ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG TRẠM Y TẾ XÃ HIỆN NAYĐẶT VẤN ĐỀ Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu chiếm một vị trí đặc biệt quan trọngtrong hệ thống y tế ở nước ta, trong đó tuyến y tế cơ sở là nơi
Trang 1ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG TRẠM Y TẾ XÃ HIỆN NAY
ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu chiếm một vị trí đặc biệt quan trọngtrong hệ thống y tế ở nước ta, trong đó tuyến y tế cơ sở là nơi trực tiếp thựchiện nhiệm vụ này, có chăm sóc sức khỏe ban đầu tốt thì sức khỏe cộng đồngmới được nâng cao, các nguy cơ bệnh tật sẽ giảm xuống, góp phần giảm đượcchi phí cho người dân và cho ngành y tế, giảm quá tải cho các bệnh viện tuyếntrên, hạn chế được các dịch bệnh xảy ra tại địa phương, đó là mục tiêu và cũng
là chiến lược trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng và Nhànước ta
Trong những năm qua đất nước ta đã đạt được những thành tựu quantrọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, song cũng còn không ít khókhăn, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, chủ trương, chínhsách về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, chú trọng nhiều đến hệ thống y
tế ở tuyến cơ sở, trong đó có Chỉ thị số 06 CT/TW ngày 22/1/2002 của Ban Bíthư Trung ương Đảng về “Củng cố và hoàn thiện mạng lưới Y tế cơ sở”[3], Quyết định số 35/2001/QĐ - TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giaiđoạn 2001 – 2010, chú trọng đến việc việc củng cố và phát triển Y tế cơ sở.Theo mô hình chung tổ chức bộ máy y tế Việt Nam thì y tế xã đóng vaitrò rất quan trọng, không thể thiếu được, là nơi triển khai thực hiện nhiều nộidung trong công tác chăm sóc sức khỏe, quản lý sức khỏe người dân tại địaphương, giúp họ tự chăm sóc sức khỏe tại gia đình, ngoài ra y tế xã còn lànơi phối hợp trực tiếp với các ban ngành đoàn thể tại địa phương để thực hiệncông tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, truyền thông giáo dục sức khỏe rất hiệuquả Trong điều kiện đất nước ta hiện nay, nhất là vùng Đồng bằng sông CửuLong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, ở vùng nông thôn người nông dânchiếm đa số, do đó đối tượng mà y tế xã phục vụ nhiều nhất vẫn là nông dân.Hiện nay các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã được Đảng và Nhà nướcquan tâm đầu tư nhiều về cơ sở hạ tầng, tuy nhiên so với thành thị thì nôngthôn vẫn còn nhiều khó khăn như: nước sạch, vệ sinh môi trường, thiếu hệthống cung cấp thông tin…đó là những vấn đề có liên quan đến những hạn chếtrong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân tại địa phương, nâng cao tráchnhiệm của y tế xã hơn nữa trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu trong thờigian tới
Thực hiện Chỉ thị 06 của Ban bí thư Trung ương Đảng về củng cố vàhoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, Bộ y tế đã có quyết định số 370/QĐ – BYTban hành “Chuẩn quốc gia y tế xã giai đoạn 2001 – 2010” để thực hiện Chỉthị trên [7]
Trang 2Cùng với cả nước tỉnh Cà Mau đã triển khai thực hiện Quyết định của Bộ
y tế về Chuẩn quốc gia y tế xã vào năm 2003, huyện Phú Tân triển khai thựchiện Quyết định này vào năm 2004, qua hơn 8 năm thực hiện chủ trương nàyhuyện cũng gặp không ít những khó khăn, việc thực hiện chuẩn quốc gia y tế
xã có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, đầu tư các nguồn lực cho y tế cơ sởcòn hạn chế, kết quả hoạt động chăm sóc sức khỏe tuy có bước cải thiện nhưngchất lượng chưa cao, để có cơ sở cho việc xác định đề án củng cố và hoàn thiệnmạng lưới y tế cơ sở theo Bộ Tiêu chí Quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2011 –
2020 [10], chúng tôi thực hiện đề tài: Đánh giá thực trạng Y tế xã, huyện
Phú Tân tỉnh Cà Mau năm 2012, so với Bộ Tiêu chí Quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2011 – 2020 Với mục tiêu nghiên cứu như sau:
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu thực trạng Y tế xã hiện nay - sau 8 năm thực hiện 10 ChuẩnQuốc gia – so với Bộ tiêu chí Quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2011 – 2020 (sauđây gọi là Bộ tiêu chí mới) Nhằm góp phần định hướng xây dựng kế hoạchthực hiện thành công Bộ Tiêu chí trong giai đoạn mới
Mục tiêu cụ thể:
1 Đánh giá thực trạng Y tế xã hiện nay so với Bộ Tiêu chí mới
2 Khảo sát nhận thức của người dân về họat động Y tế xã
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Qua 8 năm thực hiện Chuẩn Quốc gia y tế xã (2004 – 2011), các Trạm Y
tế trong huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau có nhiều bước tiến đáng ghi nhận, cả vềcông tác tổ chức, quản lý và chuyên môn nghiệp vụ Tuy nhiên, con số thật củavấn đề này như thế nào? thì chưa có sự đánh giá chính xác Đề tài này trả lờicâu hỏi trên, nhằm có đánh giá khách quan, chính xác thực trạng y tế xã hiệnnay, để hoạch định chiến lược phát triển trong thời gian tới, góp phần thực hiệnthành công Bộ Tiêu chí mới
DÀN Ý
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Vài nét về tình hình chăm sóc bảo vệ sức khỏe ở Việt Nam
Trong quản lý sức khỏe toàn dân theo mục tiêu của Tổ chức Y tế thế giới
“ Sức khỏe cho mọi người đến năm 2000”, tuyến y tế cơ sở được coi là tuyếnchủ yếu thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Với hệ thống y tếViệt Nam, mạng lưới y tế cơ sở có một vị trí và tầm quan trọng đặc biệt Do đóviệc xây dựng củng cố và phát triển hệ thống y tế Việt Nam, đặc biệt là mạnglưới y tế cơ sở theo hướng dự phòng tích cực, thực hiện chiến lược CSSKBĐ,đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức nhân dân trong thời bình cũngnhư thời chiến đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Việt Nam được ghi nhận đạt được nhiều chỉ tiêu về xã hội tốt hơn so vớicác nước khác cùng mức thu nhập, mặc dù vẫn còn những chỉ tiêu thấp hơnmức trung bình chung của các nước trong khu vực và thế giới Tỷ lệ chết củatrẻ dưới 1 tuổi năm 2011 là 16 %o, tuổi thọ trung bình năm 2011 đã được nânglên là 72,8 tuổi [24] Tỉ lệ này cao hơn các nước có cùng mức thu nhập trungbình, đây là một thành tựu quan trọng của chương trình y tế Việt Nam thôngqua sự triển khai mạng lưới dịch vụ CSSK cho nhân dân rộng khắp từ trungương đến cơ sở
1.1.1 Một số chính sách có liên quan đến hệ thống y tế
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, với chủ trương đổi mới vànâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đáp ứng yêucầu của chiến lược phát triển con người, tăng đầu tư của Nhà nước và tạochuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, y tế dự phòng,
có chính sách trợ giúp các đối tượng chính sách, người nghèo, người có thunhập thấp được tiếp cận y tế [2] Nhiều văn bản qui định chính sách nhằm tăngcường việc CSSK nhân dân, đặc biệt là những chính sách nhằm củng cố mạnglưới y tế cơ sở, qui định chính sách cho cán bộ y tế cơ sở, đó là:
- Ngày 14 tháng 01 năm 1993 BCHTW Đảng khóa VII đã có Nghị quyết
4 về “ Những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhândân” [1]
- Quyết định số 35/2001/QĐ – TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dângiai đoạn 2001 – 2010 [13]
- Nghị định số 01/1998/NĐ – CP ngày 03/01/1998 của Chính phủ về hệthống tổ chức y tế địa phương
- Chỉ thị số 06 CT/TW ngày 22/1/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về “Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở”[3]
- Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về côngtác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [4]
1.1.2 Hệ thống y tế ở Việt Nam
Trang 5Hệ thống y tế Việt Nam được chia thành 4 tuyến:
Tuyến Trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã Trong tuyến xã
có trạm y tế xã và y tế thôn bản, y tế cơ sở bao gồm y tế tuyến huyện và y tếtuyến xã, phường, cấu trúc hệ thống y tế Việt Nam hiện nay bao gồm y tế nhànước và y tế tư nhân, y tế nhà nước vừa thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe,vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế
Hệ thống y tế Việt Nam từ năm 1945 đến nay chia làm 3 giai đoạn:
y tế hoàn toàn bị phụ thuộc, què quặt, chúng ta đã xây dựng và củng cố nền y tếmới trong điều kiện dân tộc ta phải trường kỳ kháng chiến chống thực dânPháp
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chúng ta lấy nông thônrừng núi làm chỗ dựa và giai cấp nông dân làm lực lượng chủ yếu, ngành y tế
đã phát triển trên cơ sở kết hợp quân dân y, đào tạo các lớp y sĩ, quân y sĩ, cáclớp y tá, dược tá, nha tá, cứu thương để vừa phục vụ sản xuất, chiến đấu vàphòng chống dịch bệnh, màng lưới y tế cơ sở đã góp phần cứu chữa người bịthương, bị bệnh được kịp thời hạn chế được tử vong và tàn phế một cách rõ rệt,nhờ có y tế cơ sở mà các phong trào vệ sinh phòng bệnh, tuyên truyền bảo vệsức khỏe trong nhân dân được đẩy mạnh như phong trào 3 sạch: ăn sạch, uốngsạch, ở sạch, phong trào 4 diệt: diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chí rận và diệt chuột,phong trào tuyên truyền vận động nhân dân “ăn chín, uống sôi”, thức ăn hợp vệsinh ở tất cả các giai đoạn nông thôn trong vùng giải phóng
1.1.2.2 Giai đoạn 1954 – 1975
Là giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc,ngành y tế hết sức quan tâm đến xây dựng màng lưới y tế cơ sở, chính mànglưới y tế cơ sở đã là yếu tố quyết định tham gia vào thành công của nhữngchương trình y tế dự phòng và CSSKBĐ cho nhân dân, giai đoạn này hệ thống
y tế đã dần dần được hình thành trên cơ sở 4 tuyến:
- Y tế cơ sở (xã, phường và cơ quan)
- Y tế quận/ huyện
- Y tế tỉnh/ Thành phố
Trang 6- Y tế tuyến trung ương
Trong thư gởi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc (27/2/1955) Bác Hồ đã Chỉthị cho các cấp chính quyền phải chú ý xây dựng màng lưới y tế từ trung ươngđến cơ sở để mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe và chữa trị kịp thờikhi bị bệnh, từ đó màng lưới y tế cơ sở được nhanh chóng khôi phục và củng
cố hoạt động, tập trung đào tạo cán bộ y tế cơ sở làm nòng cốt cho việc vậnđộng, hướng dẫn nhân dân phòng bệnh, phòng chống dịch, từng bước làm sạchmôi trường, thay đổi nếp sống lạc hậu, ăn ở thiếu vệ sinh và tạo ra cơ sở vậtchất, mua sắm trang thiết bị, vì vậy các phong trào 3 sạch, 4 diệt tiếp tục đượckhôi phục và đẩy mạnh, đem lại hiệu quả thiết thực cho công tác chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe nhân dân ở nông thôn
1.1.2.3 Từ năm 1976 đến nay
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ y tế cơ sở tiếp tục được đổi mới toàn diện,trong đó có 2 lĩnh vực quan trọng: một là tổ chức y tế tuyến huyện từ mô hìnhphòng y tế sang mô hình trung tâm y tế, triển khai thực hiện Nghị quyết Trungương 4 khóa VII của BCHTW Đảng và Quyết định 58/TTg của Chính phủ về
tổ chức và chế độ chính sách cho y tế cơ sở, đào tạo và đưa vào hoạt độngmàng lưới y tế thôn bản Hai là tiến hành đổi mới phương thức quản lý y tế từquản lý theo lãnh thổ sang quản lý theo ngành để vừa nâng cao hiệu quả côngtác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa nâng cao hiệu lực công tácquản lý nhà nước về y tế trên địa bàn
Ngày 20/6/1996 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 37/CP về địnhhướng chiến lược công tác chăm sóc và BVSKND trong đó xác định rõ mụctiêu củng cố y tế cơ sở, phấn đấu đến năm 2000, 40% trạm y tế xã trong cảnước có bác sĩ về công tác, đưa bác sĩ về xã công tác là một chủ trương lớnnhằm nâng cao khả năng của y tế tuyến cơ sở trong chăm sóc sức khỏe nhândân, góp phần đưa dịch vụ y tế có chất lượng đến gần dân hơn [11]
Sau hơn 10 năm thực hiện chủ trương này có những địa phương đạt trên80% số trạm y tế có bác sĩ, có nơi là 100%, góp phần nâng cao chất lượng côngtác chăm sóc sức khỏe nhân dân Tuy nhiên thực tế ở nhiều địa phương đòi hỏi
đã đến lúc cần thiết phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan về hiệu quảcùng những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bác sĩ công tác ở tuyến xã.Ngày 29/9/2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định 172/2004/ NĐ-CPQui định tổ chức các các cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân huyện[12], tách và thành lập phòng y tế, trung tâm y tế dự phòng huyện, bệnh việnhuyện, giao phòng y tế quản lý hoạt động trạm y tế xã, sau hơn 3 năm thực hiệnchủ trương này đã bộc lộ nhiều vấn đề đang được dư luận và nhân dân quantâm, những hạn chế đó là phòng y tế nhân sự ít, chưa quản lý đầy đủ các mặthoạt động của trạm y tế, trong khi đó trung tâm y tế dự phòng và bệnh viện làcác cơ quan chuyên môn hỗ trợ trực tiếp công tác phòng bệnh và khám chữabệnh chỉ là đơn vị phối hợp với phòng y tế để triển khai thực hiện cho các trạm
Trang 7y tế xã, điều này dẫn đến ở nơi nào có sự phối hợp tốt giữa 3 đơn vị tuyếnhuyện thì nơi đó trạm y tế xã hoạt động tương đối có hiệu quả, nơi nào sự phốinày không tốt thì hoạt động của trạm y tế xã bị bỏ rơi.
Từ thực tế trên công tác xây dựng xã mới đạt chuẩn y tế quốc gia và duytrì các xã đã đạt chuẩn y tế quốc gia trước đây có phần khó khăn hơn, việc đưabác sĩ về công tác tuyến xã cũng gặp phải những hạn chế nhất định, sự thay đổi
hệ thống tổ chức y tế theo nghị định 172/CP và Thông tư 11 liên Bộ Y tế - BộNội vụ [21] phần nào có ảnh hưởng nhiều đến công tác CSSKBĐ nói riêng vàcông tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nói chung
1.1.3 Vấn đề sử dụng dịch vụ y tế
Sử dụng dịch vụ y tế không chỉ là việc cung cấp dịch vụ CSBVSK màcòn phải phù hợp với nhu cầu khám chữa bệnh của từng hộ gia đình và nhu cầucủa mỗi người dân Chỉ số sử dụng dịch vụ y tế thường được đo bằng số lần sửdụng dịch vụ y tế cho đầu người trong một năm Quyền được chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe cũng như việc tiếp cận với các dịch vụ y tế là quyền chính đángcủa mỗi người dân Tuy nhiên khả năng tiếp cận và lựa chọn các dịch vụ y tếcủa các nhóm dân cư khác nhau thì cũng khác nhau, do đó tạo được điều kiện
để các dịch vụ y tế đến được với người dân và mọi người dân đều được hưởngcác dịch vụ y tế là điều không dễ dàng, cần phải xây dựng được một mạng lưới
y tế sát dân, dựa vào dân và vì sức khỏe của nhân dân
1.2 Y tế cơ sở với chăm sóc sức khỏe ban đầu
Tháng 10 năm 1978 tại Alma Ata, Hội nghị quốc tế về y tế cơ sở đã đề rachiến lược toàn cầu “ Sức khỏe cho mọi người vào năm 2000” và xác địnhchăm sóc sức khỏe ban đầu (Primary Health care) là chìa khóa để mang lại sứckhỏe cho mọi người, qua gần 30 năm thực hiện chiến lược đó toàn thế giới đã
có những bước tiến bộ vượt bậc về chăm sóc sức khỏe ban đầu, nhiều chỉ sốsức khỏe đạt và vượt chỉ tiêu đề ra
Chăm sóc sức khỏe ban đầu được định nghĩa: “CSSKBĐ là chăm sóc sứckhỏe thiết yếu dựa trên cơ sở thực tiễn, có cơ sở khoa học và chấp nhận được
về mặt xã hội, có thể phổ cập về mặt cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua
sự tham gia đầy đủ của họ với chi phí mà cộng đồng và nước đó có thể chấpnhận được để duy trì hoạt động chăm sóc sức khỏe ở mỗi giai đoạn phát triểntrên tinh thần tự nguyện, tự giác”
CSSKBĐ là một hệ thống quan điểm với 7 nguyên tắc: công bằng, pháttiển, tự lực, kỹ thuật thích hợp dự phòng tích cực, hoạt động liên ngành và cộngđồng tham gia CSSKBĐ gồm 8 nội dung cơ bản (Tuyên ngôn Alma Ata) ViệtNam chấp nhận và sáng tạo thêm 2 nội dung cơ bản “Quản lý sức khỏe và củng
cố mạng lưới y tế cơ sở”
Trang 8Chiến lược CSSKBĐ đã được triển khai thực hiện ở nhiều quốc gia,nhưng tuỳ từng nước có mô hình sức khỏe và bệnh tật để chọn thứ tự ưu tiêncho thích hợp Đối với Việt Nam từ những năm đầu của thập kỷ 80 các quanđiểm của Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện một cách rõ ràng và khá toàn diện
về những vấn đề cơ bản trong CSSKBĐ
Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 đã qui định rõ quyền chăm sócsức khỏe của công dân Việt Nam [17], năm quan điểm về y tế trong Nghị quyếtTrung ương 4 khóa VII – Ban chấp hành Trung ương Đảng trong đó nhấnmạnh công tác CSSKBĐ và củng cố y tế cơ sở là nhiệm vụ quan trọng và cấpbách của ngành y tế [1]
Để thực hiện trọng tâm số một của ngành về CSSKBĐ, Bộ Y tế đã cóChỉ thị trong ngành từ Trung ương đến cơ sở phải tham mưu cho cấp uỷ vàchính quyền các cấp thành lập Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân, phốihợp với các ban, ngành đoàn thể ở địa phương để triển khai thực hiện tốt côngtác CSSKBĐ, gồm các công việc sau:
- Các cấp y tế, trạm y tế xã cần báo cáo đầy đủ với cấp uỷ và chínhquyền nội dung của công tác CSSKBĐ để phục vụ có hiệu quả CSSKBĐ vànâng cao chất lượng y tế cơ sở, trong Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân
do Phó chủ tịch uỷ ban nhân dân làm Trưởng ban, Y tế làm Phó ban và cácban, ngành đoàn thể là ủy viên được phân công các nhiệm vụ cụ thể
- Tiến hành điều tra cơ bản để nắm lại tình hình sức khỏe và các chỉ sốsức khỏe ở địa phương để có cơ sở lập kế hoạch hoạt động
- Kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở, lập kế hoạch đào tạo, đào tạo lại,thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn
- Tổ chức truyền thông giáo dục sức khỏe và phối hợp với các cơ quanban ngành đoàn thể để tuyên truyền giáo dục, cung cấp kiến thức cho ngườidân để phòng bệnh, phát hiện bệnh sớm để điều trị
- Tổ chức đào tạo và đưa vào hoạt động màng lưới y tế thôn bản
- Y tế tuyến trên có kế hoạch hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới trongcông tác phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh
1.3 Quản lý hoạt động y tế của trạm y tế xã
1.3.1 Vị trí, vai trò và chức năng nhiệm vụ của trạm y tế xã
Y tế xã là đơn vị kỹ thuật CSSKBĐ, phát hiện sớm và phòng chống dịchbệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu và đỡ đẻ thông thường, cung ứng thuốc thiết
Trang 9yếu, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, tăngcường sức khỏe.
Định nghĩa của TCYTTG cũng đã nêu rõ CSSKBĐ là chức năng chủ yếucủa y tế xã, đồng thời là cấp đầu tiên của màng lưới chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe [22]
Trạm y tế xã có trách nhiệm giúp Giám đốc Trung tâm y tế huyện và Chủtịch uỷ ban nhân dân xã, thị trấn (gọi tắt là UBND xã), thực hiện các nhiệm vụđược giao về công tác y tế trên địa bàn
Trạm y tế xã chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Trungtâm y tế huyện; sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Bệnh việnhuyện và Trung tâm DS –KHHGĐ [12] Chịu sự quản lý, chỉ đạo của Chủ tịchUBND xã trong việc xây dựng kế hoạch phát triển y tế để trình cơ quan cóthẩm quyền và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch đó sau khi đã đượcphê duyệt, phối hợp với các ngành đoàn thể trong xã tham gia vào các hoạtđộng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Kinh phí hoạt động và xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng đối với trạm y tế
cơ sở được huy động từ các nguồn ngân sách của trung ương, địa phương, việntrợ, từ thiện, cộng đồng, các nguồn thu chi này được quản lý theo đúng qui địnhhiện hành của nhà nước [19]
1.3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Trạm Y tế xã
1.3.1.2.1 Chức năng
Đảm nhiệm các nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và theo những tiêuchuẩn kỹ thuật do Bộ y tế qui định, trong đó có thừa kế và phát huy y học cổtruyền dân tộc Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đột xuất như phòng chống lụtbão, cấp cứu chấn thương…
Quản lý, theo dõi toàn bộ hoạt động y tế trên địa bàn xã, ấp y tế công lập
và tư nhân, quan hệ với y tế cơ quan, xí nghiệp, quân y đóng quân trên địa bàn.Tìm kiếm quản lý và sử dụng tốt nguồn lực dành cho y tế xã, thúc đẩy sựtham gia của cộng đồng vào công tác chăm sóc sức khỏe, thông qua Hội chữthập đỏ, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, trường học
1.3.1.2.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu
và xây dựng xã đạt Chuẩn quốc gia về y tế [7]
Cụ thể các nhiệm vụ quản lý thực hiện các nội dung CSSKBĐ như sau:
- Lập kế hoạch các mặt hoạt động để trình UBND xã và báo cáo Trungtâm Y tế huyện, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt
- Phát hiện, báo cáo kịp thời các bệnh dịch ở địa phương lên tuyến trên
và thực hiện các biện pháp về vệ sinh phòng bệnh, phòng chống dịch Tuyêntruyền giáo dục sức khỏe, triển khai thực hiện các các biện pháp chuyên môn
để chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em [6]
Trang 10- Tổ chức sơ cứu ban đầu, khám chữa bệnh thông thường cho nhân dân ởđịa phương, kịp thời chuyển viện những trường hợp vượt quá khả năng củatrạm.
- Xây dựng tủ thuốc trạm y tế xã theo danh mục của Bộ y tế tại tuyến xã,hướng dẫn nhân dân sử dụng thuốc an toàn hợp lý, có kế hoạch quản lý cácnguồn thuốc [9], kết hợp với y học cổ truyền trong việc dự phòng và điều trịbệnh nhân
- Quản lý các chỉ số sức khỏe và tổng hợp số liệu báo cáo kịp thời, chínhxác lên tuyến trên theo qui định
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật cho cán bộ y tế ấp và nhânviên sức khỏe cộng đồng, quản lý và hướng dẫn đội ngũ này hoạt động có hiệuquả
- Tham mưu với chính quyền và Trung tâm Y tế huyện để chỉ đạo thựchiện các nội dung CSSKBĐ, tổ chức thực hiện tốt các nội dung đó, xây dựng
và duy trì xã đạt Chuẩn quốc gia về y tế
1.3.2 Qui định về cán bộ y tế, cơ sở vật chất, trang thiết bị và công tác quản lý các trạm y tế xã
1.3.2.1 Biên chế cơ cấu chất lượng cán bộ y tế xã
Theo Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 củaliên Bộ Y tế - Bộ Nội vụ thì số lượng biên chế được tính như sau [20]:
- Biên chế tối thiểu: 5 biên chế cho một trạm y tế xã, phường, thị trấn
- Đối với xã miền núi, hải đảo trên 5000 dân: tăng 1000 dân thì tăngthêm 01 biên chế cho trạm, tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm
- Đối với xã đồng bằng, trung du trên 6000 dân: tăng từ 1500 đến 2000dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm, tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm
- Đối với trạm y tế phường, thị trấn trên 8000 dân: tăng 2000 đến 3000dân thì tăng thêm 01 biên chế cho trạm, tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm
- Các phường, thị trấn và những xã có các cơ sở khám chữa bệnh đóngtrên địa bàn: bố trí tối đa 5 biên chế/trạm
1.3.2.2 Qui định về cơ sở vật chất, trang thiết bị của y tế cơ sở
Về cơ sở vật chất trạm y tế phải được xây dựng theo “Tiêu chuẩn vàthiết kế mẫu” do Bộ Y tế ban hành, với một số tiêu chí cơ bản sau:
Vị trí: Gần trục giao thông ở khu trung tâm xã, diện tích đất trung bình từ
500 m2 trở lên ở nông thôn, 150 m2 trở lên ở vùng thành thị, tổng thể côngtrình gồm khối nhà chính, công trình phụ trợ, sân phơi, vườn mẫu trồng câythuốc, có 30% diện tích cây xanh, có hàng rào bảo vệ
Khối nhà chính tối thiểu cấp III, diện tích từ 90 m2 trở lên, có 8 – 9phòng chức năng để hoạt động, các công trình phụ bao gồm nhà bếp, nhà kho,nhà vệ sinh, nhà để xe [8]
Hệ thống kỹ thuật hạ tầng có hệ thống điện sinh hoạt có 01 thuê bao điệnthoại, có nguồn nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh và ổn định
Trang 11Về trang thiết bị:
Trang thiết bị cơ bản như: ống nghe, huyết áp kế, nhiệt kế, bơm kim tiêm
và các trang thiết bị cấp cứu thông thường, có bộ dụng cụ khám các chuyênkhoa cơ bản như: tai mũi họng, mắt, răng hàm mặt, trạm y tế có bác sĩ phải cómột trong các loại máy: máy khí dung, kính hiển vi, máy xét nghiệm đơn giản,
có trang thiết bị cho khám, điều trị phụ khoa, kế hoạch hóa gia đình, đỡ đẻ, cấpcứu sơ sinh và chăm sóc trẻ em, có trang bị phục vụ điều trị và bảo quản thuốcđông y: máy điện châm, kim châm cứu, tủ thuốc đông y, thiết bị và dụng cụ tiệtkhuẩn như nồi hấp, tủ sấy, nồi luộc dụng cụ
Trang thiết bị cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu y tế quốc gianhư phòng chống mù lòa, chăm sóc răng miệng, nha học đường, trang thiết bịthực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng, thiết bị nộithất như tủ, bàn, ghế, giường bệnh, tủ đầu giường, có túi y tế thôn bản: mỗi cán
bộ y tế có 1 túi để thực hiện các dịch vụ cơ bản như tiêm, sơ cứu, truyền thônggiáo dục sức khỏe
1.3.2.3 Cung cấp thuốc thiết yếu
Có quầy thuốc thiết yếu tại trạm y tế, thuốc được bảo quản theo đúng cácqui chế dược chính [9]
Có tủ thuốc cấp cứu riêng tại phòng khám và luôn có đủ cơ số thuốc cấpcứu thông thường và thuốc chống sốc, có ít nhất 60 loại thuốc thiết yếu trở lên,danh mục thuốc cụ thể do Sở Y tế phê duyệt dựa trên danh mục do Bộ Y tế banhành và thực tế cơ cấu bệnh tật tại địa phương
Thuốc được tập trung một đầu mối và thực hiện theo đúng qui chế dượcchính, quản lý rõ từng nguồn, từng thuốc độc, hướng tâm thần và thuốc gâynghiện, có sổ theo dõi xuất nhập, sử dụng thuốc an toàn hợp lý theo qui chế
1.3.2.4 Công tác quản lý và phương thức hoạt động
- Trạm y tế xã làm việc theo nguyên tắc tập trung, trưởng trạm là ngườichịu trách nhiệm trước Đảng ủy, UBND xã và Trung tâm Y tế về mọi mặt hoạtđộng của trạm
- Cán bộ y tế xã làm việc theo giờ hành chính và phân công thường trực24/24 giờ tại trạm kể cả ngày nghỉ, lễ theo qui định để đảm bảo cấp cứu, đỡ đẻ,phòng chống dịch và bảo vệ cơ sở
- Phương thức hoạt động ngoài công việc hàng ngày về chuyên môn vàthời gian thường trực tại trạm, cán bộ y tế xã phải phân công phụ trách từng ấp
để đưa dịch vụ chăm sóc đến tận người dân, mở rộng dần việc quản lý sức khỏe
hộ gia đình, tuyên truyền công tác vệ sinh phòng bệnh, phổ biến y học thườngthức để mọi người có thể tự bảo vệ sức khỏe cho mình và cộng đồng [23]
1.3.3 Qui định về hoạt động các trạm y tế xã
1.3.3.1 Qui định về xã hội hóa trong công tác chăm sóc sức khỏe
Trang 12Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân được đưa vào Nghịquyết của Đảng ủy xã, trạm y tế có kế hoạch hoạt động cụ thể do UBND xã phêduyệt để thực hiện các Nghị quyết đó [17].
Có Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch làmtrưởng ban, trưởng trạm y tế làm phó ban thường trực và trưởng các ban ngành
có liên quan ở địa phương làm ủy viên, tổ chức họp đánh giá sơ kết công tácchăm sóc sức khỏe nhân dân 6 tháng và tổng kết năm với sự tham gia của cộngđồng
Huy động cộng đồng, các tổ chức chính trị, xã hội tại địa phương tíchcực tham gia vào việc thực hiện các chương trình y tế trên địa bàn
1.3.3.2 Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe:
100% cán bộ trạm y tế xã và nhân viên y tế ấp được bồi dưỡng kiến thức
và có kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe
Thực hiện tư vấn và truyền thông – giáo dục sức khỏe lồng ghép tại trạm
y tế, tại cộng đồng và tại gia đình
Giáo dục sức khỏe qua các phương tiện truyền thông tại địa phương
Tổ chức, tham gia phối hợp tổ chức các buổi họp tại cộng đồng để truyềnthông giáo dục sức khỏe mỗi năm ít nhất 6 lần
Truyền thông giáo dục sức khỏe để tỷ lệ hộ gia đình nắm được nhữngkiến thức cơ bản về các nội dung thực hành chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho bà
mẹ và trẻ em đạt trên 60%
1.3.3.3 Về nước sạch và vệ sinh môi trường
Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch, sử dụng hố xí hợp vệ sinh và xử lýrác đúng qui định đạt 70% trở lên
Tỉ lệ hộ gia đình xử lý phân gia súc hợp vệ sinh đạt từ 70% trở lên [18]
1.3.3.4 Công tác phòng chống dịch bệnh
Phát hiện sớm và báo cáo kịp thời các bệnh truyền nhiễm gây dịch theoqui định của Bộ Y tế, nếu có dịch xảy ra, xử trí ban đầu và phối hợp dập tắt kịpthời, có biện pháp đề phòng và không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn
Phát hiện sớm và báo cáo kịp thời các vụ ngộ độc thực phẩm, các vụ tainạn thương tích xảy ra trên địa bàn
1.3.3.5 Khám chữa bệnh và phục hồi chức năng
Bình quân số lần khám chữa bệnh tại trạm y tế và hộ gia đình đạt từ 0,6lần/người/năm trở lên, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị hợp lý tạitrạm y tế đạt 80% trở lên
Tỷ lệ người tàn tật tại cộng đồng được quản lý đạt trên 90% và đượchướng dẫn phục hồi chức năng đạt 20%
Theo dõi, quản lý và trực tiếp chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám sức khỏeđịnh kỳ cho người 80 tuổi trở lên, theo dõi quản lý sức khỏe cho người 60 tuổitrở lên
Trang 13Tất cả cán bộ y tế của trạm nắm được kiến thức và kỹ năng cấp cứuthông thường, chăm sóc sức khỏe sinh sản và đỡ đẻ thường.
1.3.3.7 Công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em
Trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt ít nhất 95%
Trẻ em từ 6 – 36 tháng tuổi được uống vitamin A 2 lần trong năm, đạt ítnhất 95%
Trẻ em dưới 2 tuổi được theo dõi tăng trưởng hàng tháng và trẻ từ 2 – 5tuổi được theo dõi tăng trưởng 2 lần trong năm ít nhất đạt 90%
Chẩn đoán và điều trị đúng phác đồ cho trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy,nhiễm khuẩn hô hấp cấp khi đến trạm y tế ít nhất đạt 90%
Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, cung cấp kiến thứcnuôi con theo phương pháp khoa học, giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng từ 1,5 – 2%một năm
1.3.3.8 Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tất cả phụ nữ mang thai được khám ít nhất một lần trước khi sinh
Tỷ lệ phụ nữ được khám thai 3 lần trở lên trong 3 kỳ thai nghén trước khisinh đạt ít nhất 75%
Phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván đủ liều trước khi sinh ít nhất đạt95%
Tỷ lệ phụ nữ khi sinh có nhân viên y tế được đào tạo chuyên môn đỡ đẻ
ít nhất đạt 95% và 90% phụ nữ có thai sinh con tại cơ sở y tế, tỷ lệ bà mẹ đượccán bộ y tế chăm sóc trong tuần đầu sau sinh đạt 65%
Tỉ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại ít nhất đạt70%, tỉ lệ phụ nữ 15 – 49 tuổi được khám phụ khoa trong năm đạt 20% trở lên
1.4 Đặc điểm tình hình và công tác chăm sóc sức khỏe của huyện Phú Tân
Huyện Phú Tân có 8 xã, 1 thị trấn, gồm 8 Trạm Y tế, 1 Phòng khám Đakhoa khu vực; có 75 khóm, ấp; diện tích tự nhiên 44.595 ha, dân số 104.408người, nằm cách thành phố Cà Mau khoảng 65 km về hướng tây Nam Trungtâm huyện Phú Tân nằm trên trục giao thông Đông – Tây của tỉnh Cà Mau, đấunối với trục quốc lộ 1A Cà Mau – Năm Căn (tại thị trấn Cái Nước); đồng thờihuyện Phú Tân nằm trong hành lang ven biển Tây (Vịnh Thái Lan), là vùngchiến lược phát triển kinh tế biển của tỉnh Cà Mau Theo tuyến hành lang này,thị trấn Cái Đôi Vàm là đô thị ven biển Tây, liên kết với các đô thị quan trọng
Trang 14khác dọc theo tuyến đường đê biển Tây như thị trấn Sông Đốc, khu dân cư cửa
Đá Bạc, cửa Kinh Hội Vì vậy huyện Phú Tân có điều kiện phát triển cả kinh tếnội địa, kinh tế biển và có điều kiện liên kết phát triển với các địa phương kháctrong tỉnh Cà Mau
- Tổng số cán bộ, viên chức y tế xã là: 74 người trong đó: - Bác sỹ 10người
- Dược sỹ trung học 9người
- CB dân số 9người
- NHS và y sỹ sản nhi 15người
- Y sỹ và cán bộ trung cấp khác 31người
- Tổng số nhân viên y tế khóm, ấp là: 99 ngườiQua hơn 7 năm thực hiện Đề án Chuẩn Quốc gia về Y tế xã (QGVYTX)giai đoạn 2004 – 2010, đã góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực hoạt độngcho Y tế xã, thị trấn Đã từng bước khống chế và đẩy lùi các loại dịch bệnh trênđịa bàn và các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng khác Đến cuối năm
2010 có 7/9 xã đạt Chuẩn Quốc gia, công tác xây dựng y tế cơ sở và các hoạtđộng đã đi vào ổn định, nền nếp Tuy nhiên, theo báo cáo tự đánh giá của cácTrạm Y tế, Phòng khám Đa khoa khu vực (sau đây gọi là TYT); kết quả kiểmtra của Trung tâm Y tế huyện (TTYT) vào cuối năm 2011, nhận thấy thực trạngcủa y tế xã, thị trấn nếu đánh giá theo Bộ Tiêu chí Quốc gia (BTCQG) về y tế
xã giai đoạn 2011 – 2020, còn nhiều chỉ tiêu chưa đạt, cần có sự đánh giá cụthể từng chỉ tiêu, góp phần thực hiện đạt kế hoạch đã đề ra
Tóm tắt tình hình kinh tế xã hội năm 2011 theo báo cáo của UBNDhuyện [24] như sau:
Mức tăng trưởng kinh tế đạt 16,6%, thu nhập bình quân đầu người đạt17,3 triệu đồng Phong trào nuôi tôm công nghiệp và quảng canh cải tiến đangphát triển mạnh, tổng sản lượng thuỷ sản 45.000 tấn; sản xuất nông nghiệp chủyếu là xen canh lúa - tôm, ngòai ra còn có một số vùng thâm canh trồng màu vàchăn nuôi Lĩnh vực thương mại, dịch vụ có bước phát triển tốt tăng dần tỷtrọng trong cơ cấu kinh tế, hiện tại chiếm 26,43%
Về giáo dục: huyện có hai trường phổ thông trung học; 24 điểm trườngphổ thông cơ sở và tiểu học, trong đó có 6 trường đạt chuẩn Quốc gia; mỗi xã,thị đều có trường mẫu giáo, tỉ lệ phổ cập trung học cơ sở đạt 100%
Về y tế: trên địa bàn huyện có 4 đơn vị y tế Trong đó, Phòng y tế với 5biên chế, Trung tâm y tế với 27 biên chế và Bệnh viện đa khoa quy mô 70giường bệnh với 77 biên chế