Trong khi các tác dụng tiêu cực của đô thị hóa được biết đến khá nhiều và công khai rộngrãi, cũng có các khía cạnh tích cực và lợi thế trong việc sống ở các thành phố được quản lý tốt,ba
Trang 1MỤC LỤCDANH MỤC HÌNH
3.1.1 Hiện trạng khai thác nước mặt
3.1.2 Hiện trạng khai thác nước ngầm
3.1.3 Dự báo nhu cầu sử dụng nước đến năm 2025
3.1.4 Nội dung quy hoạch nguồn nước cấp đến năm 2025 của TP.HCM
3.1.4.1 Về các nhà máy nước
3.1.4.2 Về nguồn nước
3.1.4.3 Về công trình dẫn nước thô
3.1.4.4 Về mạng lưới đường ống cấp nước
3.1.4.5 Các dự án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2015
3.2 Hệ thống thoát nước ở TP.HCM
3.2.1 Hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè
3.2.2 Hệ thống kênh Tân Hoá- Lò Gốm
3.2.3 Hệ thống kênh Tàu Hủ - kênh Đôi – kênh Tẻ
3.2.4 Hệ thống kênh Bến Nghé
3.2.5 Hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát- Vàm Thuật
3.3 Hệ thống nhà máy xử lý nước thải tại TP HCM
3.3.1 Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa
3.3.1.1 Giới thiệu
3.3.1.2 Quy mô hoạt động
3.3.1.3 Thông số thiết kế
3.3.2 Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
3.3.2.1 Tiêu chuẩn thiết kế
3.3.2.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
Trang 23.3.2.3 Các hạng mục xử lý nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
3.3.3 Các dự án nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đang triển khai của TP HCM
3.3.3.1 Nhà máy xử lý nước Suối Nhum
3.3.3.2 Nhà máy xử lý nước thải Tây Sài Gòn
3.3.3.3 Nhà máy xử lý nước thải Tham Lương – Bến Cát
3.3.3.4 Nhà máy xử lý nước Bình Tân
3.3.4 Hiện trạng thoát nước và chống ngập úng ở TP.HCM
3.3.4.1 Thực trạng ngập úng và nguyên nhân
3.3.4.2 Hướng giải quyết cho vấn đề ngập úng
4 Các thách thức trong quản lý tài nguyên nước đô thị ở TP HCM
5 Tích hợp quản lý tài nguyên nước đô thị ở Úc
5.1 Lịch sử hình thành
5.2 Các khái niệm về tích hợp quản lý tài nguyên nước đô thị
5.3 Các trường hợp nghiên cứu
5.4 Công cụ WSUD
6 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC HÌNHHình 1 Các thành phố lớn với hơn 10 triệu dân
Hình 2 Chu trình nước đô thị
Hình 3 Chu trình nước đô thị - Thành phần và đường đi chính
Hình 4 Sơ đồ tuyến thu gom nước thải của nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng giai đoạn I Hình 5 Sơ đồ nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
Hình 6 Các khu vực đang bị ngập úng ở TP.HCM
Hình 7 Tích hợp hệ thống quản lý nước nước thải xám và thu gom nước mưa trong các tòa nhà
dân cư, xử lý và tái sử dụng (Khu căn hộ D’Lux, Melbourne)
Trang 4DANH MỤC BẢNGBảng 1 Nhu cầu sử dụng nước của TP HCM đến năm 2025
Bảng 2 Nội dung quy hoạch các nhà máy nước đến năm 2025 của TP HCM
Bảng 3 Đặc điểm của mô hình ''cũ'' và ''mới xuất hiện” của hệ thống cấp nước đô thị
Bảng 4 Tóm tắt đặc điểm các trường hợp nghiên cứu
Trang 51 Giới thiệu
Dân số đô thị đòi hỏi một lượng lớn năng lượng và nguyên liệu, cũng như việc loại bỏchất thải, một số trong đó biến thành ô nhiễm môi trường Thật vậy, tất cả hoạt động chính củathành phố hiện đại - giao thông, cấp điện, cấp nước, xử lý chất thải, sưởi ấm, cung cấp dịch vụ,sản xuất, vv - được đặc trưng bởi các vấn đề này Vì vậy, sự tập trung của người dân trong cáckhu đô thị làm thay đổi đáng kể dòng nguyên liệu và năng lượng trong khu vực bị ảnh hưởng, vớinhững thay đổi đồng thời trong cảnh quan, thay đổi nước, trầm tích, hóa chất và vi sinh vật, vàtăng phát thải nhiệt Những thay đổi này sau đó ảnh hưởng đến hệ sinh thái đô thị, kể cả nước đôthị và hệ sinh thái thủy sinh, và kết quả là sự suy thoái Do đó, việc cung cấp dịch vụ nước đếnngười dân đô thị gặp thách thức lớn, đặc biệt trong các thành phố lớn, được định nghĩa là cácthành phố với số dân từ 10 triệu trở lên Nhưng số lượng các thành phố lớn không ngừng tănglên, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, và tiếp tục ảnh hưởng trầm trọng lên sức khỏe conngười và các vấn đề môi trường Sự tăng trưởng của số lượng các thành phố lớn được minh họatrong Hình 1, liệt kê các thành phố lớn năm 1975 và 2003, và dự báo cho 2015
Trong khi các tác dụng tiêu cực của đô thị hóa được biết đến khá nhiều và công khai rộngrãi, cũng có các khía cạnh tích cực và lợi thế trong việc sống ở các thành phố được quản lý tốt,bao gồm cả cơ hội quan trọng cho phát triển kinh tế và xã hội, một phong cách sống hiện đại với
sự tham gia của lực lượng lao động nữ cao và các chỉ số của các mức độ sức khỏe tốt, hạnh phúcbiết đọc biết viết, và hạn chế dấu chân sinh thái (Cohen, 2006) Tuy nhiên, việc quản lý của cácđơn vị đô thị lớn là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay (Maksimovic và Tejada-Guibert, 2001) Đối với đô thị hóa liên tục, cần lưu ý rằng các dữ liệu nhân khẩu học và lập kếhoạch dự án là không chắc chắn, rằng hầu hết sự tăng trưởng hiện tại của khu vực thành thị do di
cư từ nông thôn ra thành thị và sự biến đổi của các khu định cư nông thôn vào thành phố, và cuốicùng, hầu hết các tăng trưởng dự kiến sẽ không xảy ra trong các thành phố lớn nhất, nhưng ở cácthành phố và thị trấn thứ cấp nhỏ hơn trong thế giới đang phát triển, nơi có tỷ lệ nghèo cao và cácdịch vụ nói chung là trung bình (Cohen, 2006)
Trang 6Hình 1 Các thành phố lớn với hơn 10 triệu dân
Nhu cầu mâu thuẫn về tài nguyên yêu cầu quản lý tổng hợp của quá trình đô thị hóa, đó lànhiệm vụ khó khăn nhất Trong bối cảnh phức tạp này, quản lý hiệu quả nước đô thị phải dựa trênmột sự hiểu biết khoa học về tác động mà hoạt động con người ảnh hưởng lên chu trình thủy văn
đô thị và môi trường, và các phương tiện giảm thiểu các tác động này, và phải xem xét đầy đủcủa hệ thống kinh tế xã hội Tác động đô thị hóa khác nhau nhiều theo thời gian và không gian,
và cần phải được định lượng đối với khí hậu địa phương, phát triển đô thị, kỹ thuật và môi trườngthực tế, tôn giáo văn hóa và các yếu tố kinh tế xã hội khác
Phân tích quản lý nước đô thị phải dựa trên chu kỳ nước đô thị (UWC), cung cấp một kháiniệm thống nhất để giải quyết khí hậu, thủy văn, sử dụng đất, kỹ thuật và các vấn đề sinh tháitrong khu vực đô thị Hơn nữa, phân tích UWC sẽ có lợi cho cuộc kiểm tra sau đó của phươngpháp tiếp cận hiện đại để quản lý nước trong khu vực đô thị, bao gồm phát triển bền vững, quản
lý chu kỳ nước đô thị tổng, phát triển tác động thấp và thủy văn sinh thái Những cách tiếp cậndựa trên bảo tồn nguồn nước này sử dụng các biện pháp quản lý tổng hợp, bao gồm quản lý tổnghợp và tái sử dụng nước mưa, nước ngầm và nước thải
Trang 7Bước đầu tiên của một dự án toàn diện và mục đích để phát triển một sơ đồ đại diện củaUWC, bao gồm các thành phần môi trường của nó, và xác định các dòng chảy chính của nước,trầm tích, hóa chất, vi sinh vật và nhiệt, với sự tham chiếu nước đô thị trong cả nước phát triển vàđang phát triển Do đó một chương trình có thể được trình bày trong nhiều biến thể phản ánh điềukiện khí hậu khác nhau, cả hiện tại và tương lai (Vd xem xét sự biến đổi khí hậu) Trong giaiđoạn nghiên cứu tiếp theo, người ta cho rằng những dòng này sẽ được định lượng và mô tả bởicác mô hình cân bằng / chất lượng nước xấp xỉ như quá trình đó Mối liên hệ giữa phát triển đôthị và các dòng này sẽ được thành lập, và nguyên tắc cho phát triển tác động thấp và phục hồi củacác khu vực hiện tại sẽ được thành lập Một số bước / kết quả trung gian trong nghiên cứu tổngthể bao gồm:
● Xác định các thành phần của UWC và những ảnh hưởng của đô thị hoá lên tài nguyên nước
● Định lượng ảnh hưởng của các hoạt động của con người vào chu kỳ thủy văn đô thị vàtương tác của nó với môi trường theo tình huống phát triển hiện tại và tương lai
● Sự hiểu biết về các quy trình tại giao diện nước đất đô thị, bao gồm tương tác của nước vàđất, với sự tham chiếu cụ thể đến xói mòn đất, ô nhiễm đất và lún đất
● Thủy văn, sinh thái, quá trình sinh học và hóa học trong môi trường nước đô thị của cácthành phố bền vững trong tương lai
● Đánh giá tác động của phát triển đô thị, sử dụng đất và những thay đổi kinh tế xã hội vàonguồn cấp nước sẵn có, ô nhiễm hóa học thủy sinh (con người), xói mòn đất và bồi lắng, và môitrường sống tự nhiên toàn vẹn và đa dạng
● Đánh giá các biện pháp phòng ngừa và giảm nhẹ có sẵn để đối phó với vấn đề nước đô thị.Sản phẩm cuối cùng của hoạt động này nên trở thành một hướng dẫn về thay đổi trongUWC và môi trường do các hoạt động của con người, có sự tham khảo với các khu vực khí hậukhác nhau và thay đổi khí hậu tiềm năng Hướng dẫn này nên đề nghị:
● Sự hiểu biết về quá trình diễn ra trong môi trường đô thị, và sự tương tác của môi trườngngoại thành tự nhiên, nông thôn và thành thị để phân tích thành công, lập kế hoạch, phát triển vàquản lý hệ thống nước đô thị
● Phát triển các công cụ phân tích sáng tạo để giải quyết các vấn đề của không gian và biếnđổi theo thời gian
● Đánh giá các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu và những thay đổi trên hệ thống nước
đô thị
Trang 82 Khái niệm - Chu trình nước đô thị (Urban Water Cycle)
Định nghĩa chu trình thủy văn xuất hiện từ thời cổ đại (Maidment, 1993) Có nhiều địnhnghĩa về chu trình thủy văn, nhưng nói chung chu trình thủy văn được định nghĩa là một mô hìnhkhái niệm mô tả việc lưu trữ và vận chuyển nước giữa sinh quyển, khí quyển, thạch quyển vàthủy quyển Nước có thể được lưu trữ trong bầu khí quyển, đại dương, hồ, sông, suối, đất đai,sông băng tuyết và các tầng nước ngầm Nước được vận chuyển giữa các thành phần này nhờ cácquá trình bốc thoát hơi, ngưng tụ, mưa, thấm, tuyết tan và dòng chảy mặt, và cũng được xem như
là các thành phần trong chu trình nước
Tổng hợp của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và gia tăng dân số ảnh hưởng đếncảnh quan thiên nhiên và thủy văn của lưu vực sông Mặc dù nhiều yếu tố của môi trường tựnhiên bị tác động bởi hoạt động của con người nhưng cơ cấu chính của chu trình thủy văn vẫncòn nguyên vẹn trong khu vực đô thị Tuy nhiên, chu trình bị thay đổi rất nhiều bởi tác động của
đô thị hóa đối với môi trường và nhu cầu cung cấp nước cho dân cư đô thị, bao gồm cung cấpnước, thoát nước, quản lý và thu gom nước thải, và các lợi ích sử dụng của nguồn nước tiếp nhận
Do đó, chu trình thủy văn trở nên phức tạp hơn trong khu vực đô thị do có nhiều ảnh hưởng và sựcan thiệp (McPherson, 1973; McPherson và Schneider, 1974); kết quả của chu trình thủy văn đôthị được gọi là chu trình nước đô thị (UWC) UWC chỉ ra các thành phần chính và các conđường chính trong hình 2 và sơ đồ ở hình 3
Theo Melbourne Water, Chu trình nước đô thị là chu kỳ của nước - từ khi được thu gom ởcác lưu vực đến khi quay trở lại vòng tuần hoàn nước tự nhiên dưới dạng nước thải đả được xử
lý Nó khác với chu trình nước tự nhiên bởi con người, con người lấy nước để uống, nấu ăn vàcác mục đích giải trí
(http://www.melbournewater.com.au/getinvolved/education/pages/urban-water-cycle.aspx)
UWC cung cấp một khái niệm đúng và nền tảng thống nhất cho việc nghiên cứu cân bằngnước (còn gọi là ngân sách nước) và tiến hành kiểm kê nước của khu đô thị, lưu vực, phát triển.Trong các nghiên cứu, ở trên liệt kê các thành phần chính của chu trình thủy văn được đánh giácho khoảng thời gian nhất định, với thời hạn vượt quá các hằng số thời gian của hệ thống để lọc
ra các biến đổi trong ngắn hạn Cân bằng nước thường được thực hiện theo mùa, hằng năm hoặcdựa trên nhiều năm (van de Ven, 1988), và trong nghiên cứu quy hoạch, cân bằng như dự kiến lập kế hoạch tương lai
Trang 9Hình 2 Chu trình nước đô thị (Nguồn: Jiri Marsalek….)
Tiếp cận quản lý nước dựa trên cơ sở cân bằng khối lượng (nước và vật chất) thì đặc biệtquan trọng để đánh giá hiệu suất của hệ thống cấp nước đô thị (Gumbo, 2000), quy hoạch đô thị(tức là cung cấp nước khi dân số ngày càng tăng), và để đối phó với thời tiết khắc nghiệt và biếnđổi khí hậu Trong thực tế, sự hiểu biết về cân bằng nước là điều cần thiết cho quản lý tổng hợpnước đô thị, để khắc phục áp lực dân số đô thị và tác động bởi các biện pháp can thiệp (quản lý),được áp dụng trong quản lý tổng thể của UWC (Lawrence và cộng sự, 1999) Trên phạm vikhông gian rộng lớn hơn của một lưu vực sông đã đô thị hoá, quản lý nước đô thị tích hợp có thểmang lại lợi ích như duy trì dòng chảy bình thường, kiểm soát lũ, bảo tồn và phát triển tài nguyênnước, bảo tồn và phục hồi chức năng của một hệ sinh thái, kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chế độnhiệt (Imbe và cộng sự, 1997)
Hình 3 Chu trình nước đô thị - Thành phần và đường đi chính
Trang 10Vì vậy, nghiên cứu của nước, trầm tích và cân bằng hóa học giúp thiết lập và định lượngUWC, bằng cách giải quyết các vấn đề như: xác minh các lộ trình trong chu trình; định lượngdòng chảy và thông lượng các trầm tích và hóa chất dọc theo đường đi, đánh giá thay đổi thànhphần và đánh giá tác động của khí hậu, dân số lên UWC Ví dụ về cân bằng nước đô thị đã đượccung cấp bởi nhiều tác giả, bao gồm Hogland và Niemczynowicz (1980), Grimmond và Oke(1986), van de Ven (1988), Stephenson (người đã trình bày một bản tóm tắt của sáu nghiên cứucủa các tác giả khác, 1996), Herrmann và Klaus (1996) và Gumbo (2000) Nó sẽ được lưu ý rằng
sự phát triển của ngân sách nước đô thị đã tìm thấy sự hữu ích trong cả hai nước phát triển (xem
ví dụ Imbe và cộng sự, 1997) và các nước đang phát triển (Gumbo, 2000) Một mô tả ngắn gọn
về các thành phần chính của UWC sau
Hai nguồn nước chính trong UWC: nguồn nước cấp đô thị và nước mưa Nước đô thịthường được lấy từ bên ngoài khu vực đô thị hoặc thậm chí từ một lưu vực khác với số lượng rấtkhác nhau phản ánh nhu cầu nước địa phương và sự quản lý của họ Nước này theo nhiều conđường vào khu đô thị và phân phối trong đó, một phần bị thất thoát xuống tầng nước ngầm, vàphần còn lại được sử dụng bởi dân cư, chuyển đổi thành nước thải đô thị, và cuối cùng trở vềnước mặt Nguồn thứ hai, nước mưa, thường sau một con đường dài hơn thông qua các chu trìnhnước Nó rơi xuống dưới các hình thức khác nhau trong khu vực đô thị, là đối tượng thủy văn(bao gồm cản trở, lưu trữ và bốc thoát hơi nước), một phần thấm vào mặt đất (làm ẩm đất và cungcấp nước cho mạch nước ngầm) và một phần chuyển đổi thành dòng chảy bề mặt, có thể đượcchuyển tải đến nguồn tiếp nhận nước bởi các hệ thống vận chuyển tự nhiên hoặc nhân tạo Vớinhững thành công và độ chính xác khác nhau, các thành phần dòng chảy đã được định lượng cho
đô thị khu vực trong các nghiên cứu về cân bằng nước đô thị (Hogland và Niemczynowicz,1980)
Kiến trúc truyền thống trong khu vực đô thị thường phản ánh những đặc điểm khí hậu củakhu vực Tuy nhiên, kiến trúc truyền thống ở nhiều thành phố lớn đang được thay thế bởi kiếntrúc hiện đại vì gia tăng dân số và toàn cầu hóa, với thay đổi thích hợp trong thủy văn đô thị Mật
độ dân số và các tòa nhà, hệ thống thu gom nước mưa, vật liệu sử dụng trong xây dựng, hệ thốngthu gom nước thải là một trong những yếu tố chính gây ra những thay đổi trong chu trình thủyvăn đô thị
Lối sống trong các khu đô thị ảnh hưởng đến chu kỳ thủy văn thông qua những thay đổitrong nhu cầu nước sinh hoạt Sử dụng nước sinh hoạt bình quân đầu người và sử dụng nước
Trang 11trong khu vực công cộng như công viên và cây xanh là những đặc điểm chính mà xác định lốisống trong các thành phố lớn Mặc dù yếu tố kinh tế là quan trọng để xác định những đặc điểmnày, mô hình sử dụng nước, truyền thống và văn hóa có tác động đáng kể lên lối sống thành thị.
Quản lý tổng hợp chu trình nước đô thị
Các khái niệm của UWC thể hiện sự kết nối và phụ thuộc lẫn nhau của tài nguyên nước
đô thị và các hoạt động của con người, và sự cần thiết phải quản lý tổng hợp Để đáp ứng nhu cầunày, các khái niệm về quản lý UWC tổng hợp đã được giới thiệu tại Úc, và tiếp tục xây dựng bởiLawrence và cộng sự (1999) Các loại quản lý nước cơ bản bao trùm trong phương pháp này baogồm:
● Tái sử dụng nước thải đã xử lý, làm cơ sở để xử lý các chất ô nhiễm tiềm năng, hoặcthay thế các nguồn cung cấp nước khác cho các nguồn nước phụ
● Tích hợp nước mưa, nước ngầm, cung cấp nước và nước thải dựa trên quản lý , làm cơ
sở để:
- Cấp nước kinh tế và đáng tin cậy
- Quản lý dòng chảy môi trường (trì hoãn việc mở rộng cơ sở hạ tầng, tuần hoàn nước sôngsuối)
- Cung cấp cảnh quan đô thị
- Thay thế các nguồn nước phụ (nước thải và nước mưa tái sử dụng)
- Bảo vệ nước ở hạ lưu khỏi bị ô nhiễm
● Bảo tồn nước (quản lý nhu cầu) dựa trên phương pháp tiếp cận, bao gồm:
- Sử dụng nước hiệu quả hơn (các thiết bị tiết kiệm nước, thực hành thủy lợi)
- Thay thế các hình thức cảnh quan (giảm nhu cầu nước)
- Thay thế các quy trình công nghiệp (giảm nhu cầu, tái chế nước)
Các khái niệm về quản lý tổng thể UWC được trình bày ở đây chỉ để minh họa tầm quantrọng của UWC trong quản lý nước đô thị tổng hợp, nhận ra rằng phương pháp tiếp cận quản lýmôi trường tương thích khác cũng tồn tại, bao gồm sinh thái thủy văn hoặc một phương pháp tiếpcận hệ sinh thái trụ cột Trong khi nhiều biện pháp trong số các biện pháp này đã được thực hiệntrong quá khứ, những gì đã bị mất tích là sự hiểu biết về các liên kết trong những thành phầnkhác nhau, và ý nghĩa của các thực hành về chất lượng lâu dài của nước ngầm, đất và dòng chảymôi trường
Trang 123 Hạ tầng nước đô thị ở TP HCM
3.1 Hệ thống cấp nước của TP HCM
Nguồn nước cấp cho hệ thống
Các nhà máy nước cấp ở TP HCM:
3.1.1 Hiện trạng khai thác nước mặt
Các nhà máy xử lý nước cấp, sử dụng nước mặt ở TP.HCM đang hoạt động hiện nay:
Nhà máy nước Tân Hiệp: Ấp Thới Tây 1, xã Tân Hiệp, Huyện Hóc Môn, TP.HCM.
Nhà máy nước Tân Hiệp là một đơn vị sản xuất trực thuộc Tổng Công ty Cấp nước Sài Gònđược thành lập vào tháng 1 năm 2004 Nhà máy bao gồm Trạm bơm nước thô Hòa Phú tại khuvực Bến Than, xã Hòa Phú, huyện Củ Chi và Khu xử lý nước Tân Hiệp tại ấp Thới Tây I, xã TânHiệp, huyện Hóc Môn Hiện nay nhà máy đang sản xuất 300.000 m3 nước sạch/ngày với qui trìnhcông nghệ xử lý như sau: nước sông Sài Gòn được trạm bơm Hòa Phú đưa về khu xử lý nước TânHiệp theo tuyến ống 1800 mm
Trang 13Dự án thuộc mạng cấp nước phía Tây cấp nước cho các khu vực: quận 6, 7, 8, 11, 12, TânBình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh và huyện Nhà Bè; phường 1, Q.Gò Vấp; phường 10, 11,
12, 13 Q.Phú Nhuận và phường 5, 11, 12 Q.Bình Thạnh
Nhà máy nước Thủ Đức: 02 Lê Văn Chí, phường Linh Trung, quận Thủ Đức.
Nhà mát nước Thủ Đức có công suất 750.000 m3/ngày Nước được bơm từ trạm bơm Hóa
An trên sông Đồng Nai Ngoài ra mỗi ngày bổ sung thêm 100.000m3 của Công ty Cấp nước Bình
An Vậy tổng lượng nước sạch của Nhà máy nước Thủ Đức cung cấp cho Thành phố với lưulượng ổ định là 850.000m3/ngày đêm
Nhà máy nước BOO Thủ Đức
Nước được lấy từ trạm bơm nước với công suất 315.000 m3/ngày đêm được xây dựng bêncạnh trạm bơm Hóa An
Nhà máy nước Thủ Đức công suất 300.000 m3/ngày đêm cung cấp nước cho người dân tạicác quận 9, 2, 4, 7, 8 và đặc biệt là huyện Nhà Bè Sắp tới, khi Sawaco hoàn thành việc đấu nốituyến ống D1500 Bình Thái – Bình Lợi với tuyến ống D2000 của TDW, nguồn nước sạch sẽ đếnvới người dân tại quận Thủ Đức, Bình Thạnh và Gò Vấp
Nhà máy nước BOT Bình An:
Công suất: 100.000 m3/ngày đêm
Nhà máy nước BOT Bình An có công suất là 100.000 m3/ngày.đêm Toàn bộ dự án đượcxây dựng trong vòng 30 tháng, bao gồm các công trình:
Xây dựng các trạm bơm lấy nước thô từ sông Đồng Nai và 32km đường ống dẫn nước thôđường kính 1,2m đến nhà máy xử lý tại xã Bình An, Dĩ An, Bình Dương, ngay sát vớiTP.HCM
Xây dựng nhà máy xử lý nước với công suất 100.000 m3 với bể lọc, bể chứa và trạm bơm
Lắp đặt 6km đường ống dẫn nước sạch đường kính 1m
Lắp đặt máy phát điện diesel để cấp điện cho trạm lấy nước thô và nhà máy xử lý
Lắp đặt đường ống đường kính 0,45 m qua cầu Đồng Nai
Nhà máy nước Kênh Đông
Ngày 6/62013, nhà máy Kênh Đông chạy thử tải liên tục trong 72 giờ để kiểm tra tính ổnđịnh của thiết bị, chất lượng nước đảm bảo trước khi đấu nối vào mạng cấp nước sinh hoạt chocác hộ dân ở quận 12, Tân Bình, Tân Phú, Hóc Môn, Bình Chánh và Bình Tân
Trang 14Nhà máy nước Kênh Đông được khởi công từ năm 2006 có tổng công suất 200.000 m3/ngàyvới tổng vốn 1.250 tỉ đồng do Công ty cổ phần Cấp nước Kênh Đông làm chủ đầu tư 150.000 m3nước sau xử lý được đưa theo đường ống D1.200 dài 12km từ nhà máy nước Kênh Đông (CủChi) về bể chứa nhà máy nước Tân Hiệp (Hóc Môn) phân phối cho người dân 50.000 m3 nướccòn lại theo công suất của nhà máy sẽ được dẫn về cấp cho huyện Củ Chi (TPHCM) và các khucông nghiệp ở huyện Đức Hòa, Đức Huệ, tỉnh Long An.
Theo quy hoạch cấp nước thành phố, nhà máy nước Kênh Đông sẽ được nâng công suấtthêm 150.000 m3/ngày (giai đoạn 2) vào năm 2015 để bổ sung nguồn nước sạch cấp cho Củ Chi.Việc nhà máy Kênh Đông đưa vào hoạt động, cung cấp thêm nguồn nước sạch cho ngườidân thành phố cùng với các nhà máy nước Tân Hiệp, Thủ Đức, Hóc Môn, Bình An, cụm giếngBình Trị Đông, cụm giếng Gò Vấp, hệ thống giếng lẻ với tổng công suất khoảng 1,7 triệu m3mỗi ngày
Toàn bộ nguồn nước thô lấy từ hồ Dầu Tiếng Dự báo nhu cầu sử dụng nước của thành phốđến năm 2015 gần 2,8 triệu m3/ngày và đến năm 2025 tăng lên gần 3,8 triệu m3/ngày Các nguồnnước thô cấp cho Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu được lấy từ sông Sài Gòn, hồ Dầu Tiếng (0,95triệu m3/ngày), sông Đồng Nai và hồ Trị An (gần 1,5 triệu m3/ngày) và nguồn nước ngầm khaithác bổ sung (gần 0,5 triệu m3/ngày)
Nhà máy nước Thủ Đức III:
Nhà máy nước Thủ Đức giai đoạn 3 có công suất 300.000 m³/ngày, sử dụng nguồn nướcsông Đồng Nai; trạm bơm nước thô diện tích 1,3ha tại Hóa An, tỉnh Đồng Nai; khu xử lý nước vàtrạm bơm nước sạch diện tích gần 3ha tại Nhà máy nước Thủ Đức Tổng mức đầu tư nhà máy1.200 tỷ đồng do SWIC làm chủ đầu tư; công trình sẽ hoàn thành các hạng mục xây dựng, vậnhành thử vào giữa năm 2014 và sau đó chính thức hòa mạng cung cấp nước cho khoảng 600.000
hộ dân
Nhà máy nước Thủ Đức giai đoạn 3 hoàn thành đi vào hoạt động sẽ tăng thêm lưu lượng và
áp lực để phục vụ cho các phường Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú, Tam Bình,Bình Chiểu, Linh Đông của quận Thủ Đức; phường 5, 6, 7, 11, 12, 13 của quận Bình Thạnh;quận Phú Nhuận; phường 1, 3, 4, 5 ,6, 7, 10, 17 của quận Gò Vấp; một phần của quận 1, 3 và TânBình
3.1.2 Hiện trạng khai thác nước ngầm:
Các nhà máy khai thác nước ngầm ở TP HCM hiện nay:
Trang 15- Nhà máy nước ngầm hóc môn: Công suất 80.000 m³/ngày, cung cấp nước cho các quận 6,
11 và Bình Tân
- Nhà máy nước ngầm Tân Bình:có công suất: 65.000m3/ngày xử lý nước thô từ hàng chụcgiếng bơm cấp về
- Nhà máy khai thác nước ngầm Bình Hưng, huyện Bình Chánh: Công suất 15.000 m³/ngày
- Nhà máy nước ngầm Củ Chi 10.000 m³/ngày
- Nhà máy nước ngầm Bình Trị Đông: 8.000 m³/ngày
- Nhà máy nước ngầm Gò Vấp 10.000 m³/ngày
3.1.3 Dự báo nhu cầu sử dụng nước đến năm 2025
Bảng 1 Nhu cầu sử dụng nước của TP HCM đến năm 2025
m3/ngđ
Năm 2025
m3/ngđ
1 Nhu cầu nước sử dụng sinh hoạt 1.420.000 1.887.000
2 Nhu cầu sử dụng nước công nghiệp 165.000 246.000
3 Nhu cầu sử dụng nước các loại hình dịch
vụ khác
340.000 589.000
Tổng nhu cầu sử dụng nước 2.750.000 3.570.000
(Nguồn: theo quyết định số 729/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ)
3.1.4 Nội dung quy hoạch nguồn nước cấp đến năm 2025 của TP.HCM
3.1.4.1 Về các nhà máy nước Bảng 2 Nội dung quy hoạch các nhà máy nước đến năm 2025 của TP HCM
Hiện trạng năm 2013
Giai đoạn đến năm 2015
Giai đoạn đến năm 2025
I Nguồn sông Đồng Nai/ Hồ
Trang 166 Nhà máy nước Bình An 100.000 100.000
II Nguồn sông Sài Gòn/Hồ
Dầu Tiếng
2 Nhà máy nước Tân Hiệp II
200.000
150.00050.000
200.000
150.00050.000
5 Nhà máy nước Kênh Đông II
(năm 2015 ) cấp cho Củ Chi
và Long An
III Nguồn nước ngầm
5 Nguồn xã hội hóa (nước
(Nguồn: theo quyết định số 729/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ)
Theo đó, đến năm 2015 tổng nhu cầu sử dụng nước của toàn thành phố là 2.750.000
m3/ngày và năm 2025 là 3.570.000 m3/ngày , trong khi đó quy hoạch nguồn cấp nước đến năm
2015 là 2.840.000 m3/ngày và năm 2025 là 3.700.000 m3/ngày Như vậy, có thể nhận thấy rằngcông suất hoạt động của các nhà máy nước cấp có thể cung ứng được nhu cầu sử dụng nước củatoàn thành phố trong tương lai
3.1.4.2 Về nguồn nước
Trang 17Sông Đồng Nai (có sự điều tiết của hồ Trị An): khai thác với lưu lượng 2,5 triệu
m3/ngày.đêm để cung cấp nước thô cho các nhà máy nước sử dụng nguồn nước sông Đồng Nai.Sông Sài Gòn (có sự điều tiết của hồ Dầu Tiếng và hồ Phước Hòa): khai thác với lưu lượng
01 triệu m3/ngày.đêm để cung cấp nước thô cho các nhà máy sử dụng nguồn nước sông Sài Gòn.Kênh Chính Đông (có sự điều tiết của hồ Dầu Tiếng và hồ Phước Hòa): khai thác với lưulượng 01 triệu m3/ngày.đêm để cung cấp nước thô cho các nhà máy sử dụng nguồn nước kênhĐông
3.1.4.3 Về công trình dẫn nước thô
Tuyến dẫn nước thô Hóa An – nhà máy nước Thủ Đức: xây dựng và lắp đặt bổ sung máybơm, trang thiết bị và các công trình phụ trợ để tổng công suất đạt 2.500.000 m3/ngày.đêm giaiđoạn 2025; xây dựng thêm tuyến ống nước thô D2400 mm dài 11km từ Hóa An về nhà máy nướcThủ Đức
Tuyến ống nước thô Hòa Phú – nhà máy nước Tân Hiệp: xây dựng và lắp đặt bổ sung máybơm, trang thiết bị và các công trình phụ trợ để tổng công suất đạt 1.000.000 m3/ngày.đêm giaiđoạn 2025; xây dựng thêm tuyến ống nước thô D2000 mm dài 9,1km từ Hòa Phú về nhà máynước Tân Hiệp ngay từ giai đoạn 2015
3.1.4.4 Về mạng lưới đường ống cấp nước
Các tuyến ống chuyển tải từ nhà máy nước Thủ Đức: cải tạo tuyến ống D2000mm hiện hữu
ở xa lộ Hà Nội, hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng tuyến D2000mm BOO Thủ Đức, tuyếnống D2400mm Thủ Đức – Bình Thái
Các tuyến ống chuyển tải từ nhà máy nước Tân Hiệp: tuyến ống D1500mm hiện hữu; hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng tuyến ống D2000mm
3.1.4.5 Các dự án ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2015
Các dự án ưu tiên về nguồn nước thô:
Dự án 1: Nghiên cứu khả năng và quy mô khai thác nguồn nước từ hồ Trị An, hồ DầuTiếng, hồ Phước Hòa thay thế cho nguồn nước sông Đồng Nai và sông Sài Gòn (trong trườnghợp sông Sài Gòn và sông Đồng Nai bị ô nhiễm và nhiễm mặn) để cung cấp nước cho Tp.HCM
Dự án 2: xây dựng hệ thống chuyển tải nước thô từ hồ Trị An cung cấp cho các nhà máynước sử dụng nước sông Đồng Nai
Dự án 3: xây dựng hệ thống chuyển tải nước thô từ hồ Dầu Tiếng đến cung cấp cho cácnhà máy nước sử dụng nước sông Sài Gòn
Trang 18 Các dự án ưu tiên xây dựng nhà máy nước:
Dự án đầu tư xây dựng Nhà mày nước Thủ Đức III công suất 300.000 m3/ngày đêm
Dự án đầu xây dựng Nhà mày nước Tân Hiệp giai đoạn II công suất 300.000 m3/ngàyđêm
3.2 Hệ thống thoát nước ở TP.HCM
Nội thành TP.HCM có 5 hệ thống kênh rạch chính, với tổng chiều dài 76 km, bao gồmNhiêu Lộc - Thị Nghè; Tân Hóa - Lò Gốm; Tàu Hũ - Kênh Đôi; Kênh Tẻ - Bến Nghé; ThamLương - Bến Cát - Vàm Thuật Hệ thống kênh rạch này cùng với sông Sài Gòn (khoảng 38km) cóvai trò vô cùng quan trọng trong việc thoát nước
3.2.1 Hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè
Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè chảy trên vùng trũng thấp của khối đất xám phát triển trênphù sa cổ có độ cao khoảng 8 m, sa cấu là cát pha sét Đây là hệ thống thoát nước chính tự nhiêncho nhiều lưư vực thuộc các quận nội thành Thành phố Hồ Chí Minh (Tân Bình, Gò Vấp, PhúNhuận, Bình Thạnh, quận 10, quận 3 và quận 1) đổ ra sông Sài Gòn Hệ thống này có lưu vựckhoảng gần 3000 ha, chiều dài dòng chính của kênh là 9470m, các chi lưu có chiều dài tổng cộng8716m Khi chưa nạo vét, ở đầu nguồn, kênh chỉ rộng từ 3 –5m, nhưng đến gần cửa sông, chiềurộng mở ra đến 60 – 80m và sâu 4 –5m Dọc theo kênh có 52 cửa xả Mặc dù có chiều dài khá xanhưng độ chênh lệch giữa cao độ địa hình đầu nguồn (Tân Bình) và cuối nguồn ( sông Sài Gòn)quá thấp , chỉ khoảng 1m Mặt khác, dòng kênh phải qua nhiều khúc uốn từ đoạn cầu Lê Văn Sỹđến cầu Bông nên mức độ chuyển tải các chất thải ra sông Sài Gòn rất kém
Trong suốt quá trình phát triển của Thành phố, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đãtừng (và vẫn tiếp tục) là nguồn tiếp nhận chất thải nói chung của mọi hoạt động dân sinh, dịch vụ,thương mại, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp trên lưu vực Thế nhưng tất cả các chất thải đóđến nay hầu như vẫn chưa được xử lý mà thải trực tiếp vào kênh rạch gây ra tình trạng ô nhiễmmôi trường trầm trọng Hơn thế nữa, nạn lấn chiếm lòng kênh rạch để xây cất nhà ở ( hệ quả củaquá trình đô thị hoá và phát triển dân số thiếu quy hoạch) của hàng vạn căn nhà ổ chuột trên hệthống này hằng ngày đã thải trực tiếp các loại rác như phân, rác , xác súc vật xuống mặt nướccàng làm tăng thêm mức độ ô nhiễm nguồn nước, thu hẹp dòng chảy gây bít tắt dòng chảy và làmmất vẻ mỹ quan đô thị một cách trầm trọng Ngoài ra do các yếu tố khách quan, hệ thống kênhNhiêu Lộc – Thị Nghè còn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông.Nên khi nước lớn , nuớc thải trên kênh rạch chưa kịp thoát ra sông Sài Gòn đã bị thuỷ triều dồn ứ
Trang 19đọng vào sâu trong rạch và trong đường cống, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tích tụ các chất ônhiễm và bồi lắng lòng kênh rạch , gây khó khăn lớn cho việc thoát nước của hệ thống này.
Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè còn có các rạch nhánh:
- Rạch Văn Thánh: dài 2.200m, nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh Trước đây, có khả nănglưu thông thuỷ, nay đã bị bồi lấp nhiều, mất dần khả năng giao thông thuỷ và khả năng thoátnước
- Rạch Cầu Sơn – Cầu Bông : dài 3.950m, cũng nằm trên địa bàn quận Bình Thạnhvà ăn thôngvới rạch Văn Thánh Tuyến rạch này hiện nay cũng bị bồi lấp nhiều
- Rạch Bùi Hữu Nghĩa: là một tuyến rạch nhỏ dọc theo đường Bùi Hữu Nghĩa, thuộc địa bànquận Bình Thạnh
- Rạch Phan Văn Hân: nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh Nay đã bị lấp gần kín
- Rạch Ông Tiêu: thuộc khu qui hoạch Miếu Nổi, thuộc địa bàn quận Phú Nhuận
- Rạch Miếu Nổi: thuộc khu quy hoạch Miếu Nổi thuộc địa bàn quận Phú Nhuận
- Rạch bùng binh
3.2.2 Hệ thống kênh Tân Hoá - Lò Gốm
Hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm nằm trong khu cận trung tâm của nội thành Thành phố
Hồ Chí Minh, tuyến kênh chính có chiều dài khoảng 7.6 km chạy từ hướng Đông Bắc xuống TâyNam Thành phố đi ngang qua các quận: Tân Bình, quận 11, quận 6, quận 8 và kết thúc tại điểmnối với kênh Tàu Hũ
Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm còn có các rạch nhánh:
- Rạch Đầm Sen: rộng 6-8m, dài khoảng 300m, nằm trên địa bàn quận 11 Rạch này nối vớikhu công viên Đầm Sen và có một nhánh là rạch Cầu Mé đảm nhận chức năng thoát nước chokhu vực Hàn Hải Nguyên- Minh Phụng- Lạc Long Quân Rạch Cầu Mé đã lập dự án đầu tư cảitạo thành cống hộp, còn rạch Đầm Sen được giữ lại sau khi thực hiện các biện pháp làm sạch,chỉnh trang kết hợp với công viên Đầm Sen phục vụ nghỉ ngơi, giải trí
- Rạch Bến Trâu: rộng 4-8m, dài 1.000m, là ranh giới hành chánh giữa 2 quận : Tân Bình
và quận 6, đảm nhận chức năng tiêu thoát nước cho Xí nghiệp Thực phẩm Cầu Tre (1200m3 nướcthải/ngày) và khu vực dân cư, tiểu thủ công nghiệp lân cận Rạch này đang bị bồi lấp, lấn chiếm
và ô nhiễm rất nặng Rạch Bến Trâu còn có một nhánh là kênh Hiệp Tân, hiện đang được cải tạo
Trang 20lại Đoạn đầu là cống kín còn đoạn sau là mương hở kè đá nhưng chưa phát huy tác dụng vì rạchBến Trâu đã bị lấp.
- Rạch Bà Lài: rộng khoảng 10m , dài 1200m, thoát nước cho khu phía Tây quận 6, nhiềuđoạn bị san lấp, gây tình trạng ngập úng cục bộ do bị cắt mất nguồn thoát, cần có sự nghiên cứugiải quyết gấp để phục vụ thoát nước và phù hợp với kế hoạch san lấp
- Kênh Thúi: rộng 2m, dài 720m, thoát nước cho khu vực phường 19 quận Tân Bình, hiệnkhông còn khả năng thoát nước , gây ngập và ô nhiễm nặng nề cho khu vực, đã lập dự án đầu tưcải tạo kênh thành cống kín
- Một phần kênh Hàng Bàng: từ đường Bình Tiên đến rạch Lò Gốm, rộng 1.5-2m, dài300m Gây ngập cho một phần khu vực quận 6
Lưu vực kênh Tân Hoá- Lò Gốm có diện tích khoảng 1.484ha, trải rộng ra 5 quận: TânBình, quận 11, quận 6, quận 8 và Bình Chánh Độ sâu nguyên thuỷ của kênh này là 6m, giờ đâygiảm chỉ còn 2.5-3m hoặc thậm chí bị lấp gần đầy bởi bùn và rác rưởi như ở đoạn từ cầu PhúLâm đến thượng nguồn Kênh này đảm nhận chức năng tiêu thoát nước cho các quận nói trên.Đáy kênh vừa nhỏ lại hẹp và bị lấn chiếm bởi các căn hộ xây cất bất hợp pháp Kênh còn bị ảnhhưởng bởi thuỷ triều cũng như mực nước tăng lên ở sông Cần Giuộc Anh hưởng triều chỉ biểuhiện rõ ở phần kênh phía hạ lưu từ cầu Hậu Giang trở ra, phần còn lại của kênh đã bị tắc nghẽncùng với nước thải gây ra vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng
Việc xây cất lấn chiếm bừa bãi ven kênh gây trở ngại lớn đến dòng chảy và là nguồn gây ônhiễm quan trọng do tình trạng thiếu các phương tiện vệ sinh, các chất thải được xả trực tiếpxuống dòng kênh Mặt khác, công tác duy tu bảo dưỡng thường kỳ cũng khó thực hiện vì không
có đường công vụ cho xe máy thi công
Chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều trên sông Sài Gòn và do lưu lượng nước thải rấtnhỏ so với khả năng thoát nước của kênh Vào mùa khô, phần lớn nước thải từ cầu Tân Hoá trởlên thượng nguồn bị lưu giữ nhiều ngày trên kênh, phần còn lại được thau rửa hàng ngày bởinước sông Cần Giuộc đưa vào pha loãng Tình trạng này biến đoạn kênh từ thượng nguồn đếncầu Tân Hóa thành một hồ sinh vật tự nhiên, hoạt động chủ yếu trong môi trường kỵ khí (lượngoxy hoà tan bổ sung qua bề mặt nước rất nhỏ do dòng chảy chậm)
3.2.3 Hệ thống kênh Tàu Hủ - kênh Đôi – kênh Tẻ
Hệ thống kênh Tàu Hủ – kênh Đôi – kênh Tẻ được đào vào năm 1819 nằm ngay ở phíaNam quận thương mại trung tâm thành phố Hệ thống kênh này chảy qua 7 quận : 4, 5, 6, 7, 8 và
Trang 2111 với tổng độ dài 19.5km Kênh bị giới hạn bởi rạch Cần Giuộc và sông Sài Gòn ở hai đầu, nhậnnước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp từ các quận đã nói ở trên Hơn nữa, việc xả trựctiếp rác từ các cư dân và ghe xuồng trong các quận này và các căn hộ lụp xụp xây cất bất hợppháp đã làm xấu đi tình trạng môi trường của các kênh Kênh còn bị ảnh hưởng bởi thuỷ triều từhai hướng.
Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống này còn có rất nhiều các kênh, rạch nhánh và các chilưu ăn thông ra các sông lớn: Sài Gòn, Nhà Bè
- Rạch Ụ Cây: dài 1.150m hiện đã bị lấn chiếm và bồi lắng
Hiện tại, mặt cắt kênh vẫn còn khá rộng nhưng cạn vì bị bồi lắng Tuyến kênh này ngoàinhiệm vụ thoát nước còn giữ chức năng rất quan trọng là giao thông thuỷ Nhưng lưu lượng tàuthuyền đi lại trên tuyến đã bị giảm sút rõ rệt vì rạch đã bị cạn, không đảm bảo độ sâu chạy tàu,thời gian chờ tàu khá lâu và thường bị kẹt rác
3.2.4 Hệ thống kênh Bến Nghé
Kênh Bến Nghé bắt đầu từ cửa sông Sài Gòn đến cầu chữ Y dài 3.15km Cao độ đáy chênhlệch là 0.61m , độ dốc đáy rạch 0.019% , tại cửa rạch Bến Nghé là sông Sài Gòn bờ trái có bãi đấtbồi cao độ lên đến 1-1.2m so với đáy kênh hiện hữu
Dân sống hai bên bờ, thường dùng những mặt nước trống này trồng rau muống thành nhữngbãi lớn làm hạn chế thoát nước của cửa rạch ra sông Sài Gòn Mặt cắt lớn nhất của kênh là 88-92m, nhỏ nhất là 60-58m Cao độ đáy rạch từ 2.2m cho đến 1.87m Ở giữa kênh phần mặt cắt bịthu hẹp cao độ 1.75m
Trang 22Như vậy kênh Bến Nghé có đặc điểm: sâu và rộng ở hai đầu; hẹp và cạn ở giữa Dọc kênh
là hai con đường: đường bến Vân Đồn ở quận 4 và đường bến Chương Dương ở quận 1
Dân chúng ở hai bên bờ kênh xây cất nhà lấn chiếm lòng kênh xả rác Hơn nữa, phía quận 1
có Chợ Cầu Mối, Chợ Cầu Ông Lãnh cũng là nơi tập trung nhiều rác rưởi, và kênh lại trở thànhnhững bãi đổ rác của chợ này ( rác của chợ này gồm các loại vỏ sò, vỏ hến, rau quả thối, cá tômchết hay các chất thải khác) làm bồi lắng lòng kênh, cản trở dòng chảy
Dọc theo chiều dài của rạch có 21 cửa xả chính của hệ thống thoát nước đổ ra rạch Các cửa
xả này hiện bị xả rác bừa bãi, chỉ hoạt động được từ 60-80% so với thiết kế ban đầu
3.2.5 Hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát- Vàm Thuật
Tuyến Tham Lương – Bến Cát- Vàm Thuật là một tuyến rạch quan trọng ở phía Bắc thànhphố, nằm ngay ranh giới nội thành (cũ) của TpHCM Tuyến kênh dài 12km, trong đó đoạn VàmThuật hiện còn rất rộng, lưu thông thuỷ và thoát nước khá tốt Riêng đoạn kênh Tham Lương, từcầu Chợ Cầu đến thượng nguồn đã bị bồi lấp, thu hẹp dòng chảy và ô nhiễm đến mức bao động.Tại đây, có khá nhiều xí nghiệp công nghiệp như: thực phẩm Vifon, dầu Tường An, dệt ThắngLợi, dệt Thành Công… Xả nước thải ra kênh, thuỷ triều không đủ để thau rửa nên đã tích tụ ônhiễm khá trầm trọng
3.3 Hệ thống nhà máy xử lý nước thải tại TP HCM
3.3.1 Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng Hòa
3.3.1.1 Giới thiệu
Đây là trạm xử lý nước thải áp dụng công nghệ hồ sục khí và ổn định chất thải cho KênhNước Đen – TP.HCM Đây là dự án thí điểm được xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa 2 chính phủViệt Nam và Vương Quốc Bỉ Nằm trong dự án nâng cấp đô thị và làm sạch kênh Tân Hóa - LòGốm (giai đoạn mở rộng) Tổng chi phí đầu tư: 131,8 tỉ VNĐ (8,09 triệu USD) Bắt đầu vận hànhvào tháng 5/2006
3.3.1.2 Quy mô hoạt động
Trạm tiếp nhận 60 – 80% lưu lượng nước thải của Kênh Đen, trên một lưu vực rộng khoảng
785 ha bao gồm nước thải sinh hoạt cảu 120.000 người và nước thải sản xuất không được xử lýnằm trong khu vực
Tổng diện tích: 35,4ha Công suất thiết kế là 30.000 m3/ngày đêm nhưng hiện nay đang hoạtđộng với công suất 26.000 m3/ngày đêm Lượng bùn ở hồ lắng được hút một năm một lần (bùndâng 30 cm mỗi năm)
Trang 233.3.1.3 Thông số thiết kế
- Tổng diện tích: 35,4 ha
- Diện tích các hồ: 22,63 ha
- Diện tích vùng xanh: 5,34 ha
- Công suất thiết kế: 30.000 m3/ngày đêm
- Công suất mở rộng: 46.000 m3/ngày đêm (tính đến năm 2020)
- Sản lượng bùn: 560 m3/ngày đêm
- Thời gian lưu nước: 14,4 ngày
- Hao hụt thể tích nước bay hơi: 5mm/ngày
- Hao hụt thể tích nước do tự thấm: 2-3 mm/ngày
3.3.2 Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng
Nhà máy xây dựng tại khu đầm lầy thuộc ấp 5, xã Bình Hưng, huyện Bình chánh Phía đônggiáp kênh Tắc Bến Rô, phía tây giáp rạch Bến Cũi
3.3.2.1 Tiêu chuẩn thiết kế
Công suất
xử lý (m 3 /ngày)
Lưu vực Công nghệ
Chất lượng nước thải sau xử lý (QCVN 14:2008)
2008 824,8 ha 425.830 141.000
Quận 1, 3,
5 và mộtphần quận10
Bùn hoạttính cảitiến
Loại B(BOD ≤ 50 mg/L,
SS ≤ 100 mg/L)
Ghi chú:
- BOD: Nhu cầu Oxy hóa sinh học, có nghĩa là lượng Oxy cần thiết để vi sinh vật dùng
để khử các chất hữu cơ có trong nước thải.
- SS : Hàm lượng chất rắn lơ lửng có trong nước