1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ

217 1,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 3,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên chim ở VQG Xuân Sơn cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn về khu hệ và đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim đặc trưng của hệ s

Trang 1

Danh mục các chữ viết tắt

ĐĐ Chim được xác định qua đếm điểm

ĐHKHTN Đại học Khoa học Tự nhiên

ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội

ĐHSPHN Đại học Sư phạm Hà Nội

ĐT Chim được điều tra theo tuyến hoặc phỏng vấn

ĐT&QHR Điều tra và quy hoạch rừng

KBTL/SC Khu bảo tồn loài sinh cảnh

KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên

LR/lc Least concern - Đe dọa ở mức độ ít quan tâm

LSTN Lịch sử tự nhiên

R Rare - Hiếm hay có thể sẽ nguy cấp

ST&TNSV Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

TT Chim trưởng thành

KH&CN VN Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Vo Chim được đeo vòng đánh dấu

VQG Vườn Quốc gia

Trang 2

Mục lục

Trang

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu chim ở miền Bắc Việt Nam và VQG

1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu chim ở miền Bắc Việt Nam và Việt Nam

1.1.2 Khái quát những công trình đã nghiên cứu về VQG Xuân Sơn 9

1.2 Khái quát điều kiện địa lý tự nhiên và xã hội VQG Xuân Sơn 11

1.2.6 Một số đặc điểm chung về xã hội - nhân văn 23

Chương 2 Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 25

2.2.1 Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên 29

2.2.8 Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương 37

Trang 3

Chương 3 Kết quả và thảo luận 40 3.1 Thành phần loài chim ở VQG Xuân Sơn 40

3.1.1 Kết quả nghiên cứu chim bằng phương pháp lưới mờ (mist-nets) 40 3.1.2 Kết quả nghiên cứu chim bằng phương pháp đếm điểm (point-counts) 57 3.1.3 So sánh kết quả nghiên cứu chim giữa sử dụng phương pháp lưới mờ

3.2 2 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cành cạch lớn

3.2.3 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cành cạch núi

3.2.4 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cành cạch xám Hemixos

3.2.5 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài yểng Gracula religiosa

3.2.6 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mỏ rộng hung

3.2.7 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài chim xanh hông vàng

3.2.8 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài lách tách má xám

3.2.9 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài khướu bụi đầu đen

Trang 4

3.2.10 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài khướu bụi vàng

3.2.11 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài chích chạch má vàng

3.3 Những yếu tố gây suy thoái nguồn lợi chim ở VQG Xuân Sơn và

Trang 5

Danh mục các bảng

Trang

Bảng 1.1 Tổng hợp diện tích các phân khu chức năng và vùng đệm 16

Bảng 1.2 Tổng hợp diện tích các phân khu theo xã 16

Bảng 1.3 Sự phân bố các taxon khác nhau trong hệ thực vật VQG

Bảng 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu thực địa 28

Bảng 3.1 Cấu trúc của thành phần loài chim được bắt thả bằng

Bảng 3.2 Tỷ lệ đực cái của một số loài chim được đeo vòng đánh dấu

Bảng 3.3 Số lượng trung bình cá thể chim bắt được trong ngày qua

các đợt nghiên cứu ở khu vực rừng núi Ten 55

Bảng 3.4 Số lượng trung bình cá thể chim bắt được trong ngày qua

các đợt nghiên cứu ở khu vực rừng núi Cẩn 57

Bảng 3.5 Tính đa dạng và phong phú của quần xã chim ở VQG Xuân

Bảng 3.6 Tổng số loài ưu thế, phổ biến, tương đối phổ biến và ít

gặp/hiếm cho khu vực rừng núi Ten, rừng núi Cẩn và tính

chung cho toàn khu vực vùng lõi VQG Xuân Sơn 61

Bảng 3.7 Số lượng loài trong các họ và bộ chim ở VQG Xuân Sơn 65

Bảng 3.8 Các loài chim quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gien ở

Bảng 3.9 Sự phân bố của các loài chim ở VQG Xuân Sơn 71

Bảng 3.10 So sánh số loài chim của VQG Xuân Sơn với các KBTTN

Trang 6

Bảng 3.16 Số liệu về các cá thể chim xanh hông vàng được đeo vòng

4 đợt nghiên cứu năm 2006 tại núi Ten 46 Hình 3.2 Độ tương đồng trung bình về cấu trúc thành phần loài chim

giữa 3 trại A: đợt 2 (1/2006); B: đợt 3 (3/2006) 48 Hình 3.3 Độ tương đồng trung bình về cấu trúc thành phần loài chim

giữa 3 trại A: đợt 4 (6/2006); B: đợt 5 (9/2006) 48 Hình 3.4 Độ tương đồng trung bình về cấu trúc thành phần loài chim

của một trại qua các đợt nghiên cứu khác nhau A: trại 1;

B: trại 2; C: trại 3

51

Hình 3.5 Số lượng trung bình cá thể chim bắt được trong ngày ở 4

đợt nghiên cứu năm 2006 tại khu vực rừng núi Ten - VQG

Hình 3.6 Số lượng trung bình cá thể chim bắt được trong ngày ở 2

đợt nghiên cứu năm 2006 tại khu vực rừng núi Cẩn - VQG

Hình 3.7 Số loài (I) và số cá thể (II) xác định tại 30 điểm đếm của

khu vực rừng núi Ten (A), 30 điểm đếm khu vực rừng núi

Trang 7

Danh mục phần phụ lục

Phụ lục 1 Bảng số liệu khí hậu của các trạm khí tượng Minh Đài và trạm Thanh

Sơn

Phụ lục 2 Bảng dân số và dân tộc của 10 xóm trong VQG Xuân Sơn

Phụ lục 3 Bảng ma trận so sánh độ tương đồng về thành phần loài chim giữa các

Phụ lục 6 Bảng danh lục chim VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Phụ lục 7 Bảng thành phần loài chim được bắt thả trong đợt 1 (11/2005) tại trại 2

núi Ten

Phụ lục 8 Bảng thành phần loài chim được bắt thả trong đợt 2 (1/2006) tại núi

Ten

Phụ lục 9 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 1 trong đợt 2 (1/2006) tại

Cẩn (B) và tính chung 60 điểm đếm cho khu vực Xuân Sơn

(C) 59 Hình 3.8 Số lượng loài chim phân bố trên từng sinh cảnh ở VQG

Hình 3.10 Độ tương đồng trung bình về cấu trúc thành phần loài

Hình 3.11 Âm đồ tiếng kêu của cành cạch lớn 85

Hình 3.12 Âm đồ tiếng hót của cành cạch núi 89

Hình 3.13 Âm đồ tiếng hót của cành cạch xám 93

Hình 3.15 Âm đồ tiếng kêu của loài mỏ rộng hung 102

Hình 3.16 Âm đồ tiếng hót của loài chim xanh hông vàng 105

Hình 3.17 Âm đồ tiếng hót của loài lách tách má xám (kiểu 1) 109

Hình 3.18 Âm đồ tiếng hót của loài lách tách má xám (kiểu 2) 109

Hình 3.19 Âm đồ tiếng hót của loài khướu bụi đầu đen 112

Hình 3.20 Âm đồ tiếng hót của khướu bụi vàng (kiểu 1) 115

Hình 3.21 Âm đồ tiếng hót của khướu bụi vàng (kiểu 2) 115

Hình 3.22 Âm đồ tiếng hót của chích chạch má vàng 118

Trang 8

núi Ten

Phụ lục 10 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 2 trong đợt 2 (1/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 11 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 3 trong đợt 2 (1/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 12 Bảng thành phần loài chim được bắt thả trong đợt 3 (3/2006) tại núi

Ten

Phụ lục 13 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 1 trong đợt 3 (3/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 14 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 2 trong đợt 3 (3/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 15 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 3 trong đợt 3 (3/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 16 Bảng thành phần loài chim được bắt thả trong đợt 3 (3/2006) tại núi

Cẩn

Phụ lục 17 Bảng thành phần loài chim được bắt thả trong đợt 4 (6/2006) tại núi

Ten

Phụ lục 18 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 1 trong đợt 4 (6/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 19 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 2 trong đợt 4 (6/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 20 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 3 trong đợt 4 (6/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 21 Bảng thành phần loài chim được bắt thả trong đợt 5 (9/2006) tại núi

Ten

Phụ lục 22 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 1 trong đợt 5 (9/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 23 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 2 trong đợt 5 (9/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 24 Bảng thành phần loài chim được bắt thả ở trại 3 trong đợt 5 (9/2006)

tại núi Ten

Phụ lục 25 Bảng thành phần loài chim được bắt thả trong đợt 5 (10/2006) tại núi

Cẩn

Phụ lục 26 Mẫu bảng thông tin đeo vòng cho chim sử dụng trong phương pháp

lưới mờ (mist-nets)

Phụ lục 27 Mẫu bảng đếm chim sử dụng trong phương pháp đếm điểm (point

counts)

Phụ lục 28 Bảng kết quả đếm chim tại 30 điểm đếm khu vực rừng núi Ten trong

Trang 9

mùa sinh sản 2006

Phụ lục 29 Bảng kết quả đếm chim tại 30 điểm đếm khu vực rừng núi Cẩn trong

mùa sinh sản 2006

Phụ lục 30 Bảng tổng hợp kết quả đếm chim tại 60 điểm đếm ở VQG Xuân Sơn

trong mùa sinh sản 2006

Phụ lục 31 Bản đồ vị trí các KBTTN ở miền Bắc Việt Nam

Phụ lục 32 Bản đồ vệ tinh khu vực miền Bắc Việt Nam

Phụ lục 33 Bản đồ vệ tinh khu vực VQG Xuân Sơn

Phụ lục 34 Hiện trạng rừng và sử dụng đất vùng đệm VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú

Trang 10

Mở đầu

Các VQG và KBTTN là những khu vực có tính đa dạng sinh học cao được ưu tiên bảo vệ Do đó, những năm gần đây, nhiều hoạt động điều tra, nghiên cứu được tập trung vào các khu vực này nhằm tìm ra những dẫn liệu về tài nguyên sinh vật của Việt Nam vốn còn nhiều điều bí ẩn

Hiện nay, các nhà bảo tồn thiên nhiên thường dựa vào một số loài chim đặc trưng của hệ sinh thái như là một trong những chỉ thị sinh học để đánh giá mức độ

đa dạng sinh học của các KBTTN Điều này được dẫn chứng qua “Sách hướng dẫn các vùng chim quan trọng ở Việt Nam - Các khu bảo tồn trọng yếu” [11] Do đó, việc bảo tồn, phát triển nguồn lợi chim ở các KBTTN sẽ gặp nhiều hạn chế nếu chúng ta không có những nghiên cứu sâu và đầy đủ về khu hệ chim ở các vùng địa

lý khác nhau trên đất nước ta

VQG Xuân Sơn là một VQG “trẻ” mới được chính thức chuyển hạng từ KBTTN vào ngày 17/4/2002 theo Quyết định số 49/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích 15.048 ha VQG nằm ở vị trí phía Tây của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ VQG Xuân Sơn có hệ sinh thái rừng núi đá vôi xen núi

đất gần như nguyên sinh khá đặc biệt ở vùng Tây Bắc Việt Nam và là điểm kết thúc của dãy núi Hoàng Liên, nên khu hệ chim ở đây khá đặc biệt và mang tính đặc trưng cho một khu vực ở vùng Tây Bắc trải rộng trên nhiều dạng sinh cảnh khác nhau Cho tới nay, bên cạnh những điều tra sơ bộ thống kê thành phần loài chim ở VQG Xuân Sơn (Đỗ Tước [60, 64]; Lê Đình Thủy [22, 33]; Trương Văn Lã [31]) thì chưa có một công trình nào nghiên cứu đi sâu vào đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim ở khu vực này

Qua khảo sát, điều tra sơ bộ, chúng tôi nhận thấy tài nguyên chim ở đây khá phong phú với nhiều loài quý hiếm và còn có nhiều điều chưa được khám phá hết,

kể cả về thành phần loài Để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên chim ở VQG Xuân Sơn cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn về khu hệ và đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim đặc trưng của hệ sinh thái nơi đây

Trong hoàn cảnh hiện nay, việc thu mẫu chim để nghiên cứu khoa học là rất hạn chế Do đó, để nghiên cứu được nhóm động vật này, các nhà nghiên cứu chim

Trang 11

cần phải ứng dụng những phương pháp phù hợp khắc phục được hạn chế trên Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chim ở VQG Xuân Sơn, bên cạnh sử dụng các phương pháp điều tra truyền thống, chúng tôi có sử dụng thêm phương pháp đếm điểm (point counts) và phương pháp lưới mờ (mist-nets) để bắt thả đeo vòng đánh dấu các loài chim ở khu vực nghiên cứu Đồng thời sử dụng bộ thiết bị thu âm định hướng chúng tôi đã bổ sung thêm các dẫn liệu mới về âm sinh học của các loài chim ở VQG Xuân Sơn

Trên cơ sở lựa chọn những phương pháp nghiên cứu chim phù hợp, chúng tôi tiến hành các nghiên cứu rộng và sâu hơn về chim ở VQG Xuân Sơn với 3 mục tiêu chính và 5 nội dung cụ thể

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Nghiên cứu về thành phần loài chim của VQG Xuân Sơn

2 Bổ sung những dẫn liệu mới về một số đặc điểm sinh học, sinh thái của một vài loài chim đặc trưng ở VQG Xuân Sơn

3 Xác định hiện trạng và đề xuất biện pháp bảo tồn nguồn lợi chim rừng ở VQG Xuân Sơn

Nội dung nghiên cứu:

1 Điều tra, xác định một cách đầy đủ nhất về đa dạng thành phần loài chim của khu hệ trong đó có sử dụng phương pháp lưới mờ (mist-nets) và phương pháp

đếm điểm (point counts)

2 Tìm hiểu sự phân bố và độ phong phú của các loài chim trong khu vực

3 Nghiên cứu mối quan hệ giữa khu hệ chim VQG Xuân Sơn với các khu hệ chim khác trong vùng Tây Bắc và các nơi lân cận VQG Xuân Sơn

4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của một vài loài chim

đặc trưng thường gặp

5 Tìm hiểu hiện trạng, những nguyên nhân gây suy thoái, từ đó đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi chim rừng

Các kết quả nghiên cứu được tổng hợp phân tích thảo luận trong nội dung luận

án "Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim

đặc trưng ở vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ"

Trang 12

Khái niệm "khu hệ" trong đề tài được hiểu trong phạm vị hẹp để chỉ cấu trúc thành phần loài chim của khu vực nghiên cứu Mối quan hệ giữa các loài chim trong khu hệ được bàn luận thêm trong những trường hợp cụ thể của một số loài chim trong khu vực nghiên cứu

Đóng góp mới của đề tài:

1 Đưa ra những kết quả nghiên cứu đầu tiên về sử dụng 2 phương pháp đếm

điểm (point counts) và lưới mờ (mist-nets) trong nghiên cứu chim ở VQG Xuân Sơn

2 Đề tài đã xác định được đầy đủ nhất so với các nghiên cứu khác từ trước tới nay về thành phần loài chim ở VQG Xuân Sơn

3 Bổ sung những dẫn liệu mới về một số đặc điểm sinh học, sinh thái của 10 loài chim đặc trưng thường gặp ở VQG Xuân Sơn, đặc biệt là những dẫn liệu về âm sinh học của loài

4 Xác định được hiện trạng, nguy cơ gây suy thoái và đề xuất biện pháp bảo tồn nguồn lợi chim rừng ở VQG Xuân Sơn

Chúng tôi hy vọng rằng, các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là những cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn nguồn lợi chim rừng ở VQG Xuân Sơn nói riêng và nguồn lợi chim của miền Bắc Việt Nam nói chung

Trang 13

Chương 1 Tổng quan tài liệu

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu chim ở miền Bắc Việt Nam và VQG Xuân Sơn

1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu chim ở miền Bắc Việt Nam và Việt Nam nói chung

Việt Nam là một trong những nước có khu hệ chim đa dạng, phong phú nhất

ở khu vực Đông Nam á Những kết quả nghiên cứu chim đã công bố ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy có một số loài đã từng được ghi nhận trước đây nay đã

tuyệt chủng Ví dụ diệc xumatra Ardea sumatrana hay cò quăm lớn Thaumantibis

gigantea [11], trong khi đó, một số loài mới lại mới được phát hiện bổ sung thêm

cho danh sách các loài chim ở Việt Nam Sự phong phú về thành phần loài chim có thể do biên độ rộng về kinh độ và vĩ độ của Việt Nam đã dẫn đến hình thành nhiều dạng sinh cảnh trải rộng trên khắp đất nước

Lịch sử nghiên cứu chim ở miền Bắc nằm trong bối cảnh của các hoạt động nghiên cứu chim trong khu vực Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Nghiên cứu quan trọng nhất về khu hệ chim Việt Nam được thực hiện trong giai đoạn đầu 1899 - 1903 là công trình "Chim Cămpuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam" của E Oustalet [168,169] Cũng trong giai đoạn trên, ở miền Bắc Việt Nam, E.Boutan có tổ chức sưu tầm chim ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và tập trung vào một số điểm như Hà Đông và vùng quanh Hà Nội Kết quả của đợt sưu tầm này

được xuất bản vào năm 1905 trong tập "Mười năm nghiên cứu động vật" [159] Bộ sưu tập này đã được Ménégaux phân tích và cho công bố [166] Vào năm 1917, nhà

điểu học người Nhật bản, N Kuroda đã phân tích bộ sưu tập chim do S Txikia sưu tầm vào năm 1911-1912 ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai và ghi nhận được 130 loài và loài phụ [112]

Trong khoảng thời gian 1923-1924, M.H Steven đã gửi về Bảo tàng lịch sử tự nhiên London, Anh một sưu tập chim và trứng chim (gồm 333 tiêu bản chim và 170 trứng) thu thập ở vùng Tây Bắc Việt Nam Bộ sưu tập này đã được N.B Kinne phân tích và thông báo vào năm 1924, trong đó ghi được 219 loài và loài phụ cùng một ít

Trang 14

dẫn liệu sinh học Ngoài ra, tác giả cũng đã mô tả thêm 11 loài và loài phụ chim mới

ở miền Bắc Việt Nam [111]

Trong khoảng thời gian 1923-1939, Delacour và các cộng sự của ông đã tiến hành sáu đợt thám hiểm điểu học ở Đông Dương Trong khoảng thời gian từ tháng 11/1926 đến tháng 5/1927 Delacour và Jabouille đã tiến hành sưu tập chim ở Tam

Đảo (Vĩnh Yên), Bắc Cạn và vùng núi gần giáp biên giới với Trung Quốc thuộc tỉnh Lạng Sơn rồi sau đó mới chuyển vào miền Nam Việt Nam Trong đợt sưu tầm này,

họ đã thu được khoảng 4.500 tiêu bản chim Kết quả phân tích bộ sưu tập được các tác giả cho công bố lần lượt trên các tạp chí khoa học Ibis, Bull.B.O.C và L'Oiseau trong các năm 1928-1929 Trong đó, các tác giả đã ghi nhận được 580 loài và loài phụ và có đến 40 dạng mới cho khoa học

Đợt sưu tầm chim tiếp theo ở miền Bắc của Delacour, Greenway và Lowe đã

được tiến hành vào thời gian từ tháng 10/1929 đến tháng 5/1930 Lần này, họ làm việc ở vùng núi Hoàng Liên Sơn, Sapa và các vùng lân cận, nơi mà trước đây vào năm 1923-1924 Steven đã nghiên cứu Sau đó họ trở xuống vùng Hạ Long và trở vào vùng Hồi Xuân Lần này, họ đã thu thập được 349 loài và loài phụ trong đó có đến

30 dạng mới cho khoa học Kết quả của lần sưu tập này đã được các tác giả công bố trong các tạp chí Ibis và L'Oiseaux et R.F.O vào năm 1930

Năm 1929, đoàn Kelley-Rooosevelt đã tiến hành sưu tầm chim ở Sapa (Lào Cai), Lai Châu Sau đó, họ qua bắc Lào rồi xuống trung Lào Bộ sưu tập chim này đã

được O Bangs và Van Tyne phân tích và công bố vào năm 1931, bao gồm 387 loài

và loài phụ trong đó có một dạng mới [74]

Năm 1931, Delacour và Jabouille cho xuất bản công trình tổng hợp "Chim

Đông Dương" gồm 4 tập [160] Trong công trình này các tác giả đã mô tả 954 loài

và loài phụ có kèm theo một ít dẫn liệu chung về đặc tính sinh học và phân bố của chúng

Năm 1942, P Milon tiến hành nghiên cứu chim ở tỉnh Lạng Sơn Kết quả nghiên cứu của Milon được công bố vào cuối năm 1942 gồm một danh sách 140 loài và loài phụ với một số đặc điểm sinh học [167] Trong thời gian từ năm 1941-

1942, một vài sưu tập chim lẻ tẻ thu thập ở Lạng Sơn và một số địa phương khác ở miền Bắc Việt Nam được gửi về phòng nghiên cứu trường đại học Tổng hợp Đông Dương Các sưu tầm này được phân tích và cho công bố bởi R Bourret [156-158]

Trang 15

Đến năm 1951, Delacour trên cơ sở phân tích các bộ sưu tập chim đã cho bổ sung lần thứ ba danh sách chim Đông Dương với 1085 loài và loài phụ, trong đó có 2 dạng mới

Từ năm 1945-1954 do chiến tranh nên mọi hoạt động nghiên cứu chim ở Đông Dương bị gián đoạn và chỉ bắt đầu lại từ năm 1957, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng ít lâu Trong thời gian này có một số công trình được công bố bởi các nhà khoa học Việt Nam như Võ Quý, Trần Gia Huấn, Lê Diên Dực, Đỗ Ngọc Quang,

Đào Văn Tiến [37-40, 170] Ngoài ra còn có công trình của W.Fisher nghiên cứu về chim miền Bắc Việt Nam công bố vào năm 1961, 1962 [177, 178] Thời gian tiếp theo, Lê Diên Dực có công bố những kết quả nghiên cứu sâu về sinh học, sinh thái của hai loài chim sáo mỏ ngà và sáo mỏ vàng [14, 15] Cho đến thời điểm này, hầu hết các công trình đã công bố cũng mới chỉ đề cập đến khu hệ chim của một vài vùng nhỏ ở Việt Nam hoặc đi sâu vào một số đặc điểm sinh học của vài loài chim riêng biệt

Đến năm 1971, Võ Quý lần đầu tiên đã cho xuất bản công trình "Sinh học của những loài chim thường gặp ở Việt Nam", tập 1 [41] Trong tập đầu này, tác giả đã khái quát những đặc điểm chung cũng như chi tiết đặc điểm sinh học của 675 loài và loài phụ thường gặp ở miền Bắc Việt Nam Trong số đó, có một loài mới và một loài

phụ mới cho khoa học là loài gà lôi lam đuôi trắng Lophura hatinhensis và phân loài hút mật Tam Đảo Nectarinia jugularis tamdaoensis Theo đặc tính cư trú, tác giả đã

chia toàn bộ chim gặp trên miền Bắc Việt Nam thành 6 nhóm: định cư (415 loài), làm tổ nhưng không định cư (28 loài), trú đông (160 loài), bay qua (7 loài), lang thang (13 loài), chưa xác định (11 loài) Trong số đó, có một số loài với các loài phụ khác nhau hay với các chủng quần khác nhau đã cùng một lúc được ghi vào hai trong các nhóm trên Năm 1972, Võ Quý tiếp tục đưa ra kết quả nghiên cứu về sự phân bố theo sinh cảnh của khu hệ chim Bắc Việt Nam [42]

Sau khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ và thống nhất đất nước vào năm 1975, các hoạt động nghiên cứu chim được tiếp tục đẩy mạnh Công trình nghiên cứu đáng chú ý trong giai đoạn này là sách "Chim Việt Nam: hình thái và phân loại" tập 1, 2 của Võ Quý xuất bản năm 1975, 1981[43, 44] Trong công trình này, tác giả đã mô tả 1.009 loài và phân loài chim được ghi nhận ở Việt Nam Năm 1981, ủy ban Khoa

Trang 16

học và Kỹ thuật Nhà nước đã công bố "Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam" trong đó có tài nguyên chim [61]

Năm 1983, Võ Quý tiếp tục cho xuất bản Danh lục Chim Việt Nam gồm 773 loài thuộc 20 bộ, 68 họ và 313 giống Cũng trong năm này, Lê Vũ Khôi có công bố kết quả nghiên cứu về nguồn lợi động vật trung du miền Bắc trong đó có nguồn lợi chim [25] Năm 1985, một số dẫn liệu về sinh học, sinh thái của chim rừng nhiệt đới Việt Nam được Stepanya, Võ Quý và các cộng sự công bố [45, 48] Từ tháng 4/1988, ba đợt khảo sát thực địa của Tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế - ICBP (nay là BirdLife International) đã được tiến hành tại nhiều vùng trên đất nước Các chuyến khảo sát này đã rất thành công trong việc tái phát hiện nhiều loài chim đặc hữu đã không có ghi nhận nào sau hơn nửa thế kỷ Tiếp theo đó, BirdLife International đã thành lập chương trình quốc gia cùng với đối tác Việt Nam và đã tiến hành hàng loạt các đợt khảo sát trên khắp lãnh thổ Các kết quả nghiên cứu này đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước lần lượt công bố [1,4,95-99,131-133,147] Năm 1995, Võ Quý, Nguyễn Cử đã cho xuất bản Danh lục Chim Việt Nam với 828 loài cùng với các đặc điểm về tính chất cư trú, vùng phân bố và độ phong phú của mỗi loài [46]

Đến năm 2000, Tổ chức BirdLife Quốc tế ở Việt Nam đã cho xuất bản sách "Chim Việt Nam" [9] , trong đó có một số loài mới được bổ sung cùng với 500 hình vẽ màu giúp cho nhiều người dễ dàng nhận biết các loài chim trong thiên nhiên

Cho đến nay, các dẫn liệu về thành phần loài chim ở Việt Nam vẫn tiếp tục

được cập nhật, song danh lục chim Việt Nam đã có thể đạt tới con số 874 loài [10], trong đó có 6 loài mới cho khoa học đã được mô tả và công bố bao gồm: khướu vằn

đầu đen Actinodura sodangorum , khướu Ngọc Linh Garrulax ngoclinhensis, khướu Kon Ka Kinh Garrulax konkakinhensis, Chích đá vôi Phylloscopus calciatilis, Khướu ngực hung Garrulax annamensis, Gà lôi lam Hà Tĩnh Lophura hatinhensis

Một số phân loài chim mới cho khoa học cũng được phát hiện vào cuối thập niên 90 Như vậy, cho đến nay nếu so sánh với Danh lục chim Việt Nam xuất bản trước đây (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995), thì số lượng các loài mới được bổ sung thêm là 46, trong đó thuộc bộ Sẻ Passeriformes có: 24 loài, các bộ còn lại ngoài bộ Sẻ Non-Passeriformes là 17 loài

Số loài chim có vùng phân bố hẹp hay loài đặc hữu của Việt Nam cho đến nay

đã xác định được là 13 loài Ngoài ra, ở Việt Nam còn tìm thấy các loài đặc hữu

Trang 17

rộng, bao gồm: chích đá vôi Phylloscopus calciatilis, đuôi cụt bụng vằn Pitta

elliotii, Trĩ sao Rheinartia ocellata, Khướu mỏ dài Jabuilleia danjoui, Gà tiền mặt

đỏ Polyplectron germaini và nhiều loài khác Tổng số loài chim đặc hữu rộng (Đông

Dương và khu vực) được tìm thấy ở Việt Nam cho đến nay có thể đạt con số 30 loài [8] Nếu chỉ tính đến năm 1995, số loài và phân loài chim đặc hữu của Việt Nam đã

được phát hiện là 100 [8] Trong thời gian qua, một số nhóm loài được quan tâm nghiên cứu nhiều như các loài thuộc họ Trĩ (Phasianidae) [1,4,29,30,56,57], Yến (Apodidae) [36], các loài Chèo bẻo [7], Sếu cổ trụi [16], nhóm chim nước và chim nước di cư [50-52], Hiện nay, bước đầu chúng ta đã có một số nghiên cứu về nhóm chim ăn thịt, đặc biệt là các nghiên cứu về nhóm loài chim ăn thịt di cư ở Việt Nam Nằm trong chương trình hợp tác với Bảo tàng lịch sử tự nhiên Thụy Điển, từ năm 2002 - 2003, một nhóm cán bộ của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã bước đầu tham gia nghiên cứu phân tích ADN nhằm hỗ trợ việc định loại bằng hình thái ngoài của một số loài và phân loài chim ở Việt Nam [10]

Trong những năm gần đây, nhiều hoạt động nghiên cứu và bảo tồn chim ở miền Bắc Việt Nam đã được tiến hành Với sự tài trợ của Cộng đồng châu âu (EU), một dự án "mở rộng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam cho thế kỷ 21" [78] đã được nghiên cứu, đề xuất hệ thống rừng bảo vệ thiên nhiên mới cho Việt Nam đến năm

2010 Theo báo cáo của dự án này, Việt Nam sẽ có hệ thống các khu bảo vệ là 103 khu (2.211.131 ha) theo hệ thống phân hạng của IUCN đã hướng dẫn, trong đó gồm:

11 VQG (294.527ha); 55 KBTTN (1.629.290ha); 20 Khu bảo tồn loài/sinh cảnh (187.957ha); 17 khu bảo vệ cảnh quan (99.360ha) Danh lục chim của nhiều KBTTN và VQG trong cả nước đã được bổ sung và xây dựng, làm cơ sở cho công tác quản lý và bảo tồn Các loài chim được coi là một trong các nhóm loài động vật hoang dã quan trọng để tiến hành các dự án điều tra, nghiên cứu, đề xuất kế hoạch quản lý bảo vệ và xây dựng khu bảo tồn Việt Nam có 3 vùng chim đặc hữu/EBA trong tổng số hơn 200 vùng chim đặc hữu đã được xác định trên toàn cầu[8] EBAs

được coi là các điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học thế giới Việt Nam có 63 vùng chim quan trọng/IBA IBAs là các khu vực quan trọng được xác định nhằm góp phần thúc đẩy công tác bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Trang 18

Có rất nhiều loài chim đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, 2000 [3], châu á [77] và thế giới [108] cũng như Công ước CITES, Nghị định 32/2006/NĐ-CP [12] mới đây của Chính phủ ghi nhận các loài động thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm trong đó có nhiều loài chim cần được ưu tiên bảo vệ, cấm săn bắt và buôn bán ở các mức độ khác nhau

Trong những năm gần đây, ở hầu hết các tỉnh miền Bắc đều đã có những nghiên cứu về động vật hoang dã trong đó có nguồn lợi chim [20,21,52,53] Tuy nhiên, cho đến nay, công tác quản lý nguồn lợi chim cũng như những nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim ở miền Bắc nói riêng và ở Việt Nam nói chung vẫn còn chưa nhiều Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ nghiên cứu chim ở nước ta phải không ngừng nỗ lực triển khai thêm các nghiên cứu và tăng cường năng lực cũng như phương tiện nghiên cứu để có thể thực hiện được công việc này Tất cả những nghiên cứu trên sẽ giúp làm sáng tỏ hơn vai trò, ý nghĩa của các loài chim trong các hệ sinh thái tự nhiên và cuộc sống của con người, từ đó làm cho cộng đồng hiểu và thêm yêu thích các loài chim, khích lệ mọi người tự giác tham gia công tác bảo tồn các loài chim sống trong cảnh quan thiên nhiên trên quê hương mình

1.1.2 Khái quát những công trình đã nghiên cứu về VQG Xuân Sơn

Ngay từ những năm 1927, 1934, 1941, 1944 đã có một số người nước ngoài

đến sưu tầm mẫu chim ở khu vực này như Bourret, Raimbault, Winter, Agric, Vào giữa năm 1961, đoàn sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tổ chức đợt thực tập nghiên cứu thiên nhiên tại xã Thục Luyện, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Qua đợt thực tập trên, nhiều mẫu chim đã được thu, xử lý, làm mẫu nhồi và lưu giữ tại Bảo tàng Động vật, Trường ĐHKHTN - ĐHQGHN Một số tác giả khác như Phan Duy Cộng, Lê Diên Dực cũng đã thu được nhiều mẫu ở các xã Thục Luyện,

Địch Quả, Thạch Khoán thuộc huyện Thanh Sơn

KBTTN Xuân Sơn được thành lập từ năm 1986 theo Quyết định 194/CT ngày 9/8/1986 của Hội đồng Bộ trưởng Theo quyết định đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phú đã cho thành lập Trạm kiểm lâm Minh Đài, thuộc Hạt kiểm lâm Minh Đài Sau

đó, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã phối hợp với Chi cục kiểm lâm Vĩnh Phú khảo

Trang 19

sát xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật KBTTN Xuân Sơn năm 1992 Theo tài liệu này đã xác định được ở KBTTN Xuân Sơn có 118 loài chim [64]

Từ đó cho đến nay, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước cũng như các

đoàn công tác lâm nghiệp của địa phương và trung ương đã tới Xuân Sơn nghiên cứu

Năm 1998, trong nội dung nghiên cứu của đề tài: “Tài nguyên đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn, huyện Thanh Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ” do

Vũ Quang Mạnh chủ trì, Lê Đình Thuỷ (Viện ST & TNSV) cùng nhóm nghiên cứu

đã có 2 đợt thực địa vào tháng 5 và tháng 7/1998 Kết quả đã ghi nhận thành phần loài chim ở KBTTN Xuân Sơn có 168 loài thuộc 45 họ, 15 bộ Kết quả này đã được công bố trên Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 1/2003 [33] Tiếp đó, năm 2000, trong đề tài cấp Viện ST & TNSV, Trương Văn Lã đã tiến hành các nghiên cứu về khu hệ chim ở Xuân Sơn và xác định được 155 loài chim [31] Sau khi được chuyển hạng lên thành VQG theo Quyết định số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích 15.048 ha, Chi cục

kiểm lâm tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện ĐT & QHR xây dựng luận chứng: "Dự án

đầu tư xây dựng Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ", 2003[65] Đỗ Tước và

cộng sự đã xác định được ở VQG Xuân Sơn có 240 loài chim thuộc 50 họ, 15 bộ, trong đó bao gồm 235 loài quan sát được và 5 loài có mẫu [60]

Một trong những nội dung nghiên cứu của đề tài khoa học công nghệ cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam [22], Lê Đình Thuỷ, Nguyễn Lân Hùng Sơn và Ngô Xuân Tường đã xác định thành phần loài chim ở VQG Xuân Sơn có 182 loài thuộc 47 họ và 15 bộ Kết quả đã được công bố trong Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc

2005 về nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống

Đề tài đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mã số QG.05.23 hỗ trợ cho nghiên cứu sinh do Hà Đình Đức chủ trì về "Nghiên cứu khu hệ chim và một số đặc

điểm sinh học, sinh thái của một số loài chim thuộc họ Khướu Timaliidae ở VQG Xuân Sơn" đã được triển khai trong hai năm 2005 - 2006 và bước đầu đưa ra những dẫn liệu về sinh thái, sinh học một số loài chim thuộc nhóm này, đặc biệt là những dẫn liệu về âm sinh học của loài

Trang 20

Kế thừa các nghiên cứu đã thực hiện ở VQG Xuân Sơn , chúng tôi tiếp tục các nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về chim ở VQG Xuân Sơn trong khuôn khổ đề tài luận

án: "Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim

đặc trưng ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ" được thực hiện trong 3 năm

2003 - 2006

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng đã hướng dẫn sinh viên Nguyễn Thanh Vân, Khoa Sinh học - Kỹ thuật Nông nghiệp, Trường ĐHSPHN nghiên cứu và hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học năm 2006 với tên đề

tài là "Kết quả nghiên cứu bước đầu về các loài chim hiện diện tại Vườn quốc gia

Xuân Sơn bằng phương pháp mist-nets"

Như vậy, mặc dù khu hệ chim của VQG Xuân Sơn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, song vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu rộng, sâu hơn nữa để có thể hiểu rõ hơn về sự phong phú và đa dạng cũng như những nét đặc trưng của các loài chim ở đây

1.2 Khái quát điều kiện địa lý tự nhiên và xã hội vQG Xuân

- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Phía Nam giáp với huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình

- Phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn La

- Phía đông giáp với các xã: Tân Phú, Mỹ Thuận, Long Cốc và Vĩnh Tiến, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

VQG bao gồm toàn bộ diện tích của xã Xuân Sơn và 7 xã vùng đệm là: Đồng Sơn, Lai Đồng, Tân Sơn, Kiệt Sơn, Minh Đài, Xuân Đài và Kim Thượng Đều thuộc vùng sâu vùng xa của huyện miền núi Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, với tổng diện tích tự nhiên là: 33.687 ha, trong đó diện tích vùng lõi là 15.048 ha và diện tích vùng đệm

là 18.639 ha Vị trí của VQG Xuân Sơn trên bản đồ vùng phân bố chim Việt Nam

được thể hiện trong hình 1.1

Trang 21

VQG Xuân Sơn

Hình 1.1 Định hướng vị trí VQG Xuân Sơn trên bản đồ vùng phân bố chim Việt Nam (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995)

Trang 22

1.2 2 Địa hình địa mạo

VQG Xuân Sơn và vùng đệm nằm trong một vùng đồi núi thấp thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy núi Hoàng Liên

Vùng đồi núi thấp này toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạn sông

Đà bao gồm cả huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Sông Bứa và các chi lưu của nó toả nhiều nhánh ra gần như khắp vùng Nhìn chung, các dãy đồi núi chỉ cao chừng 600-700 m, hình dáng khá mềm mại vì chúng được cấu tạo bởi các loại đá phiến biến chất quen thuộc Cao nhất là đỉnh Voi với độ cao 1386 m, tiếp đến là núi Ten, núi Vạn đều cao trên 1200-1300 m

Các thung lũng trong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Sự chia cắt theo chiều sâu cũng khá lớn, các sườn núi khá dốc, bình quân độ dốc là 200 khiến việc đi lại trong vùng gặp nhiều khó khăn

Nhìn chung địa hình trong khu vực có những kiểu chính sau:

- Kiểu núi trung bình:

Hình thành trên đá phiến biến chất có độ cao từ 700-1368m Kiểu này phân bố chủ yếu ở phía Tây và Tây Nam VQG bao gồm phần lớn hệ đá vôi Xuân Sơn và các dãy núi đất xen kẽ Tác dụng xâm thực mạnh, độ dốc lớn trung bình 300, mức độ chia cắt phức tạp và là đầu nguồn của hệ sông suối của sông Bứa Chiếm tỷ lệ 10,4% diện tích tự nhiên

- Kiểu địa hình núi thấp:

Được hình thành trên các đá trầm tích lục địa nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, thuộc địa hình này là các núi có độ cao từ 300-700m phân bố chủ yếu

từ Nam, Tây Nam đến phía Bắc khu vực chiếm 25,4% diện tích

Núi ở đây có hình dạng mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình chỉ

200, có những thung lũng mở rộng hơn ở vùng núi phía Tây Bắc

- Kiểu đồi cao:

Có độ cao dưới 300m, phân bố chủ yếu về phía Đông khu vực Có hình dạng

đồi lượn sóng mềm mại, được cấu tạo từ các loại đá trầm tích và biến chất hạt mịn, hiện nay đã được trồng chè xanh, chè shal và rừng nguyên liệu giấy chiếm 43,9% diện tích khu vực

Trang 23

- Chế độ nhiệt:

Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 220C-230C, tương đối với tổng nhiệt năng từ 8.3000C-8.5000C (nằm trong vành đai nhiệt đới)

+ Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa

Đông Bắc Nhiệt độ trong các tháng này xuống dưới 200C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1 (15,30C ở trạm Minh Đài, 15,50C ở trạm Thanh Sơn)

+ Ngược lại, trong mùa nóng, do ảnh hưởng của gió mùa Đông nam nên thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 250C, nóng nhất là vào tháng

6 và 7 (280C) Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 40,70C vào tháng 6, do chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào) khô và nóng, độ ẩm không khí có thể xuống dưới 20% trong các tháng 5,6,7

- Chế độ mưa ẩm:

Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1.660 mm ở trạm Thanh Sơn đến 1.826mm ở trạm Minh Đài Tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm), hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8,9 hàng năm (do ảnh hưởng của mưa hội tụ hay có mưa bão ) thường kèm theo lũ lụt gây thiệt hại khá lớn cho mùa màng và tài sản của nhân dân

Mùa khô hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa chỉ còn chiếm dưới 10% tổng lượng mưa trong năm, nhưng hạn hán ít xảy ra vì có mưa phùn (mỗi năm có trên 20 ngày) làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô

Trang 24

Tháng 12 và tháng 1 là những tháng khô hanh nhất và lượng bốc hơi cũng thường lớn hơn lượng nước mưa

+ Độ ẩm không khí trong vùng bình quân đạt 86%, những tháng có mưa phùn

độ ẩm không khí đạt chỉ số cao nhất Tuy vậy, những giá trị cực đoan thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kì khô hạn kéo dài

+ Lượng bốc hơi không cao (653mm/n) điều đó đánh giá khả năng che phủ đất của lớp thảm thực bì còn cao, hạn chế được lượng nước bốc hơi, làm tăng lượng nước thấm, duy trì được nguồn nước ngầm trong khu vực, cung cấp cho các con sông suối có đủ nước quanh năm

Sông Bứa có hai chi lưu lớn, đó là sông Mua bắt nguồn từ các vùng núi cao phía Đông huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và sông Gian bắt nguồin từ các dãy núi cao trung bình ở ranh giới giữa Phú Thọ và Hoà Bình Hai sông này hợp nhau tại làng

Kệ Sơn, rồi đổ vào sông Hồng tạo thành Phong vực Tổng chiều dài của sông 120km, chiều rộng trung bình 200m có khả năng vận chuyển Lâm thổ sản từ thượng nguồn về sông Hồng khá thuận lợi

VQG và các xã vùng đệm chỉ nằm trong lưu vực sông Mua Các thung lũng do sông Mua bồi đắp khá rộng và bằng phẳng, nhân dân trong vùng đã cải tạo khai phá thành các cánh đồng phì nhiêu, năng suất cây trồng không thua kém các cánh đồng miền xuôi Dân địa phương sống dọc hai bên bờ, trên các dải đất phù sa và các cánh

đồng do con sông này tạo nên rất đông vui và sầm uất

1.2.4 Các phân khu chức năng trong VQG Xuân Sơn

Diện tích VQG Xuân Sơn đã được phê chuẩn theo Quyết định số TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích là 15.048 ha, được phân

Trang 25

49/2002/QĐ-ra 3 phân khu chức năng và vùng đệm (bảng 1.1) Bản đồ quy hoạch VQG Xuân Sơn

Diện tích PKBVNN (ha)

Diện tích PKPHHST (ha)

Diện tích PKHCDV (ha)

Trang 26

Hình 1.2 Bản đồ quy hoạch Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

(Nguồn: Viện ĐT & QHR)

Trang 27

1.2.5 Một số đặc điểm chung về thực vật - động vật

1.2.5.1 Một số đặc điểm chung về thực vật

Hệ thực vật rừng

- Thành phần thực vật

Kết quả điều tra của Viện ST & TNSV vật từ năm 2003 - 2005, đã thống kê

được 1.169 loài thực vật bậc cao có mạch, phân bố trong 652 chi và 176 họ [22] Trong các ngành thực vật đã ghi nhận được thì số lượng loài của ngành Mộc lan (Magnoliophyta) chiếm đa số, sau đó là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) rồi đến ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Thông (Pinophyta) và ít loài nhất là ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta)

Bảng 1.3 Sự phân bố các taxon khác nhau trong hệ thực vật VQG Xuân Sơn

(Nguồn: Viện VST & TNSV, 2005)

Ngành thực vật Số họ Số chi Số loài

Thông đất - Lycopodiophyta 2 3 6

Cỏ tháp bút - Equisetophyta 1 1 1 Dương xỉ - Polypodiophyta 20 37 66

Trang 28

chinensis), táu nước (Vatica glabrata), táu lá ruối (Vatica odorata subsp odorata)

và táu muối (Vatica diospyroides) đều là những loài trong họ Dầu di cư lên phía bắc

xa hơn cả

- Luồng thứ hai: từ phía Tây Bắc đi xuống bao gồm các yêu tố vùng ôn đới theo vĩ độ Vân Nam-Quí Châu và chân dãy núi Himalaya, trong đó có các loài cây ngành Thông (Pinophyta), họ Đỗ quyên (Ericaceae) và các loài cây lá rộng rụng lá thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Thích (Aceraceae)

- Luồng thứ ba: từ phía Tây và Tây Nam lại, là luồng các yếu tố Malayxia của vùng khô hạn ấn Độ - Miến Điện, tiêu biểu là một số loài rụng lá như

Indonexia-Sâng (Pometia pinnata), họ Bàng (Combretaceae)

- Tài nguyên thực vật

Tài nguyên thực vật ở VQG Xuân Sơn khá phong phú và có thể chia thành 5 nhóm công dụng (có loài thuộc nhiều nhóm công dụng):

- Nhóm cây cho gỗ: Đây là nhóm cây quan trọng nhất Có 191 loài là cây cho

gỗ Có thể gặp những loài gỗ quý như táu muối (Vatica diospyroides), táu nước (Vatica subglabra), chò chỉ (Parashorea chinensis), chò nâu (Dipterocarpus

retusus), vàng tâm (Manglietia fordiana), lát hoa (Chukrasia tabularis), trường mật

(Pometia pinnata), nghiến (Excentrodendron tonkinense), Đặc biệt loài trai (Garcinia fagraeoides) còn khá nhiều ở khu vực phía bắc VQG (xã Đồng Sơn), có

cây đường kính tới 80-100cm song cũng đang bị khai thác khá trầm trọng Tại VQG

Xuân Sơn có gặp chò vẩy (Dysoxylum hainanensis), đây là loài rất ít gặp ở các tỉnh

của Việt Nam

- Nhóm cây làm thuốc: Đây là nhóm tài nguyên phi gỗ rất quan trọng Hiện đã xác định được 566 loài được sử dụng làm thuốc, chiếm gần một nửa tổng số loài thực vật ở VQG Xuân Sơn

- Nhóm cây có hoa, làm cảnh và bóng mát: Đã thống kê có khoảng 90 loài Họ thực vật có nhiều loài làm cảnh nhất là họ Lan Orchidaceae (28 loài), tiếp đến là họ Cau dừa Arecaceae (12 loài), họ Đỗ quyên Ericaceae (6 loài)

- Nhóm cây làm rau và có quả ăn được: Có 59 loài được sử dụng làm rau ăn và cho quả ăn được Trong các cây làm rau ăn, đáng quan tâm nhất là rau sắng (hay

còn gọi là rau ngót núi, ngót rừng, phắc van) Melientha suavis, thuộc họ Rau sắng

Trang 29

Opiliaceae Các cây cho quả ăn được cũng khá đa dạng và phong phú nằm trong một

số họ như Dâu tằm Moraceae, họ Cam Rutaceae, họ Bồ hòn Sapindaceae, họ Trám Burseraceae, họ Cau Arecaceae, họ Hoa hồng Rosaceae, họ Dẻ Fagaceae, họ Thầu dầu Euphorbiaceae,

- Nhóm cây chứa tinh dầu: Đã thống kê được ở VQG Xuân Sơn có 26 loài có tinh dầu thuộc các họ: Long não Lauraceae, Na Annonaceae, Bông Malvaceae, Hoa mõm chó Scrophulariaceae, Đậu Fabaceae,

Thảm thực vật rừng

VQG Xuân Sơn nằm trong khu vực xen kẽ giữa núi đất và núi đá vôi, nên thảm thực vật rừng trong khu vực tương đối đa dạng Các loại thảm thực vật rừng được phân chia dựa theo Thái Văn Trừng, 1972 [55]

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới:

Kiểu rừng này chiếm khoảng 12% toàn diện tích VQG, ở đai độ cao 200 - 800m Kiểu rừng này ít nhiều bị tác động, nhưng cơ bản còn là rừng nguyên sinh, với tầng tán khá rõ rệt Tầng ưu thế gồm các loài: táu chuối, táu nước, chò chỉ, chò nâu, cứt ngựa, trường mật, cò kén, gội, cà lồ, trâm vối, đường kính trung bình từ 35 -

40 cm, cao từ 18 - 25 m

- Rừng kín thường xanh nhiệt đới trên đất đá vôi xen núi đất:

Kiểu rừng này chiếm khoảng 11% toàn diện tích VQG và phân bố tập trung ở hai đầu dãy núi Cẩn Đây là kiểu rừng hình thành từ thành phần thực vật đa dạng nhất Những loài phổ biến thường gặp rất đặc trưng như trai, mạy tèo, ô rô, nghiến,

đinh, vàng anh Tầng ưu thế còn có kích thước tương đối lớn như cà lồ, trường mật,

cò kén, chò xanh, gội, nhọc, côm, thị, tung, chò nâu, chò chỉ, Đường kính trung bình 40 - 50 cm, đôi khi gặp cây có đường kính lớn hơn 100 cm

- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu:

Diện tích này chiếm khoảng 6% diện tích tự nhiên, phân bố đều thành các mảng từ độ cao >800 m Từ độ cao này rừng có sự thay đổi xuất hiện các loài lá kim như sam bông, thông tre, xen kẽ là nhóm Re Cinnamomum, Dẻ Castanopsis, Chè

Camellia, Thị Diospyros đặc biệt là 3 loài lan hài hiếm (Pholidota hiepii, P

henyrianum, P.gratixianum)

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp:

Trang 30

Kiểu rừng này có diện tích lớn nhất về cây gỗ, chiếm khoảng 15% tổng diện tích Tuy đã bị tác động nhiều nhưng còn cơ bản tính nguyên sinh, độ tàn che 0,9%, thực vật lá rộng có đường kính lớn như các họ: Dẻ, Long não, Mộc lan, Thích, Chè,

Sến, Nhân sâm, Hoa hồng, Giền Đặc biệt có cây rau sắng Melientha suavis mọc

tương đối nhiều Đặc trưng kiểu rừng này còn có thực vật ngoại tầng có các dây leo thân gỗ to lớn như dây bàm bàm, dây trắc, ngọc anh núi, dây đòn gánh, kim cang và nhóm song mây

- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy:

Kiểu rừng này chiếm khoảng 11,5% diện tích tự nhiên và phân bố rải rác Rừng thứ sinh kiểu này bao gồm: rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy nhiệt đới và rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy á nhiệt đới núi thấp Thành phần loài và cấu trúc rừng đơn giản Rừng chỉ có 1 tầng cây gỗ và có tán đều nhưng khá thưa Dưới tán rừng thảm tươi khá tốt, phát triển rậm rạp gồm các loài thuộc họ Cỏ cao, họ Cói Dưới tán rừng đã thấy xuất hiện một số loài cây gỗ mọc trở lại

- Rừng thứ sinh tre nứa:

Diện tích rừng này nằm trong vành đai rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt

đới, chiếm một diện tích nhỏ Đây cũng là kiểu phụ thứ sinh được hình thành từ rừng cây gỗ bị khai thác kiệt hoặc sau nương rẫy bị bỏ hoang, chủ yếu là nứa lá nhỏ

và một vài nhóm cây gỗ mọc rải rác Mật độ cây khá dày (200-220 bụi/ha), cao bình quân 5-6 m Dưới tán rừng nứa, thảm tươi rất ít phát triển, thường xuất hiện một số loài trong họ Gừng Dây leo phổ biến là kim cang, sắn dây, bìm bìm

- Trảng cỏ, trảng cây bụi, cây gỗ mọc rải rác:

Kiểu thảm này chiếm diện tích tương đối lớn (30,8% tổng diện tích tự nhiên) của VQG và phân bố rải rác khắp các khu vực ở cả 2 vành đai độ cao, tập trung hơn cả vẫn là đai rừng nhiệt đới thuộc phía Đông của VQG Trảng cỏ gồm cỏ cao như cỏ tranh, lau, lách, cỏ chít, cỏ giác

- Rừng trồng:

Với diện tích chiếm rất nhỏ (0,1% diện tích tự nhiên) Rừng mới được trồng khoảng 10 năm trở lại đây, gồm loài cây Keo lai ở khu vực xã Kim Thượng (đường kính 7-8 cm, cao 8m), một số ít trồng bồ đề, song do mới trồng nên chưa khép tán

Trang 31

Thời gian gần đây, VQG đã chú trọng đến khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng xen một số cây bản địa như lát hoa, chò chỉ, chò nâu, giổi xanh, mỡ, chò xanh

1.2.5.2 Một số đặc điểm chung về động vật

Khu hệ động vật hoang dã của VQG Xuân Sơn qua những công trình nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy khá đa dạng và phong phú Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất của Viện ST & TNSV, 2005[22], đã thống kê được 76 loài thú thuộc 24 họ, 8 bộ Về chim đã thống kê được 182 loài thuộc 47 họ, 15 bộ Về lưỡng cư, bò sát đã thống kê được 71 loài, thuộc 20 họ, 3 bộ (bò sát - 44 loài, 14 họ,

2 bộ; lưỡng cư - 27 loài, 6 họ, 1 bộ) Về côn trùng cho đến nay đã thu thập và định tên được 551 loài thuộc 327 giống của 66 họ trong 7 bộ

So với khu hệ thú của cả nước, khu hệ thú của VQG Xuân Sơn có số loài chiếm 26,6%, số họ chiếm 64,9% và số bộ chiếm 57,1% VQG Xuân Sơn có nhiều hang

động và rừng xanh che phủ là sinh cảnh rất thuận lợi cho nhiều loài Dơi sinh sống, mặc dù đã bị tác động nhiều nhưng nhiều loài Dơi có trữ lượng còn khá cao so với một số KBTTN khác Phân bố của các loài tập trung chủ yếu trên các sinh cảnh rừng thường xanh trên núi đá (54 loài), rừng thường xanh trên núi đất (61 loài) Các sinh cảnh trảng cỏ, trảng cây bụi và sinh cảnh ven sông suối, mỗi sinh cảnh chỉ có 33 loài sinh sống Nơi có mật độ thú cao nhất là khu vực núi Ten và núi Cẩn

Khu hệ lưỡng cư, bò sát của VQG Xuân Sơn phong phú về thành phần loài nhưng không phong phú về số lượng cá thể của loài Số loài phổ biến rất thấp, gồm 4 loài là: thạch sùng đuôi sần, rắn sãi thường, ngoé và ếch cây mép trắng Trong đợt thực địa gần đây vào cuối tháng 4 năm 2006 tại VQG Xuân Sơn chúng tôi và các

Trang 32

cán bộ của VQG đã lần đầu tiên thu mẫu được 2 cá thể thuộc giống Tylototriton ở

độ cao 1156m so với mặt nước biển Căn cứ vào đặc điểm hình thái, mẫu thu được

khá giống với loài cá cóc mới được mô tả Tylototriton vietnamensis sp.n

Khu hệ côn trùng ở VQG Xuân Sơn khá phong phú và được chia ra các nhóm

có vai trò, ý nghĩa khác nhau Nhóm côn trùng có hại chủ yếu là những loài côn trùng có hại trong nông nghiệp Các loài côn trùng ăn thực vật (cây rừng và cây bụi) phần lớn là các loài cánh cứng như họ Cerambycidae, Chrysomelidae, các loài bướm (Lepidoptera), các loài bọ xít (Heteroptera) Côn trùng có lợi ở VQG Xuân Sơn thường gặp là các loài ong mật Các loài côn trùng ký sinh thường gặp thuộc họ Ichneumonidae (Hymenoptera) Các loài côn trùng ăn thịt có các loài côn trùng cánh cứng thuộc họ Carabidae, Cooocinellidae, Cicindelidae (Coleoptera) Tổng số loài côn trùng phát hiện mới cho Việt Nam ở đây là 64 loài

1.2.6 Một số đặc điểm chung về xã hội - nhân văn

1.2.6.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư

Trong VQG Xuân Sơn có 10 xóm (đơn vị tính tương đương thôn) gồm: Cỏi, Lấp, Dù, Lạng, Lùng Mằng (xã Xuân Sơn), Thân (xã Đồng Sơn), Nước Thang (xã Xuân Đài), Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng (xã Kim Thượng) Các xóm này phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200-400m so với mực nước biển, tập trung ở phía Đông, một phần phía Bắc và Nam của VQG

Dân cư của các xóm này chủ yếu là 2 dân tộc chính: Dao (Mán) chiếm 65,42% và Mường chiếm 34,43% dân số Số lượng, thành phần dân tộc và số khẩu của 10 xóm được thể hiện trong bảng phụ lục 2 Trong số các xóm ở vùng lõi của VQG Xuân Sơn, thì xóm Cỏi có số hộ và số khẩu đông nhất (64 hộ, 341 khẩu), tiếp

đến là xóm Lạng (62 hộ, 278 khẩu), xóm Dù (37 hộ, 175 khẩu),

1.2.6.2 Kinh tế và đời sống

- Trồng trọt : Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, lúa nương, khoai sắn,

một số sản phẩm từ chăn nuôi Lúa nước thường chỉ được cấy một vụ Việc canh tác lúa phụ thuộc nhiều vào các điều kiện ngoại cảnh cộng với giống lúa không được cải thiện nên sản lượng thường rất thấp, không ổn định Các loại hoa màu thường chỉ có sắn, khoai, ngô, đậu, lạc được trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước

Trang 33

- Thuỷ lợi : Một số thung lũng thuận lợi cho việc làm thuỷ lợi tưới cho đất

trồng trọt Tuy nhiên do chưa được đầu tư nên người dân các xóm thường tự phải

đắp các đập nhỏ không cố định, hoặc khơi mương nước, ống nước tự chảy để làm ruộng Những khu vực cao hơn có thể làm được ruộng nước, nhưng người dân không

đủ khả năng đưa nước tới

- Chăn nuôi : Giống chăn nuôi ở đây chủ yếu là các loại giống cũ cổ truyền,

năng suất thấp Tuy nhiên, những loại này cho thịt rất ngon như lợn Mán, gà Ri, vịt, ngan, Khi cải tạo vật nuôi tăng năng suất cần chú ý giữ lại những giống quý này Tuy chúng có năng suất không cao, chậm lớn nhưng trong tương lai chúng sẽ là những đặc sản hấp dẫn khách du lịch Trong thời gian gần đây đã có một số hộ gia

đình chú ý xây dựng ao, phát triển chăn nuôi cá Tuy nhiên, số hộ này không nhiều

Ao cá chỉ được làm tạm bợ, chưa có kĩ thuật chăn nuôi phát triển cá

- Lâm nghiệp : Sản xuất lâm nghiệp ở đây chủ yếu là việc thu hái lâm sản tự

phát của nhân dân Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng là gỗ, các loại động vật phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá

Từ khi thành lập KBTTN, hiện tượng săn bắn và khai thác gỗ đã giảm Các sản phẩm lâm nghiệp người dân thu hái chủ yếu là mật ong, song mây, sa nhân, lá cọ, các loài cây thuốc, Tuy nhiên, trong quá trình thu hái không có định mức nên các nguồn tài nguyên này cũng đã suy giảm

- Đường giao thông : Trước đây khu vực này hoàn toàn tách biệt với bên ngoài

do không có đường cho xe cơ giới tới được Từ năm 2000, tỉnh đã quyết định đầu tư xây dựng đường cấp phối từ Minh Đài tới xóm Dù (Xuân Sơn) Cho đến năm 2006 một phần lớn đường trong dự án này đã được hoàn thành

- Y tế : Hiện nay trong khu vực VQG có trạm y tế được xây mới, đóng tại trung

tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù) Trạm có 4 giường bệnh, 1 y sỹ, 2 y tá Mỗi xóm có 01

y tá xóm Cơ sở, dụng cụ khám chữa bệnh còn rất đơn sơ

- Giáo dục : Hầu hết các xã có trường mẫu giáo, tiểu học và trường trung học

cơ sở, giáo viên hầu hết là người trên địa bàn huyện Trên 90% học sinh trong độ tuổi tiểu học được đến trường Tuy nhiên, số học sinh trong độ tuổi trung học cơ sở chỉ khoảng 50% được đến trường, trung học phổ thông chỉ có 25% Hầu hết các phòng học và phòng ở của giáo viên đều là nhà tạm, chỉ có phòng học ở xóm Lấp và xóm Dù mới được xây dựng kiên cố

Trang 34

Chương 2 Địa điểm, thời gian

và Phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại VQG Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ với toạ độ địa lý:

Từ 21030 đến 21000 vĩ độ Bắc

Từ 104052 đến 105012 kinh độ Đông

Để xác định các tuyến điều tra, chúng tôi tiến hành phân tích trên bản đồ địa hình và quy hoạch VQG Xuân Sơn, căn cứ vào hiện trạng thảm thực vật, các kiểu sinh cảnh mà trong đó quyết định đến sự phân bố của các loài chim Chúng tôi đã xây dựng 5 tuyến điều tra thực địa (hình 2.1) như sau:

- Tuyến 1 (3,7 km): Từ xóm Dù (tọa độ: 21007'29"N - 104057'28"E) đến xóm Lấp (tọa độ: 21008'39"N - 104056'45"E) và đến xóm Cỏi (tọa độ: 21009'39"N -

104056'45"E);

- Tuyến 2 (5,3 km): Từ xóm Dù đến xóm Lạng (tọa độ: 21006'19"N -

104057'27"E) và đến xóm Lùng Mằng (tọa độ: 21005'26"N - 105056'06"E);

- Tuyến 3 (3,5 km): Từ xóm Dù lên đỉnh núi Ten (tọa độ: 21006'49"N -

Trang 35

Hình 2.1 Bản đồ các tuyến khảo sát quan sát chim ở VQG Xuân Sơn

Trang 36

Qua quá trình khảo sát điều tra tuyến và nghiên cứu sinh cảnh, chúng tôi đã lựa chọn 4 khu vực đặt trại để nghiên cứu chim bằng phương pháp lưới mờ (mist-nets), trong đó 3 trại ở khu vực núi Ten và 1 trại ở khu vực núi Cẩn Vị trị đặt trại và dựng lưới được thể hiện cụ thể trên bản đồ phụ lục 35 - 38 Các trại được đặt trong các khu vực rừng còn giữ được tính nguyên sinh khá cao

ở khu vực núi Ten, 3 trại được đặt ở 3 khoảng độ cao khác nhau Tại khu vực trại 1 (tọa độ: 21006'24" - 21006'38"N và 104054'56" - 104055'08"E), các lưới mờ

được đặt ở độ cao từ 960 - 1150m, khu vực này giáp ranh với tỉnh Hòa Bình Tại đó, một số lưới được đặt trên những dông núi xuyên qua các thảm rừng lùn trên núi với các loài thực vật thuộc các họ Đỗ quyên, Dẻ, Re, Hoa hồng cao dưới 5m với các cành nhánh xum xuê và các loài địa y đeo bám, cùng với tầng thảm mục dầy phía dưới Trại 2 ở độ cao thấp hơn (790 - 890m), có tọa độ: 21006'14" - 21006'21"N và

104055'41" - 104055'52"E) Xung quanh khu vực trại 2, các lưới được phân bố trên cả dông núi Moong Chó, đồng thời trải xuống gần phía suối ở dưới, đặt ngang trên các sườn núi đất và đá Thực vật ở đây chủ yếu là các cây gỗ từ trung bình đến lớn, dọc suối nước có sự phát triển của nhóm Quyết lớn Trại 3 được đặt ở độ cao 730 -

820 m và có tọa độ: 21006'05" - 21006'15"N và 104056'43" - 104056'51"E Khu vực này gần với xóm Dù Thảm thực vật rừng ở trại 3 có độ che phủ khá tốt, được chia làm 4 tầng Tầng ưu thế sinh thái cao 15-30m do nhiều loài cây lá rộng thường xanh tạo thành Tầng cây gỗ dưới tán cao 5-15m; ngoài các cây con của tầng trên, còn có nhiều loài cây gỗ nhỏ khác thuộc các họ Thị, Na, Chè Tầng cây bụi bao gồm chủ yếu là các loài trong các họ Cà phê, Mua, Cau dừa Tầng thảm tươi, ngoài dương xỉ, còn có ráy, thiên niên kiện, lá dong, hương bài Tuy nhiên, nhiều khoảng rừng cũng đã bị chặt phá, tạo nên các thể khảm với sự xen kẽ của một số rừng nứa, rừng chuối

ở khu vực núi Cẩn do địa hình núi đá hiểm trở, đi lại khó khăn và việc dựng lưới, thu lưới cũng không dễ dàng nên chúng tôi chỉ đặt một trại ở giữa dãy núi này với độ cao 670 - 740m, tọa độ: 21008'57" - 21009'06"N và 104054'18" - 104054'32"E Rừng ở đây chia thành 4 tầng Trong đó, tầng ưu thế sinh thái cao khoảng 18-30m với một số cây như: sâng, trai, bứa đá, cà lồ Tầng dưới tán rừng cao khoảng 5-15

m chủ yếu là các loài gỗ nhỏ và các cây nhỏ tầng trên Tầng cây bụi thường thưa thớt, chủ yếu là các loài cao dưới 5 m như găng, hồng bì rừng, đu đủ rừng Tầng

Trang 37

thảm tươi không đồng đều, thường gặp một số loài trong các họ Đay, Thu hải

đường, Bóng nước, Ráy, Gừng, Dương xỉ

Tại khu vực xung quanh mỗi trại ở núi Ten, chúng tôi đã xây dựng và đánh dấu

10 điểm đếm chim theo phương pháp đếm điểm (point counts) xen kẽ trong khu vực

đặt lưới Tại khu vực xung quanh trại núi Cẩn, chúng tôi đã xây dựng và đánh dấu

30 điểm đếm chim tại cùng một khu vực nằm bên trong và ngoài khu vực dựng lưới

mờ Các điểm đếm cách nhau tối thiểu là 100m Tổng số điểm đếm chim ở VQG Xuân Sơn là 60 điểm Tổng diện tích các khu vực thực hiện đếm điểm tại VQG Xuân Sơn là khoảng 1,5km2 Vị trí các điểm đếm được thể hiện cụ thể trên bản đồ phụ lục 35 - 38

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ năm 2003 - 2006 Trong suốt thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã tổ chức 11 đợt khảo sát thực địa, tổng số thời gian là 125 ngày Thời gian của mỗi đợt khảo sát được trình bày ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu thực địa

Đợt

nghiên

cứu

Thời gian Số

ngày Các điểm nghiên cứu

Đợt 1 4/12 - 10/12/2003 7 Điều tra tuyến

Đợt 2 1/3 - 15/3/2004 15 Điều tra tuyến

Đợt 3 12/7 - 19/7/2004 8 Điều tra tuyến

Đợt 4 1/8 - 15/8/2004 15 Điều tra tuyến

Đợt 5 24/11 - 2/12/2005 9 Điều tra tuyến; bắt thả, đeo vòng và đếm

chim tại trại 2 núi Ten

Đợt 6 7/1 - 22/1/2006 16 Bắt thả, đeo vòng chim ở 3 trại núi Ten

Đợt 7 6/3 - 14/3/2006 9 Bắt thả, đeo vòng chim ở 3 trại núi Ten và 1

trại núi Cẩn; đếm chim tại các điểm đếm

Đợt 8 26/4 - 3/5/2006 8 Đếm chim tại các điểm đếm

Đợt 9 3/6 - 14/6/2006 12 Bắt thả, đeo vòng chim ở 3 trại núi Ten;

đếm chim tại các điểm đếm

Đợt 10 16/8 - 23/8/2006 8 Điều tra tuyến

Đợt 11 23/9 - 10/10/2006 18 Bắt thả, đeo vòng chim ở 3 trại núi Ten và 1

trại núi Cẩn

Trang 38

Khoảng thời gian giữa các đợt nghiên cứu thực địa, chúng tôi đã phối hợp với cán bộ VQG, kiểm lâm cũng như dân địa phương thu thập các thông tin và mẫu vật liên quan

Sau mỗi đợt nghiên cứu tại thực địa, chúng tôi tiến hành xử lý, phân tích mẫu vật thu thập được bao gồm làm mẫu nhồi, xử lý các di vật thu được ngoài thực địa cũng như trong dân, so sánh các mẫu thu được với mẫu lưu tại Bảo tàng Sinh vật - trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Bảo tàng Động vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, Bảo tàng Động vật Viện ST & TNSV, Bảo tàng Tài nguyên rừng

- Viện ĐT & QHR

Từ 5/4/2005 đến 15/10/2005, chúng tôi được cử đi thực tập sinh tại Đại học Paul Sabatier (Toulouse III), Cộng hòa Pháp với mục đích nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu chim hiện đại và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp với

điều kiện ở Việt Nam Trong thời gian trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu ngoài thực địa ở một số KBTTN ở Pháp, nghiên cứu các mẫu chim được thu ở Việt Nam

và đang lưu giữ tại các BTLSTN ở Toulouse và Paris của Pháp, ở London và Tring của Anh, Bảo tàng khoa học tự nhiên hoàng gia Bruxel, Bỉ; nghiên cứu phân tích âm sinh học tại Trung tâm âm sinh học (CEBA), Pháp Kết quả của đợt thực tập này đã

hỗ trợ chúng tôi rất nhiều cả về phương tiện kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu chim để thực hiện tốt đề tài nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn nói riêng và nghiên cứu chim ở Việt Nam nói chung

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên

Đây là phương pháp nghiên cứu cơ bản truyền thống trong nghiên cứu chim nói riêng cũng như động vật hoang dã nói chung Các kỹ năng cơ bản trong phương pháp này được chúng tôi tham khảo các hướng dẫn trong một số tài liệu ở trong và ngoài nước [2,13,17,76,155]

Việc nghiên cứu chim ngoài thiên nhiên đòi hỏi người quan sát phải có những kiến thức nhất định về phân loại thông qua quá trình tìm hiểu, tích luỹ kiến thức từ các tài liệu tham khảo, các mẫu lưu giữ trong bảo tàng và cả qua thực tế quan sát,

đối chiếu thông qua các mẫu sống tại các cửa hàng chim cảnh, tập dượt định loại trong thiên nhiên tại những địa điểm dễ quan sát thông qua hướng dẫn của các

Trang 39

chuyên gia nghiên cứu chim giàu kinh nghiệm, Một trong các phương pháp rất có hiệu quả cho nghiên cứu chim là sử dụng các băng âm thanh về tiếng kêu và tiếng hót của các loài chim, điều này sẽ giúp ích cho việc phát hiện và định loại các loài chim khó quan sát, giúp ích rất nhiều cho việc định loại chính xác hơn các loài chim quan sát được

Bên cạnh những kiến thức, kinh nghiệm, người quan sát cần có những trang thiết bị nghiên cứu trợ giúp cho quá trình nghiên cứu Trong các đợt nghiên cứu thực

địa tại VQG Xuân Sơn, chúng tôi sử dụng ống nhòm Swarovski SLC 7x42, telescope (quan sát chim ở những vùng rộng, tầm nhìn xa), máy GPS Garmin 12 để xác định toạ độ, máy ảnh số Sony PC-10, 5.0, máy ảnh Nikon tele 300mm

Quan sát nhận biết chim ngoài thiên nhiên được thực hiện như sau:

Quan sát trực tiếp bằng mắt thường khi tiếp cận được chim ở cự ly gần Khi đi quan sát, người quan sát cần nguỵ trang màu sắc quần áo phù hợp với màu sắc của thảm cây rừng, quần áo không gây tiếng động khi di chuyển và không quan sát đối diện với hướng mặt trời vì bị chói mắt

Quan sát bằng ống nhòm Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi khi quan sát chim trong thiên nhiên ở khắp các địa hình, đặc biệt với độ phóng đại lớn có thể quan sát các loài trên cao, sống ở tầng tán cao hơn, khó tiếp cận

Có thể nhận biết chim qua tiếng hót và tiếng kêu của từng loài, sử dụng các băng ghi âm để thu hút chim đến gần, dễ quan sát hay là để khẳng định sự tồn tại hay không tồn tại của một loài nào đó mà ta quan tâm trong khu vực nghiên cứu Cũng có thể bắt chước tiếng kêu, tiếng hót của một số loài chim để gọi chúng đến Để hiệu quả và có độ chính xác cao trong định loại, việc kết hợp các phương pháp trên là rất cần thiết Phương pháp này sẽ trang bị thêm cho người nghiên cứu về sinh cảnh, tập tính sống (theo bầy, dàn; khả năng di chuyển sự phân bố theo tầng tán, ) , kết hợp với các phương pháp khác, đặc biệt là phương pháp lưới mờ (mist-nest) để có thể nghiên cứu xác định hiện trạng của quần xã chim và đề xuất các biện pháp quản lý và bảo tồn tối ưu nhất cho các KBTTN

2.2.2 Phương pháp đếm điểm (point-counts)

Phương pháp này chỉ áp dụng nghiên cứu chim trong mùa sinh sản, khi các yếu tố môi trường thuận lợi và kéo theo sự thay đổi các kích thích tố và tập tính của

Trang 40

các loài chim[150] Tính toán số lượng chim trong mùa sinh sản theo phương pháp IPA được mô tả bởi Blondel, Ferry & Frochot (1970)[154,163], bổ sung thêm bởi Ferry (1974)[100], Jean Joachim (1995)[165] Nguyên lý của việc đếm chim trong mùa sinh sản là thực hiện đếm lặp tại một số điểm nhất định trong khu vực nghiên cứu Điều này sẽ cho phép chúng ta đánh giá được độ phong phú của mỗi loài bởi tần suất quan sát ngẫu nhiên được các loài chim (Spitz, 1983) [171] Với mỗi nước, tùy theo đặc điểm của từng vùng với mật độ chim khác nhau mà sử dụng khoảng thời gian đếm khác nhau cho phù hợp ở Anh và Mỹ, thời gian đếm được lựa chọn

có thể là 5 hoặc 10 phút (Fuller and Langslow, 1984) [102] Phương pháp này cũng

đã được sử dụng để tính toán kích cỡ quần thể, hiện trạng và sự phân bố của chim rừng ở VQG Chu Yang Sin, Đắc Lak [106] Trong khi đó ở Pháp, các nhà điểu học

sử dụng thời gian đếm theo phương pháp tính toán chỉ số phong phú trung bình IPA (Index d'Abondance Ponctuel) là 20 phút cho mỗi điểm Qua khảo sát thực địa ở VQG Xuân Sơn, chúng tôi lựa chọn thời gian đếm cho mỗi điểm chính xác là 20 phút và chia thành 4 khoảng thời gian, mỗi khoảng tương ứng 5 phút Trong suốt thời gian đếm, mọi thông tin về sự xuất hiện hay biến mất, vị trí, hoạt động kêu, hót của tất cả các loài chim đều được ghi nhận với khoảng cách không hạn chế phù hợp với khả năng của người quan sát Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ sử dụng một người đếm và ghi chép lần lượt tại tất cả các điểm đếm chim với sự hỗ trợ của 1-2 người dân bản địa có kinh nghiệm đi rừng Thời gian tốt nhất cho đếm chim là vào buổi sáng sớm, kéo dài cho tới khi nào hoạt động kêu, hót của chim ít dần Những loài chim không xác định được chính xác tới loài thì có thể ghi nhận ở bậc phân loại gần nhất có thể cùng với những đặc điểm ghi chú về loài Ví dụ: Chích?, Đớp ruồi?,

Pellorneum? Điều này nhấn mạnh rằng các dữ liệu ghi nhận được là rất quan

trọng và sử dụng để tham khảo nhằm xác định các loài một cách chính xác trong các lần đếm sau đó

Với mỗi loài xác định được, mỗi một lần đếm được quy đổi ra số lượng cá thể của loài theo quy ước thống nhất sau:

- 1 tiếng hót của con đực được tính là 2 cá thể

- 1 tiếng kêu của loài được tính là 1 cá thể

- Những cá thể chim quan sát được thì đếm theo số lượng nhìn thấy

Ngày đăng: 10/04/2015, 23:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Bản đồ quy hoạch Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 1.2. Bản đồ quy hoạch Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ (Trang 26)
Hình 3.1. Độ tương đồng trung bình về cấu trúc thành phần loài chim - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.1. Độ tương đồng trung bình về cấu trúc thành phần loài chim (Trang 55)
Hình 3.2. Độ tương đồng trung bình về cấu trúc của thành phần loài chim giữa - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.2. Độ tương đồng trung bình về cấu trúc của thành phần loài chim giữa (Trang 57)
Hình 3.3. Độ tương đồng trung bình về cấu trúc của thành phần loài chim giữa - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.3. Độ tương đồng trung bình về cấu trúc của thành phần loài chim giữa (Trang 57)
Bảng 3.3. Số l−ợng trung bình cá thể chim bắt đ−ợc trong ngày qua - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Bảng 3.3. Số l−ợng trung bình cá thể chim bắt đ−ợc trong ngày qua (Trang 64)
Bảng 3.4. Số l−ợng trung bình cá thể chim bắt đ−ợc trong ngày - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Bảng 3.4. Số l−ợng trung bình cá thể chim bắt đ−ợc trong ngày (Trang 66)
Bảng 3.5. Tính đa dạng và phong phú của quần xã chim ở VQG Xuân Sơn - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Bảng 3.5. Tính đa dạng và phong phú của quần xã chim ở VQG Xuân Sơn (Trang 68)
Hình 3.8. Số l−ợng loài chim phân bố trên từng sinh cảnh ở VQG Xuân Sơn - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.8. Số l−ợng loài chim phân bố trên từng sinh cảnh ở VQG Xuân Sơn (Trang 81)
Hình 3.10. Độ tương đồng trung bình về cấu trúc thành phần loài chim - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.10. Độ tương đồng trung bình về cấu trúc thành phần loài chim (Trang 85)
Bảng 3.12. Số liệu về các cá thể cành cạch lớn đ−ợc đeo vòng - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Bảng 3.12. Số liệu về các cá thể cành cạch lớn đ−ợc đeo vòng (Trang 91)
Hình 3.14. Âm đồ tiếng kêu của yểng - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.14. Âm đồ tiếng kêu của yểng (Trang 106)
Hình 3.15. Âm đồ tiếng kêu của loài mỏ rộng hung - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.15. Âm đồ tiếng kêu của loài mỏ rộng hung (Trang 111)
Hình 3.16. Âm đồ tiếng hót của chim xanh hông - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.16. Âm đồ tiếng hót của chim xanh hông (Trang 114)
Hình 3.22. Âm đồ tiếng hót của chích chạch má vàng - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Hình 3.22. Âm đồ tiếng hót của chích chạch má vàng (Trang 127)
Phụ lục 9. Bảng thành phần loài chim bắt thả ở trại l trong đợt 2(1/2006) tại núi Ten - Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
h ụ lục 9. Bảng thành phần loài chim bắt thả ở trại l trong đợt 2(1/2006) tại núi Ten (Trang 187)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm