic cũng tiến hành đo song song 20.000 km tuyến địa chấn bằng 2 tàu R/V E.V Hunt ở vịnh Thái Lan và phía Nam Biển Đông, trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long
Đầu năm 1970, công ty Ray Geophysical Mandrel lại tiến hành đo đợt hai ở Nam Biển Đông và dọc bờ biển 8.639 km, đảm bảo mạng lưới cỡ 30 km x 50 km, kết hợp giữa các phương pháp từ, trọng lực và hàng không, trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu
Trang 22Long Năm 1973-1974 đã đấu thầu trên 11 lô, trong đó có 3 lô thuộc bể Cửu Long là
2.1.2: Giai đoạn từ năm 1975-1979
Năm 1976, Công ty địa vật lý CGG của Pháp khảo sát 1.210,9 km tuyến địa chấn 2D dọc theo các con sông của đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven biển Vũng Tàu-Côn Sơn Kết quả của công tác khảo sát địa chấn đã xây dựng được các tầng phản xạ chính: từ CL20 đến CL80 và khẳng định sự tồn tại của bể Cửu Long với một mặt cắt trầm tích Đệ Tam dày Năm 1978 công ty Gecco (Na Uy) thu nổ địa chấn 2D trên lô 10, 09, 16, 19, 20, 21 với tổng số 11.898,5 km và làm chi tiết trên cấu tạo Bạch Hổ với mạng lưới tuyến 2x2 km và 1x1 km Riêng đối với lô 15, công ty Deminex đã hợp đồng với Gecco khảo sát 3.221,7 km tuyến địa chấn với mạng lưới 3,5 x 3,5 km trên lô 15 và cấu tạo Cửu Long (nay là Rạng Đông) Căn cứ vào kết quả minh giải tài liệu địa chấn này Deminex đã khoan 4 giếng khoan tìm kiếm trên các cấu tạo triển vọng nhất Trà Tân (15-X-1X), Sông Ba (15-B-1X), Cửu Long (15-C-1X) và Đồng Nai (15-G-1X) Kết qủa khoan các giếng này đều gặp các biểu hiện dầu khí trong cát kết tuổi Miocen sớm và Oligocen, nhưng dòng dầu không có ý nghĩa công nghiệp
2.1.3: Giai đoạng từ năm 1980-1988
Công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam trong giai đoạn này được triển khai rộng khắp, nhưng tập trung chủ yếu vào một đơn vị, đó là Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro Năm 1980 tàu nghiên cứu POISK đã tiến hành khảo sát 4.057 km tuyến địa chấn MOB - điểm sâu chung, từ và 3.250 km tuyến trọng lực Kết quả của đợt khảo sát này đã phân chia ra được tập địa chấn B (CL4-1, CL4-2), C (CL5-1), D (CL5-2), E (CL5-3)
và F (CL6-2), đã xây dựng được một số sơ đồ cấu tạo dị thường từ và trọng lực Bouguer Năm
1981, tàu nghiên cứu Iskatel đã tiến hành khảo sát địa vật lý với mạng lưới 2x2,2 km - 3x2,5
Trang 23nẻ vào tháng 9 năm 1988
2.1.4: Giai đoạn từ năm 1989 đến nay
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở bể Cửu Long Với sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Dầu Khí, hàng loạt các công ty dầu nước ngoài đã ký hợp đồng phân chia sản phẩm hoặc cùng đầu tư vào các lô
mở và có triển vọng tại bể Cửu Long Đến cuối năm 2003 đã có 9 hợp đồng tìm kiếm thăm
dò được ký kết trên các lô: 09-1, 09-2, 09-3, 01&02, 01&02/96, 15-1, 15-2, 16-1, 16-2, 17 Triển khai các hợp đồng đã ký về công tác khảo sát địa vật lý thăm dò, các công ty dầu khí
đã ký hợp đồng với các công ty dịch vụ khảo sát địa chấn có nhiều kinh nghiệm trên thế giới như: CGG, Geco-Prakla, Western Geophysical Company, PGS v.v Hầu hết các lô trong bể
đã được khảo sát địa chấn tỉ mỉ không chỉ phục vụ cho công tác thăm dò mà cả cho công tác chính xác mô hình vỉa chứa Khối lượng khảo sát địa chấn trong giai đoạn này, 2D là 21.408
km và 3D là 7.340,6 𝑘𝑚2 Khảo sát địa chấn 3D được tiến hành trên hầu hết các diện tích có triển vọng và trên tất cả các vùng mỏ đã phát hiện Trong lĩnh vực xử lý tài liệu địa chấn 3D
có những tiến bộ rõ rệt khi áp dụng quy trình xử lý dịch chuyển thời gian và độ sâu trước cộng (PSTM, PSDM)
Cho đến hết năm 2003 tổng số giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác đã khoan
ở bể Cửu Long khoảng 300 giếng, trong đó riêng Vietsovpetro chiếm trên 70% Bằng kết quả khoan, nhiều phát hiện dầu khí đã được xác định: Rạng Đông (lô 15.2), Sư Tử Đen, Sư
Tử Vàng, Sư Tử Trắng (lô 15.1), Topaz North, Diamond, Pearl, Emerald (lô 01), Cá Ngừ Vàng (lô 09.2), Voi Trắng (lô 16.1), Đông Rồng, Đông Nam Rồng (lô 09-1) Trong số phát hiện này có 5 mỏ dầu: Bạch Hổ, Rồng (bao gồm cả Đông Rồng và Đông Nam Rồng), Rạng
Trang 24Đông, Sư Tử Đen, Hồng Ngọc hiện đang được khai thác với tổng sản lượng khoảng 45.000 tấn/ngày Tổng lượng dầu đã thu hồi từ 5 mỏ từ khi đưa vào khai thác cho đến đầu năm
2005 khoảng 170 triệu tấn
2.2: Lịch sử nghiên cứu mỏ X, lô 09-1
Lô 09-1 có rất nhiều mỏ lớn đã được tìm thấy và khai thác như: Bạch Hổ, Đông Rồng, Đông Nam Rồng, Rồng trung tâm, Nam Rồng Hầu hết được tìm thấy trong đá móng trước Kainozoi, và một phần dầu trong Oligocen và Miocen dưới
Với trữ lượng dầu đang suy giảm, việc tìm kiếm thăm dò các mỏ mới là rất quan trọng, liên doanh Vietsovpetro đã sử dụng các công nghệ hiện đại để phát hiện các mỏ mới dựa trên những công tác minh giải tài liệu địa chấn 3D các khu vực ít được nghiên cứu của mỏ Bạch hổ đã được thể hiện vào năm 2009 trên cơ sở tài liệu hiện có theo miền thời gian 3D PSDM ( time domain) Kết quả là đã xây dựng được bộ bản đồ chung cho các khu vực ít được nghiên cứu và mỏ bạch hổ theo các tầng phản xạ chính SH-3,5,7,8,10,11 và SH-BSM Từ kết quả minh giải đã phát hiện ra một loại cấu tạo tiềm năng trong đó có cấu tạo X
Nghiên cứu cấu trúc địa chất khu vực của cấu tạo X, phân tích tổng hợp tài liệu địa chấn- địa vất lý, kết quả khoan ở lô 09-1 và các khu vực lân cận được thể hiện ở báo cáo NIR-I3( 2010) “Phân tích tổng hợp tài liệu địa chất địa vật lý và kết quả khoan thăm dò trên các diện tích tiềm năng ít được nghiên cứu lô 09-1” Đây là cơ sở để biện luận cơ sở địa chất đặt giếng khoan tìm kiếm thăm dò X-1X đầu tiên trên cấu tạo X Cho đến thời điểm 01.01.2013, trên diện tích cấu tạo X đã khoan 2 giếng tìm kiếm- thăm dò: X-1X và 2x
Giếng khoan X-1x, được khoan thân xiên, bắt đầu khoan vào ngày 06.05.2012 bằng giàn tự nâng “ MURMANSKAIA”, nhằm mục đích tìm kiếm- thăm dò các vỉa dầu khí trong trầm tích Miocen duới và Oligocen trên của cấu tạo X lô 09-1 Khi khoan đến chiều sâu thiết kế đáy 3585m/CSTĐ 3400m, ngày 11.06.2012 đã quyết định tiếp tục khoan sâu thêm vào tầng SH-8 Giếng kết thúc khoan vào ngày 12.06.2012 với chiều sâu đáy thực tế là 3671m/CSTĐ 3490,3m Trong giếng khoan X-1x đã tiến hành thử vỉa 5 đối tượng, trong đó hai đối tượng thuộc trầm tích Oligocen trên, ba đối tượng trong lát cắt trầm tích Oligocen dưới
Trang 2525
Giếng khoan X-2X bắt đầu khoan vào ngày 25.08.2012 bằng giàn tự nâng
“TAMDAO-02”, nhằm mục đích tìm kiếm thăm dò các vỉa dầu khí trong trầm tích Miocen dưới và Oligocen trên của cấu tạo X, lô 09-1 Giếng khoan thân xiên theo phương vị 2250 Khi đạt đến chiều sâu thiết kế 4103m thì xảy ra sự cố kẹt bộ khoan (tại
độ sâu 3027m), bắt buộc phải mở cửa sổ ống 245m ở chiều sâu 2631m để khoan thân hai Giếng khoan kết thúc vào ngày 24.11.2012 tại chiều sâu đáy thực tế là 3970m/CSTĐ 3517m Tương tự như với giếng khoan X-1X giếng X-2X cũng tiến hành thử vỉa với 2 đối tượng.kết quả thử vỉa được biểu diễn ở bảng 2.1
GK Đối tượng Thống Khoảng thử, m
Thân giếng CSTĐ
Kết quả thử vỉa
X-1X
I
Oligocen trên
III Miocen
dưới
3370-3328
Sau 8h chờ dòng, nhận được khí, nước
và váng dầu Sau khi bơm nitơ nhận được dòng yếu gồm 70% nước bẩn + 30% hỗn hợp dầu và nitơ
3205-3165
Trang 26IV+V 3245-3105
Sau 4h chờ dòng nhận được khí Sau khi bơm nitơ qua ống mềm nhận được khí, váng dầu và nước bẩn
3087-2955
X-2X
I
Oligocen trên
3873-3756
Sau khi bơm nit ơ tại chiều sâu 2630m nhận được dòng dầu khí tự phun,
Qd = 90,7 m3/ng.đ, Qg=18700m3/ng.đ 3420-3303
Sau khi bơm nit ơ nhận được khí nước váng dầu Sau khi xử lý vùng cận đáy bằng axit nhận được dòng hỗn hợp dầu + nước (tỷ trọng 0,92g/cm3), (30% nước) Qd = 100m3/ng.đ,
Qg = 7031m3/ng.đ
3297-3242
Bảng 2.1: Bảng kết quả thử vỉa giếng khoan X-1X và X-2X
(Tài liệu Vietsovpetro)
Trang 27Tính đến thời điểm ngày 01.01.2013, trên cấu tạo X đã khoan hai giếng khoan thăm
dò X-1X và 2X Việc phân chia địa tầng của cấu tạo X được thực hiện theo kết quả liên kết tài liệu ĐVLGK, tài liệu carota khí, kết quả phân tích mẫu mùn khoan, mẫu lõi của hai GK nói trên và có đối sánh với các số liệu của một số GK ở khu vực tây bắc mỏ Bạch Hổ
Trang 28Hình 3.1: Cột địa tầng tổng hợp bể Cửu Long
(Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam)
Trang 29Chủ yếu là cát kết hạt mịn xem kẽ sét kết, rất giàu các mảnh vụn và hóa thạch sinh vật biển, glauconit Lắng đọng trong điều kiện biển nông, gần
bờ, một vài nơi còn phát hiện đá vôi
Sh7
Hệ tầng Bạch Hổ dưới chủ yếu là cát kết và bột kết xen kẹp với các lớp sét kết màu xám tối, xám đến xám vàng xám đỏ.Cả 2 lắng đọng trong các điều kiện đồng bằng châu thổ, sông hồ, vũng vịnh, bồi tích biển nông gần bờ
Trang 303.1.1: Móng trước Kainozoi
Đến nay, tại bể Cửu Long đã có hàng trăm giếng khoan sâu vào móng trước Kainozoi tại nhiều vị trí khác nhau trên toàn bể Về mặt thạch học đá móng có thể xếp thành 2 nhóm chính: granit và granodiorit - diorit, ngoài ra còn gặp đá biến chất và các thành tạo núi lửa
Trong phạm vi lô 09-1, theo tài liệu mẫu lõi, đá móng chủ yếu là granit biotit và granit haimica, chứa nhiều monzolit thạch anh, monzodiorit thạch anh và diorit á kiềm, granit (GK BH-8), granodiorit (GK BH-17) và monzodirit thạch anh (GK BH-7) Đá móng chịu sự thay đổi bởi quá trình biến đổi thứ sinh ở các mức độ khác nhau Trong
số các khoáng vật thứ sinh phát triển nhiều nhất là zeolit và canxit
Theo phương pháp phóng xạ xác định tuổi, tuổi tuyệt đối của đá móng từ 245+7 triệu năm (Triat muộn) đến 89+3 (Creta muộn) triệu năm
Đá granitoit có nứt nẻ và hang hốc Trong lát cắt đá macma thường gặp các đai mạch có thành phần đá khác nhau, từ axit đến kiềm trung tính, kiềm thạch anh
Mặt móng ở khu vực cấu tạo X có cấu trúc đơn nghiêng kéo dài tuyến tính và nghiêng dần từ bắc xuống nam Theo tài liệu thăm dò địa chấn, mặt móng ở khu vực này chìm xuống khá sâu, đến CSTĐ 5400m ở phía bắc và CSTĐ 6650m ở phía nam và
bị chia cắt bởi hai đứt gãy nghịch lớn chạy hầu như song song với nhau theo phương tây- bắc
Trang 3131
Hình 3.3: Cấu tạo mặt móng bể Cửu Long
(Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam)
3.1.2: Thống Oligocen dưới
Theo kết quả khoan ở các khu vực lân cận, các thành tạo của hệ tầng Trà Cú chủ yếu là các tập sét argillit, bột kết và cát kết xen kẹp nhau cùng với một vài lớp mỏng sét vôi và than Chúng được thành tạo trong điều kiện môi trường sông hồ Trong lát cắt của hệ tầng đôi khi bắt gặp các thành tạo có nguồn gốc núi lửa, trong thành phần của chúng chủ yếu là pocfit diabaz, gabro diabaz và tuf bazan
Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng Trà Cú nằm giữa hai tầng phản xạ địa chấn SH-11 và nóc móng (SH-BSM) Theo kết quả minh giải tài liệu địa chấn 3D, cấu tạo X có cấu trúc khép kín dạng vòm trong tầng SH-11 với kích thước khá nhỏ (diện tích 0,75km2
và trữ lượng tiềm năng được dự báo là 485 ngàn m3 dầu)
Trang 32hóa đá Verrutricolporites pachydermus, Cicatricosiporites dorogensis, Jussiena spp và chứa nhiều tàn dư thực vật đặc trưng như Verrutricolporites pachydermus
Sự khác biệt của các tập sét kết hệ tầng Trà Tân ổ chỗ chúng chứa hàm VCHC cao, đặc biệt trong phần dưới của hệ tầng (SH-8 đến SH-10) Chúng đồng thời là tầng sinh rất tốt và là tầng chắn cho các vỉa dầu khí nằm bên dưới Các vỉa cát kết trong lát cắt của hệ tầng này nằm xen kẽ với các lớp sét argillit và có tính thấm chứa khá tốt, chúng
là các đối tượng có tiềm năng để thăm dò dầu khí ở bồn trũng Cửu Long
Trong phần trên (SH-7 đến SH-8), trầm tích chủ yếu là sự xen kẹp giữa các lớp cát kết hạt mịn đến trung bình với sét kết màu nâu, nâu tối, nâu đen Theo tài liệu ĐVLGK X-1X, ở phần trên có các tập đá chứa tại chiều sâu: 3696- 3493m, 3466-3408m với độ rỗng từ 10 đến 17%, độ bão hòa dầu từ 35% đến 52% Khi thử vỉa, từ khoảng chiều sâu 3658-3493m/CSTĐ 3478-3322m qua côn 12,7mm đã nhận được dòng dầu và khí lưu lượng tương ứng 214m3/ng.đ và 51.4 ngàn m3/ng.đ; ở khoảng chiều sâu 3485-3408m/CSTĐ 3314-3241m qua côn 15,86mm đã nhận được dòng dầu và khí lưu lượng tương ứng là 230m3/ng.đ và 21 ngàn m3/ng.đ Tại Gk X-2X, khi thử vỉa đối tượng thứ
I trong khoảng chiều sâu 3824-3756m đã nhận được dòng dầu và khí tự phun, lưu lượng tương ứng là 90m3/ng.đ và 18,7 ngàn m3/ng.đ
Trên phạm vi diện tích cấu tạo X, do cả hai Gk thăm dò X-1X và 2x chỉ khoan đến SH-8, các đặc trưng địa tầng thạch học của lát cắt từ Sh-8 trở xuống đến móng được xác định tương tự theo lát cắt của Gk ở phía tây- bắc Mỏ Bạch Hổ và Gk TGT-1X trên cấu tạo Tê Giác Trắng
Theo kết quả liên kết GK, phần giữa của hệ tầng Bạch Hổ (SH-8 đến SH-10) bao gồm chủ yếu là các tập sét dày màu tối, xám đen xen kẹp với các lớp mỏng bột kết vá
Trang 33hồ (có mặt bào tử phấn hoa loại Botryococcus spp, Pediastrum spp…), vũng vịnh, bồi tích biển nông gần bờ (giàu hóa đá của các loại tảo biển như Aptrodinium spp…) Theo
kết quả phân tích cổ sinh địa tầng các mẫu mùn khoan của Gk X-1X, trong lát cắt hệ
tầng này chứa hóa đá Ammonia spp…, rất giàu hóa đá bào tử phấn loại Acrostichum aureum, Crassoretitriletes nanhaiensis, Osmundacidites spp…, do vậy trầm tích của hệ
tầng này thuộc Miocen dưới
Tại khu vực cấu tạo X, chiều dày trầm tích hệ tầng Bạch Hổ thay đổi trong khoảng
từ 984m (X-1X) đến 1010m (X-2X) Chúng bao gồm các lớp cát kết có màu ừ vàng nhạt đến nâu tối xen kẹp với các lớp sét màu xám hoặc vàng đỏ Trên cơ sở thành phần thạch học, lát cắt của hệ tầng Bạch Hổ được chia ra hai phần: trên và dưới
Phần trên (SH-3 đến SH-5), chủ yếu là các lớp sét dày màu xám, xám lá xen kẹp với hàm lượng tăng dần theo chiều sâu các lớp bột kết và cát kết Tại phần trên cùng của lát cắt phân bố tập sét kết rotalit, là tập phổ biến rộng khắp bồn trũng Cửu Long Theo tài liệu ĐVLGK, thì ở phần này không thấy các vỉa đá chứa có tiềm năng dầu khí Phần dưới (SH-5 đến SH-7), theo kết quả mô tả mẫu mùn khoan và mẫu lõi, phần này chủ yếu là cát kết và bột kết xen kẹp với các lớp sét kết màu xám tối, xám đến xám vàng xám đỏ Cát kết tương đối sạch màu xám sáng cỡ hạt mịn đến trung bình , chọn
Trang 34lọc trung bình, bán mài tròn, gắn kết bởi xi măng sét Theo kết quả minh giải tài liệu ĐVLGK, trong lát cắt GK X-1X chứa một loạt các vỉa cát kết có tính thấm chứa tốt Chúng có khả năng chứa dòng dầu khí Khi thử vỉa, từ các tầng 24, 25 chỉ nhận được nước có váng dầu Cần nói thêm rằng, theo kết quả chính xác lại cấu trúc địa chất năm
2012 thì cả hai giếng X-1x và 2x đều khoan ra ngoài khép kín cấu tạo theo tầng SH-5
3.1.5: Thống Miocen giữa
Trầm tích của hệ tầng Côn Sơn chủ yếu là cát kết trung đến thô, bột kết xen kẹp với các lớp sét kết đa màu Một vài chỗ chứa các lớp mỏng than nâu Ở khu vực cấu tạo J, tổng chiều dày trầm tích của hệ tầng này dao động trong khoảng từ 950m (X-1X) đến
970 (X-2X) Trầm tích lắng đọng trong các điều kiện sông bồi tích, đầm hồ, đồng bằng gần bờ Chúng gần như nằm ngang và hơi uốn lượn theo nóc hệ tầng Bạch Hổ bên dưới Kết quả liên kết địa tầng cho thấy trầm tích của hệ tầng nằm giữa Sh-2 và SH-3 trên mặt cắt địa chấn
Theo kết quả khoan, tài liệu carota khí, trong lát cắt của hệ tầng Côn Sơn của khu vực này không chứa các vỉa có tiềm năng dầu khí
3.1.6: Thống Miocen trên
Trầm tích hệ tầng Đồng Nai phổ biến khắp bồn trũng Cửu Long Chúng chủ yếu là cát kết hạt trung, xen kẹp với bột kết và các lớp mỏng sét kết màu xám hoặc đa sắc, một vài chỗ còn bắt gặp các lớp mỏng đá carbonat và than nâu Trầm tích hầu như được lắng đọng trong các điều kiện môi trường đầm lầy gần bờ ở khu vực phía tây và biển nông gần bờ ở phía đông của bể Chiều dày trầm tích của hệ tầng khoảng 700m Trầm tích hệ tầng này nằm giữa hai mặt phản xạ địa chấn Sh-1 và SH-2 và gần như nằm ngang, nghiêng dần về phía đông
Tại khu vực cấu tạo X, theo kết quả khoan các GK thăm dòX-1X và 2x, tài liệu carota khí và kết quả phân tích mẫu mùn khoan, trầm tích của hệ tầng Đồng Nai nằm trong khoảng chiều sâu 690-1240m và chủ yếu là cát kết hạt trung đến thô, màu xám sáng, đôi khi nâu sáng hoặc nâu xanh lục Chúng nằm xen kẹp với các lớp sét kết và bột kết Trong lát cắt của hệ tầng ở khu vực không chứa các vỉa có tiềm năng dầu khí
Trang 3535
3.1.7: Pliocen – Đệ Tứ
Theo tài liệu ĐVLGK, kết quả phân tích mẫu mùn khoan của các GK X-1X và 2x
và tài liệu địa chấn, lát cắt hệ tầng Biển Đông nằm trong khoảng chiều sâu từ 86m đến 660m
Trầm tích của hệ tầng này chủ yếu là cát bở rời, hạt mịn đến trung bình, xen kẽ với các lớp sét Sét có màu xám, rất giàu các mảnh vụn và hóa thạch sinh vật biển và glauconit Trầm tích lắng đọng trong các điều kiện biển nông, gần bờ, một vài nơi còn phát hiện có cả đá vôi Trầm tích của hệ tầng phổ biến khắp bồn trũng, gần như nằm ngang và thoải dần vè phía đông Chiều dày của hệ tầng này khoảng 600m Theo kết quả khoan, trong lát cắt trầm tích biển đông ở khu vực nghiên cứu không có các tầng chứa dầu khí
3.2 Cấu trúc
3.2.1: Các yếu tố cấu trúc
Việc phân chia các đơn vị cấu tạo được dựa trên đặc điểm cấu trúc địa chất của từng khu vực với sự khác biệt về chiều dày trầm tích và thường được giới hạn bởi những đứt gãy hoặc hệ thống đứt gãy có biên độ đáng kể Nếu coi Bể Cửu Long là đơn
vị cấu trúc bậc 1 thì cấu trúc bậc 2 của bể bao gồm các đơn vị cấu tạo sau: trũng phân
dị Bạc Liêu; trũng phân dị Cà Cối; đới nâng Cửu Long; đới nâng Phú Quý (phần lún chìm kéo dài khối nâng Côn Sơn) và trũng chính bể Cửu Long
Lô 09-1 thuộc trũng chính bể Cửu Long Đây là phần lún chìm chính của bể, chiếm
tới 3/4 diện tích của bể, gồm các lô 15, 16 và một phần các lô 01, 02, 09 và 17 Theo đường đẳng dày trầm tích 2km thì trũng chính Cửu Long thể hiện rõ nét là một trũng khép kín dạng hình trăng khuyết với vòng cung hướng ra phía Đông Nam Toàn bộ triển vọng dầu khí của bể Cửu Long đều tập trung ở vùng này Vì vậy cấu trúc của trũng được nghiên cứu khá chi tiết và được phân ra thành các đơn vị cấu trúc nhỏ hơn như một bể thực thụ Các đơn vị bậc 3 bao gồm: trũng Đông Bắc, trũng Tây Bạch Hổ, trũng Đông Bạch Hổ, sườn nghiêng Tây Bắc, sườn nghiêng Đông Nam, đới nâng Trung Tâm, đới nâng phía Bắc, đới nâng phía Đông, đới phân dị Đông Bắc, đới phân
dị Đông Nam Trong đó, cấu tạo X nằm trong đới nâng Trung Tâm
Trang 36Hình 3.4: Sơ đồ phân vùng kiến tạo bể Cửu Long
(Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam)
Lô 09-1 nằm trên đới nâng Trung tâm, kề bên là trũng Đông Bắc, trũng Tây Bạch
Hổ, trũng Đông Bạch Hổ
Là trũng sâu nhất có chiều dày trầm tích có thể đạt đến 8km Trũng có phương kéo dài dọc theo trục chính của bể, nằm kẹp giữa hai đới nâng và chịu khống chế bởi các đứt gãy chính hướng Đông Bắc – Tây Nam
Trong một số tài liệu trũng này được ghép chung với trũng Đông Bắc Tuy nhiên, về đặc thù kiến tạo giữa hai trũng này có sự khác biệt đáng kể, đặc biệt là phương của các hệ thống đứt gãy chính Trũng Tây Bạch Hổ bị khống chế bởi các đứt gãy kiến tạo có phương á vĩ tuyến, tạo sự gấp khúc của bể Chiều dày trầm tích của trũng có thể đạt tới 7,5km
Trang 3737
Nằm kẹp giữa đới nâng Trung Tâm về phía Tây, sườn nghiêng Đông Nam về phía Đông – Đông Bắc và đới nâng Đông Bắc về phía Bắc Trũng có chiều dày trầm tích đạt tới 7 km và là một trong ba trũng tách giãn của bể
Hình 3.5: Mặt cắt ngang trũng chính bể Cửu Long
(Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam)
Là đới nâng nằm kẹp giữa hai trũng Đông và Tây Bạch Hổ và được giới hạn bởi các đứt gãy có biên độ lớn với hướng đổ chủ yếu về phía Đông Nam Đới nâng bao gồm các cấu tạo dương và có liên quan đến những khối nâng cổ của móng trước Kainozoi như: Bạch Hổ, Rồng Các cấu tạo bị chi phối không chỉ bởi các đứt gãy thuận hình thành trong quá trình tách giãn mà còn bởi các đứt gãy trượt bằng và chờm nghịch
do ảnh hưởng của sự siết ép vào Oligocen muộn
3.2.2: Phân tầng cấu trúc
Với các đặc điểm cấu trúc như trên, và đặc điểm địa tầng của bể Cửu long, dựa vào các quan hệ bất chỉnh hợp người ta chia cấu trúc bể Cửu Long thành hai tầng cấu trúc chính như sau:
3.2.2.1: Tầng cấu trúc móng trước Kainozoi
Tầng cấu trúc này được thành tạo bởi các đá móng trước Kainozoi bao gồm các loại
đá móng biến chất (phyllit, gabro, gabrodiabaz), các đá móng thuộc nhóm granit như granit, granodiorit, diorit thạch anh Chúng là các khối nhô cổ ăn sâu vào bồn trũng hoặc các khối nâng ven rìa tạo thành mặt móng cổ gồ gề, phân dị Ngoài ra còn có các
Trang 38loại đá móng phong hoá, nứt nẻ Bề mặt của tầng cấu trúc này gồ gề biến dị mạnh và bị
nhiều các đứt gẫy lớn phá huỷ
3.2.2.2: Tầng cấu trúc trầm tích Kainozoi
Tầng cấu trúc này bao gồm tất cả các đá được thành tạo trong giai đoạn Kainozoi
và được chia ra làm 3 phụ tầng cấu trúc Các phụ tầng này được phân biệt với nhau bởi
sự biến dạng cấu trúc, phạm vi phân bố và bất chỉnh hợp
Phụ tầng cấu trúc dưới được thành tạo bởi hai tập trầm tích: Tập trầm tích phía dưới
có tuổi Oligocen sớm - Hệ Tầng Trà Cú, phủ bất chỉnh hợp lên móng phong hoá Tập trầm tích phía trên tương ứng với trầm tích Trà Tân, có phạm vi mở rộng đáng kể, chủ yếu là sét, bột được lắng đọng trong môi trường sông hồ, châu thổ và được giới hạn phía trên bởi bất chỉnh hợp Oligocen - Miocen
3.2.3: Cấu tạo mỏ X, lô 09-1
Dựa vào các bản đồ cấu trúc các mặt phản xạ, chúng ta có thể thấy rằng khu vực quanh cấu tạo X có nhiều hệ thống đứt gãy có quan hệ mật thiết với hệ thống đứt gãy của các mỏ xung quanh và của bể Cửu Long nói chung
+ Bản đồ cấu tạo móng: phát hiện thấy các nhánh rất lớn, kéo dài theo phương
Đông Bắc – Tây Nam Nó giới hạn phía Đông Bắc của cấu tạo (hình 3.3)
+ Bản đồ cấu tạo Sh-11: bản đồ tầng Sh-11 được xây dựng theo mặt phản xạ tương ứng với nóc hệ tầng Trà Cú tuổi oligocen sớm Do trên phạm vi cấu tạo X chưa
có giếng khoan nào khoan vào tầng Sh-11 nên bản đồ cấu tạo mới và hệ thống đứt gãy của tầng SH-11 không có gì khác biệt so với các bản đồ đã xây dựng trước đây Cũng như trước đây, trên bản đồ cấu trúc tầng SH-11 đã khoanh định được khép kín kích thước nhỏ, dạng vòm nằm giữa hai đứt gãy lớn Cấu tạo khép kín theo đường đẳng sâu 4875m, biên độ 75m, diện tích khép kín 0,72 km2.(hình 3.6)
Trang 3939
Hình 3.6: Bản đồ cấu tạo Sh-11
(Vietsovpetro)
tương ứng với nóc tập cát thứ nhất( tập I) Trong lát cắt hệ tầng Trà Tân ( oligocen trên).Trên tài liệu carota, nóc tập cát này dễ dàng nhận biết qua sự suy giảm giá trị của đường cong gamma tự nhiên, giá trị cao của đường cong mất độ và điện trở suất của
đá Tương tự tầng SH-11, tầng SH-10 cũng chưa có giếng khoan nào khoan qua, cho nên bản đồ cấu trúc mới và hệ thống đứt gãy không có gì khác biệt so với các bản đồ tầng Sh-10 đã xây dựng trước đây Theo kết quả minh giải tài liệu địa chấn, cấu tạo X theo tầng Sh-10 có dạng vòm nâng khép kín bốn chiều với khép kín ngoài cùng vạch theo đường đẳng sâu 4475m, biên độ 75m, diện tích là 3,19km2.(hình 3.7)
Trang 40Hình 3.7: Bản đồ cấu tạo Sh-10
(Vietsovpetro)
+ Bản đồ cấu tạo Sh-8: bản đồ tầng SH-8 được xây dựng theo mặt phản xạ tương
ứng với nóc tầng sét trong lát cắt Oligocen trên Dựa vào kết quả khoan các giếng thăm
dò X-1X và 2x đã tiến hành chính xác hóa bản đồ cấu trúc của tầng này Kết quả chính xác hóa bản đồ cấu trúc cho thấy cấu tạo có dạng kéo dài theo trục đông bắc- tây nam
và chia thành hai vòm riêng biệt Vòm bắc giới hạn bởi đứt gãy F1 có phương á vĩ tuyến và là vòm trực thuộc diện tích cấu tạo X Kích thước của cấu tạo theo đường khép kín cuối cùng 3440m là 6km2, biên độ cấu tạo là 30m Vòm nam có kích thước nhỏ hơn và nằm trong cấu trúc chung của cấu tạo X.(hình 3.8)