1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM

43 520 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ vềcác kiểu hệ thống phần mềm nhóm, định hướng với hoạt động giải quyết vấn đề bao gồm PSEEs Process-Sensitive Software Engineering Environments, cho phép một đội ngũ phát triển phầ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN



BÁO CÁO MÔN HỌC

BIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG

ĐỀ TÀI:

ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG

PHẦN MỀM NHÓM

Học viên thực hiện : ĐÀM THANH LONG

Mã số học viên : CH1101020

TP.HCM 2012

Trang 2

MỤC LỤC

I GIỚI THIỆU 2

II NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN 4

III NỀN TẢNG ONTOLOGY CHO SỰ PHÂN TÍCH TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC 7

III.1 Ontology cộng tác 8

III.2 Ontology phân tích sự tương tác và cộng tác 13

IV CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ FRAMEWORK 15

IV.1 Mô hình tiếp cận để thực hiện một quá trình phân tích 18

IV.2 Thiết lặp phân tích 22

IV.2.1 Thiết lặp quan sát 23

IV.2.2 Thiết lặp trừu tượng 23

IV.2.3 Thiết lặp can thiệp 25

V TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU 25

V.1 Giai đoạn mô hình hóa quan sát 28

V.2 Giai đoạn mô hình trừu tượng hóa 30

V.3 Giai đoạn mô hình hóa can thiệp 34

VI ĐÁNH GIÁ CỦA ONTOLOGY 34

VI.1 Đề xuất một Ontology toàn diện 35

VI.2 Đánh giá công nghệ hỗ trợ 38

VII KẾT LUẬN 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 3

I GIỚI THIỆU

Hơn thập kỷ qua, sự gia tăng của hệ thống phần mềm nhóm [28] rằng cho phép quá trình

xử lý cộng tác giữa các thành viên trong một tổ chức xã hội Các hệ thống phần mềm

nhóm phổ biến nhất là cho phép giao tiếp giữa các người dùng như (forum, chat, mạng xã

hội…) Tuy nhiên, những năm gần đây thấy rằng một sự gia tăng của nhiều hệ thống

phần mềm nhóm phức tạp nó cho phép một nhóm người dùng thực hiện các xử lý cộngtác điều này dẫn đến việc giải quyết những vấn đề hoặc thực hiện các nhiệm vụ Ví dụ vềcác kiểu hệ thống phần mềm nhóm, định hướng với hoạt động giải quyết vấn đề bao gồm

PSEEs (Process-Sensitive Software Engineering Environments), cho phép một đội ngũ

phát triển phần mềm làm việc cộng tác vào giải quyết các nhiệm vụ bên trong của mộtchu kỳ phát triển phần mềm [17]; hệ thống quản lý công việc cho phép các quy trình côngviệc giữa những đơn vị khác nhau của một tổ chức kinh doanh thực hiện các dự án toàn

cầu [45]; hoặc hệ thống CSCL (Computer Supported Collaborative Learning) cho phép

một nhóm sinh viên kết hợp cùng thực hiện giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên

đề xuất [13]

Song song với việc bùng nổ trong sử dụng hệ thống phần mềm nhóm, một lĩnh vựcnghiên cứu được gọi là phân tích sự tương tác và cộng tác [11] được đưa ra Lĩnh vực nàyđược khám phá như làm thế nào để mô tả công việc nhóm được thực hiện bởi người dùngvới các đối tượng khác nhau, chẳng hạn như phát hiện các thiếu sót trong phần mềmnhóm, cần được sửa chửa bởi các nhà phát triển hệ thống; cải tiến thông tin có sẳn chomỗi người dùng có liên quan đến hoạt động của các thành viên khác hay cho phép cácđánh giá bên ngoài hoặc các nhà phân tích kiểm tra phát triển quá trình cộng tác Để thực

hiện kiểu phân tích này, một chu kỳ gồm ba giai đoạn được dùng theo sau [12] (i) quan sát, nắm bắt các hành động thực hiện bởi các người dùng phần mềm nhóm và lưu trữ các

sản phẩm hoặc các dụng cụ tạo ra để giải quyết các vấn đề hoặc hoàn thành các nhiệm

vụ; (ii) trừu tượng, trong đó tính toán các chỉ số phân tích [10], tức là các biến mô tả các

khía cạnh của công việc nhóm (vd: cộng tác, giao tiếp) hoặc sản phẩm được phát triển

(vd: kích cở, chất lượng) và (iii) can thiệp, trong đó dùng các chỉ số phân tích để tăng

Trang 4

cường làm việc nhóm theo mục tiêu phân tích ví dụ, phần mềm nhóm tương thích cácnhu cầu cần thiết của người dùng hoặc một đánh giá gồm các xử lý công việc cho ngườidùng.

Phân tích các hoạt động cộng tác truyền thống với mục đích xác định hiệu quả nhất củaviệc cộng tác [14] Cùng với sự ra đời của hệ thống phần mềm nhóm, nhằm nổ lực để xác

định mối quan hệ giữa loại xử lý cộng tác (kích thước của nhóm, thời gian vào công

việc…) và chất lượng của các kết quả [6] Tuy nhiên, điều đó khó để đề xuất một quy

trình xử lý tổng quát mà có thể áp dụng được cho mỗi thiết lập cộng tác Với lý do này,một số phương thức cho việc đánh giá cộng tác đã được đề xuất [3] và người đánh giáhoặc các nhà phân tích nên chọn phương thức phù hợp nhất trên mỗi thiết lập cộng tác

Có vài phương pháp phân tích thường không tự động và chẳn hạn, họ yêu cầu phỏng vấnvới những người dùng phần mềm nhóm để thu được những ý kiến [2] Ở đây chúng tôi đềxuất một khung phân tích có thể cấu hình bởi các nhà phát triển phần mềm để thực hiệnmột phân tích gồm thiết lập cộng tác tự động

Kinh nghiệm của chúng tôi trong lĩnh vực phân tích tương tác và cộng tác [12] thấy rằngcác tiến trình trợ giúp người dùng phần mềm nhóm cải tiến kinh nghiệm hợp tác của họ.Một trong những lợi ích của việc phân tích tiến trình đã được nghiên cứu dựa trên quanđiểm người dùng phần mềm nhóm, đề xuất của chúng tôi là nhằm mục đích đơn giản cácyêu cầu của nhà phát triển để tạo ra các hệ thống phần mềm hỗ trợ các phân tích này Bêncạnh đó cho phép các nhà phát triển phần mềm xây dựng một hỗ trợ tính toán để tự độngcác phân tích tương tác và cộng tác một cách dễ dàng hơn, bài viết này đề xuất mộtkhuôn khổ Ontology mà các khái niệm dựa trên một mức độ trừu tượng cao, hoạt động

cộng tác được hỗ trợ bởi phần mềm nhóm và các giai đoạn phân tích chu kỳ (quan sát,

can thiệp và trừu tượng) Nhiệm vụ của Ontology là khái niệm được các thành phần tham

gia vào phân tích tương tác và cộng tác (chỉ số phân tích, can thiệp…) và xác định ngữ

nghĩa Tuy nhiên đó là sự cần thiết để tạo một hỗ trợ tính toán cụ thể điều này cho phép

các nhà phát triển phần mềm thực hiện các phân tích (suy luận ra các chỉ số, thực hiện

việc can thiệp…) trong một thiết lập cụ thể Để làm được điều này trong bài viết mô tả

Trang 5

một cơ sở hạ tầng công nghệ cho phép các nhà phát triển thực hiện tiến trình phân tíchnày bằng những mô hình cụ thể Vậy các Ontology là một phần công việc xác định cácthành phần tham gia vào phân tích tương tác và cộng tác Từ đó cần thiết để giải quyếtmột siêu mô hình mà biểu diễn tính toán có cấu trúc gồm phân tích sự tương tác và cộngtác.

Bài viết này bao gồm sáu phần bổ sung, phần 2 đưa ra các kiến nghị liên quan đến kháiniểm của việc phân tích tương tác và cộng tác, một số đã được dùng như là một cơ sở đểxây dựng khung Ontology Phần 3 mô tả đề xuất Ontology về các khái niệm phân tích sựtương tác và cộng tác Phần 4 mô tả một đề xuất cơ sở mô hình để tạo ra một hệ thống tựđộng thực hiện phân tích các tiến trình tương tác và cộng tác Phần 5 thảo luận mộttrường hợp nghiên cứu trong khuôn khổ làm việc được dùng để thiết lập một tiến trìnhphân tích trong SPACE-DESIGN [18] Phần 6 đánh giá khung đã được trình bày, thảoluận tính hợp lệ của khái niệm đề xuất và công nghệ hỗ trợ cho việc thực hiện phân tích.Cuối cùng phần 7 mô tả rút ra kết luận và bài học kinh nghiệm từ công việc được pháttriển và đề xuất hướng tiếp theo

II NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN

Một số công trình đề xuất khung khái niệm cho các mô hình và hệ thống phát triển phầnmềm nhóm [22, 35, 37, 39, 50] Mặt dù họ không giải quyết phân tích sự tương tác và

cộng tác, chỉ đưa ra các khái niệm cơ bản có liên quan đến cộng tác (công cụ phần mềm

nhóm, người dùng, nhóm làm việc…) điều đó thì nên đưa tài khoản trong các tác vụ phân

tích Ngôn ngữ OWL được dùng rộng rải trong Ontonlogy hơn nữa ngôn ngữ này được

hỗ trợ bởi công cụ WebProtege điều này cho phép người dùng xây dựng các Ontologycộng tác chẳng hạn, khái niệm của Noguera[42] bằng cách biểu diễn một Ontology trong

OWL, hệ thống cộng tác sử dụng các khái niệm quan trọng (vai trò, quy tắc, giao thức…)

và trọng tâm của sự cộng tác là xảy ra trong các tổ chức xã hội phức tạp bao gồm nhiềunhóm làm việc Mặt dù Ontology này kiến nghị không giải quyết tự động phân tích của

sự cộng tác, có thể có ích, ví dụ nhận diện các hành động được hỗ trợ bởi hệ thống phầnmềm nhóm chính vì thế các hoạt động đó cần được phân tích Trình bày của Duque [19]

Trang 6

xử lý của Ontology này là dùng bắt nguồn từ các log file với thông tin rằng hành độngngười dùng mô tả phải được phân tích Hơn nữa trong trường hợp phân tích này không cókhả năng thực hiện một cách tự động bởi vì sự hỗ trợ của Ontology không bao gồm hếtcác tiến trình phân tích này Liu [38] không khái quát hết hệ thống phần mềm nhómnhưng định nghĩa một Ontogly khái quát nguồn tri thức được chia sẽ trong doanh nghiệp

ảo Những tài nguyên chia sẽ là những thành phần trung tâm trong một tổ chức phức tạp

và luôn được dùng bởi hệ thống phần mềm nhóm

Gangemi [25] đề xuất sử dụng các mô hình Ontology của một chuỗi hoạt động rằngngười dùng phần mềm nhóm nên thực hiện để đạt được mục đích của vấn đề Khái niệmnày cho phép một quá trình phân tích bởi vì nó có thể xác định mức độ người dùng theosau giới hạn chuỗi các hoạt động Gallardo [23] xác định khái quát mục tiêu đạt đượcthông qua mô hình thiết kế cộng tác Khái niệm này là mô hình ngôn ngữ UML Trongtrường hợp này các mục tiêu được chỉ rỏ bằng một tập các yêu cầu ràng buộc Các hạnchế hay ngăn cấm trên các quy trình làm việc cộng tác hoặc giải pháp cuối cùng để thực

hiện vấn đề (số lượng tối đa của các thành phần, cấm sử dụng một công cụ cụ thể…).

Các yêu cầu xác định những thuộc tính rằng tiến trình cộng tác hay giải pháp cộng tác

phải đạt được mục tiêu (giải pháp cộng tác bao gồm thuộc tính cụ thể chỉ nhận diện duy

nhất đến các thành phần, nghĩa vụ tham gia bình phẩm giải thích giải pháp được xây dựng ) Các mô hình khái niệm hóa thông tin nâng cao nhận thức, mô tả hoạt động trong

hệ thống phần mềm nhóm, giúp ích cho việc đánh giá phân tích bởi vì thông tin nhậnthức sẽ làm nhiều thông tin phong phú từ quan điểm việc nghiên cứu đánh giá sự cộng tácdiễn ra thế nào Geenberg và Tam [49] thiết kê một lý thuyết khung trong đó xác địnhthông tin nào phải xử lý để mô tả những thay đổi được thực hiện người dùng phần mềmnhóm trong các công việc chi tiết Babic [4] đi sâu vào khái niệm của nhận thức với mộtOntology nhằm diễn đạt được tiến trình xử lý cộng tác như một hoạt động nơi mà ngườitham gia tương tác thông qua việc tính toán hoặc khái niệm trong giải quyết các vấn đề

Vì vậy phương pháp này được bao quát gồm kết quả vận dụng (thêm thành phần mới,

thay đổi một thành phần…) tiêu tốn của phương pháp được đề xuất [32,36] nhằm cung

cấp nhận thức về sự thiết lặp tương tác trực tiếp giữa các thành viên ( trả lời một câu hỏi,

Trang 7

thay đổi một vai trò trong nhóm ) Vieira [51] làm phong phú về nhận thức với sự diễnđạt gồm các ngữ cảnh trong mỗi hành động xãy ra Thông tin theo ngữ cảnh này bao gồm

sự mô tả của nhóm người dùng và vai trò mà người dùng tham gia vào bên trong nhóm.Gallardo [24] không chỉ tạo một Ontology mà các khái niệm nhận thức gồm hệ thốngcộng tác nhưng họ cũng đề xuất dựa trên một phương thức mô hình để phát triển cơ chếphần mềm nhằm cung cấp nâng cao nhận thức thông tin Hơn nữa họ không được tiếpcận phát triển của sự cộng tác và cơ chế phân tích sự tương tác

Có một số khung khái niệm khác mà đặc biệt nói lên phân tích sự tương tác và cộng tác

Họ xác định rằng định nghĩa và các thành phần có liên quan mà cho phép đặt tả các hoạtđộng của người dùng theo mục đích phân tích Như vậy Pedrinaci [43] khái niệm hóa cáctiến trình, nguồn lực và các đối tượng mà nên phân tích để đặt tả các quy trình kinh doanhtrong một môi trường chuyên nghiệp Barros [9] đã được thiết lập một khung sườnOntology dựa trên các khái niệm lý thuyết hoạt động [37] và được diễn tả trong XML.Ontology này chứa đựng một các phương thức phân loại có sẳn cho việc phân tích để xử

dụng nhằm mục đích nào đó (để phân tích các hoạt động trong việc chia sẽ không gian

làm việc, để phân tích sự tương tác giữa người dùng…) Một khái niệm khác đươc được

chấp nhận [30] với khuôn khổ khái niệm đặc biệt mà thiết lập các quan hệ giữa một sốhình thức được hỗ trợ bởi hệ thống CSCL và các loại hoạt động của người dùng, tiếp tụctrong lĩnh vực hệ thống CSCL, Daradoumis [16] đề xuất một tập các phương thức gồmphân tích dữ liệu và khai thác E-learning

Nhìn lại các khuôn khổ khái niệm, quan sát thấy rằng một lượng đáng kể các đề xuấtnhằm giải quyết các hệ thống khái niệm của phần mềm nhóm, các quy trình giải quyếtvấn đề về cộng tác và nhận thức thông tin Mặt dù có các khuôn khổ không thực sự giảiquyết các khái niệm về phân tích sự tương tác và cộng tác mà chúng bao gồm các yếu tố

mà cho phép suy luận ra các thành phần chính tham gia vào quy trình giải quyết vấn đềcộng tác được hỗ trợ bằng phần mềm nhóm và vì thế thiết bị này nên đưa vào một tàikhoản cho việc phân tích các tác vụ Về các khuôn khổ phân tích sự tương tác và cộng tác

đang hướng đến một kiểu phân tích cụ thể (ví dụ như dựa trên hoạt động lý thuyết, nhằm

Trang 8

thiết lặp mô hình hoạt động, nhằm tính toán một tập cụ thể về các chỉ số phân tích) Do

đó đề xuất của nhóm sau này khái niệm hóa một kiểu phân tích mà việc đề xuất khôngđược trình bày môt cách khái quát để hướng dẫn các nhà phát triển tự động hóa và cácphân tích phù hợp thông qua một quy trình cộng tác cụ thể Vì vậy một nhu cầu rõ ràngcho việc bao gồm khung Ontology để giúp các nhà phát triển trong việc khái niệm hóacủa sự cộng tác và quy trình giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ tính toán cho sự phát triểncủa hệ thống phân tích Trong phần tiếp theo người viết mô tả khung sườn Ontology đểphân tích các hoạt động cộng tác được hỗ trợ bằng phần mềm nhóm

III NỀN TẢNG ONTOLOGY CHO SỰ PHÂN TÍCH TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC

Hiện tại, Ontology được dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (công nghệ phần mềm, cơ

sở dữ liệu, công nghệ tri thức…) và cho các mục đích khác nhau (xử lý ngôn ngữ tự nhiên, web ngữ nghĩa, thương mại điện tử…) Trong thời đại gia tăng mô hình Ontology,

Jasper và Uschold [31] cung cấp một đặt tả Ontology nhằm cho phép các ứng dụng trongnhiều lĩnh vực mới Theo các tác giả “một Ontology có sự đa dạng nhiều hình thức,nhưng nhất thiết nó phải bao gồm một số điều khoản về từ vựng, và một số đặt điểm kỹthuật Điều này bao gồm các định nghĩa và chỉ số của các khái niệm có liên quan qua lạiđược áp đặt có cấu trúc trên các lĩnh vực và hạn chế giải thích về từ ngữ”

Trong lĩnh vực công nghệ phần mềm và cơ sở dữ liệu, biểu đồ UML được dùng như làmột kỹ thuật của mô hình Ontology [46] Một trong những lý do sử dụng biểu đồ UMLtrong việc xây dựng Ontology gồm có: sơ đồ UML được hiểu một cách dễ hơn và đượcdùng với người dùng mà chưa từng làm việc trên Ontology; có một tiêu chuẩn biểu diễnhình ảnh cho biểu đồ UML; có hàng loạt công cụ hỗ trợ mô hình biểu đồ UML [5,15,34]một phương pháp đề xuất cụ thể làm thế nào dùng biểu đồ UML cho mô hình Ontology.Theo Gomez-Perez [27] mặt dù các kỹ thuật dựa trên UML không có nghĩa là xây dựngOntology cụ thể, chúng có thể hiệu quả cho các mô hình Ontology không chính thống bởi

vì chúng cung cấp một miền tri thức có cấu trúc và hạn chế về nội tại Tuy nhiên

Trang 9

Gomez-Perez [27] nhấn mạnh rằng mô hình tri thức có thể coi như một Ontology nếu được sựđồng thuận giữa khoa học và biểu diễn tri thức Guizzardi [29] chỉ ra rằng biểu đồ UML

có thể dùng như là một ngôn ngữ để thể hiện một lĩnh vực của mô hình khái niệm Cáctác giả định nghĩa một tập các hướng dẫn để thiết kế Ontology tìm ra các mô hình kháiniệm dùng biểu đồ UML Nên lưu ý rằng đề xuất [26] tự động chuyển các OntologyUML chi tiết thành OWL Do đó Ontology đề xuất dưa trên ngôn ngữ UML có thể dùnglại bằng chi tiết OWL Tiếp đó các tiền đề, những khái niệm về Ontology cho phân tích

sự tương tác và cộng tác là một phần được rút trích từ hợp nhất khái niệm được mô tảtrong phần 2 và cũng từ kinh nghiệm trong việc phân tích sự tương tác và cộng tác[12,19] Để thực hiện nhiệm vụ được nêu và định nghĩa các điều khoản trong khuôn khổOntology , lưu ý các điều khoản xác định ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ tự nhiên, liên quanđến phân loại và mô tả các điều khoản, chúng tôi sử dụng một ký hiệu bán chính thức baogồm sơ đồ UML Các khái niệm và các quan hệ được tổ chức thành 2 Ontology:Ontology của việc cộng tác và Ontology phân tích sự tương tác-cộng tác Trước tiên cácthành phần khái niệm Ontology tham gia vào quy trình giải quyết vấn đề cộng tác được

hỗ trợ bằng phần mềm nhóm Phân tích thứ 2 các khái niệm hóa Ontology theo 3 giai

đoạn (quan sát, trừu tượng, can thiệp) của chu kỳ phân tích sự tương tác và cộng tác

trong hệ thống phần mềm nhóm được trình bày ở trên Ontology phân tích sự tương tác

và cộng tác gồm thông tin khái niệm bằng Ontology cộng tác vì các phân tích được xử lýthông tin về sự cộng tác Tuy nhiên viêc cộng tác Ontology có ích cho việc các đề xuất

không liên quan đến phân tích tương tác và cộng tác (chẳng hạn như mô hình xử lý cộng

tác, phân loại các hoạt động được hỗ trợ bằng một hệ thống phần mềm nhóm…) vì lý do

này mà Ontology cộng tác và Ontology tương tác-cộng tác được biểu diễn như cácOntology riêng biệt

Trang 10

mục tiêu và (iii) khái niệm lĩnh vực ứng dụng Ontology con gồm các thành phần màngười dùng có thể thao tác đưa ra hoặc cũng giải quyết vấn đề.

Quá trình cộng tác Ontology con là một quá trình bao gồm giải quyết một tập các vấn đềmục tiêu bằng việc xây dựng một tập các giải pháp kết quả mà đó là nhiệm vụ của lĩnhvực ứng dụng (hình 1)

Hình 1: việc cộng tác Ontology

Mô hình Ontology bao gồm khái niêm tác vụ như là một đơn vị nhỏ của quá trình cộngtác để giải quyết một tập con của mục tiêu các vấn đề Hơn nữa một nhiệm vụ có thể chiathành nhiều nhiềm vụ con thay vì một dự án hoặc quá trình cộng tác có thể lặp kế hoạchbằng cách thực hiện chia ra những thứ bật của công việc.Điều này được gọi là một tiếpcận Breakdown Structure [44] trong quá trình cộng tác được chia riêng biệt trong từngmục công việc Các nhiệm vụ này được giám sát một cách dễ dàng Trong trường hợpquá trình cộng tác không bao gồm một dự án lớn chẳng hạn như xử lý nhanh các tình

Trang 11

huống có cấu trúc trong một số nhiệm vụ nhỏ (chia các ý tưởng chung, phân loại các ý

tưởng…) đó là cách để thực hiện cộng tác có tổ chức [33] Khuôn khổ Ontology liên quan

đến hoạt động lý thuyết (ví dụ: bao gồm môt phần ngữ cảnh của quá trình cộng tác, các

công cụ được sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ) Đối với việc này quy trình cộng tác

của Ontlogy con gồm các công cụ bao gồm trong hệ thống phần mềm nhóm mà người sửdụng dùng để giải quyết các nhiệm vụ Nhóm người dùng sử dụng các cộng cụ được cungcấp bởi hệ thống phần mềm nhóm để thực hiện các hoạt động nào đó, được đề xuất bằng

mô hình kép [7, 8] có thể đóng góp vào sự tương tác xã hội (hoạt động xã hội) hoặc đề đưa ra kết quả giải pháp (thực hiện giải quyết vấn đề) Hơn nữa mô hình Ontology phân loại các hoạt động giải quyết vấn đề (liên quan đến sự tương tác với kết quả giải pháp) phương tiện hoạt động (là sự thay đổi kết quả các giải pháp) và hành động nhận thức (không làm thay đổi các tình trạng kết quả giải pháp, nhưng có liên quan đến nhận thức

bên ngoài, thông tin lưu trữ ) Các hoạt động xã hội được phân lớp trong giao tiếp (khi

đó một thông điệp được trao đổi qua lại giữa các thành viên) và phương thức liên quan

đến hành động (không có một đối thoại giữa các thành viên nhưng hành động này được

góp phần vào tiến trình cộng tác) Mặt khác theo đề xuất [51], thông tin ngữ cảnh của

tiến trình cộng tác nên bao gồm một phần của tổ chức, với lý do này mà tiến trình cộngtác của Ontology con bao gồm một phần khái niệm mà xác định các thành phần gồmnhóm người dùng tham gia vào giải quyết các nhiệm vụ khác nhau khi họ thực hiện cáchoạt động Trong quá trình cộng tác được thực hiện bởi một tổ chức mà việc xây dựngkết quả giải pháp đáp ứng được yêu cầu người dùng, những nhiệm vụ này được xem làkhá quan trọng và phải được hoàn thành trước Với lý do đó mà nhiệm vụ phải được kếthợp nhằm tránh hạn chế khi bắt đầu hoặc kế thúc công việc Theo khái niệm này mộtnhóm bao gồm các nhóm nhỏ khác làm việc với nhau và đưa ra các quy trình làm việcchung với nhau

Miền ứng dụng của các Ontology con có các thành phần mà những người tham gia các

hoạt động cộng tác có thể thao tác để xây dựng giải quyết các vấn đề mục tiêu (xem hình

1) Miền ứng dụng được biểu diễn bằng các khái niệm trung tâm (các thực thể) được kết

nối bằng các liên kết (kết hợp) cả hai, thực thể và kết hợp chứa các thuộc tính được định

Trang 12

nghĩa bằng trạng thái của họ ví dụ các kỹ thuật lĩnh vực ứng dụng có thể được định như

là một tập thực thể (cổng logic như: and, or ) được kết nối bằng các kết hợp được truyền

tín hiệu từ cổng này đến cổng khác

Mục tiêu chính của giải quyết Ontology con là để xác định một khái niệm mà trong đó

các đặc tả và kết quả của quy trình cộng tác được định nghĩa (xem hình 1) Trong một số

trường hợp, một mục tiêu phức tạp được định nghỉa như là một thành phần gồm nhiềumục tiêu Theo cách tiếp cận được đề xuất [42] quy trình kết hợp được định nghĩa bằngmột tập các luật được thiết lập chứa hành vi của người dùng hệ thống phần mềm nhómgiữ vai trò nhất định những gì trong đó Cụ thể là mỗi mục tiêu được định nghĩa là mộttập các luật được đặc tả mà phải thực hiện cả 2 quy trình cộng tác và kết quả giải pháp.Mỗi luật liên quan đến một khía cạnh công cụ phần mềm nhóm hoặc những yếu tố thuộc

về một ứng dụng được dùng Các luật gồm những mô hình Ontology không những chỉ rõcác chuỗi hoạt động mà còn cho phép giải quyết thành công các mục tiêu, nhưng theophương pháp tiếp cận [23] để xác định nhiệm vụ và cấm thì phải được thực hiện trongquy trình cộng tác Mục tiêu chính của quy trình cộng tác là người dùng đưa ra một giảipháp cụ thể giải quyết tất cả các mục tiêu Đôi khi cũng có thể biết đến như là giải pháp

lý tưởng của quy trình cộng tác thuận lợi, ví dụ như trong môi trường học nơi mà ngườithầy đưa ra giải pháp tốt nhất của một vấn đề cho sinh viên giải quyết Tuy nhiên đóthường không phải là một giải pháp tốt trong môi trường chuyên nghiệp Điều này nói lênrằng các công ty luôn cố gắng tạo ra tập các giải pháp tốt để đáp ứng nhu cầu kinh doanhcủa họ Mặc dù vậy công ty luôn có một vài tính năng mà giải pháp lý tưởng phải đượcđáp ứng, ví dụ như nó không thể bao gồm hết một lượng lớn gồm các thành phần của lĩnhvực ứng dụng bởi vì chúng rất đắt tiền Trong những trường hợp các luật cho phép mộttrong những tính năng cụ thể nên được hoàn thành Một luật có 2 trường hợp gồm

Hạn chế: là một giới hạn hay ngăn cấm để ưu tiên trong quá trình giải quyết các vấn đề

mục tiêu ví dụ như một hạn chế cụ thể rằng một phần cứng của một máy tính cá nhânkhông thể có nhiều hơn 2 con chip vì giá thành cao

Trang 13

Yêu cầu: cần xác định nhiệm vụ hoặc cần thiết xác định người dùng phần mềm nhóm

nào nên giải quyết ưu tiên Yêu cầu có thể mô tả các thuộc tính của các yếu tố hoặc riêngbản thân nội tại, ví dụ: một yêu cầu xác định rằng người dùng cần phải xây dựng một giảipháp kết quả đưa ra chính xác của 5 thành phần ứng dụng

Hơn thế nữa mỗi luật cần bao nhiêu giá trị tham chiếu và cho phép đánh giá đầy đủ trên

đó (ví dụ: giá trị số xác định thời gian tối đa cho phép dùng một công cụ phần mềm

nhóm hay số lượng các thành phần có thể tạo ra một giải pháp kết quả) Cuối cùng vấn

đề mục tiêu Ontology con là giải pháp lý tưởng như là một sản phẩm giải quyết các đềxuất và đáp ứng được tất cả các yêu cầu hạn chế

Bảng 1: khái niệm việc cộng tác của Ontology theo bản chữ cái

Khái niệm Mô tả Ontology con

Hoạt động Đơn vị của việc cộng tác (thêm một thành phần được chia sẽ trên bang, gởi

một thông điệp trong cuộc trò chuyện…) Quy trình cộng tácLiên đới Kết nối giữa các thực thể Miền ứng dụng Thuộc tính Giải trị mô tả của một thực thể hoặc liên đới Miền ứng dụng Hành động nhận thức Là tương tác kết quả giải pháp nhưng không được điều chỉnh Quy trình cộng tác Tiến trình cộng tác Tiến trình cộng tác giửa người dùng cùng giải quyết vấn đề mục tiêu Quy trình cộng tác Hoạt động giao tiếp Cho phép trao đổi thông điêp giữa người dùng Quy trình cộng tác Hạn chế Giới hạn hoặc ngăn cấm các công việc cộng tác hoặc chiết xuất ra kết quả Vấn đè mục tiêu Miền Thiết lặp các yếu tố cài đặt và liên đới cho phép đưa ra giải pháp để giải quyết

vấn đề Người dùng được thực hiện các thao tác trên yếu tố miền để xây dựng các giải pháp.

Miền ứng dụng

Thực thể Các khái niệm trọng tâm của một ứng dụng miền mà có thể cài đặt và kết nối

với miền khác

Miền ứng dụng Nhóm Thiết lập người dụng vào cùng một quá trình cộng tác Quy trình cộng tác Phần mềm nhóm Hệ thống công nghệ mà hỗ trợ làm nhóm làm việc Quy trình cộng tác

Ý kiến giải pháp Miền ứng dụng giải quyết các mục tiêu và thay vì đáp ứng được tất cả các luật

đề xuất Vấn đề mục tiêuThực hiện công cụ Thực hiện để thay đổi kết quả giải pháp Quy trình cộng tác Loai thực hiện Hoạt động được phân loại Quy trình cộng tác Luật Điều kiện thực hiện để giải quyết các vấn đề mục tiêu Vấn đề mục tiêu Mục tiêu vấn đề Đây là một khái niệm trừu tượng nó mô tả thế nào của một quy trình kết hợp

và mô tả các giải pháp lý tưởng Vấn đề mục tiêuGiao thức quan hệ Hoạt động điều phối quy trình cộng tác mà không cần thiết lập một đối thoại

giữa người dùng (yêu cầu truy cập để chia sẽ khoản làm việc, tán thành một đề xuất…)

Quy trình cộng tác

Hành động giải pháp Hoạt động tương tác với giải pháp kế quả Quy trình cộng tác Yêu cầu Nhiệm vụ hoặc cần phải thực hiện đầy đủ bởi quy trình cộng tác của sản phẩm Vấn đề mục tiêu Vai trò Được giao trách nhiệm cho người dùng Vấn đề mục tiêu Giai đoạn Xác định thời gian giới hạn của cộng tác và thành phần nhóm người dùng Quy trình cộng tác Hoạt động xã hội Cảm nhận bởi các thành thiên của nhóm làm việc nhưng không tương tác với

giải pháp kết quả Quy trình cộng tácKết quả giải pháp Ví dụ của miền ứng dụng được xây dựng bởi người dùng để giải quyết một vấn

đề nào đó

Quy trình cộng tác Tác vụ Quy trình công tác nhỏ để giải quyết tập con của các vấn đề mục tiêu Quy trình cộng tác Công cụ Công cụ gồm trong phần mềm nhóm để hỗ trợ thực hiện một số hoạt động Quy trình cộng tác Người dùng Tham gia vào quy trình cộng tác Quy trình cộng tác

Trang 14

(Bảng 1) thu thập các khải niệm làm việc cộng tác Ontology (hình 1) với một mô tả về

ngữ nghĩa

III.2 Ontology phân tích sự tương tác và cộng tác

Ontology tạo thành 3 Ontology con (hình 2): (i) quan sát quy trình của Ontology con đểthấy được những thông tin từ hai việc phát triển cộng tác và kết quả của các giải pháp, (ii)trừu tượng hóa khái niệm Ontology con quy trình suy luận gồm phân tích các chỉ số và(iii) sự can thiệp của Ontology con các thủ tục mà sử dụng kết quả phân tích, các chỉ sốphân tích, cải thiện việc kết hợp bằng các hoạt động phù hợp

Ontology con quan sát nắm bắt các quy trình và mô hình các hoạt động diễn ra suốt quátrình cộng tác và kết quả của các giải pháp Mục tiêu của Ontology con quan sát là kếthợp, trong quá trình phân tích, các tiếp cận [36] để nắm bắt khái niệm và mô hình hóagồm các hoạt động được thực hiện bởi người dùng phần mềm nhóm và [4] xem xét đưa

ra kết quả giải pháp từ việc cộng tác Với điều này tiến trình quan sát (xem hình 2) thông

tin nhận được từ tất cả các hoạt động được thực hiện trong suốt quy trình cộng tác.Những thông tin này được dùng để xây dựng mô hình hoạt động mà gồm các mô tả đượcđặc tả trong mỗi hoạt động khi một hoạt động tương tác với các sản phẩm được xây

dựng bên dưới, mô hình hoạt động kèm theo một biểu diễn của sản phẩm (mô hình sản

phẩm) Sau khi nắm bắt được quy trình và mỗi mô hình hoạt động kết thúc, người quan

sát gửi những mô hình để cập nhật, việc này được đưa vào lưu trữ trong nhật ký Như vậy

có các hoạt động biểu diễn liên tục và quy trình kết hợp của các sản phẩm

Quy trình của Ontology con trừu tượng là suy ra một tập những chỉ số phân tích các đặc

tả của tiến trình cộng tác và kết quả giải pháp tổng quát được tạo ra bởi người dùng (xem

hình 2) Khái niệm theo sau là một cách tiếp cận giống như [16], trong đó gồm các

phương pháp để suy các chỉ số phân tích cộng tác Tuy nhiên khái niệm cộng tácOntology con của chúng tôi từ mức độ trừu tượng cao và không bao gồm các phươngpháp mức độ thấp hay các kỹ thuật để tính toán hoặc suy luận ra các chỉ số phân tích cụthể Đặc biệt Ontology con trừu tượng thông tin được chọn lọc trong giai đoạn quan sát

Trang 15

như đầu vào (Intput) và đưa ra các chỉ số đặt trưng cho cả 2 quá trình làm việc được pháttriển bởi người dùng nhóm phần mềm và kết quả đầu ra (Output) vì thế cho phép họ đượcphân tích Một chỉ số phân tích được thiết lặp bởi các giá trị cụ thể mà có thể xảy ra bằngmục địch của nó Các chỉ số định lượng chỉ có thể đưa ra giá trị số, các chỉ số định tínhkhông thể đưa ra giá trị số Ví dụ như một chỉ số chi phí mà đếm được các thành phần

trong lĩnh vực ứng dụng được sử dụng để xây dựng một sản phầm (đây là mục tiêu) và có

3 giá trị rời rạc (thấp, trung, cao) Một tập những chỉ số có thể được dùng để suy ra một

chỉ số mới Chỉ số mới này là chỉ số bậc cao bởi vì nó dựa vào các chỉ số khác Bởi vìchúng không chỉ dựa vào các chỉ số khác, các chỉ số bậc thấp được tính toán đơn giảntrong việc xử lý thông tin được lưu trữ trong nhật ký

Sự can thiệp của Ontology con là một quá trình bao gồm các chỉ số suy luận với mục tiêucuối cùng của việc cải thiện việc cộng tác Để xây dựng Ontology con này, đề xuất [12]làm cơ sở, trong đó đưa ra 6 chiều để đặc tả mỗi sự can thiệp (i) khi có sự can thiệp diễn

ra (ii) các điều kiện để thi hành các sự can thiệp (iii) hình thức của sự can thiệp (tương

thích giao diện người dùng, hiển thị lời khuyên…) (iv) mục tiêu của sự can thiệp (v) nơi ( đưa ra sự chia xẻ, diễn đàn…) trong đó can thiệp thực hiện và (vi) thông tin dùng để xen

vào ( giá trị của các chỉ số, nội dụng của một thông điệp tư vấn…) Theo 6 chiều thì Ontology con tạo nên khái niệm của nó (xem hình 2) cụ thể là khi các cơ chế được cải thiện thì quá trình cộng tác cần được kích hoạt (điều này thường xác định các loại hoạt

động hoặc xác định thời gian trôi qua) Các điều kiện cần thiết để can thiệp trong hoạt

động cộng tác thường bao gồm kiểm tra những giá trị của các chỉ số phân tích; chi tiết kỹ

thuật (hình thức) làm thế nào can thiệp vào trong quá trình cộng tác (hiển thị lời khuyên,

thay đổi không gian làm việc, tương thích với giao diện người dùng…);

Trang 16

Hình 2: cộng tác và tương tác của Ontology

Đối tượng người dùng nhận các hành động can thiệp; các địa điểm hay cộng cụ từ hệthống phần mềm nhóm nơi mà sự can thiệp sẽ được thực thi; và văn bản can thiệp vớinhững thông tin cần thiết để can thiệp Bảng 2 thu thập các khái niệm của Ontology phântích sự tương tác và cộng tác với một mô tả ngữ nghĩa, theo thứ tự bảng chữ cái

IV CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ FRAMEWORK

Chúng tôi trình bày công việc để khái niệm về phân tích sự tương tác và cộng tác trong

hệ thống phần mềm nhóm Thời điểm này chúng tôi tiếp cận những thách thức của kháiniệm này để tự động thực hiện các quy trình phân tích (hình 3) trình bày các chức năngchính của một hệ thống phân tích được đồng bộ hóa với một hệ thống phần mềm nhóm.Chúng tôi phân biệt giữa 4 giai đoạn trong việc đồng bộ hóa Giai đoạn đầu tiên là ngườidùng truy cập vào hệ thống phần mềm nhóm và bắt đầu một phiên làm việc; chổ này sẽ tự

Trang 17

động thông báo đến hệ thống phân tích để bắt đầu quy trình phân tích Giai đoạn thứ 2những người dùng thực hiện các hành động của họ trong hệ thống phần mềm nhóm

truyền đạt thông tin mô tả mỗi hành động (tên hành động, người dùng thực hiện nó) Khi

hành động được thực hiện kết quả của giáp pháp là kết quả của việc thực hiện hànhđộng…) để hệ thống phân tích Giai đoạn thứ 3 thông tin này được phân tích bằng hệthống phân tích để suy luận thành các chỉ số và xác định sự can thiệp Giai đoạn thứ 2 và

3 là một phần trong suốt tiến trình kết hợp Trong giai đoạn thứ 4 người dùng hoàn thànhhoạt động cộng tác và tình trạng này được giao tiếp bởi phần mềm nhóm để hệ thốngphân tích

Bảng 2: Các khái niệm về phân tích sự tương tác và cộng tác Ontology, theo thứ tự chữcái

Trừu tượng Quá trình ghi lại dữ liệu log vào Input và đưa ra các chỉ số để phân tích quy trình

kết hơp và cho ra các giải pháp Output

Trừu tượng

Mô hình hoạt động Một hoạt động xảy ra trong mô hình Quan sát

Ký hiệu Biến mô tả một vài khía cảnh của các hoạt động được thực hiện như: thời gian, loại

hoạt động, tên người dụng của việc thực hiện nó….

Quan sát From Sự can thiệp thường liên quan về việc cung cấp thông tin trong form tư vấn, đề

nghị hoặc trực quan các chỉ số phân tích, tuy nhiên sự can thiệp của form khác (để đáp ứng giao diên của phần mềm nhóm, tạo các công cụ kết hợp mới có sẳn ) có thể được cụ thể

Can thiệp

Chỉ số Biến đặc tả một vài thuộc tính gồm quy trình cộng tác hoặc kết quả giải pháp Trừu tượng

Sự can thiệp Tiến trình để cải tiến quá trình cộng tác được phát triển bằng người dùng phần mềm

nhóm

Can thiệp Nhật ký (log) Nơi lưu trữ với các mô hình hoạt động và các sản phẩm được tạo bằng quá trình

cộng tác

Quan sát Theo dõi Quá trình ghi lại và các hoạt động được thực hiện với nhau của các sản phẩm Quan sát

Vị trí Công cụ, không gian làm việc hoặc khu vực hệ thông phần mềm nhóm nới mà sự

can thiệp diễn ra

Can thiệp Sản phầm mô hình Biểu diễn cho một kết quả sản phẩm từ quy trình cộng tác Quan sát Mục đích Xác định khía cạnh được phân tích bởi các chỉ số báo (phân chia các tác vụ, số

lượng công việc thực hiện…)

Trừu tượng Định tính Giá trị hằng số mà indicator thay đổi Trừu tượng Định lượng Số giá trị mà indicator thay đổi Trừu tượng Can thiệp văn bản Văn bản gồm các thông tin cần để thực hiện các can thiệp Can thiệp Trigger Gồm xảy ra một hoạt động hoặc hết hạn một thời gian cụ thể từ bắt đẩu của quá

trình cộng tác, gọi thực thị một cơ chế can thiệp Can thiệpCập nhật Tiến trình lưu trữ hoạt động được thực hiện bởi người dùng, bao gồm cả mô hình

kết quả sản phầm của tiến trình cộng tác Quan sátMục tiêu người dùng Những người tham gia của tiến trình cộng tác nhận sự can thiệp Can thiệp Giá trị Mỗi chỉ số có một giá trị hoặc giá trị định lượng cho việc giả thích chính nó Trừu tượng

Trang 18

Hình 3: Giao tiếp giữa phần mềm nhóm và hệ thống phân tích

Hệ thống phân tích phải được thiết lập bởi các nhà phát triển để xác định các hành độngcần được phân tích, các chỉ số phân tích như thế nào cần được tính toán và những canthiệp nào cần được thực hiện Hơn nữa nhà phát triển phần mềm nên sửa đổi hệ thốngphần mềm nhóm để giao tiếp với hệ thống phân tích và hỗ trợ các biện pháp can thiệp Đểlàm được điều này, phần sau sẽ mô tả một mô hình dựa trên cách tiếp cận để thực hiệnquá trình quan sát của hoạt động người dùng, suy ra các chỉ số phân tích và cuối cùngthiết lập các biện pháp can thiệp

IV.1 Mô hình tiếp cận để thực hiện một quá trình phân tích

Theo truyền thống, phát triển phần mềm từ việc mô tả các cấu trúc của mô hình và hành

vi của hệ thống được xây dựng Hiện nay, mô hình phát triển MDD/MDE (Model-Driven

Trang 19

Development/Model-Driven Engineering) xem xét các mô hình phần mềm không chỉ là

mô tả các yếu tố nhưng cũng như các thành phần tính toán mà xử lý để tự động hóa hệthống phần mềm [41] Nhóm quản lý đối tượng [47] đề xuất một kiến trúc nơi mà các môhình được biểu diễn một mức độ trừu tượng cao Sau đó họ đang dần chuyển đổi thànhnhiều mô hình cụ thể với mức độ trừu tượng thấp hơn và chi tiết hơn Cuối cùng phầnmềm cần thiết được tạo ra để đáp ứng yêu cầu người dùng Hình 4, minh họa các mức độcủa kiến trúc này

Tầng cao nhất của kiến trúc là metametamodelling Một ngôn ngữ metametamodelling

gồm các thành phần cơ bản để xác định một ngôn ngữ (các lớp hoặc khái niệm, quan hệ

giữa họ…) như vậy, ngôn ngữ Ecore bao gồm các thành phần sau.

Eclass: được dùng để biểu diễn lớp metamodel Lớp biểu diễn là một yếu trọng tâm hoặckhái niệm trong một lĩnh vực Mỗi trường hợp có tên, không hoặc nhiều thuộc tính vàkhông hoặc nhiều tham chiếu

EAttribute: được dùng để biểu diễn một thuộc tính của metamodel Các thuộc tính đượcxác định bởi một tên và một kiểu dữ liệu

EReference: được dùng để biểu diễn cho các lớp là nguồn hay kết hợp mục tiêu Mỗi kếthợp có môt tên, một thuộc tính bool để chỉ tham chiếu đến nơi biểu diễn, và một con trỏđến lớp biểu diễn

EDataType: biểu điễn kiểu dữ liệu thuộc tính, một kiểu dữ liệu có thể nguyên (integer,real, ) hoặc tương đương với một kiểu đối tượng ( string, date, )

Trang 20

Hình 4: tầng mô hình kiến trúc

Kiến trúc tầng M2 (hình 4) là tầng Metamodelling Một metamodel được định nghĩa rõràng trong một giá trị mô hình gồm mô hình ngôn ngữ nhất định [48] Trong trường hợpnày nhiệm vụ của metamodelling được xác định bằng ngôn ngữ Ecore, mô hình cấu trúcđược biểu diễn, một tiến trình phân tích cho việc này cấu trúc metamodel được biểu diễncác thành phần chính tham gia vào phân tích tương tác và cộng tác và các khái niệm trong

mô hình Ontology trước đó Tại thời điểm này đó là lý do tại sao chúng tôi không dùngcác Ontology hình thức mà có thể tự động hóa các quy trình và do đó cho phép chúng tôitránh được việc tính toán metamodel được tạo ra, lưu ý rằng một đề xuất Ontology trìnhbày ở đây là một đề xuất toàn diện các khái niệm về phân tích sự tương tác và cộng tác từmột mức trừu tượng cao và không đề xuất cụ thể các kỹ thuật toán học hoặc trí tuệ nhântạo để tính toán các chỉ số phân tích Vì vậy đề nghị tiếp cận ở đây không theo cách tiếpcận Ontology DOLCE [40] trong đó miền biểu diễn được giới hạn đến các đối tượng cụthể mà không có trượng hợp và thực thể phổ biến nào mà bản thân chúng không được tổchức và đặc tả Đề xuất của chúng tôi là một Ontology tổng quát ví dụ: không hạn chế tự

do của các nhà phát triển để chọn kỹ thuật suy luận và những chỉ số phù hợp nhất trongmỗi trường hợp Vì vậy nó cần xác định các metamodel tính toán làm phong phú mô hìnhOntology với kỹ thuật để tính toán phân tích các chỉ số

Trang 21

Đây cũng yêu cầu lý do tại sao chúng tôi không trực tiếp đề cập đến thiết kế của cácmetamodel, những Ontology trước đó thiếu Aßmann [1] lý giải cho quyết định này bằngtập luật mà các Ontololy đóng một vai trò quan trọng trong kiến trúc metamodelling đểthực hiện môt yêu cầu phân tích cho phép chúng tôi biết được những thành phần trong

mô hình Các Ontology là một giá trị kết quả bởi vì họ cung cấp nội dung khái niệm vàngữ nghĩa trong miền lĩnh vực về phân tích sự tương tác và cộng tác trong hệ thống phầnmềm nhóm Nếu không có công việc trước đó, thì khó biết được những thành phần nàocần được tính toán để thực hiện phân tích

Tầng kiến trúc M1 (xem hình 4) là mức độ mô hình hóa Một mô hình được trình bày một

phần thực và một điển hình của metamodel Trong đề xuất của chúng tôi, các mô hìnhbiểu diễn cho một phần thực sự tham gia vào quy trình phân tích sự tương tác và cộngtác Để kích hoạt các tác vụ gồm mô hình định nghĩa theo các metamodel, khung sườnbao gồm miền cụ thể ngôn ngữ (DSLs) DSL được chế tác bằng công cụ xử lý cho phépnhững nhà phát triển phần mềm mô hình hóa trong phân tích sự tương tác và cộng tác.Những công cụ xử lý đã được xây dựng bằng cách dùng mô hình khung Eclipse (EMF)trong những tính năng nổi bật bao gồm hỗ trợ cụ thể cho các metamodels Ecore và thựcthi các công cụ xử lý cho phép cài đặt các mô hình tương ứng

Framework gồm DSLs để mô hình hóa miền ứng dụng, các vấn đề mục tiêu, quan sát vàgiai đoạn can thiệp [20, 21] DSL quan sát gồm các yếu tố để xác định các hoạt động vàphân loại theo nguyên tắc của các hoạt động được đề xuất trong quy trình Ontololgy con.Framework gồm 2 DSLs để mô hình giai đoạn trừu tượng, đầu tiên cho phép mô hình hóacác quy trình để tính toán chỉ số định lượng và thứ 2 cho phép mô hình hóa để suy ra cácchỉ số định lượng Các hoạt động định lượng có 3 kiểu dựa vào thông tin định lượng củachúng: (i) thời gian dành cho người dụng phần mềm nhóm thực hiện một số hoạt độnghay số lần xuất hiện (ii) số lượng các loại cụ thể của các thành phần miền ứng dụng đượcdùng trong xây dựng sản phẩm và (iii) số lượng luật gồm vấn đề mục tiêu được thực hiệnhoặc chưa thực hiện (hình 5) trình bày một ví dụ về sự trừu tượng hóa định lượng bằngcông cụ phù hợp Các công cụ của famework gồm dãy cộng cụ nơi mà nhà phát triển có

Ngày đăng: 10/04/2015, 11:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: việc cộng tác Ontology - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Hình 1 việc cộng tác Ontology (Trang 10)
Bảng 1: khái niệm việc cộng tác của Ontology theo bản chữ cái - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Bảng 1 khái niệm việc cộng tác của Ontology theo bản chữ cái (Trang 13)
Hình 2: cộng tác và tương tác của Ontology - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Hình 2 cộng tác và tương tác của Ontology (Trang 16)
Bảng 2: Các khái niệm về phân tích sự tương tác và cộng tác Ontology, theo thứ tự chữ cái - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Bảng 2 Các khái niệm về phân tích sự tương tác và cộng tác Ontology, theo thứ tự chữ cái (Trang 17)
Hình 3: Giao tiếp giữa phần mềm nhóm và hệ thống phân tích - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Hình 3 Giao tiếp giữa phần mềm nhóm và hệ thống phân tích (Trang 18)
Hình 4: tầng mô hình kiến trúc - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Hình 4 tầng mô hình kiến trúc (Trang 20)
Hình 5: công cụ cho mô hình trừu tượng có định lượng - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Hình 5 công cụ cho mô hình trừu tượng có định lượng (Trang 22)
Hình 6: công cụ cho mô hình trừu tượng về định tính - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Hình 6 công cụ cho mô hình trừu tượng về định tính (Trang 25)
Hình 7: SPACE-DESIGN giao diện người dùng - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Hình 7 SPACE-DESIGN giao diện người dùng (Trang 28)
Hình 8: giải pháp lý tưởng cho vấn đề - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Hình 8 giải pháp lý tưởng cho vấn đề (Trang 28)
Bảng 5: các luật quy định cho việc cộng tác - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Bảng 5 các luật quy định cho việc cộng tác (Trang 33)
Bảng 6: các chỉ số định lượng - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Bảng 6 các chỉ số định lượng (Trang 33)
Bảng 8 lượt đồ minh họa làm thế nào đề xuất quá trình cộng tác của Ontology con là phù hợp với những nền tảng khái niệm giải quyết một khái niệm hóa của hệ thống phần mềm nhóm hoặc những thành phần trọng tâm của sự cộng tác (CF1, CF2 và CF 3 trong bảng - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Bảng 8 lượt đồ minh họa làm thế nào đề xuất quá trình cộng tác của Ontology con là phù hợp với những nền tảng khái niệm giải quyết một khái niệm hóa của hệ thống phần mềm nhóm hoặc những thành phần trọng tâm của sự cộng tác (CF1, CF2 và CF 3 trong bảng (Trang 36)
Bảng 8: tóm tắt các khái niệm của framework - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Bảng 8 tóm tắt các khái niệm của framework (Trang 39)
Bảng 10: ý kiến của kỹ sư - ONTOLOGY TIẾP CẬN ĐỂ TỰ ĐỘNG PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC VÀ CỘNG TÁC TRONG HỆ THỐNG PHẦN MỀM NHÓM
Bảng 10 ý kiến của kỹ sư (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w