Điều kiện thi cơng Sự cố xảy ra trong thi công phần ngầm của các công trình xây dựng trong thời gian gần đây có nhiều nguyên nhân, từ việc không tuân thủ các quy định của Nhà nước, năng
Trang 1VỀ NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC “SỰ CỐ” KHI THI CÔNG PHẦN NGẦM TRONG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
THE PROBLEMS OF ACCIDENT IN BASEMENT FOUNDATION
NGUYỄN VĂN CÔNG
Tổng Giám đốc Công ty CP TV Công nghệ, Thiết bị và Kiểm định xây dựng-CONINCO
TÓM TẮT:
Trong thời gian gần đây tại các thành phố lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, trong quá trình xây dựng phần ngầm của các công trình đã liên tiếp xảy ra các sự cố Có thể chủ quan cho rằng chúng ta vẫn đang xây dựng các công trình dựa trên kinh nghiệm mà chưa có được sự tổng kết lại một cách có hệ thống trên cơ sở các phân tích có tính khoa học và thực tiễn, để từ đó đưa ra được các quy trình, quy phạm chung Bài viết này đưa ra các vấn đề để cùng phân tích, trao đổi, và đề xuất các biện pháp tích cực nhằm hạn chế được các sự cố Mong muốn của chúng tôi là chúng ta sẽ cùng bàn bạc và thống nhất được với nhau trong các nội dung để từ đó xây dựng được bộ quy phạm nhằm áp dụng thống nhất chung cho các công trình xây dựng tại Việt Nam
ABSTRACT:
There are many accident occurred in basement foundation construction process in Hanoi and Ho Chi Minh city The reason maybe is that we have been working base
on our expericence but not on the right process and norm This document present the problems to analysis, discuss and propose the positive solutions in order to reduce the accident The aim of this study is discussing and accepting in issue together to complete the standard and norm for application on construction project
I MỞ ĐẦU
Theo Luật Xây dựng (2003): Sự cố công trình
xây dựng là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn
cho phép, làm cho công trình xây dựng có nguy cơ sập
đổ; đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ công trình hoặc
công trình không sử dụng được theo thiết kế
Bài viết này đề cập đến các vấn đề liên quan đến
phần ngầm của các công trình xây dựng, có sự cố (Theo
Luật Xây dựng) và ‚không có‛ sự cố Các hình ảnh trong
bài được chụp từ các công trình có sự tham gia của
CONINCO, ảnh chỉ có ý nghĩa giới thiệu và minh họa
TVGS: Trung tâm Hội nghị Quốc gia (NCC)
Trang 2Đơn giản? Phức tạp? Đơn giản?
Điều kiện thi cơng
Sự cố xảy ra trong thi công phần ngầm của các công trình xây dựng trong thời gian gần đây có nhiều nguyên nhân, từ việc không tuân thủ các quy định của Nhà nước, năng lực hành nghề không đáp ứng được với yêu cầu, tới việc không tuân thủ các quy định kỹ thuật như: khảo sát không đầy đủ, đánh giá thiếu chính xác về điều kiện địa chất, chỉ tính toán kết cấu móng mà ‚quên‛ tính đối với kết cấu nền đất; hay việc phần lớn các công trình đều bị ép tiến độ nên dẫn đến các bên phải vi phạm các quy trình kỹ thuật, và ép về kinh tế để các bên phải sử dụng những số liệu tính toán, chủng loại vật liệu, trang thiết bị không như mong muốn dẫn đến làm tăng và tích tụ các rủi ro xấu, chỉ chờ thời điểm thích hợp sẽ bùng phát
Tất cả các nguyên nhân nêu trên đã được xác định là thủ phạm gây ra sự cố song chúng ta cần nhìn nhận đằng sau các sự cố, nguyên nhân đó là gì, là đều do con người tạo ra, tất nhiên không thể không kể đến yếu tố tự nhiên mà con người không thể lường hết được Mỗi cá nhân, doanh nghiệp đều xác định rõ ràng để ngăn ngừa và hạn chế được rủi ro xấu thì phải phòng ngừa là chính, bài viết này xin nêu một số tồn tại, ý kiến đề xuất và coi đây chính là các giải pháp phòng ngừa và để thực thi
TVGS: VINCOM Khu B (Tp.HCM)
với 6 tầng hầm
6 tầng hầm-Cọc barrette
Trang 3Chứng nhận chất lượng:
TT.Điều hành và thông tin viễn
thông điện lực Việt Nam (EVN)
TVGS phần ngầm:
Keangnam (70 tầng)
II VỀ GIẢI PHÁP, QUY TRÌNH THIẾT KẾ, THI CÔNG PHẦN NGẦM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
Theo Nghị định số 41/2007/NĐ-CP ngày 22/3/2007 của Chính phủ về Xây dựng ngầm đô
thị: "Phần ngầm của các công trình xây dựng" bao gồm tầng hầm (nếu có) và các bộ phận của công trình xây dựng nằm dưới mặt đất
Hiện nay phần lớn các công trình có từ 2 tầng hầm trở lên đều được thiết kế và thi công theo giải pháp: Tường vây, có/không có kết cấu neo trong đất, cọc khoan nhồi, cọc barrette, có/không có xử lý gia cường mũi cọc và thân cọc, cọc BTCT đúc sẵn và thi công theo công nghệ top-down, bán top-down, và để thi công được thì cũng phải có thêm hệ cừ larsen, hệ cừ này có thể phải chống làm 2, 3 lớp với các chiều sâu cừ khác nhau, có trường hợp sử dụng cọc xi măng đất; có không nhiều các công trình được thi công theo phương pháp đào mở kết hợp hệ chống
Trong giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công, để đảm bảo tính khả thi về kỹ thuật và kinh tế, nhà thầu thiết kế đã đưa ra được giải pháp chính cho thi công, tuy nhiên thường chỉ có tính định hướng sơ bộ, nhà thầu thi công phải lập biện pháp thi công (điều này cũng theo đúng với quy định của Nhà nước) để đấu thầu hay chỉ định thầu Nhưng việc lập này thường mang tính ‘đối phó’
nhiều hơn, và dự báo về giá trị kinh tế nhiều hơn là tính kỹ
thuật Trong thiết kế thì hầu hết đều bỏ ngỏ các chi tiết cấu
tạo quan trọng của hệ tường vây, các chi tiết này sẽ do nhà
thầu thi công lập trong biện pháp thi công
Chỉ sau khi được chọn, nhà thầu thi công mới thực sự
lập biện pháp thi công, lúc này thì phần lớn nhà thầu thi công
đều thuê một đơn vị tư vấn để lập, hoặc nhà thầu thi công lập
và tự thuê đơn vị tư vấn để thẩm tra lại Lúc này bắt đầu ‘phát
sinh’: Thay đổi giải pháp thi công, thay đổi giải pháp thiết kế
công trình, có những công trình nhà thầu thi công phải thuê 2,
3 đơn vị tư vấn để thiết kế biện pháp thi công, rồi thuê tư vấn
thẩm tra hay phản biện, chưa kể cần thêm các chuyên gia
Liên quan đến thiết kế và thẩm tra bản vẽ thi công hay biện pháp thi công thì hiện nay chúng
ta chưa có đơn giá này, mọi việc do các bên tự thỏa thuận là chính Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do các bên liên quan (nhà quản lý, tư vấn, thi công,…) đã không đánh giá đúng tầm quan trọng của cả bản vẽ thi công lẫn biện pháp thi công, còn chưa chú trọng đến khảo sát các điều kiện cụ thể tại vị trí xây dựng công trình, thời gian cho lập hồ sơ dự thầu
Trang 4TVGS: Cáp treo VinpearlLand (Hình ảnh thi công cọc)
TV QLDA: Trung tâm đào tạo-Trường ĐH Kinh tế quốc dân
TV QLDA: Trung tâm đào tạo-Trường ĐH Kinh tế quốc dân
không đủ để nhà thầu thi công có thể thực hiện hoàn chỉnh thiết kế biện pháp thi công Và đến đây cũng chỉ là khả thi trên hồ sơ mà thôi
Với tiến độ của các công trình thì mọi việc
làm ở trên phải diễn ra trong thời gian rất ngắn,
thêm rủi ro do điều kiện thực tế (dưới đất?) thì đều
dẫn đến tình thế vừa làm vừa sửa hồ sơ và sửa trực
tiếp biện pháp thi công Các việc điều chỉnh, thay
đổi… nhằm đảm bảo an toàn cho công trình và công
trình liền kề cũng thường là cấp bách, không thể
chờ theo đúng quy trình thực hiện thông thường
được, chưa kể việc chúng ta vẫn quan niệm phòng
ngừa là chính nên đôi khi xảy ra việc các bên nghi
ngờ nhau (phòng ngừa quá đáng, trên mức cần thiết nhằm trục lợi?), đó phải chăng là những nguyên nhân chính gây ra các sự cố đáng tiếc trong thời gian gần đây
Một thực tế nữa là nhân sự và thiết bị của nhà thầu thi công nhiều khi không đúng, không khớp với hồ sơ dự thầu cũng như biện pháp thi công đã duyệt, nếu như vậy cộng thêm với tiến độ gấp thì các bên đều phải nhắm mắt mà
làm Vậy là vấn đề pháp lý của hồ sơ đã không được
coi trọng Làm đúng quy trình được duyệt vẫn có thể
gặp sự cố, nên việc làm không đúng quy trình còn
gây tác hại nhiều hơn Trong quá trình thi công phần
ngầm, các nhà thầu có kinh nghiệm, các bên liên
quan đều tuân thủ đúng quy định, quy trình, nhưng
vẫn khó tránh khỏi các sự cố làm ảnh hưởng đến
công trình và công trình liền kề Vì vậy rất cần thiết
phải có những quy định kỹ thuật, quy trình, chỉ dẫn
mang tính pháp quy Trước kia, chúng ta chọn nhà
thầu theo giá, bây giờ đã phải chuyển sang kỹ thuật,
vậy đối với phần ngầm các công trình thì chúng ta cũng phải đặt yếu tố kỹ thuật trên yếu tố giá tiền
Cũng cần phải nói đến mô hình doanh nghiệp,
các bên tham gia dự án có khi thuộc cùng một tập
đoàn, tổng công ty hay có cổ phần lẫn nhau cũng là
một vấn đề phải xem xét, thực tế là rất khó để làm
việc
Về yếu tố tiêu chuẩn kỹ thuật: Hiện nay, Việt
Nam có tiêu chuẩn về thi công, nghiệm thu cọc khoan
nhồi, trong đó cọc barrette cũng được định nghĩa thuộc
cọc khoan nhồi, nên chăng cần xem xét để có quy
Trang 5TVGS: Thủy điện Ngòi Phát
TVGS: Trụ sở VINACONEX
định, tiêu chuẩn riêng cho cọc barrette Đối với kết cấu tường vây thì chúng ta chưa có quy định cụ thể nên trong thực tế các nhà thầu tư vấn và thi công có khi hiểu về tường vây với ý nghĩa, chức năng khác nhau, dẫn đến việc quản lý chất lượng, nghiệm thu tường vây với các tiêu chí khác nhau, ví dụ về mức độ làm sạch của cọc khác với tường vây, thường tường vây sẽ không sạch bằng cọc, cũng như không có các biện pháp bắt buộc để kiểm tra chất lượng tường vây như đối với cọc như kiểm tra về siêu âm,… và dẫn đến chất lượng tường vây sụt giảm, gây sự cố ‚không ngờ‛
Trong thi công phần ngầm, yếu tố có ảnh
hưởng quan trọng nhất là nước ngầm và nước mặt
(mọi việc đều do ‘mất nước’ mà ra) Nước mặt thì coi
như không được tính đến Khi thiết kế thì đều có tính
đến việc phải hạ mực nước ngầm nhưng không một ai
quả quyết tính khả thi của biện pháp vì không đủ cơ
sở số liệu, nên hầu hết các công trình đều không thực
hiện hạ mực nước ngầm dù đã có tính toán, hoặc tự
xử lý bơm hút khi thấy có nước Tường vây cũng cần
hạ xuống ở độ sâu đủ để chặn nước ngầm nhưng như
thế cũng rất tốn kém nên không áp dụng
Yếu tố ảnh hưởng chất lượng phần ngầm công trình còn là thiết bị và công nghệ thi công, nhưng đây đang là điểm yếu của hầu hết các nhà thầu trong nước, thường là tự chế, tận dụng lại, đã sử dụng lâu năm và đặc biệt là không đồng bộ, một hạng mục thi công có khi phải thuê, mượn nhiều loại thiết bị khác nhau do nhà thầu không có, và việc phải tạm dừng trong khi thi công cũng là bình thường Cũng ảnh hưởng không kém là kinh nghiệm cán bộ của nhà thầu, người này có thể có nhiều kinh nghiệm nhưng nếu gặp điều kiện địa chất khác với những lần đã thi công trước đó thì sẽ gặp trở ngại
Một vấn đề cũng cần đặt ra là ý thức của công nhân,
cán bộ trong các nhà thầu thi công đối với thương
hiệu là không có Trong một số trường hợp thì kết
cấu phần ngầm thường là chịu lực chính và không thể
thay thế nhưng nhà thầu thi công không ý thức được
vấn đề này, dẫn đến rủi ro ‚đáng tiếc‛
Để ngăn chặn và hạn chế thấp nhất các rủi ro
xấu trong thiết kế và thi công phần ngầm các công
trình thì rất cần Nhà nước, cơ quan ban hành các quy
chuẩn, tiêu chuẩn, chính sách bổ sung quy định về
bắt buộc phải kiểm định chất lượng công trình ngay
khi thi công xong cấu kiện, ví dụ: khi làm xong mỗi tường vây hay cọc thì thực hiện kiểm định ngay trước khi làm tiếp, tránh việc hoàn thành xong toàn bộ tường vây hay cọc mới bắt đầu làm kiểm định Việc này sẽ tránh được sai sót hàng loạt, rút kinh nghiệm kịp thời để điều
Trang 6Khảo sát “sự cố”
Khảo sát “sự cố”
TVGS: Trung tâm Hội nghị quốc gia (NCC)
chỉnh thiết kế và công nghệ thi công Nếu làm tốt việc này sẽ là một trong những giải pháp hữu hiệu trong giảm thiểu các sự cố công trình
Trên đây mới đề cập đến các vấn đề kỹ thuật, còn vấn đề rất quan trọng và gây bức xúc là quan hệ dân sự, đó là khi xảy ra sự cố làm ảnh hưởng đến các lợi ích xung quanh công trình Theo quy định và cũng để tránh rắc rối, thông thường nhà thầu thực hiện khảo sát các công trình liền kề với đại diện chính quyền, người dân; các bên cũng chủ động thuê các nhà thầu để kiểm định, quan trắc, thiết kế gia cố… Dù nhiều nơi chủ đầu tư, nhà thầu thi công hay gọi chung là bên thuê đã thuê những đơn vị có tiếng để khảo sát và cả kiểm định trước khi thi công xây dựng nhưng thực sự thì hiệu quả của việc làm này là không nhiều, các bên liên quan vẫn phải họp nhiều lần, giải thích cho dân nhiều lần mà vẫn không thỏa mãn Một số chủ đầu tư hay nhà thầu thi công đã thực hiện giải pháp:
Trước khi thi công, nhà thầu thi công đã mua hay ký hợp
đồng thuê nhà đối với một số hay toàn bộ các công trình
liền kề, khi có vấn đề thì nhà thầu thi công sẽ chủ động
tự sửa chữa hay xây mới, hoàn trả lại đảm bảo sử dụng,
khi công trình làm xong thì cũng là lúc hết hạn hợp đồng
thuê nhà , giải pháp này nghe hay nhưng chắc không
phải ai và ở đâu cũng áp dụng được Có chủ đầu tư, nhà
thầu thực hiện giải pháp mua bảo hiểm và những tưởng
sẽ giảm thiểu được rủi ro xấu nhưng có khi lại thành mấât
tiền cho công ty bảo hiểm
Vì vậy, chúng ta cũng nên xem xét để thay đổi lại các điều luật liên quan đến quan hệ dân sự để làm lành mạnh quan hệ ứng xử giữa một bên là
công trình, bên kia là các đối tượng ở xung quanh công
trình Công trình có thành công thì tất cả các bên, mọi
người dân đều được hưởng lợi
III TÓM TẮT VỀ MỘT SỐ “SỰ CỐ”:
Trang 7Gia cường bằng bơm vữa
xi măng (Keangnam-70 tầng)
Nứt mặt đường và…
1 Thiết kế modul tường vây, các chi tiết cấu tạo không thông dụng, không hợp lý, khi thi công phải thiết kế lại modul và các cấu tạo
2 Thiết kế biện pháp thi công không chi tiết, khi thi công phát sinh nhiều, ví dụ: Không thể đào dật cấp như đã lập nên phải sử dụng cọc xi măng đất và cọc khoan nhồi để giữ ổn định, phải xử lý lỗ kỹ thuật ở vách cho thanh chống đi qua
3 Tư vấn thiết kế không lường hết được mức độ phức tạp, cộng thêm sự thay đổi chính sách nên sau khi đã được phê duyệt thì vẫn phải thiết kế lại phần ngầm cho phù hợp với biện pháp thi công mới
4 Dù đã thuê tư vấn thiết kế biện pháp thi công, nhưng khi nghiên cứu các điều kiện thực tế
đã phải thuê đơn vị tư vấn khác thiết kế và đề xuất phương án mới
5 Khi thi công tầng hầm do phải liên tục hút nước, nước ngầm lại quá nhiều, làm lún nứt công trình lân cận
6 Khi ép tường cừ gặp phải các lớp cát kẹp, dị vật, phải
rút cừ, đào để xử lýrồi ép lại
7 Khi đào đất cừ bị nghiêng, đổ, phải chống thêm cừ,
chống vào cọc khoan nhồi
8 ‚Tranh chấp‛ giữa các bên về kiểm tra chất lượng
tường vây, coi tường vây nhưng cọc khoan nhồi hay khác
với cọc khoai nhồi trong việc kiểm tra chất lượng,
nghiệm thu
9 Để tránh ảnh hưởng đến công trình liền kề, phải thiết
kế hệ chống và đào kiểu thủ công, moi đất từng cm, tiến
độ rất chậm nhưng ‚an toàn tuyệt đối‛
10 Đối với công trình có trên 3 tầng hầm hoặc 2 tầng hầm nhưng chiều cao tầng lớn, thi công top-down thì khi thiết kế thường đặt thép ở các vị trí có mức độ an toàn như nhau, sau khi thẩm tra thấy cần phải điều chỉnh cho phù hợp với quy
trình thi công
11 Hiện nay, phần lớn các công trình được thiết kế, thẩm
tra, thi công phần ngầm trước nên dù đã có độ an toàn cao
hơn bình thường nhưng có khi vẫn gây ‚sự cố‛ bởi phần
thân công trình chưa được thiết kế xong, dẫn đến có công
trình phải ‚thiết kế gia cường‛ ở phần ngầm; hoặc thay đổi
giải pháp phần thân nên phải kiểm tra lại toàn bộ phần
ngầm
12 Một số cột được thiết kế nằm trên cọc barrette được
kết hợp là tường vây, việc tính toán và cấu tạo không thỏa
mãn như mong muốn nên phải bổ sung thêm cọc khoan nhồi và đài cọc cùng kết hợp với cọc barrette là tường vây để chịu lực
13 Khảo sát hiện trạng công trình liền kề không được thực hiện khi lập hồ sơ thiết kế, chỉ khi thi công mới khảo sát và phát hiện thấy quá mất an toàn, dẫn đến phải thiết kế lại, thuê nhà thầu khảo sát, kiểm định, thiết kế gia cố, mua bảo hiểm,… tất cả làm phát sinh khối lượng và chậm tiến độ
Trang 8TVGS: Hanoi Plaza Hotel
TVGS: Hanoi Plaza Hotel
TVGS: Khu nhà của Huyndai RNC
14 Với 3 tầng hầm: Thi công đào đất xuống ngay tầng hầm 2 thì tường vây bị chuyển vị quá lớn, phải thay đổi biện pháp thi công, thi công sàn hầm 2, 1 làm hệ văng chống trước khi thi công đào đất tầng hầm 3 Công trình thi công tuần tự hầm 1, 2, 3 sẽ mất nhiều thời gian hơn
15 Tường vây bị sạt lở, phải làm coppha cho tường, khi thi công đổ bê tông phải lấp đất đồng thời tại vị trí sạt lở để ổn định tấm tường Có trường hợp bị sạt lở lớn sau khi đã hạ lồng cốt thép
16 Neo trong đất: Việc thi công và kiểm tra sức chịu tải
của neo cần nghiên cứu thử nghiệm trong điều kiện Việt
Nam
17 Tình trạng vừa thi công vừa gia cố đối với hệ thanh
chống giữ ổn định thành hố đào hay giữ ổn định tường
vây… là rất phổ biến Hay nhà thầu thi công phải đổi máy
thi công do việc thuê máy của các đơn vị khác
18 Có trường hợp một nhà thầu làm tất cả: Thi công cọc;
kiểm tra siêu âm; khoan, làm sạch và thực hiện gia
cường mũi và thân cọc
19 Kết cấu cọc theo TCVN thường mác bê tông (cũ) cần 300 là đủ, nhưng với thiết kế nước ngoài hay nhà thầu, chủ đầu tư nước ngoài thì có thể mác bê tông cọc phải là 400, 500
20 Khi đổ bê tông bị tắc ống đổ, phải dùng hệ thống ống thổi rửa với áp lực cao để đưa toàn bộ bê tông đã đổ ra ngoài, sau đó đổ bê tông lại
21 Khi đổ bê tông bị tắc ống đổ, nhà thầu rút ống đổ ra, sau đó đổ bê tông tiếp Sau khi thi công xong sẽ khoan vào thân cọc đến vị trí sự cố, làm sạch bằng nước áp lực cao rồi tiến hành bơm vữa xi măng
22 Khi khoan cọc bị đứt ống khoan, mũi khoan và ống khoan nằm trong lỗ, hoặc phải làm mới cọc khác hoặc dùng thiết bị chuyên dùng để lấy lên
v.v…
IV MỘT SỐ Ý KIẾN:
1 Nhà thầu khảo sát:
Các vấn đề đặt ra:
Giai đoạn khảo sát: Ít được các bên quan tâm
Làm theo nhiệm vụ do chủ đầu tư hay tư vấn
thiết kế lập mà ít có tư vấn thêm
Chỉ có thể khảo sát ‚cục bộ‛ vị trí xây dựng
công trình, trong khi ảnh hưởng là các vùng xung
quanh
Thời điểm khảo sát công trình lân cận: Lúc
nào là hợp lý
Không thể khảo sát (ví dụ: móng) của các
công trình lân cận
Trang thiết bị chưa đáp ứng được với đòi
hỏi
Trang 9TV QLDA: TT.Thể thao Ba Đình
TVGS: VINCOM 1-Hà Nội
Vai trò của kỹ sư tư vấn giám sát khảo sát: Chưa có nhiều tác dụng
Đề xuất để xem xét:
Quy định cụ thể hay có hướng dẫn vì chỉ quy định chung chung là ‚khảo sát phải làm rõ các bất thường về điều kiện địa chất…‛ (NĐ 41/2007/NĐ-CP) thì khó áp dụng
Quy định thời điểm khảo sát công trình lân cận: Trong giai đoạn lập hồ sơ thiết kế hay ở giai đoạn thi công hay giai đoạn nào…
Cơ quan quản lý hồ sơ hoàn công các công trình cần cung cấp cho chủ đầu tư các thông tin về công trình lân cận
Nhà thầu khảo sát phải có các thiết bị dò với độ sâu nhất định
2 Nhà thầu tư vấn thiết kế:
Các vấn đề đặt ra:
Cần ‚đề xuất nhiệm vụ của công tác quan trắc địa kỹ thuật‛ (NĐ 41/2007/NĐ-CP), vậy cần duyệt bao nhiêu là đủ?
Chưa thống nhất về nội dung của hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và biện pháp thi công
Nhà thầu và cá nhân người thiết kế còn ít kinh
nghiệm
Kỹ sư thiết kế kết cấu phần ngầm: Không và
chưa chuyên, thường là ‘kỹ sư kết cấu’ mà không phải
‘kỹ sư nền’, ‘kỹ sư móng’, thiếu kỹ sư tính toán về nền
đất (hạ mực nước ngầm, lún bề mặt)…
Chế độ giám sát tác giả: Thi công thường vào
buổi tối nên khó xử lý và xin ý kiến tư vấn thiết kế khi
cần
Nhà thầu nước ngoài: Nếu chọn đúng thì nhà thầu có nhiều kinh nghiệm, dù chưa là
kinh nghiệm tại Việt Nam nhưng cũng đủ để phòng tránh rủi ro xấu
Đề xuất để xem xét:
Quan trắc địa kỹ thuật cần có khối lượng cụ thể
và bắt buộc
Cần quy định chi tiết về nội dung của thiết kế:
Bản vẽ thi công, Biện pháp thi công (Tiêu chuẩn có đề
cập nhưng đôi chỗ không còn phù hợp, các quy định thì
chung chung)
Kiểm tra chứng chỉ thiết kế về phần ngầm
Nhà thầu nước ngoài có được thiết kế phần
ngầm không? Giám sát tác giả thế nào?
Trang 10TVGS: VINCOM 2-Hà Nội
TVGS: TT.TM
Q.Tế Hàng hải
TVGS: TT.TM Q.Tế Hàng hải
3 Nhà thầu tư vấn thẩm tra thiết kế, Nhà thầu tư vấn thẩm tra biện pháp thi công:
Các vấn đề đặt ra:
Thẩm tra thiết kế: Chỉ thực hiện thẩm tra bản vẽ thi công (trong đó có thể đã có cả biện pháp thi công) mà không phải thẩm tra biện pháp thi công (hiện nay vẫn nhiều bên không hiểu đúng vấn đề này)
Thẩm tra biện pháp thi công: Cũng chỉ thẩm tra kết cấu chính, ít và không tính các ảnh hưởng đến xung quanh, thường chỉ nhận xét chung
chung (do thiết kế biện pháp thi công cũng không đề cập
và thiếu thông tin)
Đơn giá cho thẩm tra không rõ ràng, không có
Đề xuất để xem xét:
Quy định các nội dung thẩm tra
Bên thẩm tra biện pháp thi công có cần phải
khảo sát hiện trạng không?
Cần có đơn giá rõ ràng cho thẩm tra Bản vẽ thi
công, Biện pháp thi công
4 Nhà thầu thi công:
Các vấn đề đặt ra:
Được lựa chọn qua đấu thầu hoặc chỉ định thầu nhưng tất cả mới chỉ là trên hồ sơ, vì vậy mà nhiều khi rất thiếu tính thực tế
Một số vẫn chưa đủ về năng lực và kinh nghiệm trong lập biện pháp thi công, thường phải thuê đơn vị tư vấn lập
Có khi chủ động chấp nhận giải pháp đền bù
Thiết bị: Chưa đáp ứng được
Nhân lực: Còn thiếu những ‚chuyên gia‛
Ý thức của cán bộ, đặc biệt là công nhân đối với thương hiệu là không có hoặc rất thấp
Nhà thầu nước ngoài: Coi trọng và nhận thức được vấn đề Có đủ năng lực, kinh nghiệm Có chuyên gia nhưng ít, không đủ cho một công trường lớn, phức tạp
Đề xuất để xem xét:
Rất cần kết hợp chặt chẽ thi công với thiết kế để lập biện pháp thi công khả thi
Quy định chặt chẽ hơn các điều kiện về nhân
sự, thiết bị
Quy định về quy trình lập, tính pháp lý của
biện pháp thi công
Cần đầu tư thiết bị đồng bộ