Cùng với sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên ưu đãi, trong vùng nghiên cứu đang diễn ra nhiều hình thức khai thác các nguồn lợi tự nhiên, phát triển kinh tế như: đ
Trang 11.2.3.Các đới cấu trúc và hệ thống đứt gãy chính 28
1.3.1 Tàn phá rừng ngập mặn và khoanh vùng nuôi trồng thuỷ hải sản 31
1.3.5 Hoạt động giao thông đường thuỷ, đánh bắt hải sản, khai thác
2.1.3 Vùng ven biển và biển ven bờ Rạch Giá-Vũng Tàu 38
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HOÁ MÔI TRƯỜNG NƯỚC BIỂN 49
Trang 23.2 Độ pH của nước biển 51
3.5 Đặc điểm, quy luật phân bố một số nguyên tố trong nước biển 54 CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH 71
4.2 Đặc điểm thành phần vật chất và qui luật phân bố trầm tích
4.3.3 Phân vùng môi trường địa hoá trầm tích 85
4.3.5 Đặc điểm phân bố Fe3+
4.3.8 Đặc điểm, qui luật phân bố các nguyên tố vi lượng 90 CHƯƠNG 5 NGUY CƠ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ PHÂN VÙNG
ĐỊA HOÁ MÔI TRƯỜNG
107
5.1 Nguy cơ ô nhiễm môi trường vùng biển nghiên cứu 107
5.1.1 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ nhiễm môi trường nước biển và
trầm tích biển
107
5.1.2 Ô nhiễm các nguyên tố trong nước và trầm tích biển 109
5.1.4 Biểu hiện thiếu hụt một số nguyên tố 123 5.1.5 Xác định nguồn gốc ô nhiễm trầm tích tầng mặt 124
Trang 35.1.6 Đánh giá chất lượng môi trường, nguồn gốc ô nhiễm và tốc
độ lắng đọng trầm tích từ kết quả nghiên cứu một số chỉ thị
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
PEL Mức hiệu ứng có thể (Probable Effect Level)
TEL Mức hiệu ứng có ngƣỡng (Theshold Effect Level)
Trang 5MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Vùng nghiên cứu là đới biển nông ven bờ (0-30m nước) kéo dài trên 700km,
từ Rạch Giá tới Vũng Tàu, với diện tích hơn 41.000km2
Đây là vùng có hệ sinh thái rất đa dạng, có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên với diện tích đất ngập mặn, rừng ngập mặn lớn nhất với nhiều động vật quí hiếm; có chế độ triều phức tạp, là nơi hàng năm tiếp nhận trên 500 tỷ m3
nước cùng lượng phù sa khổng lồ do hệ thống sông Cửu Long chuyển ra biển, tạo nên những khu vực bồi tụ lớn Đây còn là vùng rất giàu hải sản, có điều kiện thuận lợi để nuôi trồng, đánh bắt thuỷ-hải sản Vùng biển nghiên cứu còn là vùng giàu tiềm năng khoáng sản đặc biệt là dầu khí
Cùng với sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên ưu đãi, trong vùng nghiên cứu đang diễn ra nhiều hình thức khai thác các nguồn lợi tự nhiên, phát triển kinh tế như: đánh bắt, chế biến hải sản, phát triển nông nghiệp, phá rừng ngập mặn làm đầm nuôi thuỷ sản, phát triển giao thông đường thủy, hình thành nhiều khu công nghiệp lớn, khai thác dầu khí trên biển Các hoạt động kinh
tế, xã hội nói trên đã có tác động tới môi trường khu vực đặc biệt là môi trường biển: làm mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, biến dạng đường bờ, gây xói
lở bờ biển, bồi tụ san lấp luồng lạch cửa sông Hàng năm một khối lượng lớn kim loại nặng, các chất hữu cơ được sông Cửu Long cùng mạng lưới kênh rạch chằng chịt chuyển tải ra biển; được hòa tan trong nước biển và tích tụ lại trong trầm tích biển Sự phân bố, tập trung, tương tác giữa các hợp chất, các nguyên tố sẽ có tác động đến môi sinh và con người Để sử dụng hợp lý tài nguyên bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đới bờ đòi hỏi cần có sự hiểu biết sâu sắc về đặc điểm địa hóa môi trường (ĐHMT) vùng nghiên cứu
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về địa chất, địa mạo, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, chế độ thuỷ hải văn ở dải đất liền và vùng biển nghiên cứu Tuy vậy các công trình này phần lớn tập trung ở ven biển trên diện tích hẹp, phân bố trên nhiều khu vực khác nhau nhằm phục vụ mục tiêu quản lý phát triển kinh tế của từng địa phương Những năm gần đây Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường các tỉnh ven biển đã lập báo cáo hiện trạng môi trường của từng tỉnh Nội dung các báo cáo này chỉ phản ánh những nét sơ lược về hiện trạng môi trường cửa sông và ven bờ biển Như vậy từng vấn đề riêng biệt liên quan đến ĐHMT của nhiều khu vực nhỏ trong vùng biển Rạch Giá – Vũng Tàu (RG - VT) đã được nghiên cứu kết hợp bởi nhiều tác giả dưới các góc độ khác nhau về ĐHMT Tuy
Trang 6nhiên, trong thực tế còn nhiều vấn đề tồn tại cần được giải quyết như: bản chất đặc trưng ĐHMT nước, trầm tích vùng biển RG - VT chưa được nghiên cứu đồng bộ theo một hệ phương pháp thống nhất; chưa xác định được quy luật phân bố, mức độ
ô nhiễm các nguyên tố trong môi trường biển ven bờ Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và thực tiễn nói trên NCS đã lựa chọn và thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Địa hóa môi trường vùng biển nông ven bờ Rạch Gía - Vũng Tàu (0-30m nước)”
Mục tiêu của luận án
Xác định đặc điểm ĐHMT vùng biển nông ven bờ RG - VT, làm cơ sở khoa học cho việc định hướng khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
Nhiệm vụ của luận án
1 Nghiên cứu đặc điểm môi trường địa hoá nước biển (độ muối, pH, Eh); đặc điểm, qui luật phân bố các nguyên tố hoá học trong nước biển
2 Nghiên cứu thành phần vật chất, qui luật phân bố của các thành tạo trầm tích tầng mặt vùng biển ven bờ RG - VT Bước đầu xác định tốc độ lắng đọng trầm tích hiện đại ở một số khu vực cửa sông
3 Nghiên cứu địa hoá môi trường trầm tích (pH, Eh, Kt, cacbon hữu cơ ), qui luật phân bố các nguyên tố trong trầm tích tầng mặt
4 Đánh giá mức độ, nguồn ô nhiễm một số nguyên tố và hợp chất trong nước và trầm tích biển
5 Đề xuất các giải pháp hạn chế ô nhiễm, bảo vệ môi trường trong qui hoạch
sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vùng biển ven bờ RG - VT
Cơ sở tài liệu
Luận án được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tài liệu của NCS và đồng nghiệp thuộc Liên Đoàn Địa chất Biển (trước đây là Trung tâm Địa chất khoáng sản Biển) thu thập và thực hiện khi tham gia đề án: “Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển nông ven bờ Việt Nam (từ 0 đến 30m nước) tỷ lệ 1/500.000” và nhiều nguồn tài liệu khác, bao gồm:
1- Tài liệu khảo sát, nghiên cứu địa chất, trầm tích tầng mặt, địa chất môi trường, ĐHMT vùng biển ven bờ từ Rạch Giá-Vũng Tàu
2- Các kết quả phân tích mẫu lỗ khoan tay, khoan máy, mẫu trầm tích tầng mặt , với các dạng phân tích: độ hạt, nhiệt-Rơnghen, silicát , các chỉ tiêu ĐHMT Các kết quả phân tích nước biển, Eh, pH, các kim loại nặng, B, Br, I
Trang 73- Các báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa- Vũng Tàu từ 1998 đến 2002
Ngoài ra NCS còn tham khảo các báo cáo địa chất, các công trình nghiên cứu
có liên quan tới vùng nghiên cứu
1-Báo cáo địa chất-khoáng sản tỉ lệ 1/200.000 các tờ: Hà Tiên-Phú Quốc, An Biên-Sóc Trăng, Cà Mau-Bạc Liêu, Trà Vinh-Côn Đảo, Mỹ Tho và Gia Ray-Bà Rịa
2- Báo cáo đề tài “Ô nhiễm biển do sông tải ra” [38]
3- Các bài báo, báo cáo khoa học của NCS và các tài liệu đã công bố khác liên quan đến nghiên cứu ĐHMT ở Việt Nam và đặc điểm địa chất, trầm tích, địa chất môi trường, ĐHMT vùng biển ven bờ RG - VT và các vùng phụ cận
Những luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Trong nước, trầm tích tầng mặt đáy biển đa số các nguyên tố
kim loại có hàm lượng giảm dần từ biển Đông sang biển Tây (vịnh Thái Lan), từ ven bờ ra phía biển; ngược lại, các nguyên tố hải sinh tăng dần hàm lượng từ biển Đông sang biển Tây Hoạt động nhân sinh là nguyên nhân chính gây ra sự tăng hàm lượng và ô nhiễm các nguyên tố kim loại trong nước, trầm tích biển
Luận điểm 2: Dựa vào sự phân dị các yếu tố tự nhiên, mức độ ảnh hưởng
của các hoạt động nhân sinh và phân dị về đặc điểm ĐHMT nước, môi trường trầm tích biển đã phân chia vùng nghiên cứu thành 3 vùng ĐHMT
- Vùng I (tiền châu thổ) có đặc điểm ĐHMT phức tạp và biến động phụ thuộc vào chế độ thuỷ thạch động lực vùng cửa sông, chịu ảnh hưởng mạnh của các hoạt động nhân sinh
- Vùng II (chuyển tiếp từ rìa châu thổ sang bán đảo) đặc trưng bởi quá trình vận chuyển, tích tụ trầm tích do dòng chảy dọc bờ Trong vùng phát triển mạnh quá trình tích tụ trầm tích, kèm theo theo đó là quá trình tích luỹ các nguyên tố trong trầm tích khu vực Tây-Tây Nam Cà Mau
- Vùng III (rìa vịnh hở) có đặc điểm ĐHMT tương đối ổn định; có nguy cơ gây ô nhiễm Pb, Zn trong nước và Pb trong trầm tích biển
Những điểm mới của luận án
1 Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện ĐHMT nước biển và trầm tích biển xác định được quy luật phân bố các nguyên tố trong nước và trầm tích biển ven bờ
Trang 82 Xác định được khả năng tàng trữ độc tố của các kiểu trầm tích Trong đó trầm tích hạt mịn giàu thành phần sét và mùn hữu cơ có khả năng tàng trữ độc tố cao nhất
3 Đánh giá được mức độ ô nhiễm vùng biển ven bờ Rạch Giá-Vũng Tàu: có biểu hiện ô nhiễm Cu, Zn (trong nước biển); Cu, Hg, (trong trầm tích) Nguồn nước
và vật liệu phù sa do hai hệ thống sông Cửu Long - Đồng Nai chuyển tải ra biển là yếu tố chính ảnh hưởng tới đặc điểm ĐHMT vùng biển ven bờ RG - VT Xác định được sự gia tăng hàm lượng các nguyên tố trong trầm tích có nguy cơ gây ô nhiễm liên quan chủ yếu đến hoạt động nhân sinh
4 Lần đầu tiên đã phân chia vùng nghiên cứu thành 3 vùng ĐHMT với những đặc trưng riêng biệt
5 Lần đầu tiên sử dụng phương pháp chỉ thị đánh dấu phân tử trong nghiên cứu ĐHMT Đã xác định được mức độ ô nhiễm, nguồn cung cấp PCBs, OCPs trong trầm tích vùng cửa sông Cửu Long Bước đầu dự báo tốc độ lắng đọng trầm tích ở một số khu vực cửa sông
Ý nghĩa của luận án
+ Quy luật phân bố các NTHH trong nước và trầm tích biển
+ Bản chất sự phân dị ĐHMT và nguồn ONMT nướ cbiển và trầm tích biển
- Kết quả nghiên cứu góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu địa chất môi trường biển; làm cơ sở so sánh, đánh giá đặc điểm ĐHMT biển ở các vùng phụ cận
- Hoàn thiện và bổ sung thêm hệ phương pháp nghiên cứu ĐHMT biển và góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu về ĐHMT biển ở Việt Nam
Trang 9Bố cục của luận án
Mở đầu
Chương 1: Các yếu tố ảnh hưởng tới đặc trưng địa hoá môi trường
Chương 2: Lịch sử nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Đặc điểm địa hóa môi trường nước biển
Chương 4: Địa hóa môi trường trầm tích biển
Chương 5: Nguy cơ ô nhiễm môi trường và phân vùng địa hóa môi trường Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trong suốt quá trình làm luận án, NCS đã được sự dẫn dắt, chỉ bảo tận tình của GS.TS Mai Trọng Nhuận và TS Đào Mạnh Tiến và đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của tập thể cán bộ viên chức Liên đoàn Địa chất Biển, nơi NCS làm việc cùng các đồng nghiệp khác
Nghiên cứu sinh đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô và các nhà nghiên cứu khoa học trong quá trình viết luận án Nghiên cứu sinh trân trọng tiếp thu những ý kiến đóng góp quý báu của GS.TSKH Đặng Trung Thuận, GS.TS Trần Nghi, TSKH Nguyễn Biểu, TS Chu Văn Ngợi, PGS.TS Đỗ Thị Vân Thanh,
TS Đặng Mai, PGS.TS Nguyễn Ngọc Trường, PGS.TSKH Phạm Văn An, TS Phạm Văn Thanh, PGS.TS Nguyễn Khắc Vinh, TS Nguyễn Văn Dục, TS Nguyễn Thành Vạn, TS Trịnh Xuân Bền, PGS.TS.Nguyễn Văn Phổ, TS Nguyễn Xuân Khiển Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Mai Trọng Nhuận, TS Đào Mạnh Tiến, TSKH Nguyễn Biểu cũng như cảm ơn các thầy, các
cô và tất cả các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp vì sự giúp đỡ quý báu đó
Trang 10CHƯƠNG 1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐẶC TRƯNG ĐỊA HOÁ MÔI TRƯỜNG 1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.Vị trí địa lý vùng nghiên cứu
Vùng biển ven bờ Rạch Giá-Vũng Tàu là phần tiếp giáp giữa đồng bằng Nam Bộ với biển Đông và Vịnh Thái Lan; thuộc lãnh hải của các tỉnh Kiên Giang,
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa-Vũng Tàu Phạm vi vùng nghiên cứu nằm trong giới hạn tọa độ:
Vùng nghiên cứu có tổng diện tích trên 41.000 km2
với đường bờ biển kéo dài trên 700km; trong đó phần bờ biển thuộc vịnh Thái Lan là 290km thuộc bờ biển Đông là 431km (hình 1.1)
1.1.2 Địa hình, địa mạo
1.1.2.1 Địa hình địa mạo đáy biển nông ven bờ (hình 1.2)
Do vùng nghiên cứu phân bố trên một diện kéo dài vì thế đặc điểm địa hình đáy biển rất phức tạp Có thể chia địa hình đáy biển thành bốn khu vực chính sau:
- Khu vực biển phía Đông vịnh Thái Lan kéo dài từ vịnh Rạch Giá tới phía Tây mũi Cà Mau Nhìn chung địa hình đáy ở đây rất thoải Tuy vậy địa hình có phân dị giữa đới sát bờ (0-15m nước) và phần ngoài khơi Từ 0-15m nước địa hình thoải và bằng phẳng (các đường đẳng sâu thường nằm song song với đường bờ) Ở đới 15-35m nước có bề mặt gồ ghề, tạo nhiều rãnh sâu, cồn ngầm, nhiều đảo, quần đảo (Hòn Minh Hoà, quần đảo Nam Du )
- Địa hình biển khu vực Nam mũi Cà Mau (mũi Cà Mau-cửa sông Bồ Đề) khá phức tạp: thoải đều từ bờ ra đến 5m nước và khá dốc ở ngoài độ sâu 5m đến 25- 30m Tại đây đường đẳng sâu 25m nước nằm rất gần bờ biển
- Khu vực biển từ cửa sông Bồ Đề đến Vĩnh Châu (Sóc Trăng): địa hình đáy biển có những đặc điểm gần giống với khu vực biển phía Đông vịnh Thái Lan Đó
là thoải, khá bằng phẳng ở đới sát bờ và thoải, gồ ghề lồi lõm ở ngoài 15m nước Khu vực ngoài 15m nước tồn tại nhiều cồn ngầm, trũng ngầm
- Địa hình khu vực biển từ Vĩnh Châu (Sóc Trăng) đến Vũng Tàu đặc trưng cho vùng cửa sông lớn Đó là sự tồn tại các avandelta của hệ thống sông Cửu Long Địa hình có sự phân bậc rõ nét Ở đới sát bờ đến 5-7m nước địa hình đáy bị phân cắt bởi dòng chảy tạo nhiều lạch sâu cũng như bar cát ngầm, các cồn cát Từ 5-7m đến 15-18m nước địa hình ít bị phân cắt nhưng có độ dốc lớn do ảnh hưởng của quá trình tích tụ trầm tích hiện đại Phần ngoài 18-20m nước địa hình thoải và bằng
Trang 11phẳng; khoảng cách giữa hai đường đẳng sâu 20 và 25m thường cách nhau tới 30km
20-1.1.2.2 Địa hình địa mạo ven biển và các đảo
Địa hình ven biển vùng nghiên cứu có đặc điểm khá phức tạp, tuy vậy có thể chia làm hai kiểu địa hình chính: địa hình đồng bằng thấp ven biển với độ cao từ 0- 2m và địa hình đồi núi thấp
Địa hình đồng bằng thấp ven biển với độ cao từ 0-2m: bị phân cắt bởi hệ thống sông nhỏ và kênh rạch dày đặc ăn thông ra biển Kiểu địa hình này phân bố trên diện rộng từ Rạch Giá đến Vĩnh Châu (Sóc Trăng) Kiểu địa hình thứ hai đặc trưng cho vùng ven biển các cửa sông Cửu Long Cũng vẫn là địa hình đồng bằng thấp nhưng bị chia cắt bởi các nhánh sông lớn; hình thành nhiều cù lao (đảo nằm giữa hai sông như cù lao Dung ) và cũng bị chia cắt bởi hệ thống kênh rạch Ngoài
ra tại đây còn hình thành các giồng cát cao 3-4m Các giồng cát thường nằm song song hoặc hướng về phía bờ biển; giữa các giồng cát là tích tụ nước lợ
Địa hình đồi núi thấp gặp chủ yếu ở các đảo, quần đảo chúng tập trung chủ yếu ở vùng biển vịnh Thái Lan và Nam bán đảo Cà Mau Đó là các đảo Hòn Minh Hoà, Hòn Tre, Hòn Rái, quần đảo Nam Du, Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối, Hòn Khoai, Hòn Sao Các đảo được cấu tạo chủ yếu bởi các thành tạo đá cứng chắc Địa hình đặc trưng cho các đảo là địa hình bóc mòn xâm thực
1.1.3 Khí hậu
1.1.3.1 Thời gian chiếu sáng và nhiệt độ không khí
Vùng RG - VT nằm trong vùng cận xích đạo nên có thời gian chiếu sáng dài,
có nền nhiệt cao và ít biến đổi trong năm Hàng năm trung bình có khoảng
2300-2800 giờ nắng, tháng cao nhất khoảng 200-300 giờ nắng, tháng ít nhất cũng đạt khoảng 160-170 giờ nắng Tổng lượng bức xạ trong năm theo tính toán lý thuyết đạt 230-240Kcal/cm2, thuộc loại cao so với cả nước
Mặc dù vùng nghiên cứu kéo dài trên diện rộng nhưng nhiệt độ không khí trung bình tháng khá đều Nhiệt độ trung bình hàng tháng có xu hướng giảm dần từ Rạch Giá tới Hòn Khoai và từ Vũng Tàu tới Hòn Khoai (bảng 1.1) Chênh lệch nhiệt độ giữa hai tháng liên tiếp thường nhỏ hơn 10
C Nhiệt độ trung bình trong mùa đông là 25-260
C
1.1.3.2 Chế độ mưa
Vùng biển RG - VT có mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa tập trung cao vào các tháng 7, 8, 9, 10 (bảng 1.2) Trung bình mỗi tháng trong mùa mưa có khoảng 16-18 ngày mưa Tổng lượng mưa cả mùa chiếm tới 85-90% lượng
Trang 12mưa trung bình cả năm Khu vực biển thuộc vịnh Thái Lan có lượng mưa trung bình hàng năm thường trên 2000mm/năm cao hơn khu vực từ Cà Mau đến Vũng Tàu (dưới 1600mmm) Lượng mưa có xu hướng giảm dần từ Nam lên Bắc vùng Biển
Cà Mau là khu vực có lượng mưa cao nhất và thường đạt trên 300mm/tháng trong suốt năm tháng (tháng 6 đến tháng 10)
Mùa khô trong vùng kéo dài từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Trung bình mỗi tháng có 4-5 ngày mưa Trừ tháng 12 và tháng 4 có lượng mưa trên 40mm/tháng, còn lại là những tháng ít mưa điển hình Tháng có lượng mưa ít nhất
là tháng 2 với lượng mưa chỉ khoảng 0-10mm/tháng
1.1.3.3 Độ ẩm
Độ ẩm không khí vùng RG - VT có sự khác biệt tương đối Độ ẩm trung bình năm là 80-90% (bảng 1.3) Tương tự như chế độ mưa, độ ẩm có xu thế tăng dần từ Rạch Giá đến Hòn Khoai (Cà Mau) và từ Vũng Tàu đến Hòn Khoai Khu vực Hòn Khoai độ ẩm trung bình tháng rất cao từ 86 đến 93%, ngược lại khu vực biển phía Đông Nam vùng nghiên cứu (gần Côn Đảo) có độ ẩm thấp (77-83%) Sự biến đổi
độ ẩm giữa các tháng liên tiếp là không lớn Trong năm có hai mùa (khô và ẩm), thời kỳ ẩm rơi vào mùa mưa, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 với độ ẩm trung bình trên 80% Trong mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) độ ẩm thấp nhất thường rơi vào hai tháng 2 và 3 Khu vực Vũng Tàu có độ ẩm thấp nhất vùng; vào mùa khô độ ẩm chỉ đạt 76%
1.1.3.4 Chế độ gió
Mặc dù có sự khác nhau trong từng khu vực nhưng nhìn chung chế độ gió vùng nghiên cứu có hai mùa và đổi hướng theo mùa phù hợp với hướng gió toàn vùng (bảng 1.4)
Trong mùa hè hướng gió chính là Tây-Tây Nam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Như vậy thời gian mùa hè tính theo đặc điểm hướng gió ngắn hơn thời gian mùa hè tính theo chế độ mưa và nhiệt độ không khí Tốc độ gió trong các tháng mùa hè từ 2,65m/s đến 4,35m/s Ở khu vực ven bờ tốc độ gió trung bình có xu hướng giảm từ phía Nam lên Bắc, và càng ra xa bờ tốc độ gió càng lớn Trong các vùng liền kề vùng nghiên cứu như biển Côn Đảo, Bạch Hổ tốc độ gió trung bình trên 4m/s Mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 có hướng gió thịnh hành là Đông-Đông Bắc Hướng gió Đông Bắc ở đây bắt nguồn từ cao áp á nhiệt đới ở Tây Thái Bình Dương chứ không phải là gió hanh khô được hình thành từ miền ôn đới;
do vậy vùng nghiên cứu không có mùa đông lạnh Tốc độ gió trung bình mùa đông
là 3,1-4,3m/s, cực đại đạt 25-30m/s
Rất ít khi xuất hiện bão ở vùng biển RG - VT và nếu hình thành chỉ tập trung vào thời gian từ tháng 11 đến tháng 1 Theo dự báo: bão cấp 8-9 xuất hiện với chu
Trang 13kỳ 20 năm, hàng trăm năm mới có bão mạnh cấp 10-11 (cơn bão số 5 xảy ra ngày 5/11/1997 là một ví dụ) Cơn bão này đã gây thiệt hại lớn về người và kinh tế khu vực Nam Bộ Tuy có ít bão nhưng vùng biển RG - VT thường có gió mạnh trên cấp
6 và dông (hàng năm có tới 50-60 ngày có dông)
Bảng 1.1 Nhiệt độ không khí trung bình tháng ( 0
C ) Tháng
Rạch Giá 25,5 26,3 27,5 28,5 28,4 28,2 27,7 27,5 27,5 27,3 26,7 25,9 27,3 Hòn
Khoai 23,3 24,1 25,4 26,8 26,4 25,5 25,3 25,0 24,9 24,8 24,6 23,6 25,0
Cà Mau 24,9 25,4 26,6 27,6 27,4 27,1 27,0 26,8 26,8 26,5 26,2 25,5 26,5 Sóc Trăng 25,2 26,0 27,2 28,4 27,9 27,2 27,0 27,0 26,9 26,8 26,4 25,5 26,8 Cần Thơ 26,3 27,0 28,1 28,8 27,7 27,2 27,7 27,5 27,1 27,3 27,2 26,5 27,0 Côn Đảo 25,5 25,8 26,9 28,1 28,3 27,9 27,6 27,6 27,4 27,0 26,6 25,9 27,1 Bến Tre 25,6 25,8 27,3 28,5 28,5 27,8 27,2 27,1 27,1 26,9 26,5 25,4 27,0 Vũng Tàu 25,4 25,8 27,1 28,6 28,8 28,3 27,5 27,9 27,2 27,2 26,9 25,8 27,2
Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình tháng (mm) Tháng
Vào mùa hè: khu vực vịnh Thái Lan hướng sóng thịnh hành là Tây - Tây Nam, độ cao trung bình 0,85-0,95m, độ cao cực đại 3-3,5m Còn ở biển Đông hướng sóng Tây Nam chiếm ưu thế với độ cao trung bình 0,85-1,25m, độ cao cực đại 2,5-3m
Vào mùa đông: khu vực vịnh Thái Lan hướng sóng chính là Đông - Đông Bắc, độ cao trung bình 0,8-1,1m, cực đại 2-2,5m Còn khu vực biển Đông hướng sóng thịnh hành là Đông Bắc, độ cao trung bình 0,7-1,25m, cực đại 2,5-3m
Trang 141.1.4.2 Chế độ thủy triều
Chế độ thuỷ triều cũng có sự khác nhau giữa vùng biển Đông và vịnh Thái Lan Khu vực biển từ Rạch Giá-Cà Mau thuỷ triều có tính nhật triều không đều Độ lớn triều trong thời kỳ nước cường chỉ khoảng 0,8-0,9m, đôi nơi có thể đạt tới 1,5m Tính không đều của thuỷ triều tăng dần từ Rạch Giá đến Cà Mau Khu vực biển Đông thuỷ triều chuyển sang chế độ bán nhật triều với biên độ triều cao gấp 2-3 lần khu vực vịnh Thái Lan (biên độ cực đại đạt 2,5-3m) Khu vực ven bán đảo và bãi cạn Cà Mau chế độ thuỷ triều khá phức tạp Có sự giao thoa sóng triều mà nhân dân địa phương gọi là “vùng giáp giới” Tại khu vực này dòng chảy do triều nhỏ, có thể quan sát rõ sự lắng đọng, tích tụ của trầm tích hiện đại
1.1.4.3 Chế độ dòng chảy
Nhìn chung chế độ dòng chảy vùng biển RG - VT về cơ bản chịu ảnh hưởng của chế độ gió của khu vực Ngoài ra đặc điểm địa hình đới bờ cũng là yếu tố quan trọng đối với chế độ dòng chảy Vào mùa đông dòng chảy khu vực Cà Mau-Vũng Tàu có hướng từ Đông Bắc xuống Tây Nam, tốc độ dòng chảy trung bình 10- 25cm/s (hình 1.3) Vào mùa hè dòng chảy có hướng từ Tây Nam lên Đông Bắc với tốc độ trung bình 10-20cm/s (hình 1.4) Trong khu vực sát bờ dòng chảy bị chi phối mạnh của dòng triều với tốc độ 25-30cm/s Đặc biệt tại các khu vực cửa sông Cửu Long, Đồng Nai do bị dòng chảy sông khống chế nên dòng chảy biến đổi phức tạp theo luồng sông và đạt tốc độ khá lớn, trung bình khoảng 60-80cm/s
Tại khu vực Cà Mau-Rạch Giá chế độ dòng chảy mùa hè có sự phân chia giữa đới sát bờ và ngoài 10-15m nước Từ cửa sông Bảy Hạp đến Rạch Giá dòng chảy ven bờ có hướng từ Nam lên Bắc với tốc độ nhỏ 5-8cm/s, còn ngoài khơi có hướng ngược lại với tốc độ 8-10cm Tại khu vực Cà Mau dòng chảy mùa hè có xu thế đi về phía Nam - Đông Nam Vào mùa Đông hướng dòng chảy ở đây khá ổn định từ Bắc xuống Nam với tốc độ trung bình khoảng từ 5-8cm/s ở ven bờ và 8- 10cm/s ở ngoài khơi; tới khu vực Cà Mau do bị ảnh hưởng bởi hoàn lưu của vùng biển Đông hướng từ Đông Bắc xuống dòng chảy có xu thế tách ra và hướng về phía Tây
1.2 Đặc điểm địa chất khu vực
1.2.1 Địa tầng
Phần lớn diện tích nghiên cứu được phủ bởi trầm tích Đệ tứ dày từ 60-280m [5] Các trầm tích cổ trước Đệ tứ phân bố chủ yếu tại khu vực biển Tây thuộc vịnh Thái Lan (tập trung ở các đảo, quần đảo) và một số diện lộ ven biển Vũng Tàu Theo kết quả nghiên cứu của các công trình đo vẽ lập bản đồ địa chất từ tỷ lệ 1/500.000 [65] đến 1/50.000 [14] địa tầng vùng nghiên cứu bao gồm các phân vị
sau (hình 1.5):
Trang 15Bảng 1.3 Độ ẩm tương đối trung bình tháng (%) Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Mùa hè đông Mùa
Trang 16Bảng 1.5 Một số đặc trƣng về khí tƣợng-hải văn vùng biển Sóc Trăng - Cà Mau và Đông vịnh Thái Lan Tháng
Trang 17HỆ PERMI
Hệ tầng Hà Tiên (P ht)
Các thành tạo hệ tầng Hà Tiên chỉ phân bố ở Tây Bắc vùng nghiên cứu, nằm sát bờ biển Vịnh Ba Trại, với thành phần hoàn toàn là đá vôi; chúng phủ không chỉnh hợp lên hệ tầng Hòn Chông Trật tự địa tầng từ dưới lên như sau:
- Đá vôi xám sáng, phân lớp dày chứa nhiều thân huệ biển Dày khoảng 40m
- Đá vôi xen các lớp sét vôi màu xám đen, xám tro, xám hồng Dày 80-120m
- Trên cùng là đá phiến vôi xen những lớp đá phiến sét vôi màu xám đen, xám tro Bề dày chung của hệ tầng: 280-320m
là phần cao nhất của hệ tầng Bề dày của hệ tầng khoảng 500m
HỆ TRIAS, THỐNG TRUNG, BẬC ANISI
Hệ tầng Minh Hoà (T2a mh)
Hệ tầng chỉ phân bố trên diện nhỏ ở rìa Bắc đảo Minh Hoà (còn gọi là Hòn Nghệ) Hệ tầng được đặc trưng bởi đá vôi dạng khối màu xám Trong đá vôi này đã
tìm thấy các Foraminifera: Diplotremina astrofimbriata, D.cf baoi, Endothyranella
ex gr Hoangmaiensis, là các dạng hoá thạch thuộc bậc Anisi đã phát hiện trong đá
vôi Hoàng Mai (Nghệ An) Quan hệ địa tầng của hệ tầng chưa quan sát được
Trang 18HỆ TRIAS, THỐNG TRUNG, BẬC LADIN
Hệ tầng Hòn Nghệ (T2l hn)
Các thành tạo trầm tích lục nguyên của hệ tầng Hòn Nghệ chỉ lộ ra rất hạn chế ở Tây Bắc đảo Minh Hoà Các đá thuộc hệ tầng phân lớp mỏng và phân bố theo trật tự từ dưới lên như sau:
- Dưới cùng là lớp đá phiến sét màu xám với các lớp mỏng bột kết
- Bột kết với các lớp mỏng đá phiến sét màu xám
- Cát kết màu xám với các lớp mỏng bột kết và đá phiến sét màu xám
- Đá phiến sét màu xám với các lớp mỏng bột kết
HỆ CRETA
Hệ tầng Nha Trang (Knt)
Các đá phun trào felsic và tuf của chúng thuộc hệ tầng Nha Trang phân bố ở hai khu vực thuộc vùng vịnh Thái Lan: Nam hòn Minh Hoà và trên một số đảo thuộc quần đảo Nam Du Tại vùng biển Đông hệ tầng Nha Trang lộ ra ở ven biển Vũng Tàu Các thành tạo ignimbrit lộ ra trên đảo Minh Hòa với bề dày trên 100m Ignimbrit có màu xám sẫm cấu tạo dạng khối với nền là vật liệu núi lửa felsic và các mảng cuội dăm hỗn tạp, chủ yếu là vật liệu núi lửa, một ít là cát kết, bột kết, silic vôi, thạch anh tại đây mạch granosyenit porphyr màu hồng thuộc phức hệ Đèo Cả xuyên cắt chúng.Mặt cắt của hệ tầng ở khu vực ven biển Vũng Tàu chủ yếu gặp phần trên gồm ryolit, trachyryolit, felsic và tuf của chúng, rất ít là dacit và ryolitdacit Các đá có màu xám sáng đến xám xẫm đôi khi phớt lục do bị biến đổi
Kết quả nghiên cứu cho thấy các đá phun trào của hệ tầng Nha Trang có thành phần felsic và felsic á kiềm; thuộc thành hệ đacit-ryolit- trachyryolit loạt kiềm-vôi dãy á kiềm Chiều dày chung của hệ tầng khoảng 200-300m
GIỚI KAINOZOI
Trong vùng biển nghiên cứu các thành tạo Kainozoi chỉ được phát hiện trong các lỗ khoan ven biển và các lỗ khoan dầu khí Trên cơ sở phân tích mặt cắt các lỗ khoan CL-1 tại thị trấn Trà Cú (Trà Vinh); HG-1 ở thị trấn Phụng Hiệp (Cần Thơ); nhiều lỗ khoan gần sát sân bay Cần Thơ; LK-216 ; LK-215A tại thị trấn Năm Căn (Cà Mau) nhiều tác giả [56] đã xác định được các phân vị địa tầng Kainozoi sau:
Trang 19thuộc 2 phân vị thuộc giới Kainozoi là hệ tầng Cần Thơ và hệ tầng Năm Căn Dưới đây là một số nét sơ lược về đặc điểm của hai hệ tầng này
HỆ NEOGEN, THỐNG PLIOCEN, PHỤ THỐNG HẠ
Hệ tầng Cần Thơ (N2
1
ct)
Trong các lỗ khoan ở thị xã Cà Mau các thành tạo thuộc hệ tầng phân bố ở
độ sâu 243,5-325m (lỗ khoan 215A) và có đặc điểm địa tầng như sau:
- Tập dưới là sét bột màu trắng loang lổ đỏ nâu, đỏ tím, có cấu tạo khối và khá rắn chắc Thành phần chính gồm caolinit, ngoài ra còn có ilit Trong tập này tìm thấy hoá thạch của tảo nước mặn, nước lợ, nước ngọt và bào tử phấn Dày 44,2m
- Tập giữa là cát lẫn ít sạn sỏi và bột, trầm tích có mầu xám trắng vàng loang lổ Dày 22,8m
- Tập trên cùng có thành phần sét pha bột có màu xám loang lổ xanh, đỏ, nâu vàng Sét có cấu tạo khối và khá rắn chắc Thành phần sét chủ yếu là caolinit, lượng ilit thấp Dày 14,5m Các thành tạo hệ tầng Năm Căn (N2
Tập 2: sét bột lẫn ít cát, màu xám, xám vàng có cấu tạo khối khá rắn
Tập 3: cát hạt mịn màu xám tro, phớt vàng xen ít lớp bột màu xám nâu Phần dưới của tập chứa nhiều vụn thực vật và ít vỏ, vụn sinh vật biển hoá vôi
Tập 4: sét bột lẫn cát màu xám xanh, phân lớp mỏng (1-2mm), cát hạt mịn tập trung trên mặt của các lớp
Bề dày của mặt cắt là 90m
Ở vùng ven biển phía Đông, các thành tạo của hệ tầng gặp trong lỗ khoan LK98-2 tại bãi triều Gành Hào (Bạc Liêu) Trầm tích của hệ tầng phân bố ở độ sâu 140-160m Thành phần chủ yếu là bột sét phân lớp mỏng, gắn kết yếu, có xen các lớp mỏng cát mịn chứa kết hạch vôi sét và pyrit xâm tán
Trong lỗ khoan LK21 tại thị trấn Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh các thành tạo thuộc
hệ tầng có mặt ở độ sâu dưới 250m gồm hai tập
Tập dưới: cát sạn sỏi thạch anh màu xám xám nâu, xám vàng; xen vào đó là cát bột sét màu xám, xám tím loang lổ trắng, phân lớp vừa tới dày Dày 43m
Tập trên: cát hạt mịn xen nhiều lớp mỏng thực vật hoá than, màu xám, xám vàng đôi chỗ xám sẫm Trầm tích phân lớp mỏng đến vừa Dày 36m
Chiều dày chung của mặt cắt 79m
Trang 20Dọc bờ biển từ Bạc Liêu đến Vũng Tàu các thành tạo của hệ tầng còn được xác định trong các lỗ khoan: LK99-1 ở Đại Bái (Sóc Trăng) gặp ở độ sâu 162m và LK2000-1 (Tân Thành-Gò Công) ở độ sâu 166,6m
HỆ ĐỆ TỨ Địa tầng trầm tích Đệ tứ vùng nghiên cứu có sự khác nhau giữa hai vùng biển Tây (Rạch Giá-Cà Mau) và biển Đông (Cà Mau-Vũng Tàu) về đặc điểm trầm tích, thành phần thạch học, bề dầy cũng như lịch sử phát triển Vì vậy địa tầng Đệ tứ
sẽ được phân chia và mô tả theo hai vùng Theo thứ tự từ cổ đến trẻ các phân vị địa tầng Đệ tứ bao gồm:
Thống Pleistocen- Phụ thống hạ (Q1
1)
Trầm tích Pleistocen hạ vùng biển nông ven bờ RG - VT bao gồm các kiểu nguồn gốc: sông lũ (ap), sông biển (am) và biển (m)
1 Trầm tích sông lũ (apQ1 1)
Trầm tích của vùng chỉ gặp ở vùng biển Tây, xung quanh quần đảo Nam Du
và ven biển Hòn Đất Thành phần trầm tích gồm: sạn sỏi dăm, sạn cát Bề dày đạt vài mét tới hàng chục mét
2 Trầm tích sông biển (amQ1 1)
Ở vùng biển Tây tập trầm tích này chỉ phát hiện theo tài liệu địa chấn nông
độ phân giải cao Đó là các thành tạo sạn sỏi, cát sét, cát lẫn sét lấp đầy các hố trũng nằm trên bề mặt đá gốc hoặc hố đào khoét trên bề mặt trầm tích Neogen ở độ sâu trên 100m
Tại vùng biển Đông phát hiện trầm tích Q11 trong lỗ khoan LK99-1 tại Đại Bái (Sóc Trăng) ở độ sâu 162,9-129,5m gồm 2 nhịp trầm tích Phần dưới là các tập trầm tích từ cát màu xám, xám vàng, xám sáng đến bột xen cát, đến cát xen bột màu xám đến nâu có cấu tạo phân lớp Phần trên có thành phần đa dạng từ sạn sỏi cát màu xám xanh, xám vàng đến cát, cát sạn bùn, cát bùn màu xám sáng đến xám xanh xen các lớp bột sạn Thành phần khoáng vật của tầng thay đổi từ đa khoáng ở phần đáy chuyển sang ít khoáng hoặc đơn khoáng ở phần trên Chiều dày của tầng theo tài liệu lỗ khoan là trên 30m
Ở ngoài khơi vùng biển Đông cũng phát hiện được các thành tạo amQ1
1
theo tài liệu địa chấn đó là các thành tạo trầm tích được đặc trưng bởi các sóng phản xạ nhiễu loạn không song song
Trang 21xám xanh, xám nâu Trầm tích biển Pleistocen hạ có bề dày lớn hơn khi đi về phía Nam Mặt cắt của tầng trong lỗ khoan LK98-2 tại Gành Hào có đặc điểm như sau:
- Phía dưới là cát hạt trung mịn màu xám nhạt tới xám xanh, tiếp trên là bột sét phân lớp màu xám xanh có chứa các lớp mỏng mùn thực vật
- Phần trên là các lớp cát xen các lớp sét mỏng sau đó chuyển thành các lớp sét xen các lớp cát mỏng màu xám xanh được gắn kết yếu; trong lớp sét cát có pyrit xâm tán
- Các thành tạo mQ1
1
còn được xác định trong các băng địa chấn Độ sâu phân bố cũng tăng dần từ 70-80m (khu vực Tây quần đảo Nam Du) đến 120-210m (Tây- Tây Nam bán đảo Cà Mau) Bề dày chung của tầng thay đổi trong khoảng 10- 90m
Thống Pleistocen- Phụ thống trung
Các thành tạo trầm tích hình thành trong Pleistocen trung ở vùng biển RG -
VT có hai kiểu nguồn gốc sông biển (am) và biển (m)
4 Trầm tích sông biển amQ1
2
Ở vùng biển Tây trầm tích amQ2
1 được xác định bởi tài liệu địa chấn nông độ phân giải cao Đó là các thành tạo cuội sỏi, cát, sét lấp đầy trong các hố đào khoét (mang đặc trưng của cửa sông cổ) trên bề mặt trầm tích Pleistocen sớm (Q1
1
)
Tại vùng biển Đông trầm tích sông biển Pleistocen hạ gặp trong nhiều lỗ khoan bãi triều Độ hạt trầm tích có xu hướng tăng dần từ Cà Mau tới Vũng Tàu Mặt cắt đặc trưng của amQ1
2
được mô tả trong cột địa tầng lỗ khoan LK2000 ở Cầu Muôn (Tiền Giang) Trầm tích có đặc điểm phân lớp Dưới cùng là lớp cuội sạn sỏi màu vàng Kế tiếp là các lớp cát trung màu xám xanh xen cát bột (các lớp cát dày 0,2-1m) Phần giữa là các lớp cát trung thô đến sạn màu xám xanh, xám sáng và cát trung thô lẫn sạn màu xám vàng, xám sáng Phần trên cùng là lớp sét bột loang lổ vàng có cấu tạo phân lớp Bề dày của tầng theo lỗ khoan là 27,7m
lổ nhẹ, cấu tạo phân lớp mỏng
Theo tài liệu địa chấn các thành tạo mQ1
Trang 22Mặt cắt đặc trưng được xác định tại lỗ khoan LK99-1 Đại Bái (Sóc Trăng) Phần dưới cùng của tầng là cát hạt trung mịn màu xám xanh lẫn ít ổ kết hạch limonit màu xám vàng đến nâu Trên đó là lớp cát bùn cát sét có màu xám xanh, xám tối, lớp trên cùng là bột cát, cát bột loang lổ màu xám vàng, vàng sẫm, chứa nhiều kết hạch Thành phần cát chủ yếu là đơn khoáng đến ít khoáng
Ở ngoài khơi của vùng cũng gặp các thành tạo này ở độ sâu khoảng 80m được đặc trưng bởi trầm tích bùn sét, xen cát có cấu tạo phân lớp ( tài liệu địa chấn)
Thống Pleistocen- Phụ thống thượng, phần dưới (Q1
3-a)
6 Trầm tích sông biển (amQ1
- Ở vùng biển Cà Mau-Vũng Tàu trầm tích amQ13-a gặp trong các lỗ khoan bãi triều và theo tài liệu địa chấn độ phân giải cao Trong lỗ khoan LK99-1 Đại Bái gặp các thành tạo amQ1
3-a
ở độ sâu 84,7-69,6m, trầm tích có cấu tạo phân lớp: Lớp dưới là cát trung thô lẫn cuội sạn, trên là cát mịn trung màu xám xanh Lớp giữa là cát xen bột màu xám xanh nâu, các lớp
Lớp trên là sét mịn màu xám nâu, cấu tạo khối, có nhiều rễ cây đã hoá than
3-a
có thành phần là trầm tích hạt mịn sét, bùn bột chứa than bùn và thường lấp đầy các địa hình vịnh, đầm lầy cổ Bề dày 10-20m
Ở vùng biển Cà Mau-Vũng Tàu, trầm tích của tầng được xác định ở độ sâu 58,9 -52m trong lỗ khoan LK99-2 (ở Trà Cú-Trà Vinh) Thành phần gồm sét màu xám tới xám nâu xen các lớp mùn thực vật màu đen chuyển xuống dưới là cát màu xám xanh Bề dày 10-15m
Trang 23Tập dưới có cấu tạo phân lớp rất rõ theo chiều từ dưới lên là cát thô trung lẫn cuội sạn cát, chuyển sang cát mịn đến trung, rồi cát xen bột màu xám xanh, xám nâu
và cuối cùng là sét mịn màu xám nâu tới nâu tím
Tập giữa là bột xen sét màu xám nâu, trên là sét dẻo mịn và sét xen các ổ bột màu xám nâu tới nâu vàng
Tập trên là các lớp sét màu xám xanh, đen chứa nhiều mùn thực vật hoá than Theo tài liệu địa chấn bề dày của tầng thay đổi từ 15-55m
Thống Pleistocen- Phụ thống thượng, phần trên (Q1
3-b)
9 Trầm tích sông biển (amQ1
3-b
ở độ sâu 59,7-46,3m trong lỗ khoan LK 2000-1 Cầu Muôn Đặc điểm cột địa tầng từ dưới lên gồm: dưới cùng là lớp cuội sỏi sạn có lẫn ít sét màu xám vàng, xám sáng Trên là cát thô trung màu xám vàng lẫn cuội đa khoáng Lớp trên cùng là cát mịn, cát bột màu xám sáng, độ chọn lọc và mài tròn tốt Theo tài liệu địa chấn bề dày 10-20m
- Ở vùng biển Đông trầm tích mQ1
3-b
cũng lộ ra trên đáy biển Bề mặt trầm tích thường bị phong hoá loang lổ Mặt cắt đặc trưng của tầng được xác định trong
lỗ khoan LK2000-1 Cầu Muôn gồm nhiều lớp:
+ 46,3-38,8m: cát màu vàng, xám nâu chọn lọc và mài tròn tốt xen các lớp sét màu nâu tím cấu tạo phân lớp mỏng, phần đáy gặp lớp cuội sạn laterit lẫn sét màu vàng nâu
+ 38,8-31m: cát mịn xen bột màu nâu, đỏ nâu, hồng cấu tạo phân lớp, lớp cát cát màu xám xen lẫn cát bột màu đỏ (dày vài mm tới vài cm) Trong các lớp cát có lẫn các kết vón oxyt sắt màu đỏ nâu, cát có độ chọn lọc và mài tròn khá tốt Trong lớp cát bột gặp nhiều thuỷ tinh nguồn gốc núi lửa, mảnh felspat khá sắc cạnh
Trang 24+ 31-29m: cát bột màu vàng, xám vàng độ chọn lọc tốt, mài tròn trung bình xen các lớp bột sét mỏng lẫn mùn thực vật màu xám đen, cát giàu mảnh felspat sắc cạnh, thuỷ tinh dạng que kéo dài (nguồn gốc núi lửa)
+ 29-18m: sét loang lổ vàng, xám trắng xen các lớp mỏng bột hoặc cát chứa kết vón laterit màu nâu, cấu tạo phân lớp
+ 18-14,7m: phía dưới là sạn laterit màu vàng, xám vàng, chuyển lên trên là sét màu xám xanh loang lổ xám vàng tới nâu đỏ
Theo tài liệu địa chấn bề dày của tầng 10-60m
Thống Holocen Phụ thống hạ - trung
Bề dày thay đổi từ 1-20m ở biển Đông và 0,5-15m ở biển Tây
13 Trầm tích biển sông (maQ2
bố thành những dải liên tục tạo cồn ngầm, đê cát ngầm Bề dày 5-15m
3-b
trầm tích mQ1
1-2
có thành phần hạt thô là chủ yếu: sạn cát, sạn sỏi, sạn cát bùn Bề dày khoảng 0,5-20m
- Trầm tích mQ1
1-2
phân bố trên diện rộng tại vùng biển Đông Ở phía Bắc đứt gãy sông Hậu trầm tích chủ yếu là cát mịn màu xám xanh, xám sáng dưới là lớp trầm tích cát hạt thô hơn Ở phía Tây Nam đứt gãy sông Hậu trầm tích có thành phần khá đa dạng gồm cát bùn, bùn cát, cát sạn bùn, cát sạn bùn màu xám xanh đến xám xi măng; cấp hạt trầm tích có xu hướng giảm dần từ Trà Vinh về phía Cà Mau
Trang 25Thành phần sạn chủ yếu là sạn laterit hoặc cát bột kết, đá phun trào bị phong hoá; trong trầm tích còn chứa tro và que thuỷ tinh núi lửa Bề dày tầng chỉ 0,5-2m
Trong các lỗ khoan bãi triều ven biển trầm tích của tầng có những nét đặc trưng riêng Trong cột địa tầng lỗ khoan LK99-II (Cà Cối) trầm tích mQ1
1-2
có cấu tạo phân lớp: lớp dưới là sét dẻo mịn màu xám xanh tới xám nhạt xen các lớp bột mỏng, các lớp vụn vỏ sinh vật Lớp trên là sét dẻo mịn màu xám xanh với thành phần đồng nhất Bề dày 10,7m
Thống Holocen Phụ thống thượng
chỉ phân bố ở khu vực Bắc sông
Đốc-U Minh (ở độ sâu 0-15m nước) Trầm tích đặc trưng bởi bùn sét màu xám tới xám tối chứa mùn thực vật Chiều dày thay đổi 3-4m
16 Trầm tích biển sông (maQ2
Trầm tích maQ2
3
phát triển tiếp từ vùng biển Tây vòng qua mũi Cà Mau và kéo dài tới Vũng Tàu tạo thành một dải liên tục ở độ sâu 0-20m nước Ở vùng biển Đông trầm tích maQ2
3
có hai kiểu mặt cắt: mặt cắt đồng bằng triều chịu ảnh hưởng của nguồn phù sa sông và mặt cắt vùng cửa sông Kiểu thứ nhất có thành phần trầm tích tương tự như ở khu vực cửa Bảy Hạp-Cà Mau Kiểu mặt cắt thứ hai đặc trưng cho khu vực Sóc Trăng-Vũng Tàu Trong đó trầm tích có sự phân dị ngang theo quy luật giảm dần độ hạt khi ra xa bờ Ở đới sát bờ, gần cửa sông (0-10m nước) phân bố chủ yếu là cát, cát bột, cát bùn Từ 10-20m nước phân bố chủ yếu bùn, bùn sét và sét Trầm tích có màu nâu, xám nâu, nâu xám, có cấu tạo phân lớp
17 Trầm tích biển sông đầm lầy (mabQ2
3
) Tại vùng biển Tây trầm tích mabQ2
3
phân bố ở bãi triều vịnh Rạch Giá, U Minh, vùng cửa Bảy Hạp tới Cà Mau Trầm tích gồm bùn, sét, bùn cát giàu mùn bã thực vật màu xám đen Chính trong các thành tạo mabQ2
3
ở vùng ven biển U Minh
đã hình thành tầng than bùn với bề dày và trữ lượng khá lớn Bề dày của tầng 3-5m
Ở vùng biển Đông trầm tích mabQ2
3
được hình thành trong bãi triều lầy thuộc các cửa sông: Soài Rạp, Ba Lai, Cửa Tiểu hoặc trong các cù lao nằm giữa cửa sông: Cồn Lợi, Cù Lao Dung Trầm tích gồm bùn sét, bùn cát màu sẫm tới xám đen giàu mùn thực vật, thân rễ cây Chiều dày của tầng 2-5m
Trang 261.2.2 Các thành tạo magma xâm nhập
Trong vùng biển và ven biển RG - VT chỉ phânbố ba phức hệ magma xâm nhập được hình thành trong Mesozoi
1 Phức hệ Định Quán, pha 2 (GDi/J3đq2)
Trong phạm vi vùng nghiên cứu các đá của phức hệ Định Quán lộ ra ở ven biển Hòn Đất và đảo Hòn Tre với những diện tích nhỏ vài km2 Thành phần thạch học của phức hệ này bao gồm: granodiorit horblend monzonit, monzodiorit, monzonit thạch anh Đá có kiến trúc hạt vừa dạng porphyr với ít ban tinh felspat Thành phần khoáng vật gồm: plagioclas (30-55%), thạch anh (0-25%), biotit (1- 10%), horblend (1-10%), pyroxen (0-15%) Ngoài ra trong thành phần khoáng vật phụ có apatit, sfen, trong mẫu giã đãi có magnetit, monazit, pyrit, vàng các đá xâm nhập của phức hệ xuyên qua và gây biến chất đá andesit ở giữa bờ Đông và Tây của đảo Về đặc điểm thạch hoá, các đá thuộc phức hệ có hàm lượng: SiO2=58- 63% và tổng kiềm khá cao Na2O + K2O = 9,4-10% , tỉ số K/Na= 0,98-1,3
2 Phức hệ Hòn Khoai (GDi/T3hk)
Trong vùng biển RG - VT các thành tạo xâm nhập thuộc phức hệ chỉ lộ ra ở các đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc và phát hiện trong lỗ khoan 216 (Năm Căn, Cà Mau) ở độ sâu dưới 404m Các đá của phức hệ được chia làm hai pha:
Pha 1 (GDi/T3hk1) gồm: granodiorit biotit horblend, granodiorit biotit hạt nhỏ và vừa Chúng phân bố trên phần lớn diện tích đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc Thành phần khoáng vật gồm: plagioclas (30-40%), felspat kali (7-25%), thạch anh (20-28%), biotit (5-10%), horblend (0-6%) Trong thành phần khoáng vật phụ có apatit, zircon, magnetit, ilmenit, ít hơn là rutin và anataz
Pha 2 (GDi/T3hk2): phân bố trên diện hẹp ở đảo Hòn Sao và mỏm Bắc đảo Hòn Khoai thành phần thạch học gồm: granit biotit có chứa horblend hạt nhỏ Thành phần khoáng vật gồm: plagioclas (27-30%), felspat kali (38-40%), thạch anh (29-30%), biotit (5-7%), horblend(1%) Khoáng vật phụ có apatit, zircon
Kết quả phân tích hoá silicat cho thấy các đá của phức hệ thuộc loạt kiềm vôi Trong các đá có hàm lượng đồng cao gấp 2-4 lần clack, Be, Y, Yb, Zn, Sr, V có hàm lượng nhỏ hơn clack Các đá granodiorit của phức hệ gây biến chất trao đổi tiếp xúc với các trầm tích phun trào hệ tầng Hòn Ngang tạo skarn ở Hòn Buông và
bị xuyên cắt bởi đá mạch andesit-dacit (hệ tầng Đèo Bảo Lộc) ở giữa Hòn Khoai
3 Phức hệ Đèo Cả (Kđc)
Trong vùng nghiên cứu phức hệ Đèo Cả chỉ lộ ra ở hai khu vực đảo Hòn Rái
và ven biển Vũng Tàu với diện tích vài km2
đến trên 10km2 Thành phần của phức
hệ gồm ba pha xâm nhập và đá mạch
Trang 27Pha 1 (GDi/Kđc1): lộ ra trên diện tích hẹp ở ven biển Vũng Tàu Thành phần gồm: granodiorit granomonzonit biotit hạt không đều, màu xám hồng (màu hồng được tạo bởi các ban tinh felspat kali) Đá có cấu tạo khối, kiến trúc porphyr hạt nhỏ
và vừa với các ban tinh felspat kali kích thước 1-2 cm Thành phần khoáng vật gồm: plagioclas (30-40%), felspat kali (35-45%) thạch anh (20-25%), biotit (5-8%) và các khoáng vật phụ apatit, zircon, sfen, orthit, magnetit, ilmenit
Pha 2 (GSi/Kđc2): là pha xâm nhập chính của phức hệ, gặp cả ở Hòn Rái và ven biển Vũng Tàu với nhiều khối lớn nhỏ Thành phần thạch học gồm: granosyenit biotit, granit biotit hạt nhỏ đến lớn và một lượng nhỏ của granodiorit biotit dạng porphyr Ở đảo Hòn Rái tướng hạt nhỏ phân bố ở rìa Tây đảo còn phía Đông chủ yếu là các đá hạt vừa; các tướng hạt vừa tới lớn tập trung ở khu vực Vũng Tàu Các
đá có màu xám hồng cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình và khá phổ biến kiến trúc dạng porphyr Thành phần khoáng vật: plagioclas (15-40%), felspat kali (20-57%) thạch anh (20-40%), biotit (1-10%) Các khoáng vật phụ có apatit, sfen ít hơn có magnetit, ilmenit hiếm gặp hơn có zircon, orthit
Pha 3 (G/Kđc3): lộ ra ở ven biển Vũng Tàu với diện tích vài km2
Thành phần thạch học gồm: granit, granosyenit hạt nhỏ màu xám hồng, cấu tạo khối kiến trúc nửa tự hình, đôi chỗ có kiến trúc porphyr
Pha đá mạch(GP
/Kđc): gồm các đá granit aplit, granosyenit porphyr và
pecmatit
Về đặc điểm thạch hoá, các đá của phức hệ Đèo Cả thuộc loạt kiềm vôi, dãy
á kiềm, kiểu kali- natri trong đó K>Na Các nguyên tố vi lượng có V, Be, Yb, Zr,
Cu, Pb, Mo nhưng với độ tập trung thấp Phức hệ Đèo Cả xuyên cắt gây biến chất tiếp xúc các đá phun trào hệ tầng Nha Trang tuổi Creta Tuổi của phức hệ được xác định dựa vào đặc điểm quan hệ địa chất này và kết quả phân tích tuổi đồng vị
1.2.3 Các đới cấu trúc và hệ thống đứt gãy chính
Vùng lục địa ven biển và biển ven bờ RG - VTnằm trong ba đới cấu trúc: Phú Quốc, Hà Tiên và Cần Thơ Trong đó đới Cần Thơ được chia ra làm 3 phụ đới; phạm vi vùng nghiên cứu chỉ nằm trong hai phụ đới: Bến Tre và Cà Mau
Từ độ sâu 20m nước trở ra, một diện tích nhỏ nằm về phía ĐB vùng nghiên cứu thuộc bồn rift Kainozoi sớm Cửu Long Và một diện tích nằm ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu thuộc địa lũy Côn Sơn
Các hệ thống đứt gãy
Trong vùng nghiên cứu có ba hệ thống đứt gãy chính:
1.2.3.a Hệ thống đứt gãy phương kinh tuyến: gồm 2 đứt gãy chính là đứt gãy Tây Nam Du (F1) và đứt gãy Rạch Giá-Năm Căn (F2)
Trang 28Đứt gãy Tây Nam Du (F1):Đứt gãy này là ranh giới giữa hai đới Hà Tiên và
đới Phú Quốc, kéo dài 30 km từ phía Đông Phú Quốc, Tây Hòn Chuối-Hòn Khoai
Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy tới 50 km, góc cắm về phía Tây với độ dốc 40 – 50o
Theo những tài liệu hiện có, đứt gãy Tây Nam Du hoạt động rõ nét trong Mesozoi muộn, Kainozoi muộn Đây là ranh giới phía Đông của hai bồn trầm tích: Cardamon vào Jura muộn-Creta và Phú Quốc vào Miocen Đứt gãy còn hoạt động vào Pliocen
để lại đới dập vỡ, cà nát nứt nẻ phương kinh tuyến, á kinh tuyến cắt qua các thành tạo Miocen ở Phú Quốc và vì thế phần Đông đảo Phú Quốc được nâng lên tạo thành đơn nghiêng trầm tích Miocen ở Phú Quốc
Đứt gãy Rạch Giá-Năm Căn (F2): Đứt gãy Rạch Giá-Năm Căn kéo dài gần
350 km theo hướng Bắc Nam từ Tân Châu- Rạch Giá-U Minh-Năm Căn đến phía Đông đảo Hòn Khoai thì gặp đứt gãy Hòn Khoai-Cà Ná Chiều rộng ảnh hưởng tới 25km và có độ sâu tới 60km đây là ranh giới giữa đới Hà Tiên và đới Cần Thơ Trên bề mặt địa hình hiện đại đứt gãy được thể hiện rõ là tạo nên đường bờ biển thẳng theo phương BN từ Rạch Giá đến Cà Mau Theo tài liệu trọng lực mặt đứt gãy cắm về phía Đông với góc cắm 40-50o
ở độ sâu dưới 30km Trên độ sâu 30km mặt đứt gãy dốc dần và đạt tới 70-80o
ở độ sâu 0-500m Cự ly dịch chuyển đứng của các cánh trong trầm tích Kanozoi muộn đạt tới 300-400m Đây là một đới đứt gãy gồm nhiều đứt gãy dạng bậc Đứt gãy Rạch Giá-Năm Căn cùng với đứt gãy Tây Nam Du có thể là đới đứt gãy hoạt động vào Jura muộn-Kainozoi trên đới khâu cổ Mesozoi sớm Di chỉ đới khâu Mesozoi sớm được phát hiện ở đảo Hòn Chuối
1.2.3.b Hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam
Trong vùng nghiên cứu hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam gồm 3 đứt gãy chính và một số đứt gãy nhỏ Ba đứt gãy chính là: đứt gãy Hà Tiên-Gành Hào (F3), đứt gãy Sông Hậu (F4) và đứt gãy Vàm Cỏ Đông-Sông Sài Gòn (F5)
Đứt gãy Hà Tiên-Gành Hào (F3): kéo dài trên 250 km từ Hà Tiên qua Hòn
Tre vào đất liền khu vực Vĩnh Thuận-Giá Rai qua ĐB cửa Gành Hào ra biển Theo tài liệu khoan sâu ở đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy đứt gãy này là đứt gãy thuận, có cánh Đông Bắc sụt xuống, cánh Tây Nam nâng lên với cự ly dịch chuyển đứng là 100-200m (so sánh bề dày tướng trầm tích Kainozoi muộn ở 2 cánh) Tài liệu trọng lực cho thấy độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy tới 30 km, hướng cắm Đông Bắc với góc dốc 60-70o
Dọc theo cánh Đông Bắc đứt gãy có biểu hiện 5 điểm nước khoáng có nhiệt độ từ 36o
C đến 39o
C, nhưng chưa thấy biểu hiện của động đất dọc theo đứt gãy Như vậy đứt gãy Hà Tiên-Gành Hào ở hai phía Tây Bắc và Đông Nam nằm trong diện tích vùng nghiên cứu thuộc biển nông ven bờ, phần giữa đứt gãy nằm trong đất liền
Trang 29Đứt gãy Sông Hậu (F4): kéo dài trên 1000 km theo hướng Tây Bắc-Đông
Nam từ Răng Gua qua Nompênh vào đất liền Việt Nam dọc theo sông Hậu qua cửa Trần Đề ra biển đến Đông Nam Côn Đảo Trong phạm vi vùng nghiên cứu đứt gãy Sông Hậu đóng vai trò là ranh giới giữa hai phụ đới Cà Mau và Bến Tre ở khu vực ven bờ và ranh giới giữa địa lũy Côn Sơn và bồn rift Kainozoi sớm Cửu Long ở ngoài khơi.Theo tài liệu trọng lực, độ sâu ảnh hưởng hướng của đứt gãy đạt tới 50-
60 km, cắm về Đông Bắc góc cắm 75-80o Dọc theo đứt gãy có biểu hiện nước nóng, nước khoáng có nhiệt độ từ 31-37,5oC ở khu vực Cái Vồn, Cầu Kè và Mỹ Thới Biểu hiện động đất dọc theo đứt gãy có magnitude nhỏ hơn 5,0 Theo các tài liệu hiện có, trầm tích Kainozoi dọc theo đứt gãy bị sụt võng mạnh ở cánh Đông Bắc, cự ly dịch chuyển đứng của đứt gãy lớn hơn 1000m Ở trũng Trà Cú đáy Kainozoi có độ sâu trên 2000m, nhưng ở Phụng Hiệp (thuộc cánh Tây Nam) độ sâu đáy Kainozoi chỉ khoảng gần 1000m
Đứt gãy Vàm Cỏ Đông - sông Sài Gòn (F5): kéo dài gần 285 km có quy mô
ảnh hưởng theo chiều rộng tới 50 km Đứt gãy này đóng vai trò phân đới cấu trúc giữa đới Đà Lạt và đới Cần Thơ Trong đất liền là một đới đứt gãy gồm 3 đứt gãy chính: Vàm Cỏ Đông-Sông Sài Gòn và Bến Cát-Phú Mỹ; chúng chạy dọc theo thung lũng Sông Vàm Cỏ Đông, Sông Sài Gòn và Sông Đồng Nai tạo nên địa hình dạng bậc hiện đại theo xu thế thấp dần từ Đông Bắc về Tây Nam Ở ngoài khơi Vũng Tàu đứt gãy này gặp hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc-Tây Nam là đứt gãy Hòn Khoai-Cà Ná và kết thúc tại đây
- Đứt gãy Vàm Cỏ Đông có độ sâu ảnh hưởng tới 30-35 km, mặt trượt cắm
về Tây Nam với góc dốc 70-75o
Có biểu hiện nước nóng (ở Phú Hiệp 60o
C và Tân
Mỹ 30o
C), chưa có biểu hiện động đất
- Đứt gãy Sông Sài Gòn có độ sâu ảnh hưởng 20 km, mặt đứt gãy cắm về phía Tây Nam với góc dốc 40-50o
Biểu hiện của đứt gãy này ở trên mặt còn quan sát được trong các đá phun trào, xâm nhập ở khu vực Vũng Tàu bị nứt nẻ mạnh theo phương Tây Bắc-Đông Nam có góc dốc mặt trượt lớn (60-80o
) Góc dốc của đứt gãy thoải dần từ 60-80o
ở trên mặt và xuống sâu 20 km chỉ còn 40-45o Cự ly dịch chuyển đứng của toàn đới đứt gãy là ~ 1000m Theo các tài liệu hiện có, đứt gãy này hoạt động vào Kainozoi muộn là chính
1.2.3.c Hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc-Tây Nam
Gồm 1 đứt gãy lớn là đứt gãy Hòn Khoai-Cà Ná (hay Minh Hải-Thuận Hải)
và hàng loạt các đứt gãy nhỏ theo phương này ở khu vực biển Tây Nam
Đứt gãy Hòn Khoai-Cà Ná (F6): là hệ thống đứt gãy lớn, kéo dài trên 750
km theo hướng Đông Bắc-Tây Nam dọc rìa trong thềm lục địa Nam Trung Bộ và Nam Bộ Đóng vai trò phân vùng giữa miền cấu trúc có vỏ lục địa Nam Việt Nam
Trang 30và miền có vỏ chuyển tiếp Tây Biển Đông và là ranh giới Tây Bắc của bồn trũng Rift Kainozoi sớm Cửu Long Theo tài liệu trọng lực độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy tới 60 km và có góc cắm về TB với góc dốc 30-40o Dọc theo hệ thống đứt gãy này
có liên quan đến hoạt động động đất, đạt manitude 5,1-5,5 độ Richter Ở biển Vũng Tàu năm 2002 có động đất xảy ra liên quan đến hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc-Tây Nam
Ngoài đứt gãy Hòn Khoai-Cà Ná, trong khu vực nghiên cứu còn một số đứt gãy có quy mô nhỏ, phạm vi ảnh hưởng không lớn cũng có phương Đông Bắc-Tây Nam hoạt động ở ngoài khơi vùng biển Rạch Giá-Kiên Giang cũng đã được phát hiện qua tài liệu địa chấn nông phân giải cao do Đoàn Địa vật lý biển và Liên đoàn Địa chất biển phát hiện được trong các đợt khảo sát biển ở khu vực này
1.3 Các hoạt động nhân sinh
1.3.1 Tàn phá rừng ngập mặn và khoanh vùng nuôi trồng thuỷ hải sản
Vùng ven biển RG - VT có diện tích RNM lớn nhất cả nước RNM giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường RNM cung cấp nhiều sản phẩm cho xã hội: đước, vẹt, mắm, cóc cung cấp gỗ; dừa nước lợp nhà, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Đặc biệt RNM giữ vai trò như “vườn ươm” cho nhiều loài sinh vật biển (ảnh 1.1) Quá trình phân giải lớp thảm mùn thực vật từ lá cây do sinh vật tạo nguồn thức ăn cho các loài sinh vật Chính vì thế RNM có môi trường thuận lợi cho các loài thuỷ sản, cũng như động vật cư trú và sinh sản RNM còn tạo thành một màn chắn để ngăn các chất thải từ lục địa chuyển tải ra biển
Bảng 1.6 Diện tích rừng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long 1950-1995 [82]
sự gia tăng diện tích đầm nuôi tôm Riêng khu vực Cà Mau-Bạc Liêu trong 15 năm (1982-1996) diện tích đầm nuôi tôm tăng gấp ba lần và gấp hàng trăm lần so với thời kỳ trước năm 1982 (bảng 1.7)
Trang 31Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Toàn vùng
Hình 1.6 Diễn biến tài nguyên rừng ngập mặn
ở các tỉnh cửa sông Cửu Long từ năm 1980-1990 [82]
Việc thu hẹp diện tích RNM đã đưa lại những ảnh hưởng tiêu cực, đó là giảm khả năng phòng hộ bờ biển, cường hóa quá trình xói lở bờ biển (ảnh 1.5, 1.6, 1.7), tính đa dạng sinh học giảm Về mặt ĐHMT , sự thay đổi diện tích rừng ngập mặn sẽ làm thay đổi quá trình tích tụ trầm tích ở một số khu vực, nguy cơ gây ô nhiễm kim loại nặng, hợp chất hữu cơ trong nước, trầm tích biển sẽ có xu hướng tăng; trong các vùng triều lầy yếm khí trầm tích chứa nhiều lưu huỳnh dạng sulphua Khi phá RNM làm đầm nuôi hải sản nhiều diện tích bị tháo khô hoặc phơi cạn Ở đây sẽ xảy
ra quá trình ôxy hóa mạnh.Các dạng lưu huỳnh sulphua bị biến đổi, giải phóng ra axit sulphuaric, H2S, NH4 gây hiện tượng nhiễm phèn của đất( pH= 3-4) và giầu các ion độc tố khác Năng suất nuôi trồng sẽ giảm, hiệu quả kinh tế không cao sẽ dẫn tới hiện tượng đất bị bỏ hoang ngày càng tăng Trong quá trình cải tạo các đầm nuôi thuỷ hải sản có nhiều loại hóa chất, trong đó có CuSO4 được sử dụng Có thể đây là một trong số những nguyên nhân gây ô nhiễm Cu trong nước và trong trầm tích biển
Bảng 1.7 Diện tích đầm nuôi tôm (ha) ở khu vực Cà Mau- Bạc Liêu [82]
Diện tích (ha) 400 29.920 47.480 67.072 >100.000
1.3.2 Hoạt động công nghiệp
Vùng biển ven bờ Rạch Giá-Vùng Tàu là nơi chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nguồn chất thải từ các hoạt động công nghiệp của các thành phố, thị trấn nằm dọc theo hai hệ thống sông Cửu Long và Đồng Nai Theo kết quả dự báo của đề tài “ô nhiễm biển do sông tải ra” thì tổng lượng một số kim loại và hợp chất do sông Đồng Nai và Cửu Long chuyển ra biển miền Nam thường lớn hơn nhiều lần khu vực biển
ha
Trang 32miền Trung và miền Bắc (bảng 1.8) [38] Điều này cho thấy vùng biển ven bờ RG -
VT có NCON bởi các nguyên tố độc hại khá cao
Bảng 1.8 Tổng lượng (tấn)một số kim loại và hợp chất do hệ thống sông Việt
Nam chuyển tải từ đất liền ra biển [38]
Bảng 1.9 Lượng chất thải rắn nguy hại tại một số khu vực năm 2000
(tấn/năm) [4]
Khu vực
CN điện
tử
CN
cơ khí
CN hoá chất
CN nhẹ
Chế biến thực phẩm
Các ngành khác
Tổng
số
Nước thải CN (m 3 /năm)
1.3.3 Hoạt động nông nghiệp
Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa của cả nước với diện tích canh tác nông nghiệp 2,597 triệu hecta [67] Một khối lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng Theo số liệu thống kê một số năm gần đây (bảng 1.10) tổng lượng TBVTV được sử dụng chỉ riêng ở các tỉnh ven biển từ Rạch Giá đến Vũng Tàu khoảng trên 3000 tấn/năm
Do cơ cấu mùa vụ thay đổi, hàng năm người dân không chỉ canh tác một vụ
mà thường là 2-3 vụ với nhiều chủng loại cây trồng nên số lượng TBVTV được sử dụng ngày càng tăng trong năm Chỉ riêng tỉnh Trà Vinh lượng TBVTV dùng trong nông nghiệp tăng gấp 2 lần trong 5 năm (từ 737 tấn vào năm 1995 và 1514 tấn sử dụng năm 1999 [59] bảng 1.11 Đây cũng là nguyên nhân gây ra sự tăng cao hàm lượng TBVTV và các nguyên tố đi cùng như Cu, Pb Hg trong nước và trầm tích biển khu vực nghiên cứu so với nước biển miền Trung và miền Bắc
Trang 33Bảng 1.10 Lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trong nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long (tấn/năm) [57 - 60] Khu vực Tổng lượng thuốc bảo vệ thực vật (tấn ) Năm sử dụng
1.3.4 Xả chất thải sinh hoạt
Vùng ven biển và ven sông tập trung mật độ dân cư cao Tới 2/3 lượng chất thải sinh hoạt được đưa trực tiếp xuống hệ thống kênh rạch và được chuyển tải ra biển gây ONMT (bảng 1.12; ảnh 1.8, 1.9, 1.10, 1.11, 1.12)
Bảng 1.12 Chất thải từ các hoạt động của một số khu dân cư đô thị [57 - 60]
1.3.5 Hoạt động giao thông đường thuỷ, đánh bắt hải sản, khai thác dầu khí
Chỉ riêng các hoạt động giao thông trên sông đã thải ra biển một khối lượng đáng kể các loại dầu máy; theo số liệu của Cục Môi trường Việt Nam (nay là Cục Bảo vệ Môi trường), từ 2 hệ thống sông Đồng Nai và Cửu Long thải ra biển khoảng 29000-88000 tấn dầu/năm; trong đó chủ yếu là ở sông Cửu Long Sông Đồng Nai-
Sài Gòn thải 2700-3300 tấn/năm [60]
Nguồn ô nhiễm từ hoạt động hàng hải chủ yếu là việc thải nước nhiễm dầu, nước sinh hoạt, các chất thải sinh hoạt và hàng hoá bị hỏng xuống biển (ảnh 1.13, 1.14) Đặc biệt các tai nạn hàng hải gây ra một lượng dầu lớn tràn ra biển Theo thống kê, trong số trên 20 vụ tràn dầu ở vùng biển Việt Nam thì có tới 9 vụ có tác động trực tiểp đến vùng nghiên cứu, với tổng lượng dầu tràn khoảng 750-1050 tấn (bảng 1.13)
Trang 34Bảng 1.13.Các sự cố tràn dầu trong khu vực vùng biển nghiên cứu [69]
Ngoài khơi RG - VT là khu khai thác dầu khí lớn của nước ta Trong quá trình khai thác và vận chuyển dầu khí đã phát sinh một lượng chất thải không nhỏ
Đó là mùn khoan, bùn khoan, dung dịch khoan lẫn dầu và hoá chất; nước vỉa trong quá trình khai thác, nước làm mát các thiết bị có lẫn dầu, nước từ các tàu chở dầu,
rò rỉ dầu thô trong quá trình chuyển tải từ dàn khoan sang tàu dầu, từ sự cố tràn dầu
1.3.6 Hoạt động của các công trình thuỷ lợi
- Ảnh hưởng của hệ thống thoát lũ từ sông Cửu Long ra biển Tây: Từ năm 1996-1997 nhà nước đã tiến hành xây dựng các công trình thoát lũ ra biển Tây với mục đích là kiểm soát lũ: làm cho lũ đến muộn hơn, rút sớm hơn, giảm thời gian, chiều sâu ngập lụt ở vùng Đồng Tháp Mười và vùng tứ giác Long Xuyên Công trình này đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho toàn vùng Tây Nam Bộ đó là sử dụng nước sông Hậu giàu phù sa để đẩy nước phèn, cải tạo các cánh đồng chua phèn chưa được khai thác, tạo điều thuận lợi để thu hoạch vụ Hè thu và xuống giống vụ Đông xuân, đảm bảo sản xuất được hai vụ với sản lượng cao Giảm áp lực của lũ lên cơ sở hạ tầng và khu dân cư trong vùng ngập lũ Tuy vậy một số tác động đến môi trường của công trình này cần được quan tâm nghiên cứu Đó là gia tăng lượng vật liệu trầm tích sẽ được lắng đọng ở vùng biển Tây, làm thay đổi địa hình đáy (nông dần) Bồi lắng gây cạn luồng lạch ở các cửa sông, cảng ven biển Đi kèm với nước, phù sa là một lượng không nhỏ chất thải từ các hoạt động nhân sinh vùng thượng nguồn sông Cửu Long, được chuyển tải ra biển Tây gây ONMT biển Hệ sinh thái biển ven bờ sẽ có nhiều thay đổi khi có sự thay đổi các chỉ tiêu ĐHMT
- Ảnh hưởng của các công trình đê, đập ngăn mặn: Trong vùng phát triển khá nhiều đê và đập ngăn mặn (lớn nhất là đập Ba Lai) đưa nước ngọt về vùng ven biển nhằm tăng diện tích trồng lúa Các đập lớn sẽ làm cản trở sự di trú của tôm cá trong thủy vực, giảm nguồn lợi thuỷ sản đồng thời thay đổi chất lượng nước, gây suy thoái rừng ngập mặn và tài nguyên thuỷ sinh ven biển
Trang 35CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Lịch sử nghiên cứu
2.1.1 Trên thế giới và khu vực
Trên thế giới nghiên cứu địa chất môi trường được đẩy mạnh trong những thập kỷ gần đây, khi khai thác và sử dụng lâu bền tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trở thành quốc sách trong chiến lược phát triển bền vững của nhiều nước Kết quả nghiên cứu địa chất-địa hoá môi trường là cơ sở khoa học quan trọng đối với các dự án phát triển kinh tế-xã hội, qui hoạch sử dụng lãnh hải, lãnh thổ
Trong nhiên cứu địa chất môi trường thì địa hoá môi trường giữ vai trò hết sức quan trọng Qua các công trình nghiên cứu địa hoá trầm tích biển của Strakhop H E Raineck [102] cho chúng ta thấy được các quy luật địa hóa trầm tích biển hiện đại, đặc biệt về môi trường thành tạo trầm tích Các vấn đề về ô nhiễm biển, địa hoá và sức khoẻ con người; phương pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm cũng được nhiều nhà khoa học đầu tư nghiên cứu: Chlaral G.R [89], Douglas H.K [91] Ở hầu hết các nước phát triển có biển đều tiến hành nghiên cứu địa hoá môi trường ở biển
và đặc biệt là vùng biển ven bờ nơi được coi là vùng rất nhạy cảm đối với các vấn
đề môi trường Tại vùng này các nước đều thiết lập một hệ thống kiểm soát môi trường với các thiết bị đồng bộ để nghiên cứu môi trường nói chung và trong đó có địa hoá môi trường nước, trầm tích biển Những kết quả đạt được đã tác động tốt đến môi trường biển ven bờ của nhiều nơi, nhiều khu vực (biển Bắc, biển Bantich )
Các nước trong khu vực Đông Nam Á đã phối hợp thực hiện nhiều chương trình hợp tác về điều tra địa chất, môi trường, khí tượng thuỷ văn ở vịnh Thái Lan
và ven biển các nước Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Philipin (trong khuôn khổ hợp tác của tổ chức CCOP) Kết quả bước đầu đã có những đánh giá về hiện trạng địa chất-ĐHMT biển khu vực này Trong đó đặc biệt cần chú ý đến các công trình của các nhà nghiên cứu Nhật Bản về tác động của ô nhiễm kim loại nặng, các chất hóa học đối với sức khỏe con người thông qua thức ăn
2.1.2 Ở Việt Nam
Ở vùng biển nước ta một số vấn đề về địa chất-ĐHMT đã được thực hiện trong các chương trình nghiên cứu môi trường, nghiên cứu biển nói chung Ở miền Bắc và miền Trung các công trình nghiên cứu địa chất-ĐHMT tập trung chủ yếu ở khu vực cửa sông Bạch Đằng, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Khánh Hoà Các năm 1982-1984 Trương Ngọc An, Nguyễn Đức Cự khi nghiên cứu sinh
Trang 36thái các đầm nước lợ Hải Phòng-Quảng Yên đã nghiên cứu đặc điểm địa hóa trầm tích bãi triều và xác định được sự biến đổi đặc điểm địa hóa trầm tích bởi sulfua làm suy thoái môi trường nuôi trồng hải sản
Các năm 1982-1985, Trần Đức Thạnh, Nguyễn Đức Cự trong các công trình nghiên cứu đới ven biển Bắc Việt Nam [66,9,10,12] đã xác định đặc điểm địa hóa trầm tích ven bờ ở một số khu vực: Hoàng Tân, Cát Hải, Đình Vũ, Nhà Mát…
Năm 1991, trong Hội nghị khoa học toàn quốc về biển lần thứ ba đã có nhiều báo cáo đề cập đến các vấn đề về địa chất môi trường nói chung và ĐHMT nói riêng: báo cáo của Nguyễn Hữu Sửu “Một số kết quả nghiên cứu vật chất lơ lửng trong nước biển Việt Nam” đã đưa ra một kết luận có ý nghĩa đối với nghiên cứu ĐHMT “Ở miền Nam vật liệu do hệ thống sông MêKông đưa ra tồn tại ở dạng lở lửng khá lâu, chúng được tải đi khá xa ra ngoài khơi và về phía Nam”
Nguyễn Đình Đàn với đề tài “Đặc điểm phân bố một số nguyên tố địa hóa trong trầm tích tầng mặt thềm lục địa Việt Nam đã thành lập các sơ đồ phân bố SiO2, Al2O3…Các sơ đồ này có ý nghĩa cho việc nghiên cứu đặc điểm ĐHMT trầm tích đáy
Năm 1993, trong luận án của PTS Nguyễn Đức Cự về “Đặc điểm địa hóa trầm tích bãi triều cửa sông ven biển Hải Phòng-Quảng Yên” đã nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm địa hóa trầm tích bãi triều và từ đó đề xuất các biện pháp “khai thác sử dụng trầm tích bãi triều vào khai hoang nông nghiệp, nuôi trồng hải sản, khai thác nguồn lợi hải sản tự nhiên phù hợp với bản chất địa hóa trầm tích vùng nghiên cứu” [9]
Tại Miền Trung các công trình nghiên cứu có liên quan đến ĐHMT tập trung
ở khu vực đầm phá Tam Giang-Cầu Hai (Thừa Thiên-Huế) Đó là nghiên cứu địa hóa trầm tích đáy đầm phá Tam Giang-Cầu Hai của Võ Văn Đại, 1989 [17] Trần Đình Lân và n.n.k đã nghiên cứu môi trường trầm tích hiện đại ở đầm phá [33] Năm 2002 trong luận án tiến sĩ địa chất về “Đặc điểm địa hóa trầm tích và môi trường nước của hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, Thừa Thiên-Huế” [64] Lê Xuân Tài đã xác lập được đặc điểm địa hóa trầm tích đáy, ĐHMT nước của đầm phá ven biển Thừa Thiên-Huế Tài liệu này có ý nghĩa phục vụ cho công tác định hướng khai thác hợp lý tài nguyên biển Thừa Thiên Huế nhằm phát triển bền vững
Năm 2000 trong tuyển tập “Tài nguyên và môi trường biển” do Viện Hải dương học xuất bản đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về các lĩnh vực có liên quan đến ĐHMT biển Nguyễn Đức Cự [12] đã phát thảo những nét sơ lược đặc điểm ĐHMT các vùng cửa sông Việt Nam
Trang 37Lưu Văn Diệu và n.n.k [13] trên cơ sở tài liệu chất lượng môi trường tại các trạm quan trắc môi trường ở biển Việt nam đã đưa ra những nhận xét về xu thế biến động môi trường biển Việt Nam trên cơ sở các chỉ tiêu như nhiệt độ nước biển, hàm lượng chất lơ lửng, các chất hữu cơ và kim loại nặng…trong nước biển Việt Nam
2.1.3 Vùng ven biển và biển ven bờ Rạch Giá-Vũng Tàu
2.1.3.1 Giai đoạn trước năm 1975
a/ Những nghiên cứu đất liền ven biển
- Từ năm 1913 đến 1937 trong khuôn khổ các nghiên cứu địa chất ở Đông Dương nhiều nhà địa chất Pháp đã đưa ra được những đánh giá cơ bản ban đầu về địa chất, cấu trúc địa chất khu vực Nam Bộ nói chung
- Từ 1957 đến 1971 ở đồng bằng Nam Bộ có các công trình nghiên cứu về địa chất, trầm tích của E Saurin, Trần Kim Thạch, Nguyễn Thị Phương (1966), H Fontaine (1971), Hoàng Thị Thân (1971)
- Năm 1957 E Saurin công bố kết quả nghiên cứu các thành tạo trẻ dọc biển Việt Nam Ông đã sơ bộ xác định lịch sử hình thành châu thổ sông Cửu Long (được tạo nên trên một bồn trũng Mesozoi bị sụt lún trong Neogen và chịu tác động của các chu kỳ biển tiến, biển thoái…)
- Năm 1970 E Saurin cho rằng ranh giới địa phương hoặc khu vực giữa các thành tạo Pleistocen và Holocen được xác định bởi ranh giới giữa “phù sa cổ” và phù sa trẻ
b/ Những nghiên cứu ở vùng biển nông ven bờ
- Từ cuối thế kỷ 19 đã có một số tàu nước ngoài lấy mẫu trầm tích đáy vùng biển Việt Nam Năm 1939 một số tàu hải quân Pháp và tàu Delanessan, nghiên cứu
và điều tra định kỳ trên 572 trạm ở thềm lục địa Trong đó có tiến hành lấy mẫu trầm tích tầng mặt tại khu vực
- Năm 1945 với việc lập bản đồ trầm tích đáy biển vùng biển Tây Thái Bình Dương, trong đó có vùng biển RG - VT Shepard đã có những đánh giá khái quát về đặc điểm phân bố trầm tích tầng mặt, các điểm lộ đá gốc có tuổi trước Đệ tứ
- Năm 1956 E Saurin phát hiện các thành tạo laterit ở vùng biển Cà Mau
- Thời kỳ 1950-1961 chương trình nghiên cứu “NAGA” điều tra biển Đông của viện Hải Dương Học ZCRIPP-Calfocnia Mỹ kết hợp cùng Thái Lan đem lại nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị
- Cuối năm 1960 đầu năm 1970, các công trình tìm kiếm dầu khí trên thềm lục địa phía Nam được tiến hành Qua các mặt cắt địa chấn sâu đã xác định một loạt bồn trũng Kainozoi và bản chất cấu tạo biển nông
Trang 38Như vậy với các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, thấy rằng đây là những công trình nghiên cứu ban đầu về địa chất, cấu trúc kiến tạo, đặc điểm trầm tích tầng mặt và hoàn toàn chưa có công trình nào đề cập đến lĩnh vực ĐHMT vùng biển
RG - VT
2.1.3.2 Giai đoạn sau năm 1975
a/ Những nghiên cứu ở đất liền ven biển
Trong những năm đầu thập kỷ 80 trầm tích châu thổ bắt đầu được nghiên cứu (Vesliscov, 1980; Hoàng Ngọc Kỷ, 1980)
- Đề tài 46-06-06 “Điều tra địa chất và khoáng sản rắn ven biển Việt Nam”
do tiến sỹ khoa học Nguyễn Biểu và n.n.k nghiên cứu, tổng hợp (1983-1985)
- Địa mạo và các quá trình ven biển, đường bờ biển cổ được nhiều nhà địa chất quan tâm nghiên cứu (Đỗ Tuyết, 1985; Lưu Tỳ và nnk, 1983)
- Bản đồ địa chất Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do Nguyễn Đức Tâm chủ biên (1995) Tác giả đã nghiên cứu và phân chia khá chi tiết các phân vị địa tầng ở phần đồng bằng ven biển Nam Bộ
- Năm 1985 trong chương trình nghiên cứu 48.06 do Giáo sư, Tiến sỹ Đặng Ngọc Thanh (Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia) chủ trì có 4 đề tài về cấu trúc địa chất, khoáng sản ven biển được hoàn thành
- Đến năm 1986 Phạm Văn Thơm nghiên cứu đá gốc có tuổi trước Đệ Tứ trên thềm lục địa phía Nam
- 1980-1991 nhóm tờ đồng bằng Nam Bộ do Hoàng Ngọc Kỷ, Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên tờ Gia Ray-Bà Rịa do Nguyễn Đức Thắng chủ biên đã được đo vẽ và hoàn thành [68]
- Các năm (1992-1993) bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:200.000, nhóm tờ:
Hà Tiên-Phú Quốc, An Biên-Sóc Trăng, Cà Mau-Bạc Liêu, Trà Vinh-Côn Đảo, Mỹ Tho, Gia Ray-Bà Rịa đã được tập thể tác giả Nguyễn Xuân Bao, Nguyễn Ngọc Hoa và nnk biên tập, hiệu đính và được Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản các năm 1996, 1999
Năm 1992 trong nghiên cứu địa chất thuỷ văn và địa chất công trình nhóm tờ đồng bằng Nam Bộ tỷ lệ 1/200.000 [18] của Liên đoàn Địa chất Thuỷ văn-Địa chất Công trình Miền Nam đã đề cập đến chất lượng nước ngầm, mức độ nhiễm mặn các khu vực ven biển Hà Tiên-Vũng Tàu
Trong những năm 90 hàng loạt báo cáo điều tra địa chất đô thị: Cà Mau (1994), Rạch Giá (1997)…do Đỗ Tiến Hùng [29], Lương Quang Luân [34] và nnk
Trang 39thực hiện Kết quả nghiên cứu của các công trình này đã xác định được các biểu hiện ô nhiễm, tai biến địa chất ở các đô thị ven biển
Ngoài các công trình nói trên còn có hàng loạt các công trình mang tính chuyên đề, chuyên sâu về địa chất, trầm tích, địa chất công trình của các tác giả Nguyễn Định Dỹ và n.n.k, 1995, báo cáo kết quả đề tài “Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan” ; Ngô Quang Toàn và n.n.k, 1999, “Báo cáo thuyết minh bản đồ vỏ phong hóa và trầm tích Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1/1000.000”
Đặc biệt từ 1994-1995 trở lại đây Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường các tỉnh ven biển đều tiến hành lập báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm Nội dung các báo cáo phản ánh khá đầy đủ hiện trạng môi trường từng địa phương bao gồm
cả vùng cửa sông, ven biển, các sự cố môi trường, mức độ ô nhiễm nước sông, biển [57-60]
Như vậy hầu hết các công trình nghiên cứu ở dải đất liền ven biển RG - VT tập trung chủ yếu về các vấn đề địa chất, cấu trúc địa chất, đặc điểm trầm tích Đệ tứ…Mặc dù không có công trình nào liên quan trực tiếp đến lĩnh vực ĐHMT nhưng đây là nguồn tài liệu có giá trị trong quá trình luận giải đặc điểm ĐHMT vùng biển nông ven bờ
b/ Những nghiên cứu ở vùng biển nông ven bờ
Nằm trong tình trạng chung của toàn vùng biển Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu lớn chưa đề cập đến lĩnh vực ĐHMT mà tập trung chủ yếu vào các vấn đề về địa tầng, cấu trúc địa chất, trầm tích tầng mặt…Trong đó phải kể đến các chương trình quốc gia về nghiên cứu biển
- Từ năm 1975-1980 chương trình điều tra vùng biển Minh Hải-Thuận Hải
đã được thực hiện nhờ tàu “Biển Đông” và NCB03 tại 352 trạm khảo sát ở độ sâu 14-125m Đặc điểm địa mạo, trầm tích tầng mặt và các cấu trúc sâu đáy biển được nghiên cứu ở mức khái quát Địa tầng các bồn Kainozoi đã được nghiên cứu và phân chia một cách khá chi tiết (Lê Văn Cự và nnk, 1980)
- Các chương trình nghiên cứu biển 48.06 (1981-1985), 48B (1986-1990) do Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Ngọc Thanh chủ trì đã điều tra tổng hợp vùng biển và thềm lục địa Việt Nam Đã có những đề xuất về phương hướng biện pháp sử dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên biển…
- Các năm 1991-1995 chương trình nghiên cứu biển KT03-02 được thực hiện Trong đó đề tài “Địa chất, địa động lực và tiềm năng khoáng sản vùng biển Việt Nam” do Bùi Công Quế chủ biên Báo cáo đã nêu được những cấu trúc địa
Trang 40chất chính của phần móng cũng như hệ thống đứt gẫy chính của thềm lục địa Việt Nam; đã làm sáng tỏ địa tầng Đệ tam của đá móng trước Kainozoi
Ngoài ra, còn có khá nhiều các chương trình hợp tác quốc tế nghiên cứu tổng hợp biển Việt Nam được tiến hành trên các tàu nghiên cứu biển: Tàu Berill (1988), tàu Nexmcianov (1982-1987), tàu Lavrentyev(1987-1988), tàu Vucakolog…
Trong thời gian này cũng đã có khá nhiều chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu như “Cấu trúc địa chất các bể trầm tích Kainozoi ven biển Việt Nam” tỷ lệ 1/100.000 của Nguyễn Giao, “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên chính trên biển tới quá trình hình thành và phân bố trầm tích hiện đại ở phía ngoài hệ thống sông Cửu Long, thềm lục địa Việt Nam” do Nguyễn Văn Nhân và n.n.k thực hiện 1998, và nhiều công trình nghiên cứu về trầm tích Đệ tứ của Nguyễn Địch Dỹ [15]…
Từ đầu những năm 90 trở lại đây, tại các hội nghị khoa học toàn Quốc về biển (lần thứ 3 năm 1991, lần thứ tư năm 1999) và một số hội nghị khoa học đã có nhiều báo cáo đề cập đến các vấn đề địa chất môi trường ven bờ, vùng cửa sông, các bãi triều, vùng bờ bị xói lở và bồi tụ Một số tác giả đề cập đến động lực dòng chảy vùng thềm lục địa Việt Nam; động lực các cửa sông; nghiên cứu chế độ thuỷ triều, chế độ nước vùng đồng bằng sông Cửu Long Có những báo cáo khái quát đặc điểm phân bố trầm tích tầng mặt và địa hình đáy biển…
Năm 1998 trong hội nghị môi trường toàn quốc đã công bố một số công trình nghiên cứu về môi trường, ĐHMT có liên quan đến vùng biển ven bờ RG - VT: đó
là kết quả của đề án EU- INCO Cửu Long [31] đã đánh giá nguồn gây ô nhiễm, mức độ và quá trình gây ô nhiễm của các chất hữu cơ, vô cơ chủ yếu
Trên cơ sở số liệu của các trạm quan trắc biển từ Phú Yên đến Rạch Giá, Võ Văn Lành [31] đã cho rằng đã có biểu hiện ô nhiễm nước biển ở Nam Việt Nam Mức độ nhiễm bẩn nước biển ở khu vực cửa sông Cửu Long, Vũng Tàu cao hơn các khu vực khác…
Cũng từ năm 1991 Trung tâm Địa chất Khoáng sản biển (nay là Liên đoàn Địa chất biển) bắt đầu thực hiện đề án “Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển nông ven bờ Việt Nam (0-30m nước) tỉ lệ 1/500.000” do TS KH Nguyễn Biểu làm chủ nhiệm Đây là một đề án có qui mô lớn bao gồm nhiều lĩnh vực có liên quan đến địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường, địa chất tai biến…Hệ phương pháp nghiên cứu được thực hiện có bài bản, đúng qui phạm và nguồn tài liệu, mẫu vật, thu thập rất phong phú Đề án đã được tổng kết năm 2001 với kết quả chính là thành lập được bộ bản đồ tỷ lệ 1/ 500.000 trên toàn đới biển ven bờ Việt