Tất cả mọi sự vật, hiện tượng và quá trình trong tự nhiên, xã hội đều là sự thể hiện của thực thể Chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan tuy có khác nhau song lại gi
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO fin My
Trang 2- / (DUNG CHO NGHIÊN CỨU SINH VÀ HỌC VIÊN CAO HOC
KHONG THUOC CHUYEN NGANH TRIET HOC)
Trang 3TAP THE TAC GIA:
PGS, PTS Lê Hữu Nghĩa: các chuyên đề 1, 3, 4 PTS Vai Văn Thuấn: chuyên đè 2
PTS Nguyễn Quang Điển: chuyyên đề 5
PTS Tran Phuc Thăng: chuyên da 6
PGS, PTS Nguyén Ngọc Long: các chuyên đề 7, 8
TAP THE CHU BIEN:
PGS, PTS Nguyén Ngoc Long
PGS, PTS Nguyễn Hữu Vui
PGS Vũ Ngọc Pha
Trang 4LOI NOL BAL
Thực hiện chủ trương dào tạo hệ nghiền cứu sinh và cao học
trong nước, chấp hành Quyết dịnh 1339 QD.SDH ngày 7-7-1992
của Bộ giáo dục và dào tạo, năm 1993 Vụ công tác chính trị và
học sinh (Bộ giáo dục và dào tạo) phối hợp với Nhà xuất bản Chính trí quốc gia tổ chức biên soạn và xuất bán lần đầu bộ giáo trình Triết học dùng cho các lớp nghiên cứu sinh và cao học không thuộc chuyên ngành triết học
Bộ giáo trình được biên soạn dụa trên kinh nghiệm của các
lớp bồi dưỡng kiến thức triết học cho nghiên cúu sinh, học viễn cao học tại các trường Đại học, Viện nghiên cúu trong nuoc thời gian qua Nội dung giáo trình tập trung phục vụ mục tiêu dào tạo sau dại học và chuẩn hóa dội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu
Bộ giáo trình gồm ba tập ứng với ba phần của chương trình
đo Bộ chỉ dạo:
Tập I: Dại cương lịch sử triết học trước Mác
Tập II: Khái lược lịch sử triết hoc Mac-Lénin
Giới thiệu một số tác phẩm chủ yếu của Mác, Ph.Ảngghen
và V.I.Lênin
Tập III: Một số chuyên đề triết học
Tập thể tác giả gồm các phó tiến sĩ, phó giáo su, cán bộ
3
Trang 5giảng dạy giàu kinh nghiệm e của các trường dại học và học viện
trong nước
Tái bản bộ giáo trình Triết học lần này chúng tôi dã làm việc
Với tỉnh thần trách nhiệm và nỗ lực cao, cố gắng khắc phục
những khiếm khuyết của lần xuất bản đầu tiên Dù vậy, bộ sách
Còn có thể có những thiếu sót khó tránh khỏi Chúng tôi mong
nhận dược nhiều ý kiến phê bình của đông đảo bạn dọc
Tháng 5 năm 1995,
VỤ CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ VÀ HỌC SINH NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 6CHUYEN DE 1
CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁCXÍT-CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC
1 Chức năng thế giới quan của triết học
Triết học có nhiều chức năng khác nhau, trong đó chức
nang thế giới quan là chức năng hàng đầu
a) Thé gidi quan va vai trò của nó trong đời sống con người Thế giới quan là hệ thống những quan niệm của con người
về thế giới; về vị trí của con người trong thế giới nhằm giải đáp
những vấn đề về mục đích, ý nghĩa cuộc sống của con người Trong đời sống, con người có quan hệ với thế giới xung quanh, có như cầu tìm hiểu, nhận thức thế giới cũng như nhận
thức bản thân mình Trong quá trình tìm hiểu, nhận thức đớ,
con người bắt gặp hàng loạt vấn đề cần được lý giải: bản chất
thế giới là gì? Thế giới có tồn tại thực tế không hay chỉ là ảo ảnh của con người? Con người là gi? Con người có vai trò như
thế nào đối với thế giới? Ý nghĩa cuộc sống con người là ở chỗ
nào? v.v Trả lời những câu hỏi đó, sẽ hình thành ở con người những quan điểm, quan niệm về thế giới cũng như về vai tr con người trong thế giới Dó chính là thế giới quan
Trang 7Thế giới quan có vai trò quan trọng trong cuộc sống của
mỗi con người, mỗi giai cấp, mỗi cộng đồng người và của xã
hội nói chung Có thể coi thế giới quan là "lăng kính", qua đó,
con người xem xét, nhìn nhận thế giới Từ đó, nó định hướng
cuộc sống, chỉ phối nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người Hình thành và phát triển thế giới quan là một trong
những chỉ tiêu quan trọng của quá trình hình thành và phát
triển nhân cách con người
Trong thế giới quan có sự thống nhất giữa tri thức và niềm
tin, ly tri và tình cảm Trị ¿húc là sự hiểu biết của con người về
thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức thế giới, là phản
ánh của thế giới khách quan Tri thức có nhiều loại khác nhau:
trí thức về tự nhiên, về xã hội và về con người Như vậy, tri
thức tự nó chưa phải là thế giới quan, tri thức chỉ gia nhập vào
thế giới quan khi nó chuyển thành niềm tin của con người Chi
khi biến thành niềm tin, tri thức mới trở nên sâu sắc và bền
vững; và nhờ có niềm tin, tri thức mới trở thành cơ sở cho
hành động Niềm tin có vai trò quan trong trong đời sống con
người: niềm tín có thể vượt mọi khó khăn gian khổ, thậm chí
sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho niềm tin đó Thế giới quan
thể hiện trình độ tương đối cao của lý trí, trí tuệ của con người
Song, lý trí đó không tách rời đình cảm như là một hình thức
đặc biệt của sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với thế giới và giữa con người với nhau Tỉnh cảm củng cố thêm lý trí,
làm cho lý trí có chiều sâu và có sức mạnh Như vậy, thế giới
quan thể hiện tổng hợp toàn bộ hiểu biết và kinh nghiệm sống
6
Trang 8
của con người
Trong lịch sử xã hội, thế giới quan được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đớ, chủ yếu là các hình thức thần
thoại, tôn giáo và triết học
Thần thoại là hình thức thế giới quan đặc trưng cho người nguyên thủy trong giai đoạn sơ khai của lịch sử loài người Ñó phân ánh những kết quả cảm nhận ban đầu của người nguyên thủy về thế giới mà trong đó các yếu tố hiện thực và tưởng
tượng, cái có thật và cái hoang đường, lý trí và tÍn ngưỡng, tư
duy và xúc cảm, hòa quyện vào nhau Thần thoại còn tiếp tục tồn tại ở nhiều giai đoạn phát triển về sau này của loài người
và ở mọi dân tộc trên thế giới
Ton giáo là thế giới quan duy tâm, là sự phân ánh hiện thực một cách hư ảo Nó ra đời trong điều kiện trình độ nhận thức
và thực tiễn của con người còn hết sức thấp kém, khi con người còn bất lực trong việc giải thích các hiện tượng tự nhiên (như
sấm, sét, bão, lụt, động đất ) Con người đã thần thánh hóa các lực lượng tự nhiên, gán cho chúng một bản chất siêu tự nhiên, một sức mạnh siêu thế gian Có thể nói, đặc trưng chủ
yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin vào sự tồn tại và sức mạnh của các đấng siêu tự nhiên, của thần thánh Tuy nhiên, cần thấy một khía cạnh khác của tôn giáo đó là sự thể hiện
nguyện vọng được giải thoát khỏi những khổ đau và vươn tới
hạnh phúc của con người Nền tảng trong thế giới quan tôn giáo là niềm tin tôn giáo bao hàm cả niềm tín vào khá năng đạt được một cuộc sống tốt đẹp Mặt tích cực đó làm cho tôn giáo
1
Trang 9đã tồn tại trong hầu hết các dân tộc trên thế giới và đã ảnh
hưởng đến đời sống tỉnh thần của xã hội với nhiều mức độ khác
Khác với thần thoại và tôn giáo, triết học là lý luận về thế
giới quan Nơ diễn tả những vấn đề của thế giới quan không
phải bằng những thần thoại hoặc niềm tin tôn giáo, mà bằng
một hệ thống các khái niệm, phạm trù lý luận Nó không chỉ
nêu ra các quan điểm của mình mà còn chứng minh cho các
quan điểm đó bằng lý tính Ngay từ khi mới ra đời, triết học đã
tồn tại như là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất
ve thế giới uà uề uị trí của con người trong thế giới dé Chỉ có
triết học mới có thể giải quyết được những vấn đề chung của thế giới mà không một ngành khoa học cụ thể nào có thể làm
được Ỏ đây, triết học đóng vai trò là cơ sở lý luận, là "hạt
nhân" lý luận của thế giới quan Gọi là "hạt nhân" vì ngoài các
quan điểm triết học, thế giới quan còn thể hiện ở các quan
điểm chính trị, kinh tế, đạo đức, thẩm mỹ v.v Tuy nhiên, các
quan điểm đó đều dựa trên cơ sở lý luận chưng, đơ là triết học Như vậy, triết học là sự nám bắt thế giới quan bằng lý luận,
là sự thể hiện cô đọng và tập trung thế giới quan của một giai cấp, một thời đại nhất định Nó thể hiện chiều sâu của tư tưởng, trình độ cao của trí tuệ con người
“b) Su đối lập giữa chit nghia duy vét va chit nghia duy tam
trong triết học :
Vấn đề cơ bản của thế giới quan là mối quan hệ giữa tư duy
và tồn tại (giữa ý thức và vật chất), đó cũng là vấn đề cơ bản
8
Trang 10của triết học - môn học về thế giới quan Ph.Ángghen viết:
"Vấn đề cơ bản lớn của toàn bộ triết học, nhất là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại",
Cam giác, tư duy của con người có quan hệ như thế nào với thế giới hiện thực đang tồn tại? Day là van dé dat ra trước tất
cả mọi người và mọi hệ thống triết học từ trước đến nay Tùy theo cách giải quyết vấn đề đó mà xác lập nền tảng của thế giới quan Vì vậy, mọi học thuyết triết học không thể lâng tránh
mà phải giải quyết vấn đề này, bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hoặc gián !iếp, từ đó chi phối việc giải quyết các vấn đề khác trong triết học Vấn đề quan hệ giữa ý thức và vật chất đã trở thành điểm xuất phát của mọi quan điểm triết học trong lịch sử và tạo thanh nét đặc trưng của tri thức triết
học
Vấn đề cơ bản của triết học phản ánh sự đối lập giữa vật chất và ý thức Tuy nhiên, theo Lênin, không nên cường điệu, khuếch đại quá đáng sự đối lập đó, bởi vì sự đối lập giữa vật
chất và ý thức vừa có đính tuyệt dối vừa có tính tương đối
Tính tuyệt đối của sự đối lập đơ thể hiện ở việc xác định giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất và cái nào là tính thứ hai Theo quan điểm duy vật mácxíÍt, vật chất là cdi cd trước, cái sinh ra ý thức; còn ý thức là cái có sau, do vật chất
quy định Đó là nguyên tác tuyệt đối của thế giới quan duy vật
Tính tương đối của sự đối lập đó thể hiện ở chỗ, ý thức do vật
1 C.Mác-Ph.Ăngghen: Tuyến tap Nxb Su that Ha NOi 1984, 1.VE tr 372
9
ww
Trang 11
chất sinh ra; bát nguồn từ một thuộc tính của vật chất là thuộc tính phản ánh Ý thức chẳng qua là sự phản ánh, là hình ảnh
của vật chất; mát khác, ý thức (cái tư tưởng ) có thể chuyển
héa thành cái vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Lênin viết: "Sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ
bản, là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau?
Ngoài giới hạn đơ, thì không còn nghỉ ngờ gì nữa rằng sự đối lap do la tương đối" *
Vấn đề cơ bản của triết học gồm cơ hai mặt:
Mặt thứ nhốt là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức, cái nào có trước, cái nào quyết định Tùy theo cách giải quyết mặt này mà triết học được phân chia thành hai trào lưu
chính là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy oật cho tầng, vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức Thế giới vật chất tồn tại khách quản, độc lập với ý thức con người, còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách
Trái lại, chủ nghĩa duy tôm khẳng định ý thức có trước vật
chất và quyết định vật chất Ý thức, tỉnh thần là cơ sở tồn tại
của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, chủ nghĩa duy tâm gồm có hai phái chính: chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ
nghỉa duy tâm chủ quan
1 V.LLénin: Todn tap, Nxb Tiến bộ, Mátxcdva 1980 ( 18, tr 173:
10
Trang 12Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu nổi tiếng
như Platôn, Hêghen cho rằng, có một thực thể tỉnh thần
đưới những tên gọi như "ý niệm", "tỉnh thần tuyệt đối" có
trước và độc lập với thế giới vật chất, sinh ra và quyết định sự tồn tại của thế giới vật chất Tất cả mọi sự vật, hiện tượng và
quá trình trong tự nhiên, xã hội đều là sự thể hiện của thực thể
Chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan tuy có khác nhau song lại giống nhau ở điểm cơ bản là đều thừa nhận ý thức là cái có trước và quyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâm là lý luận triết học sai lầm, song từ đó không nên cơ thái độ khinh thường, phi bang cha nghia duy
tâm và các nhà triết học duy tâm Trên thực tế, đã có không it
các nhà duy tâm là những nhà triết học thiên tài tchẳng hạn
như Hêghen) có những đóng góp xuất sắc vào sự phát triển tư tưởng triết học của nhân loại
Sai lam của chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốc nhận thức
Về nguồn gốc nhộn thức luận: Sai lầm của chủ nghĩa duy
tâm bắt nguồn từ sự cường điệu, khuyếch đại, thổi phồng,
11
Trang 13tuyệt đối hóa một mặt, một yếu tố nào đó trong quá trình nhận thức vốn đầy tính biện chứng, sinh động, phức tạp của con
người Lênin viết: "Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chủ nghĩa duy tâm triết học là một sự phát triển (một sự thổi phồng, bơm to) phiến diện, thái quá của một _trong những đặc trưng, của một trong những mặt, của một
trong những khía cạnh của nhận thức thành một cái tuyệt đối,
tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự nhiên, thần thánh hóa"!
Về nguồn gốc xở hội: Chúng ta biết rằng, triết học ra đời gán liền với sự ra đời của xã hội có đối kháng giai cấp Trong các xã hội đó, chủ nghĩa duy tâm thường thể hiện thế giới quan, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị phản động Giai cấp thống trị sử dụng chủ nghĩa duy tâm làm vũ khí tỉnh thần được các giai cấp thống trị phản động duy trì, củng cố lại để phục vụ lợi ích của chúng
Về mặt thế giới quan, chủ nghĩa duy tâm triết học có sự giống nhau với tôn giáo, bởi vÌ tôn giáo cũng thừa nhận thực thể tỉnh thần (đưới tên gọi "Chúa", "Thượng đế" ) là cái có
trước và sáng tạo ra thế giới vật chất Vì vậy, tôn giáo thường
lấy chủ nghĩa duy tâm triết học làm cơ sở lý luận cho mình
Tuy nhiên chủ nghĩa duy tâm triết học và tôn giáo lại có sự
khác nhau không những về hình thức biểu hiện mà còn về tính chất và trình độ phản ánh hiện thực Nếu tôn giáo dựa trên lòng tin về sự tồn tại của đấng siêu nhiên, lấy lòng tin thay cho
1 Sđd t.29, tr, 385,
12
Trang 14trì thức, thì chủ nghĩa duy tâm triết học dựa vào lý trí, vào trí thức và là sản phẩm của tư duy lý tính được thể hiện dưới hệ thống các khái niệm lý luận Như vậy, tôn giáo là biểu hiện đặc thù của thế giới quan duy tâm, còn chủ nghĩa duy tâm là cơ sở
triết học của tôn giáo
Trong lịch sử, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai phái chính trong triết học, luôn luôn đấu tranh với nhau Lénin gợi chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai đảng phới chính trong triết học Bất cứ học thuyết triết học triét dé nào không thể không thuộc về một trong hai đảng phái trên - thuộc về hoặc chủ nghĩa duy vật, hoặc chủ nghĩa duy tâm Diều
đó thể hiện đính đảng trong triết học, và với nghĩa đó, triết học bao giờ cũng có tính đảng Cuộc đấu tranh giữa các đảng phái triết học, xét đến cùng, thể hiện cuộc đấu tranh trên lĩnh vực
hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối địch nhau trong xã hội Như vậy, tính đảng trong triết học là sự thể hiện công khai
và đứt khoát quan điểm nhất nguyên triệt để trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn trước hết và chủ yếu
từ việc giải quyết vấn đề này và có thể coi cuộc đấu tranh đó là
"soi chỉ đỏ" xuyên suốt lịch sử triết học, tạo thành một động lực nội tại cho sự phát triển của triết học
Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý rằng, không nên cường điệu, khuếch đại và áp dụng một cách máy móc sự đối lập giữa duy
vật và duy tâm để xem xét các hệ thống triết học trong lịch sử
Trên thực tế, không phải bao giờ và ở đâu sự đối lập giữa duy
13
Trang 15
vật và duy tâm cũng thể hiện rõ ràng, đậm nét và do vậy không thể quy kết một học thuyết triết học nào đó về chủ nghĩa duy vật hoặc chủ nghĩa duy tâm một cách đơn giản, dễ dàng, nếu như không muốn làm xơ cứng bức tranh thực tế đó Những học thuyết triết học được gọi là nhất nguyên luận khi chúng giải thích thế giới xuất phát từ một nguyên thể - hoặc từ vật chất (chủ nghĩa duy vật), hoặc từ ý thức tchủ nghĩa : duy tam), Ngoai hai truong phái cơ bản trên đây, có những trường phái được gọi là nhị nguyên luận vì chúng xuất phát từ
cả hai nguyên thể là vật chất và ý thức để giải thích thế giới, coi vật chất và ý thức tồn tại song song và độc lập với nhau Nhị nguyên luận về thực chất là muốn điều hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm và cuối cùng nó không tránh khôi sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm Trong lịch sử triết học còn
có học thuyết được gọi là "đa nguyên luận” Theo quan điểm | này thì các sự vật khác nhau đều có nguồn gốc riêng khác nhau
Mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học là xác định ý
thức của con người có khả năng phản ánh và phản ánh đúng đán thế giới khách quan không? Nói cách khác, con người có thể nhận thức được thế giới không?
Tuyệt đại đa số các nhà triết học (trong đớ gồm cả một số nhà triết học duy tâm) đã khẳng định khả năng nhận thức thế
giới của con người Nhưng có một số Ít các nhà triết học phủ
nhận khả năng nhận thức thế giới và được gọi là những người theo #hyết không thể biết Quan điểm này đã có từ trong "hoài 14
Trang 16nghỉ luận" của một số nhă triết học thời cổ đại Những nhă
triết học theo thuyết không thể biết đê cường điệu tính tương đối của nhận thức vă được biểu hiện nổi bật trong học thuyết của Hium vă của Cantơ văo thế kỷ XVIII Thuyĩt khong thĩ biết đê đầu cơ văo bản tính biện chứng của quâ trình nhận thức của con người; đê tâch rời biện chứng chủ quan khỏi biện chứng khâch quan, đê cường điệu sự hoăi nghỉ vốn lă yếu tố cần thiết để chống giâo điều, bảo thủ trong nhận thức Thuyết không thể biết đê được những giai cấp, tầng lớp xê hội lỗi thời tiếp nhận vă sử dụng để hòng lăm cho quần chúng nhđn dđn rơi văo tình trạng thụ động, tiíu cực trước hiện thực xê hội, không tin tưởng văo khả năng nhận thức vă cải tạo thế giới của mình Học thuyết năy phản ânh tam trang bí quan của những
lực lượng xê hội lỗi thời vă lă trở lực kìm hêm năng lực sâng tạo trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của người
lao động Dơ cũng chính lă nguồn gốc nhận thức luận vă nguồn gốc xê hội của thuyết không thể biết
92 Bản chất của chủ nghĩa duy vật mâcxÍt
Chú nghĩa duy vật mâcxít lă đỉnh cao của thế giới quan duy vật, lă chủ nghĩa duy vật khoa học triệt để Bản chất của chủ nghĩa đuy vật mâcxít được thể hiện ở những điểm sau đđy: a) Gidi quyết dúng dắn uấn đề cơ bản của triết học từ quan
điểm thực tiễn
Trước Mâc, chủ nghĩa duy vật đê trải qua quâ trình phât
triển lịch sử lấy đăi, Nó đê đạt được những thănh tựu quan trọng góp phđn vồviệc xâc lập quan niệm duỹ vật về thế giới, ˆ
15
Trang 17vao cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, vào quá trình biến đổi thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chủ nghĩa duy vật trước Mác không tránh khỏi những thiếu sót, những hạn chế mang tính lịch sử của mình Đó là:
- Duy vật trong việc xem xét giới tự nhiên nhưng vẫn duy tâm trong việc xem xét đời sống xã hội Do hạn chế lịch sử và
hạn chế giai cấp nên chủ nghĩa duy vật trước Mác vẫn chưa
thoát khỏi quan điểm duy tâm về lịch sử, Nghĩa là, chủ nghĩa duy vật trước Mác là một thứ cuủ nghĩa duy vật không triệt dé,
người Do chịu ảnh hưởng bởi quan điểm siêu hình và do thiếu quan điểm thực tiến nên nhiều nhà duy vật trước Mác đã coi ý thức là sự phản ánh sự vật một cách thụ động, giản đơn, máy méc, ma không thay duge tinh nang động, sáng tạo của ý thức, _ tính biện chứng của quá trình phản ánh Mác nhận xét rằng, khuyết điểm chủ yếu của chủ nghĩa duy vật cũ là thiếu quai
điểm thực tiến, đã đớ lý luận của nổ mang tính trực qữan và
không thể giải quyết một cách khoa học, duy vật triệt để vấn
đề cơ bản của triết học, ca ¬
+
Trang 18ISS
Mãi đến triết học Mác, chủ nghĩa duy vật mới trở thành
triệt để, khoa học và là công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo hiện thực
Với việc đưa quan điểm thực tiễn vào lý luận, Mác không những thực hiện cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học, mà còn tạo cơ sở để khác phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ, phê phán triệt để sai làm của chủ nghia duy vật cũ và
thuyết không thể biết
Chủ nghĩa duy vật mácxít khẳng định rằng, vật chất có
trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức Đó là nguyên
tác xuất phat cia chi nghia duy uật mácxít, Xa rồi nguyên tác
đó sẽ xa rời thế giới quan duy vật, sẽ sa vào chủ nghĩa duy tâm
và những biểu hiện của nó như chủ nghĩa chủ quan duy ý chí
Mặt khác, khi khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vão vật chất, chủ nghĩa duy vật mácxít đồng thời cũng vạch ra sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý.thức đối với vật chất, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người một cách năng động, sáng tạo Ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình con người tác động cài tạo thế giới bằng thực tiễn Vì vậy, ý thức của con người có tác động tick’ cực làm biến đổi Hiện thực vật chất khách quan theo như¿gầu: của mình Quan hệ giữa vật chất và ý thức không phải là;quai
hệ một chiều mà là quan hệ tác động qua lại Không thấy: điều
đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường; khêng biện,
chứng và mác phải bệnh bảo thủ, trì trệ trong hành động
Sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thứa, trang đó vật
Trang 19
chất là cái quyết định, diễn ra trên cơ sở thực tiễn Cái vật chất muốn được "di chuyển và cải biến trong bộ óc người" (C.Mác) phải thông qua hoạt: động thực tiến Bằng hoạt động thực tiễn, con người câi biến sự vật trong hiện thực, nhờ đó mới cải biến -được sự vật trong hình ảnh tư tưởng của nó Trái lại, ý thức
muốn tác động vào thế giới vật chất để làm biến đổi nó thì phải
thông qua hoạt động thực tiễn Tách rời khỏi thực tiễn, bản
thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện
thực cả Nhờ có hoạt động thực tiễn mới biến được những chương trình, kế hoạch, mục đích của con người thành hiện
thực vật chat O day, thực tiễn đã trở thành khâu trung gian
nối liền giữa cái vật chất và cái tỉnh thần Phạm trù thực tiễn,
do vậy, có ý nghĩa thế giới quan quan trọng, góp phần làm cho
quan niệm mácxít về vật chất và ý thức mang tính duy vật triệt để, không chỉ duy vật trong tự nhiên mà còn duy vật cả trong đời sống xã hội
-b) Thống nhất thế giới quan duy uột uà phương pháp biện
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật thường bị tách rời với phép biện chứng 'Tuy vậy, trong các học thuyết duy vật trước Mác cũng có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định Nhưng do hạn chế về trình độ phát triển khoa học và về lịch sử
nên nơi chung quan điểm siêu hình là một thiếu sót lớn chỉ phối chủ nghĩa duy vật trước Mác Dạc biệt là chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIN ở Tây Âu
- Trong khi đó, phép biện chứng lạf được quan tâm nghiên
18 oF ve : " Leow Oy
Trang 20cứu và phát triển trong một số hệ thống triết học duy tâm, nhất là trong triết học Hêghen Hêghen là người có công lô to lớn trong việc khôi phục và phát triển phép biện chứng, nhưng đưới cái vỏ duy tâm thần bí Vì vậy, để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mác đã phải cải tạo cả chủ nghĩa duy vật cũ,
siêu hình và cä phép biện chứng duy tâm Giải thoát chủ nghĩa
duy vật khỏi tính hạn chế siêu hình và phép biện chứng khỏi chủ nghĩa duy tâm, Mác đã tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng Như vậy, chủ nghĩa duy vật mácxít là chủ nghĩa duy vật biện chứng, còn
phép biện chứng mácxít là phép biện chứng duy vật Duy vật
và biện chứng là hai yếu tố kháng khít, là hai đặc trưng trong triết học mácxít
e) Chủ nghĩa duy uật triệt dể, Quan niệm duy uật vé lich sử
là một cổng hiến uí dại của Mác
Như trên đã trình bày, một thiếu sót lớn của chủ nghĩa duy vật trước Mác là duy vật không triệt để, duy vật trong tự nhiên nhưng duy tâm trong xã hội Để khác phục thiếu sót trên đây, làm cho chủ nghĩa duy vật trở thành triệt để, Mác đã sáng tạo
ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Lênin viết: "Trong khi nghiên cứu
sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học
thuyết đơ tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận
thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xđ hội loài người Chủ
nghĩa duy uật lịch sử của Mác là thành tựu ví đại nhất của tư tưởng khoa học",
1 Sđd 1.23 tr 53
19
Trang 21
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không phải đơn thuần là sự vận
dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội Dể có
chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác đã phải tiến hành tổng kết lịch
sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái
quát thực tiễn mới Lênin viết: "Tất cả những cái mà tư tưởng
loái người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phê
phán, và đã thông qua phong trào công nhân mà kiểm tra lại",
Với quan niệm duy vật về lịch sử của Mác, loài người tiến bộ đã
có một công cụ vi đại trong việc nhận thức và cải tạo thế giới
:) Thế hiện thể giới quan của giai cấp uô sản cach mang, tao
nên sự thống nhất tính cách mạng uới tính khoa học, thống nhất
hệ từ tuông uới lý luận bhoa học trong triết học Mac
Triết học mácxít là thế giới quan của giai cấp công nhân -
giai cấp tiến bộ và cách mạng của thời đại Lợi ích của giai cấp
công nhân phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động Cho nên
với: triết học Mác ra đời, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân
lao động có thế giới quan thực sự của mình Đó là thế giới quan
khoa học và cách mạng, là vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu
tranh giải phóng giai cấp công nhân, nhân dận lao động và
toàn thể nhân loại khéi moi áp bức và béc lột Lênin viết:
"Triết học Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nơ
cung cấp cho loài người và nhất lạ cho giai cấp công nhân
Trang 22tính bản chất bên trong là sự thống nhất giữa tính khoa học và
tính cách mạng, Lênin viết: "Sự hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học
chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với
tỉnh thần cách mạng và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp bên trong ban than mình những phẩm chất của nhà bác
học và của nhà cách mạng, mà là kết hợp trong chính bản thân
lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít",
Triết học Mác là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, một hệ
tư tưởng đã được luận chứng bằng lý luận khoa học, phản ánh những quy luật phát triển khách quan của lịch sử Vi vay no la ‘
hệ tư tưởng khoa học chứa đựng sự thống nhất giữa tính đảng
và tính khoa học, giữa tính thực tiễn và tính lý luận Nhờ đó, triết học Mác mang sức mạnh cải tạo thế giới bằng cách mạng,
và không đội trời chưng với chủ nghĩa chủ quan duy ý chí cũng
như chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ C.Mác viết: "Các nhà triết
học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau,:vấn
Luận điểm đó của Mác nói lên thực chất cũng như tu trò
xã hội của triết học Mác, chỉ rõ lý đo tồn tại và phương hướng
1, Sđd †.-} tr 421 chân tae pik
+2 C.Mac- PhiAnggtién: Turén rap, Nxb Sy thật, Hà Nội: 4980 Far 258
O21.
Trang 23Việc nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy
vật mácxít là rất quan trọng để bồi dưỡng thế giới quan khoa
học, chống chủ nghĩa chủ quan - một sai lam khá phổ biến đã
từng xảy ra ở nước ta và ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước
đây và đã gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới
Chủ nghĩa chủ quan là một hình thức biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm nên ngưồn gốc nhận thức luận của nó cũng không thoát khỏi nguồn gốc chung của chủ nghĩa duy tâm Chúng ta biết rằng, ý thức là sự phân ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách sáng tạo Phản ánh oà sáng tạo
là hai mặt thuộc bân chất của ý thức, chúng thống nhất biện chứng với nhau Tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo trên cơ
sở phản ánh và:trong khuôn khổ của phản ánh VÌ vậy, nếu tách rồi sáng tạo khỏi phán ánh, cường điệu tính sáng tạo của
ý thức sẽ rơi vào chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa duy tâm
* Ý thức con người là một hiện tượng có, kết cấu phức tạp,
trong đở tri thức như là nhân tố cơ bản của ý thức Theo Mác,
tri thức là phương thức tồn tại của ý thức Cùng với tri thức, con người còn có ý chí Ý chí biểu hiện như là một nhân tố chủ quan tích cực để thực hiện một mục đích nào đớ, để khác phục những trở ngại trên con đường đạt đến mục đích.-Y chí có vai
22
Trang 24trò quan trong trong hoạt động của con người, song sẽ sai làm
nếu cường điệu vai trò của ý chí Chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa duy ý chí chính là khuynh hướng duy tâm tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, của ý chí; đối lập và tách rời ý chí
với tri thức; coi ý chí có tính độc lập tuyệt đối, xa rời hiện thực
khách quan
Trong đời sống xã hội, cái vật chất và cái tỉnh thần, cái khách quan và cái chủ quan, thường quyện chặt vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, ranh giới giữa chúng chỉ có tính tương đối Điều đó dễ gây lân lộn giữa cái vật chất và cái tỉnh thần, cái chủ quan và cái khách quan, dễ lấy chủ quan thay cho
khách quan, nghĩa là dễ rơi vào nguy cơ của chi nghia chu
quan.’
Xây dung chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp mới mẻ, đầy
khớ khăn và phức tạp đòi hỏi phải cơ thời gian nên chủ thể
cách mạng phải biết phát huy cao độ vai trò nhân tố chủ quan, phải có nhiệt tỉnh cách mạng và tính tự giác cao Nhưng khi vai trò nhân tố chủ quan càng lớn thỉ nguy cơ mắc bệnh chủ quan cũng cảng lớn, vì người ta để cường điệu vai trò nhân tố
chủ quan mà bất chấp quy luật khách quan, dé lấy nhiệt tình
cách mạng thay cho sự yếu kém tri thức khoa học Sai lầm chủ
quan duy ý chí là một sai lầm có tínH chất phổ biến trong nhiều
“nude xã hội chủ nghĩa trước đây, đo đó đã gây ra những hậu
quả nghiêm trọng Vì vậy, việc đấu tranh, để khác phục và
ngăn ngừa bệnh chủ quan duy ý chí có ý nghĩa rất quan trọng
và đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên
28
Trang 25
b) Nguyên tốc khách quan trong viéc xem xét
Theo Lênin, tính khách quan của sự xem xét là nguyên tắc
hàng dầu của phương pháp nhận thức biện chứng duy vật
Nguyên tắc này là hệ quả tất yếu của quan điểm duy vật
mácxít, khi giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,
giữa khách quan và chủ quan
Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành
động phải xuất phát từ bản thân sự vật, từ thực tế khách quan,
phân ánh sự vật một cách trung thành như nó vốn có, không
được xuất phát từ ý muốn chủ quan, không lấy ý muun chủ
quan của mình làm chính gách, không lấy ý chí áp đặt cho thực
tế, phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan nóng vội,
phiến diện, định kiến, không trung thực Yêu cầu của nguyên
tác khách quan còn đòi hỏi phải tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan Dớ cũng là bài học quan trọng mà Đại
hội lần thứ VI của Dang ta đã rút ra và đã được khẳng định lại
trong Văn kiện Dại hội lần thứ VII của Đảng: "Mọi đường lối,
chủ trương của Đảng phải xuối phút tù thục tế, tôn trọng quy
luật khách quanh aH
e) Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy
‘vai tro nhân t6 con người
- Nguyên tác khách quan “khong những không bài trừ, mà
trái lại còn doi hỏi phải phát huy tính năng động chủ quan,
phát huy tính sáng tạo của ý thức Ý thức có tính độc lập tương
1 Đảng cộng sản Việt Nam: Cương linh: xây dựng đất nước trong thời kỳ
- quả độ lên chủ nghĩa xà hội Nxb SỤ thật, Hà Nội 1991 tr 5-6
24
Trang 26đối so với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cài biến thế giới khách quan
thông qua-hoạt động thực tiễn của con người Vai trò tích cực của ý thức không phải ở chỗ nơ trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế
giới vật chất, mà là nhận thức được thế giới khách quan làm
cho con người hình thành được mục đích, phương hướng, biện phép và ý.chí cần thiết cho hoạt động thực tiễn của mình
¡ - VỊ vậy, phãi chống thái độ thụ động, ‡ lại, bảo thủ trì trệ; phải coi trọng vai trò của ý thức, tư tưởng, coi trọng công tác
tư tưởng và giáo dực tư tưởng, coi:trợng việc giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tang tư tưởng của Đảng ta Đồng thời, phải giáo dục và nâng cao trình
độ tri thức khoa học cho nhân dân nơi chung, nâng cao trình
độ cho cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện nền văn minh trí tuệ ngày nay; mật khác, phải củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình,
ý chí cách mạng cho nhân dân, coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên, bảo đảm sự thống nhất giữa nhiệt tỉnh cách mạng và trỉ thức khoa học, tạo động lực cho công cuộc đổi mới xã hội tháng lợi ;
Trong việc thực hiện nguyên tắc khách quan và phát huy tính năng động chủ quan, nhân tố lợi ích có một vai trò rất to lớn Ta biết rằng lợi ích, cùng với nhu cầu là một trong những
động lực cực kỳ quan trọng, trực tiếp thúc đẩy con người hành
động, và qua đó, gây nên những biến đổi của lịch sử Hêghen
có lý khi viết rằng: "Những lợi ích thúc đẩy đời sống của các dân tộc và các cá nhân", Lợi Ích nếu phù hợp vối quá trình
\ Xem: V.LLênin: Toàn sập Nxb Tiến bộ Máixcáva, l9ể1, L 29: tr 98
25
Trang 27cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội Phải có động cơ trong
sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa học, không vụ lợi
d) Kiên quyết khắc phục uà ngăn ngừa bệnh chủ quan duy
sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế là
_ bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghỉ và hành động giản đơn,
nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan"! Sai lầm chủ quan .duy ý chí biểu hiện ở nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, chỉ xây dựng thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, xóa bỏ
ngay các thành phần kinh tế khác, 'eó lúc đẩy mạnh quá mức
việc xây dựng công nghiệp nặng, có nhiều chủ trương sai trong
việc xây dựng công nghiệp nặng, và trong việc cải cách giá cả,
„1, Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Dại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Vĩ Nxb
Sự thật, Hà Nội 1987 tr 26
26
Trang 28tiền tệ, tiền lương, tớm lại là vi phạm nhiều quy luật khách
quan Sai lâm chủ quan duy ý chí là biểu hiện sự thoát ly cả lý
luận khoa học lấn thực tiễn của đất nước, và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, góp phần làm cho nền kinh tế, xã hội
lâm vào tình rạng khủng hoảng
Bệnh chủ quan duy ý chí ở nước ta vừá qua không chỉ có
nguồn gốc từ nhận thức (như đã trình bày ở mục 3 điểm a) mà
tồn có nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp Sẽ không thể hiểu đúng bản chất của căn bệnh này ở nước ta, nếu Không tính đến những sái lầm *tâ" khuynh Trong cách mạng dân tộc dân chủ
và những sai lầm có tính chất chủ quan nóng vội trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bác trước đây, cũng như bối cảnh xã hội và khuynh hướng tư tưởng, tâm lý xã hội ở thời kỳ sau đại thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước
Do điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể quy định nên bệnh chủ quan duy ý chí nêu trên đây có những nét đặc thù bát nguồn từ lòng ham muốn và ảo tưởng "tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội" được thể hiện chủ yếu qua chủ trương, chính sách và hành động thực tiễn, chứ không phải bất nguồn một cách tự giác từ những học thuyết duy tâm nào đó Bệnh chủ quan duy ý chí ở
ta chủ yếu là do thiếu kiến thức, kém lý luận, sự lạc hậu của
nhận thức lý luận về chủ nghia xã hội, ít kinh nghiêm; do sai
lầm ấu trĩ "tả" khuynh chứ không phải do sai lầm của chủ nghĩa cơ hội chỉ phối,
Để khác phục và phòng ngừa bệnh chủ quan duy ý chí, phải
#
Trang 29
tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau Trước hết, phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy lý luận về chủ
nghĩa xã hội, về con đường di lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Bởi vì chỉ có tư duy lý luận khoa tọc mới cho phép nhận thức đúng về các quy luật khách quan của hiện thực, từ đó mới có
cơ sở để tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
đúng đán, một cơ chế quản lý kinh tế - xã hội thích hợp, cố hiệu quả để điều khiển các hoạt động kinh tế - xã hội Diều đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khác phục cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang co chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt là đổi mới sự lanh dao cua Dang bằng cách nâng cao nang lic tri tué, trinh
độ lý luận của Đảng thực hiện dân chủ hóa nội bộ Đảng và dan
chủ hóa xã hội, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tư tưởng bảo
thủ trì tr, bệnh quan lieu, giấy tờ
28
Trang 30CHUYEN DE 2
PHEP BIEN CHUNG DUY VAT - PHUONG PHAP | LUAN CHUNG NHAT CUA NHAN THUC KHOA
HOC VA THUC TIEN CACH MANG
1 Phương pháp và phương pháp luận
a; Phương pháp: Thuật ngữ "phương pháp" bất nguồn từ tiếng Hy Lạp là methodos, theo nghĩa thông thường dùng để chỉ những cách thức, thủ đoạn nhất định, được chủ thể hành dong su dung để thực hiện mục đích đã vạch ra Còn theo nghĩa chặt chế và khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tác được rút ra từ trí thức về các quy luật khách quan
để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực
Phuong pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiến của con người Do đó phương pháp là một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực Trên cơ sở 'những điều
kiện khách quan đã có, phương pháp càng đúng đán thì kết
quả đạt được càng cao, và ngược lại Ph.Bêcơn, nhà triết bọc
29°
Trang 31nổi tiếng người Anh, thế ky XVII da vi phuong phép như là
chiếc đèn soi đường cho khách lữ hành trong đêm tối Nói về vai trò của phương pháp cách mạng, đồng chí Lê Duẩn viết:
"Phong trào cách mạng có khi đậm chân tại chỗ, thậm chí thất
bại nữa, không phải vì thiếu một phương hướng và mục tiêu rõ ràng, mà chủ yếu vì thiếu một phương pháp cách mạng thích hợp
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm quan niệm hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp Chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp là những nguyên tác do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hành động Những người duy tâm xem phương pháp như một phạm trù
Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, phương pháp hình thành không phải một cách chủ quan tùy tiện Phương pháp không phải là những nguyên tác có sẵn, bất biến Nó phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mục đích đặt
ra Để tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ dat ra, chủ
thể phải nghiên cứu đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan Nghia là phải vạch rõ những tính chất, chỉ tiêu về số lượng và chất lượng Từ đó, nhận thức rõ những quy luật của nó Chỉ trên cơ sở đó, và sau đó, chủ thể mới xác định được phải nghiên cứu và hành động như thế nào, và cần
phải sử dụng phương tiện công cụ và biện pháp gì cho thích
1 lê Duẫn: Dưới lá cờ vẻ vang Nxb Sự thật" Hà Nôi 1976, tr.34
30
Trang 32hợp, cũng như cần phải kết hợp các yếu tố đã theo một trỉnh tự
như thế nào cho hợp lý Nghĩa là khi xác định phương pháp chỉ tuân theo một lôgíc nhất định, tùy thuộc vào lôgÍc của đối tượng Như vậy, phương pháp bát nguồn từ thực tiễn, phân ánh những quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu Sức mạnh của phương pháp là, trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật khách quan, nó đem lại cho khoa học và thực tiễn một công cụ có hiệu quả để nghiên cứu thế giới và cải tạo thế giới Phương pháp có nhiều loại và nhiều cấp độ khác
nhau:
- Phương pháp riêng, phương pháp đặc thù và phương pháp chung
- Phương pháp nhận thức và phương pháp thực tiễn
Việc phân biệt các loại phương pháp như trên chỉ cơ ý nghìa tương đối tùy theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại Tính tương đối giữa các loại phương pháp phản ánh tình hình thực tế là trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, các loại phương pháp
có thể được phối hợp đan xen và bổ sung cho nhau Cùng một đối tượng hay công việc có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng cuối cùng chủ thể phải lựa chọn một phương pháp tối ưu, và mang lại hiệu quả cao nhất Lựa chọn những phương pháp "giản tiện" để giải quyết những công việc phức " tạp nhằm rút ngắn thời gian, tiết kiệm chỉ phí, đưa lại hiệu quả cao dựa trên sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ hiện đại đang là xu hướng được chú ý hiện nay Chang
hạn, với sự phát triển cửa công nghệ vi xử lý, máy tính điện tử; phương tiện thông tỉa hiện đại hiện nay người kỹ sư chỉ cầm:
a
Trang 33b)Phương pháp luận: Trong thực tiễn, con người có thể áp
dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết công việc đã định Quá trình lựa chọn phương pháp có thể đúng hoặc sai Vậy làm thế nào để xác định được phương pháp đúng đán, khoa học ? Từ đớ, xuất hiện nhu cầu tri thức khoa học về phương pháp và đơ cũng là lý do để khoa học về phương pháp
ra đời Đó chính là phương pháp luận
Vậy, phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là khoa học về phương pháp Phương pháp luận giải quyết những vấn
đề như: phương pháp là gì ? Bản chất, nội dung, hình thức của
phương pháp như thế nào ? Phân loại phương pháp ra sao ? Vai trò của phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người thế nào ? Do đó, có thể nói cách khác, cụ thể hơn, phương pháp luận là hệ thống những quan
điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc
xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vị, - khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả tối đa
` Chẳng hạn, phương pháp luận toán học có nhiệm vụ nêu ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán cụ thể như phương
pháp tiên đề, phương pháp giả thiết - diễn dịch v.v Hoặc,
trong kinh tế, nhiệm vụ của phương pháp luận kinh tế là nghiên cứu các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp 32.
Trang 34điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích các hoạt động kinh
tế, phương pháp thống kê v.v Trên cơ sở đó, rút ra những quan điểm, nguyên tác chung chỉ đạo việc áp dụng các phương pháp kinh tế cụ thể như: quan điểm về hiệu quả, quan điểm về
đồng bộ, quan điểm về phát triển và tiến bộ xã hội v.v Việc
lựa chọn, áp dụng một phương pháp kinh tế cụ thể nào phải xuất phát từ những quan điểm, nguyên tác chung đó
Như vậy, phương pháp luận và phương pháp là khác nhau Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là những quan điểm, nguyên tác xuất phát chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp một cách đúng đắn Còn phương pháp là cách thức, thủ đoạn hoạt động (cả trong nhận thức và thực tiến) cụ thể của chủ thể, cái thứ nhất là thuần túy lý luận, cái thứ hai là cả lý luận và thực tiễn Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp, nhưng không nhằm mục đích xác định phương pháp cụ thể mà
là rút ra những quan điểm, nguyên tắc chưng cho việc xác định -và áp dụng phương pháp Vỉ vậy không nên nhầm lẫn giữa phương pháp và phương pháp luận Nhưng phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ, phương pháp luận là cơ sở nghiên cứu các phương pháp cụ thể, còn phương
pháp cụ thể phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của
phương pháp luận
Phương pháp luận cũng có các cấp độ khác nhaư: phương pháp luậw bộ môn, phương pháp luận: khoa học chung, và
phương pháp luận chung nhất - phương pháp luận triết học
Phương pháp luận bộ môn là phương pháp luận của-các bộ
TH-T3
Trang 35các bộ môn khoa học do
Phương pháp luận khoa học chung là những quan điểm, nguyên tác chung hơn, chỉ đạo việc xác định phương pháp bộ môn hay phương pháp luận của một nhớm các ngành của các
bộ môn khoa học có những điểm chung nào đó Vi du, phương
pháp luận chung của các ngành khoa học tự nhiên hoặc
phương pháp luận chung của các ngành khoa học xã hội Phương pháp luận bộ môn nào đó cũng có thể được coi là phương pháp luận khoa học chung nếu bộ môn đó được phát triển và chia thành những môn học độc lập Ví dụ, phương pháp luận toán học trở thành phương pháp luận khoa học chung cho các bộ môn toán học như: số học, hình học, đại số v.v Hay phương pháp luận sinh vật học trở thành phương pháp luận chung cho các bộ môn sinh học cụ thể khác nhau
như tế bao hoc, vi sinh hoc v.v :
Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học Nó khái quát những quan điểm, nguyên tác chung nhất _ làm xuất phát điểm cho việc xác định các phương pháp luận khoa học chung, phương pháp luận bộ môn và các phương
pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn
- Các phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa học , chưng và phương pháp luận chung nhất hợp thành một hệ
` thống khea học về phương pháp chỉ đạo chủ thể nhằm xác định
34
Trang 36các phương pháp cụ thể một cách đúng dan Cac loai phuong pháp luận này vừa độc lập tương đối với nhau, vừa bổ sung cho
nhau, thâm nhập vào nhau mặc dù không thể thay thế cho
nhau Do đó đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng tổng hợp các loại phương pháp luận, trong đó phép biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực
Tư duy siêu hình chỉ có ý nghĩa trong những giới hạn hết
mắc sai lầm Ph.Ángghen nhận xét: "Phương pháp tư duy ấy Nếu cứ quanh quẩn trong cái lĩnh vực tầm thường giữa bốn bức từng của nó thì là một ông bạn rất đáng kính; song nếu nó
liều lĩnh xông vào thế giới bao la của sự nghiên cứu thì sớm
hay muộn thế nào nó cũng vấp phải một hàng rào mà vượt ra ngoài hàng rào đó thì nó sẽ trở thành phiến diện, chật hẹp,
35
Trang 37
trừu tượng và sa vào những mâu thuẫn không thể nào giải 'quyết được "!
Hạn chế của phương pháp siêu hình còn thể hiện: "chỉ thấy
những sự vật cá biệt mà không thấy mối liện hệ giữa những sự vật ấy; chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà không thấy sự ra đời
và sự biến đi của sự vật; chỉ thấy trạng thái tinh cla sự vật mà không thấy trạng thái động của sự vật; chỉ thấy cây mà không
thấy rừng" 2,
Ngược lại, quan điểm biện chứng không chỉ thấy những sự
vật uá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ qua lại giữa chúng;
không chỉ thấy sự tồn tại, mà còn thấy cả sự hình thành và tiêu
vong của sự vật; không chỉ thấy trạng thái tĩnh, mà còn thấy
cả trạng thái vận động, biến đổi của sự vật; không chỉ thấy cây,
lại vừa là cái khác nó, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối
bài trừ lẫn nhau v.v Ngược lại, tư duy biện chứng là một tư
duy mềm đẻo, linh hoạt Tư duy biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái "hoặc là hoặc là "
còn có cái" vừa là vừa là ” nữa Chẳng hạn, một vật hữu hình trong một lúc vừa là nở lại vừa không phải là nó, một cái
1,2 Ph.Ăngghen: Chống Duywinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr 35
‘36
Trang 38tên đang bay trong mỗi lúc vừa ở vi tri A lai via không phải ở
vị trí A, cái khẳng định và cái phủ định loại trừ nhau lại vừa không thể lìa nhau v.v Ì `
Tớm lại, quan điểm siêu hình là quan điểm luôn luôn xem
` xét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng, tỉnh tại với tư
duy cứng nhắc; trong khi do, quan điểm biện chứng là quan điểm luôn luôn xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động, biến đổi, phát triển không ngừng với tư duy mềm dẻo, linh hoạt
Trong lịch sử triết học, thuật ngữ "siêu hình" có nguồn gốc
từ chữ "Metaphysique" được nhà bác học Arixtốt dùng để chỉ
những hoạt động nghiên cứu khoa học sau vật lý học của minh
Từ nửa cuối thế kỷ XV, thực nghiệm khoa hoc mới thực sự bắt đầu phát triển Đây là thời kỳ khoa học tự nhiên đi sâu vào phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên ra thành những bộ phận riêng biệt, cố định để nghiên cứu Điều đó đã đưa đến những thành tựu vĩ đại trong việc phát triển khoa học Nhưng phương pháp
nghiên cứu đố cũng tạo ra một thối quen xem xét sự vật trong
trạng thái cô lập, tách rời, bất biến, tức là phương pháp siêu hình Từ khi Bêcơn và Lốccơ đưa cách xem xét đở từ khoa hóc,
tự nhiên sang triết hoc thi nó làm cho phương pháp siêu hình trở thành phương pháp thống trị Nhưng đến cuối thế kỷ
XVII, sang thế KẾ XIX khi việc nghiên cứu tiến từ giai đoạn
Trang 39sưu tập sang giai đoạn chỉnh lý, sang giai đoạn nghiên cứu về các quá trình, về sự phát sinh, phát triển của sự vật, thì phương pháp siêu hình không còn đáp ứng được yêu cầu của nhận thức khoa học nữa Cuộc khủng hoảng vật lý học cuối thế
kỷ XIX, do quan niệm siêu hình chỉ phối là một ví dụ điển hình Những kết quả nghiên cứu mới, nhất là trong vật lý học và sinh vật học đã đòi hỏi phải có một cách nhìn biện chứng về
thế giới :
Cũng như thuật ngữ "siêu hình", thuật ngữ "biện chứng" đã được hình thành ở thời kỳ Hy Lạp cổ đại, gán liền với phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn Khi đó phép biện chứng
được hiểu là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý bằng
cách phát hiện các mâu thuẫn trong các lập luận của đối
phương và tỉìm cách giải quyết mâu thuẫn ấy Nhưng trước
Xôcrát đã có phép biện chứng tự phát gắn liền với tên tuổi của
'Hêraclít Phép biện chứng tự phát cổ đại đã phải lùi bước
trước phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn bởi vì, về
cơ bản tuy phép biện chứng ấy là đúng, nhưng mới chỉ là kết quả của những trực biến chứ chưa phải là kết quả của sự nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh Đến lượt mình, phép biện
chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn lại bị phép siêu hình (thế
kỷ XVII-XVH]):phủ định Sau đó, phép biện chứng duy tâm cận đại Dức lại phủ định phép siêu bình, do đòi hỏi một sự phát
triển của khoa học phải có một cách nhìn biện chứng về thế
giới Phép biện chứng do nền triết học cận đại Dức phát triển
bắt đầu từ Cantơ và hoàn chỉnh ở Héghen Tinh chất duy tam
38
Trang 40của phép biện chứng ấy (mà triết học Hêghen được coi là hệ thống hoàn chỉnh) thể hiện: coi biện chứng là sự phát triển của
"ý niệm tuyệt đối" Trong quá trình ấy, "ý niệm tuyệt đối" "tự
tha hóa", tức là chuyển hớa thành giới tự nhiên và sau đó lai
tré vé véi ban than minh trong tinh than Vi vay, 6 Héghen, sự phát triển biện chứng của thế giới chỉ là thể hiện sự tự vận
động của-"ý niệm tuyệt đối" mà thôi
Chính tÍnh chất duy tâm trong phép biện chứng của Hêghen là cái cần phải gạt bỏ: Mác và Ángghen đã cải tạo nó bằng cách chứng minh rằng, những ý niệm trong đầu óc của chúng ta chẳng qua chỉ là sự phản ánh của các sự vật hiện
thực, do đó, bản thân biện chứng của ý niệm cũng chỉ là sự:
phản ánh biện chứng của thế giới hiện thực Làm như vậy, Mác
và Ăngghen đã đặt phép biện chứng của Hêghen từ chỗ trước kia đứng bằng đầu, nay đứng bằng chân, cải tạo phép biện chứng ấy từ duy tâm thành duy vật và sáng tạo ra phép biện chứng duy vật - giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện ,
b) Sụ thống nhất giữa lý luận va phuong phap trong phép
„Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữ lý
luận và phương pháp Hệ thống các quy luật, phạm trù.của nó
không chỉ phản ánh đúng đắn thế-giới khách quan mà còn chỉ
ra những cách thức để định hướng cho con người trọng nhận thức thế giới và cải tạo thế giới "“
Phép biện chứng duy vật không chỉ khái quát những thành
tựu của tất cả các khoa học cụ thể, mà còn kết tỉnh những tỉnh
39