1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam

64 435 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Huy Động Vốn Đầu Tư Vào Phát Triển Ngành Dầu Khí Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 732 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỘT: LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN HAI: NỘI DUNG 4

Chương I: Khái quát chung về đầu tư và vấn đề huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí Việt Nam 4

I / Đầu tư và nguồn vốn đầu tư 4

1.Khái niệm về đầu tư 4

2.Đầu tư phát triển 5

3 Vốn và nguồn vốn 12

II Đặc điểm của ngành dầu khí và vấn đề huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí 26

1.Đặc điểm của ngành dầu khí 26

2/ Sự cần thiết phải huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam 27

Chương II : Thực trạng và giải pháp huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí ở Việt Nam giai đoạn hiện nay 29

I/ Thực trạng huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam 29

1/ Tình hình phát triển ngành dầu khí ở Việt Nam những năm qua .29

2/ Quy mô và tốc độ huy động vốn vào ngành Dầu khí ở Việt Nam 41

II/ Đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam thời gian qua: 43

1./ Những kết quả đạt được: 43

2/ Những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề huy động vốn và phát triển ngành dầu khí ở nước ta 49

III Một số giải pháp nhằm huy động vốn đầu tư vào phát triển nghành Dầu khí ở Việt Nam 51

1 Định hướng phát triển ngành Dầu khí những năm tới: 51

2 Những cơ hội và thách thức trong vấn đề phát triển ngành Dầu khí : 53

3 Những yêu cầu đặt ra để huy động vốn có hiệu quả: 56

4 Những giải pháp cơ bản để huy động vốn vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam : 58

PHẦN BA: LỜI KẾT 63

PHẦN MỘT: LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế khủng hoảng, tuy vậy năm 2010 nền kinh tế Việt Nam đã biết vượt lên khó khan, đạt được một số thành tựu nhất định Nền kinh tế tiếp tục tăng tưởng tốt, đạt 6.78%,trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công Tính chung cả năm 2010, giá trị sản xuất công

Trang 2

nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 794,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2009 Việt Nam đã khẳng định mình là một quốc gia ổn định trên con đường phát triển và hội nhập Trong thành tựu chung của nền kinh tế có

sự đóng góp rất quan trọng của ngành Dầu khí Việt Nam

Thời gian gần đây, Dầu khí là một trong những ngành đầu tư hấp dẫn nhất Kim ngạch xuất khẩu Dầu khí chiếm tỷ trọng đáng kể và đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế nhiều nước Riêng với ngành Dầu khí Việt Nam, cơ hội đầu tư có nhiều, nhưng vốn đầu tư vẫn còn có hạn chế Thêm vào đó ta nhận thấy ngành công nghiệp Dầu khí thế giới đang đi vào giai đoạn đỉnh để bước sang giai đoạn suy tàn, các cuộc chiến tranh của phương Tây vào Trung Đông đã mang lại những thay đổi to lớn trong bức tranh địa

lý - chính trị Dầu khí toàn cầu Và những gì chúng ta đã và đang thấy trong hoạt động chính trị- quân sự của Mỹ cũng như Phương Tây ở Trung Đông phần nào nói lên tầm quan trọng rất to lớn của năng lượng Dầu khí - vàng đen Nhận thấy được sự quan trọng như vậy của năng lượng Dầu khí, cùng với tiềm năng Dầu khí ở Việt Nam, thì vấn đề đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt nam là vấn đề đã và đang được quan tâm Chính vì lẽ đó, mà trong bài viết này em xin trình bày về “Tình hình huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam”, nhằm đánh giá một cách

cụ thể hơn các hoạt động đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí Việt Nam, cũng như sự phát triển ngành Dầu khí nước ta giai đoạn hiện nay, để từ đó

có những giải pháp cụ thể thu hút các nguồn vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí Đưa ngành Dầu khí phát triển xứng đáng với tiềm năng sẵn có của đất nước

Trang 3

Tuy bài viết đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót cũng như nhiều hạn chế, em mong sự đóng góp của thầy cô giáo để bài viết được hoàn thành tốt hơn.

Bài viết được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, Tiến sỹ: Trần Mai Hương Em xin chân thành cảm ơn cô

Trang 4

PHẦN HAI: NỘI DUNG

Chương I: Khái quát chung về đầu tư và vấn đề huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí Việt Nam.

Trước khi đi sâu vào nghiên cứu vấn đề “huy động vốn đầu tư cho sự phát triển ngành Dầu khí”, em xin trình bày những khái niệm cơ bản về đầu

tư, đầu tư cho phát triển và các nguồn vốn cơ bản cần huy động cho công cuộc đầu tư

I / Đầu tư và nguồn vốn đầu tư.

1 Khái niệm về đầu tư

Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các

hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.

Các nguồn lực sử dụng trong hoạt động đầu tư có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ con người Còn những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hoặc cũng có thể

là tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội

Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự hi sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc mọi nơi không chỉ với người bỏ vốn ra mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà

cả nền kinh tế cũng được thụ hưởng

Trang 5

Trong hoạt động đầu tư có bao gồm Đầu tư cho tài chính, Đầu tư thương mại và Đầu tư cho phát triển Đầu tư vào ngành dầu khí là hoạt động thuộc thuộc lĩnh vực Đầu tư phát triển.

Vậy Đầu tư cho phát triển là gì?

2 Đầu tư phát triển

a Khái niệm

Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động này

nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội.

Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư trực tiếp không chỉ tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ mà còn duy trì năng lực trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt của đời sống xã hội Được thể hiện ở chỗ, khi đi vào quá trình vận hành kết quả đầu tư thì máy móc kỹ thuật và khoa học công nghệ phải luôn được bảo dưỡng, nâng cấp để duy trì sản xuất, không những thế mà khoa học công nghệ phải luôn luôn được đổi mới để phù hợp với trình độ khoa học công nghệ hiên đại, để bắt kịp với nền khoa học tiên tiến trên thế giới Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của nền kinh tế tại mỗi quốc gia

Đầu tư cho phát triển được hiểu là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo ra tiềm lực mới cho nền kinh

tế xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội

b Đặc điểm của đầu tư phát triển:

Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt với các loại

hình đầu tư khác, gồm những đặc điểm chủ yếu sau:

+ Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi quy mô vốn, vật tư, lao động

Trang 6

thường là rất lớn Khi đi vào vận hành kết quả đầu tư, thì vốn đầu tư là yếu

tố nằm đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện Nó đòi hỏi người chủ đầu tư phải có những biện pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch hợp lý để quản lý vốn một cách chặt chẽ để hoạt động đầu tư có hiệu quả sử dụng vốn cao, tránh thất thoát vốn

+ Thời gian thực hiện đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công

thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản

+ Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành các kết

quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời gian

sử dụng và đào thải công trình Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn Trong suốt quá trình vận hành, các kết quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…

+ Nếu sản phẩm của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng thì thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên do đó quá

trình thực hiện đầu tư và đi vào vận hành kết quả đầu tư sẽ chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu, điều kiện thuỷ văn của địa điểm đó

+ Dễ gặp phải rủi ro: Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và

thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài…nên mức rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao

Trang 7

Từ những đặc điểm trên, ta thấy Đầu tư phát triển không những tác động đến nền kinh tế mà còn tác động đến toàn bộ xã hội Vì vậy mà Đầu tư phát triển có những vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói riêng và toàn xã hội nói chung.

c Vai trò của Đầu tư phát triển.

- Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế.

Đầu tư và việc tích lũy vốn cho đầu tư là một nhân tố quan trọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất, cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế Việc gia tăng vốn quy mô vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọng trong việc gia tăng sản lượng bình quân cho mỗi lao động Theo mô hình Harrod-Domar, mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần

∆Y: là mức gia tăng sản lượng

∆K: là mức gia tăng vốn đầu tư

I : là mức đầu tư thuần

K : là tổng quy mô vốn của nền kinh tế

Y : là tổng sản lượng của nền kinh tế

ICOR: là hệ số gia tăng vốn-sản lượng

Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ nét trong tiến trình đổi mới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua Với chính sách đổi mới, các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước

Trang 8

ngoài ngày càng đa dạng cả về quy mô, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đạt được cũng rất thỏa đáng.

- Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư Trong điều hành chính sách đầu tư, nhà nước thể hiện chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hóa, xây dựng cơ chế quản

lý đầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua các công cụ chính sách như chính sách tài khóa, chính sách tiền tề và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý

Tỷ trọng vốn đầu tư cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và nền kinh tế Không những thế, giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế có mối quan hệ khăng khít với nhau Việc đầu tư vốn nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn dến hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, định hướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn

- Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu

Tác động đến tổng cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

cầu của toàn bộ nền kinh tế Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác không thay đổi

AD=C+ I + G + X – M

Trang 9

+ Tác động tới tổng cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính

là cung trong nước và cung từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…, thể hiện qua phương trình sau:

Trang 10

Như vậy tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi Mặt khác nếu tác động của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua các hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ…Do đó đầu tư gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế.

- Đầu tư có tác động hai mặt đến tính ổn định của nền kinh tế.

Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư

dù là lớn hay nhỏ đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia

Chẳng hạn, khi đầu tư tăng lên, cầu của yếu tố đầu tư tăng lên làm cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng ( giá chi phí vốn, công nghệ, lao động…), đến mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại Mặt khác, đầu tư làm cho cầu các yếu tố liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển thu hút nhiều lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế Ngược lại khi giảm đầu tư cũng dẫn đến tác động hai mặt theo chiều hướng ngược lại so với các tác động trên đây Vì vậy trong điều hành nền kinh tế vĩ mô, các nhà hoặch định chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra chính sách nhằm hạn chế tác động xấu nhằm phất huy tác động tích cực, duy trì sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế

- Đầu tư có tác động lớn tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao

động.

Trang 11

Việc đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng chuyên môn cao, sản phẩm làm ra có chất lượng yêu cầu cần phải được đầu tư vào công tác đào tạo từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất, chi phí đào tạo ở đây bao gồm chi phí của nhà nước và chi phí của dân cư cho con em đi học Và như vậy, để có được đội ngũ công nhân lành nghề, đội ngũ quản lý giàu kinh nghiệm cần phải thông qua tuyển dụng, chọn lọc,… để tiến hành khâu này cần phải tốn một khoản chi phí nhất định, khi đó sẽ có được đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, năng suất cao và sản phẩm làm ra có chất lượng tốt nhất.

- Đầu tư với việc tăng cường năng lực khoa học cộng nghệ của đất

nước

Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học, công nghê của môt doang nghiệp và quốc gia Đầu tư và đặc biệt đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế và của các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và đồng thời ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế

Trong giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuy nhiên, qua trình chuyển

từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quá chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư lớn ,thay đổi cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học và công nghệ Mỗi doanh nghiệp mỗi nước khác nhau cần phải có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh của tưng đơn vị cũng như toàn nền kinh

tế

Trang 12

Như vậy, đầu tư có một vai trò vô cùng to lớn đối với toàn bộ sự phát triển của một quốc gia Muốn hoạt động đầu tư ta cần có vốn đầu tư Vậy vốn là gì? Vốn huy động từ đâu?

3 Vốn và nguồn vốn

3.1 Khái niệm về vốn

Trong cuốn Từ điển kinh tế hiện đại có giải thích:"Capital - tư bản/vốn: một

từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi trong lý thuyết kinh tế." (Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1999, Tr 129)

Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung.trên phương diện nền kinh tế,vốn đầu tư phát triển là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm vốn cố định và vốn lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác Nội dung của chỉ tiêu này được thể hiện theo công thức sau:

Vốn đầu tư

phát triển =

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ

(1)

+

Vốn lưu động bổ sung(2)

+

Vốn đầu tư phát triển khác (3)

Trang 13

Bảng 1: Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn thời kỳ 1995-2009

Đơn vị tính: %Năm Nguồn vốn trong nước Nguồn vốn nước ngoài Tổng số

Trong giai đoạn 1995-1997, nguồn vốn trong nước chiếm hơn 70%, vốn đầu

tư nước ngoài chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Bước sang giai đoạn 1998-2006, tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh, chỉ chiếm chưa đến 20%, đó là do hiệu ứng của khủng hoảng tài chính Đông Nam Á

1997 khiến cho môi trường đầu tư của Việt Nam có nhiều bất lợi Bằng những biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô cùng với sự nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp lý, từ 2007-2009, Việt Nam trở thành lựa chọn hợp lý của nhiều nhà đầu tư nước ngoài, mặc dù tình hình kinh tế thế giới có nhiều bất ổn do khủng hoảng tài chính toàn cầu Nhờ đó tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài đã tăng và chiếm 30% Xu hướng này là một tín hiệu tốt, phù hợp với cơ cấu đầu tư hợp lý về nguồn vốn là giảm dần tỷ trọng vốn trong nước, tăng dần tỷ trọng vốn nước ngoài; mặt khác vẫn đảm bảo nguyên tắc vốn trong nước là

Trang 14

quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng theo định hướng phát triển kinh tế

xã hội

3.2 Các nguồn vốn cơ bản

Có rât nhiều cách phân chia các nguồn vốn huy động vào hoạt động đầu

tư phát triển kinh tế ở đây tôi xin đưa ra một cách phân chia nguồn vốn huy động, mà ta sẽ dựa vào các nguồn này để xem xét vấn đề huy động vốn vào ngành đầu khí ở phần sau

3.2.1 Nguồn vốn trong nước

- Nguồn vốn nhà nước

Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước

phân theo nguồn vốn thời kỳ 2003-2010

Đơn vị: %Năm Tổng

số

Nguồn vốn nhà nướcVốn ngân sách

nhà nước

Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước

Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước

doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ nhỏ nhất nhưng có xu hướng tăng dần, từ

2008 đến nay nguồn vốn này đã đóng góp 30% vào tổng vốn đầu tư khu vực nhà nước

Trang 15

+ Vốn ngân sách nhà nước

Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nền kinh tế quy mô tổng thu ngân sách nhà nước không ngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau (huy động qua thuế, phí, bán tài nguyên, bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước…) Đi cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cũng gia tăng đáng kể Tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2001-

2005 tăng bình quân 15%, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước hàng năm đạt gần 23% GDP Nguồn thu ổn định từ sản xuất trong nước đã bước đầu dần dần tăng Tổng chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 14,9%, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước bình quân bằng 28% GDP Trong đó chi đầu tư phát triển đạt bình quân 30,2% tổng chi ngân sách nhà nước Trong giai đoạn 2000-2007, tỷ trọng vốn ngân sách trong tổng số vốn đầu tư của khu vực nhà nước có xu hướng tăng lên từ 43.62% năm 2000 đến 54.21% năm 2007, nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Năm 2008, trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách nhà nước đạt 100900 tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng vốn đầu tư cả nước Đến năm 2009, vốn từ ngân sách nhà nước tiếp tục tăng lên đến 153800 tỷ đồng, chiếm 21,8% tổng vốn đầu tư cả nước

+ Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước

Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nếu như trước năm 1990 vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưa được sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000, nguồn vốn này đã có tín hiệu gia tăng và bắt đầu

có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước

Giai đoạn 1991-1995, nguồn vốn này mới chiếm 5,6% tổng vốn đầu

tư toàn xã hội thì giai đoạn 2001-2005 đã chiếm 14% tổng vốn đầu tư toàn

Trang 16

xã hội Trong những năm tiếp theo, tín dụng đầu tư của nhà nước có xu

hướng cải thiện về mặt chất lượng và phương thức tài trợ nhưng tỷ trọng không có sự gia tăng đáng kể

+ Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước

Trong giai đoạn 1991-1995, tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh nghiệp nhà nước là 11,7% gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế Từ năm 1998-2001, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước chậm lại nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của toàn bộ nền kinh tế, nộp ngân sách chiếm 40% tổng thu của ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho trên 1,9 triệu người Thời kỳ 2000-2007 đầu tư của doanh nghiệp nhà nước đạt trên 76,74 nghìn tỷ đồng Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thông thường nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp

- Nguồn vốn của dân cư và tư nhân

Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân doanh chiếm bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân

cư tham gia đầu tư gián tiếp vào khoảng 3,7% GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư trực tiếp vào khoảng 5% GDP và bằng 33% số tiết kiệm được Trong giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Từ đó đến nay nguồn này tiếp tục gia tăng cả về quy mô

và tỷ trọng

Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân

và hộ gia đình có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển nông nghiệp,

Trang 17

tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương Trong 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, nhà nước liên tục hoàn thiện các chính sách nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư bản tư nhân, kinh

tế hộ gia đình mạnh dạn bỏ vốn đầu tư và thúc đẩy sự đan xen, hỗn hợp các hình thức sở hữu trong nền kinh tế Với Luật Doanh nghiệp thống nhất (2005) và Luật đầu tư chung (2005) chính thức có hiệu lực từ giữa năm

2006, các tầng lớp dân cư và khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục được khuyến khích, động viên đại bộ phận tích lũy cho đầu tư phát triển

Có thể nhận thấy huy động nguồn lực trong nước nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của đất nước lớn nhưng khả năng đáp ứng các nguồn vốn thấp Trong cơ cấu nguồn vốn trong nước, nguồn vốn ngân sách chiếm tỷ trọng cao, các nguồn vốn khác chiếm tỷ trọng thấp trong khi tiềm năng thu hút vốn là khá cao Điều này do cơ chế, chính sách huy động các nguồn vốn còn thiếu đồng bộ, chưa mang tính khuyến khích và hấp dẫn cao, thiếu tính năng động, sáng tạo trong khai thác các nguồn vốn, ví dụ có thể nhận thấy rõ tâm lí của khu vực tư nhân và người dân chưa tin tưởng vào sự ổn định của nền kinh tế, lo lắng trước nguy cơ lạm phát nên huy động vốn từ nguồn này chưa đúng với tiềm năng của nó

3.2.2 Vốn đầu tư nước ngoài

a Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

FDI là nguồn vốn đầu tư vô cùng quan trọng đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam Tính đến nay, Việt Nam đã thu hút được hơn

70 quốc gia đưa vốn vào đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau Chỉ tính trong giai đoạn 2001-2006, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm trung bình khoảng 16,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Bảng 3: Tình hình thu hút vốn đầu tư giai đoạn 2000-2009

Đơn vị: triệu USD

Năm Số dự án Vốn đăng kí Vốn thực hiện

Trang 18

* Giai đoạn 2000 – 2007 là giai đoạn FDI phục hồi và tăng tốc Nếu

như năm 2000 Việt Nam mới chỉ thu hút được 391 dự án với 2413.5 triệu USD vốn thực hiện thì đến năm 2007 đã là 1544 dự án ( tăng 394,9% so với năm 2000) Cùng với đó, vốn thực hiện cũng tăng 332,7% đạt 8030 triệu USD Đây là một con số kỉ lục, cho thấy mức độ khả quan của việc thu hút FDI vào Việt Nam trong những năm tiếp theo và là tiền đề tốt để tiếp tục quảng bá môi trường đầu tư, củng cố niềm tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài

Mặt khác, cơ cấu FDI theo đối tác trong giai đoạn này cũng có nhều thay đổi Trong những năm đầu của thế kỉ 20,các nhà đầu tư lớn chủ yếu

Trang 19

đến từ châu Âu, chiếm 36% tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam Tuy nhiên,đến hết năm 2004, châu Á đã vượt qua châu Âu trở thành chủ đầu tư lớn nhất tại Việt Nam với 67,8% tổng vốn đăng ký, trong khi đó châu Âu chỉ chiếm 11,2% và châu Mỹ chiếm 8% tổng vốn đăng ký vào Việt Nam Tính đến cuối năm 2007, các nước châu Á như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông là 5 nước đứng đầu danh sách FDI vào Việt Nam.

Như vậy, nhìn chung, trong giai đoạn này mặc dù số dự án và số vốn đăng kí có tăng lên đáng kể nhưng tỉ lệ các dự án có sử dụng công nghệ cao, công nghệ nguồn còn thấp Hơn nữa, các đối tác như châu Âu và Hoa Kì lại

có hàm lượng đầu tư chưa cao, chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của họ

* Năm 2008

Mặc dù ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi so với năm trước năm 2008 vẫn đi qua với kết quả

“ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI của

cả nước, đạt hơn 64 tỉ USD - mức cao nhất từ trước tới nay Cụ thể tổng số

dự án FDI được cấp mới vào Việt Nam năm 2008 là 1.171 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 60,217 tỷ USD, tăng 222% so với năm 2007 Trong năm

2008, số dự án tăng vốn cũng rất lớn với 311 dự án đăng ký tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm 3,74 tỷ USD (tăng 42,3% so với cùng kỳ năm 2007) Quy mô dự án bình quân là 51,47 triệu USD/dự án, cao hơn rất nhiều

so với thời gian trước Vốn thực hiện năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD (là năm cao nhất kể từ năm 1997 đến nay và tăng 43,2% so với 2007), vốn đăng ký kể cả cấp mới và tăng thêm của các doanh nghiệp FDI đang hoạt động đạt tới 64,011 tỷ USD, tăng 199,9% so với năm 2007 cho thấy hoạt động của các

Trang 20

doanh nghiệp FDI hiện có là ổn định và phát triển, tạo sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư mới

* Năm 2009

Riêng năm 2009, vốn đầu tư đăng kí vào Việt Nam đạt 21,8 tỉ USD, bằng 30% so với năm 2008; vốn thực hiện đạt 10 tỉ USD Xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (kể cả dầu khí) năm 2009 đạt 29,9 tỷ USD, bằng 86,6

% so với năm 2008 và chiếm 52,7 % tổng xuất khẩu cả nước Nhập khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài năm 2009 đạt 24,8 tỷ USD, bằng 89,2 % so với năm 2008 và chiếm 36,1% tổng nhập khẩu cả nước Như vậy, trong năm này, khu vực đầu tư nước ngoài đã xuất siêu 5,03 tỷ USD Theo các báo cáo nhận được đến 15/12/2009, trong năm 2009 cả nước có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD Tuy chỉ bằng 24,6 % so với năm 2008 nhưng đây là cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay Trong năm 2009, có 215 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3%

so với năm 2008

b Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA):

Trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều thuận lợi, việc thu hút vốn ODA đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam trong nhiều năm nay Hiện nay, với quy mô tài trợ khác nhau, Việt Nam đã có trên 45 đối tác hợp tác phát triển song phương và hơn 350 tổ chức quốc tế và phi chính phủ đang hoạt động

Bảng 4: Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2000 – 2007

Trang 21

2008, ODA cam kết luôn cho Việt Nam những con số kỉ lục Trong năm

2008, ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tiếp tục là nhà tài trợ đẫn đầu với mức cam kết lên tới 1,350 tỉ USD Nhật Bản trở thành nhà tài trợ lớn thứ 2 với tổng số vốn cam kết đạt 1,111 tỉ USD, tăng 20% so với năm 2007

Do chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, tổng mức cam kết ODA năm 2009 cho Việt Nam chỉ đạt 5,01 tỉ USD (giảm 7,7% so với năm 2008) Trong đó, Ngân hàng thế giới (WB) vẫn

là nhà tài trợ đa phương lớn nhất với mức vốn cam kết đạt 1,66 tỉ USD, tiếp theo là ADB với 1,56 tỉ USD và các tổ chức thuộc Liên hiệp quốc đứng thứ

3 với 97,7 triệu USD Còn các nhà tài trợ song phương , Liên minh châu Âu (EU) đứng đầu với số vốn cam kết đạt 893,48 triệu USD, trong đó Pháp hỗ trợ nhiều nhất với 280,96 triệu USD, Hàn Quốc cũng tuyên bố số vốn ODA

là 268,7 triệu USD và Mĩ là 128,12 triệu USD

Đến Hội nghị nhóm các tư vấn các nhà tài trợ cho VIệt Nam (CG2009) đã cam kết con số ODA kỉ lục cho năm 2010 – 8,063 tỉ USD Đây

là con số cam kết vô cùng ấn tượng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, việc tiếp cận các nguồn vốn con` nhiều hạn chế Trong đó, WB

Trang 22

vẫn là nhà tài trợ hàng đầu của Việt Nam với con số 2,498 tỉ USD, tiếp đến

là Nhật Bản với 1,640 tỉ USD ADB cam kết tài trợ 1,479 tỉ USD, trong khi

Ủy ban châu Âu (EC) cam kết 331 triệu USD; Mỹ 270 triệu USD, EU là 1,082 tỷ USD, trong đó Pháp là nhà tài trợ lớn nhất với mức cam kết 378 triệu USD, tiếp sau là Đức 137 triệu USD

c) Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.

Trong các nguồn vốn được đầu tư thì nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể

Các số liệu của WB đã cho thấy luồng vốn đầu tư từ các ngân hàng thương mại nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu tăng, WB đã ước tính luồng vốn đầu tư thật sự vào Việt Nam có thể đạt được mức tăng 10%/năm Các kết quả khả quan này, theo các nhà đầu tư nước ngoài, là do môi trường đầu

tư ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể Việc gia nhập vào WTO vào tháng 11/2006 đã giúp cho Việt Nam rất nhiều trong việc thu hút vốn từ các ngân hàng thương mại quốc tế Với tư cách là thành viên của WTO, Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài do đã tạo ra được sự tin tưởng vào cơ chế, chính sách ổn định ở nước ta

Trong năm 2008, WB đã dành cho Việt Nam nhiều khoản vay ưu đãi với số tiền cho vay rất lớn, cùng với thời gian vay kéo dài Có nhiều dự án cho vay với kỳ hạn 40 năm Đó là cơ sở, nền tảng vững chắc tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta đi lên Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

và WB đã ký kết Hiệp định Tín dụng và các văn kiện khác cho khoản tín dụng xóa đói giảm nghèo lần thứ 7 (PRSC-7) với trị giá 150 triệu USD (kí kết vào ngày 29/7/2008 tại Việt Nam), được vay trong 40 năm trong đó có

10 năm ân hạn với lãi suất 0% Sau sự thành công của kí kết này, ngày 7/8/2009, đại diện của WB tại Việt Nam đã tiếp tục kí Hiệp định tài trợ và các văn kiện pháp lí liên quan đến Chương trình Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo

8 (PRSC8) trị giá 350 triệu USD

Trang 23

Là một đối tác quan trọng, từ năm 2003 cho đến nay, ADB đã cho chúng ta vay nhiều khoản tín dụng ưu đãi Ngày 1/12/2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và ADB đã ký kết Hiệp định khoản vay trị giá 55 triệu USD cho dự án "Phát triển giáo dục trung học phổ thông" Thời hạn vay là 32 năm, trong đó có 8 năm ân hạn, lãi suất trong thời gian ân hạn là 1%/năm, lãi suất trong những năm tiếp theo là 1,5%/năm; phần vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam là 25 triệu USD Dự án được tiến hành từ năm 2003 - 2009 Không chỉ quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế, ADB còn rất quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là giới trẻ Việt Nam Ngày 8/9/06, Dự án phòng chống HIV/AIDS cho Thanh niên do ADB tài trợ đã chính thức được khởi động Theo đó, chiến lược phòng chống HIV/AIDS đến 2010 và tầm nhìn 2020 là khống chế sự lây lan trong cộng đồng dân cư xuống 0,3% Dự án có tổng kinh phí 26,7 triệu USD; trong đó, ADB tài trợ

20 triệu USD và Chính phủ Việt Nam đóng góp 6,7 triệu USD

Không chỉ có vậy, ngoài WB và ADB, cũng còn rất nhiều Ngân hàng thương mại thế giới khác dành cho Việt Nam những sự ưu ái đầu tư đặc biệt

d) Nguồn vốn huy động qua thị trường vốn quốc tế.

Để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế, Nhà nước ta rất coi trọng việc huy động nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế Ngày 25/10/2005, Việt Nam phát hành lượng trái phiếu đầu tiên trị giá 750 triệu USD ra thị trường vốn quốc tế và được đánh giá là khá thành công (trái phiếu của Vinashin) Sau đợt phát hành, đã có nhiều doanh nghiệp "nhăm nhe" đưa trái phiếu của mình ra thị trường quốc tế và Bộ Tài Chính luôn khẳng định sẽ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện kế hoạch phát hành Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã trình Chính phủ và được đồng ý về nguyên tắc kế hoạch phát hành 800 triệu USD trái phiếu doanh nghiệp (TP doanh nghiệp)

ra thị trường quốc tế Đầu tháng 6/2007, Bộ Tài chính đã kiến nghị Chính phủ thông qua Nghị quyết phát hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường vốn

Trang 24

quốc tế với thời hạn từ 15 đến 20 năm (hiện tại được mở rộng thời hạn huy động từ 10 đến 30 năm) cho Tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty Hàng hải, Tổng công ty Sông Đà và Lilama vay lại để đầu tư các dự án

Mặc dù nhận thức rõ các lợi ích có thể đem lại từ phát hành trái phiếu quốc tế, song hiện nay, việc phát hành loại trái phiếu này đang gặp phải rất nhiều khó khăn trước mắt Kế hoạch phát hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế từ tháng 6/2007 đã bị hoãn lại Sự thận trọng có lẽ bắt nguồn

từ bối cảnh kinh tế toàn cầu, đặc biệt là nền kinh tế Mỹ gặp khó khăn, thị trường tài chính quốc tế tạm rơi vào tình trạng trầm lắng khiến các nhà đầu

tư Mỹ cũng như các nước khác có phần dè dặt hơn trong việc tham gia đầu

tư vào trái phiếu của các quốc gia khác

Về phía bản thân các chủ thể trong nước, rõ ràng, để phát hành trái phiếu

ra thị trường quốc tế thì hiện tại doanh nghiệp vẫn đang gặp các trở ngại nhất định về định giá hệ số tín nhiệm, về năng lực tài chính, về khâu kiểm toán Điều quan trọng nhất lúc này là các doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị tất cả các điều kiện phát hành và chờ đến khi thị trường phục hồi trở lại sẽ chớp lấy thời cơ Doanh nghiệp Việt Nam phải xác định được nhà đầu tư vào trái phiếu là ai để công bố công khai kế hoạch phát hành, mục đích huy động vốn, tình hình hoạt động một cách minh bạch Đây là điều kiện tối cần thiết để đẩy nhanh tiến trình thâm nhập thị trường vốn quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó tạo tiền lệ mở đường cho phát hành cổ phiếu và niêm yết quốc tế

Tuy nhiên, cũng nhận thấy rằng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa thực sự chiếm tỉ trọng cao trong tổng cơ cấu nguồn vốn đầu tư, chưa thực sự thể hiện hết khả năng kích thích tăng trưởng, thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội Việt Nam như mong đợi Mặt khác, đối với từng nguồn vốn thì cơ cấu đầu tư vào Việt Nam cũng chưa hợp lí, còn nhiều hạn chế Đơn cử như việc các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào hàng năm với con số khá cao,

Trang 25

nhưng lại chỉ tập trung chú trọng vào các ngành bất động sản, dịch vụ lưu trú, còn các ngành khác thì hầu như không có hoặc không đáng kể Hơn thế nữa, đối với việc sử dụng các nguồn vốn vay, do trình độ quản lí và trình độ công nghệ yếu kém, đã làm giảm khả năng tác động của nguồn vốn nước ngoài với vai trò là “cú huých” của nền kinh tế.

* Về cơ bản, cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế, chưa hợp lí Đặc biệt là việc sử dụng quá nhiều nguồn lực trong nước cho đầu tư phát triển, mà chưa phát huy được hết khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mặt khác, trong từng nguồn vốn, cũng chưa huy động triệt để mọi nguồn lực, gây nhiều gánh nặng cho ngân sách nhà nước Điều đó là do một vài tồn tại :

- Trước hết, hiệu suất sử dụng vốn cận biên của nước ta còn thấp, dẫn đến việc tác động của đầu tư tới tăng trưởng kinh tế không được đảm bảo; do

đó, năng lực tích lũy của nội bộ nền kinh tế không cao, việc huy động vốn trong nước gặp nhiều khó khăn Mặt khác, việc nguồn vốn đưa vào đầu tư không đạt được hiệu quả như mong đợi đã làm thiệt hại không ít nguồn vốn đầu tư nước ngoài

- Thứ hai, môi trường kinh tế vĩ mô vẫn còn nhiều bất ổn, được thể hiện qua việc giá trị đồng nội tệ mất giá, tình trạng lạm phát, hay việc lãi suất và

tỉ giá hối đoái liên tục thay đổi Hơn nữa, hệ thống luật pháp đầu tư đặc biệt

là các quy định về thuế, phí, lệ phí còn quá thiếu và yếu, nhiều luật chồng chéo và thường xuyên thay đổi cũng làm hoang mang các nhà đầu tư Hơn thế nữa, chính sách huy động các nguồn vốn còn thiếu đồng bộ, chưa mang tính khuyến khích và hấp dẫn cao, thiếu tính năng động, sáng tạo trong việc thu hút các nguồn vốn Điều đó cũng làm hạn chế khả năng thu hút vốn đầu

tư nước ngoài, là nguyên nhân cơ bản gây ra cơ cấu đầu tư bất hợp lí theo nguồn vốn ở Việt Nam

Trang 26

- Thứ ba, vệc quản lí các nguồn vốn chưa chặt chẽ, còn nhiều khe hở, gây lãng phí và thất thoát lớn trong đầu tư xây dựng cơ bản; đặc biệt là việc

sử dụng ngân sách nhà nước một cách dàn trải và vô trách nhiệm Các ngành, các địa phương cũng chưa thể hiện được hết khả năng của mình, vẫn rất ỉ lại và trông chờ vào nguốn vốn ngân sách

- Cuối cùng, do Việt Nam chưa phát huy được hết lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế nên việc thu hút FDI vẫn còn rất thụ động, gặp nhiều hạn chế, gây thiếu hụt nguồn vốn, làm chậm quá trình chuyển dịch

cơ cấu nguồn vốn đầu tư tới hợp lí

II Đặc điểm của ngành dầu khí và vấn đề huy động vốn đầu tư

vào ngành dầu khí.

1.Đặc điểm của ngành dầu khí.

“Dầu khí là thuật ngữ gọi tắt cho “dầu mỏ” và “khí đốt” Chúng là những hợp chất hữu cơ tự nhiên Riêng khí đốt còn gọi là khí tự nhiên Khí này tồn tại cùng với dầu thô gọi là “ khí đồng hành” Dầu khí không chỉ là nhiên liệu

mà còn là nguyên liệu nên nó ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế thế giới Khác với than đá, hay các khoáng sản khác, việc thăm dò – khai thác chế biến phân phối dầu thô đã rất nhanh chóng mang tính toàn cầu Do đó về mặt công nghệ, trình độ công nghiệp dầu khí ở tất cả các nước đều gần như nhau, không phân biệt đó là nước phát triển cao hay lạc hậu

Ngành dầu khí là ngành công nghiệp bao gồm rất nhiều công đoạn không những thăm dò, khai thác mà còn phải chế biến từ dầu thô trở thành dầu tinh Theo thông lệ, ngành dầu khí được chia là ba nhóm loại hình hoạt động gọi

là thượng nguồn, trung nguồn, và hạ nguồn Nhóm thượng nguồn gồm các hoạt động nghiên cứu địa chất, tìm kiếm, thăm dò, khai thác mỏ Nhóm trung nguồn gồm các hoạt động tàng trữ vận chuyển, và nhóm hạ nguồn gồm các hoạt động xử lý, chế biến ( lọc dầu, hoá dầu, hoá khí ) và phân phối Ba

Trang 27

nhóm này có những đặc điểm riêng nhưng gắn kết với nhau tạo thành một vòng khép kín của một ngành công nghiệp hoàn chỉnh.

Trong ngành công nghiệp dầu khí để khai thác được một tấn sản phẩm thì phải mất nhiều năm từ việc thăm dò khai thác, khảo sát địa chất công trình, thẩm định trữ lượng, đánh giá tiềm năng, phát triển đưa mỏ vào khai thác cũng phải qua rất nhiều công đoạn Thêm vào đó điều kiện địa lý thiên nhiên ngày càng xấu đi, việc khai thác vận chuyển đòi hỏi chi phí tăng nhanh Nói cách khác, đối với ngành dầu mỏ càng khai thác được nhiều thì ngày càng khó khai thác Một vấn đề nữa của ngành dầu khí là công nghệ rất hiện đại, vốn đầu tư cực kỳ lớn, rủi ro cao, lợi nhuận nhiều và tính quốc tế cao Vì các đặc điểm đó mà cho đến giữa thế kỷ 20, ngành này hoàn toàn nằm trong tay các nước phát triển cao, cùng các tập đoàn siêu quốc gia mang tính độc quyền Cho nên các quốc gia đang phát triển dù có một tiềm năng lớn về tài nguyên dầu khí thì vấn đề phát triển dầu khí vẫn còn khó khăn

2/ Sự cần thiết phải huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt

Nam

Từ nhiều năm nay dầu khí là một trong những ngành đầu tư hấp dẫn nhất Kim ngạch xuất khẩu dầu khí chiếm tỷ lệ đáng kể và đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế nước Trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, đặc biệt là trong môi trường thềm lục địa và tiềm năng dầu khí của Việt Nam, cơ hội đầu tư có nhiều nhưng vốn đầu tư có hạn Vì vậy vấn đề huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành dầu khí không những phục vụ cho lĩnh vực thăm

dò khai thác dầu thô, mà điều quan trọng nữa là chúng ta cần vốn để trang bị công nghệ, kiến thức tơi tinh lọc dầu Khi đó mới hy vọng đất nước đi theo con đường CNH-HDH mà ngành dầu khí là ngành dẫn đầu

Nếu đặt nền kinh tế Việt Nam trong quỹ đạo kinh tế thế giới: ta thấy hiện nay năng lượng và nhiên liệu luôn được coi là đầu tàu cho sự phát triển kinh

Trang 28

tế-xã hội, vậy mà vẫn chưa tìm ra một năng lượng, nhiên liệu nào thay thế than, dầu khí Cơ quan thông tin năng lượng quốc tế EIA nhận định tiêu thụ dầu thô và nhiên liệu dạng lỏng trên thế giới sẽ tăng lên 88,2 triệu

thùng/ngày trong năm nay và 89,6 triệu thùng/ngày trong năm 2012, so với năm 2010 là đạt 87,4 triệu thùng/ngày.Mức tiêu thụ ở trên đồng nghĩa với việc lượng tiêu thụ dầu mỏ toàn cầu năm 2010 tăng 2,7 triệu thùng/ngày, tức 3,1% so với năm 2009, gấp đôi mức tăng bình quân của 10 năm qua

Trữ lượng dầu mỏ của thế giới đạt 1,383 nghìn tỷ thùng tính đến cuối năm

2010, tăng 6 tỷ thùng, do các mỏ dầu mới phát hiện có trữ lượng lớn hơn mức tiêu thụ

Trong khi đó, trữ lượng khí đốt toàn cầu tăng từ 186,6 nghìn tỷ mét khối trong năm 2009 lên 187,1 nghìn tỷ mét khối năm 2010.Lượng khí đốt tiêu thụ trong năm 2010 đạt 3.169 tỷ mét khối, tăng 7,4% so với năm 2009, trong sản lượng khai thác khí tăng 7,3% lên 3.193,3 tỷ mét khối

Thực tế là hiện nay, giá dầu thô biến đổi thất thường Tại thời điểm hiện tại giá dầu đang ở mức cao, nhìn chung xoay quanh mức từ 80$ - 100$, có những thời điểm vượt qua mốc 100$, hay xuống dưới mức 80$ Nguyên nhân khiến cho giá dầu tăng mạnh là do tốc độ phục hồi kinh tế toàn cầu đã đẩy mạnh nhu cầu sử dụng dầu thô, đặc biệt là ở châu á và Nhật Bản Dự báo giá dầu thô vẫn có thể tăng trong thời gian tới do sự thiếu hụt nguồn năng lượng thay thế, sự cạn kiệt của chính nguồn năng lương này

Chính vì nhu cầu dầu trên thế giới ngày một tăng lên Việt Nam cần có sự

ưu tiên trong vấn đề khai thác dầu khí, nguồn năng lượng mà thiên nhiên ban tặng

Một thực tế ở Việt Nam hiện nay trong vấn đề phát triển ngành dầu mỏ là: Chúng ta chỉ mới tập trung thăm dò và khai thác dầu khí, còn khâu chế biến thành dầu tinh chúng ta còn hạn chế, do đó xảy ra hiện tượng bán dầu

Trang 29

thô với giá rẻ và sau đó mua lại dầu tinh với giá đắt Một trong những nguyên nhân của vấn đề này là ta chưa có nguồn vốn đủ lớn để tập trung công nghệ và trí tuệ chế biến dầu tinh Mặt khác nếu chỉ riêng vấn đề khai thác thăm dò và khai thác chúng ta vẫn gặp nhiều trở ngại do thiếu vốn, thiếu máy móc thiết bị Vì vậy việc huy động vốn vào ngành dầu khí là việc cần thiết.

Chương II : Thực trạng và giải pháp huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí ở Việt Nam giai đoạn

hiện nay.

I/ Thực trạng huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt

Nam.

1/ Tình hình phát triển ngành dầu khí ở Việt Nam những năm qua

Ngành dầu khí Việt Nam đến nay về cơ bản đã được xây dựng gần hoàn chỉnh, bao gồm các hoạt động đầu tư thượng nguồn đến hạ nguồn

Trong các tổ chức kể trên chỉ có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với tiền thân của nó là “ Tổng cục dầu khí Việt Nam “ hoạt động trong tất cả các khâu từ nghiên cứu tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh dầu thô, khí đốt và sản phẩm dầu khí, dịch vụ dầu khí

Một thực tế là Việt Nam có một tiềm năng dầu khí không phải là nhỏ Cùng với việc công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước, ngành dầu khí Việt Nam cũng từng bước phát triển Từ chỗ phải nhập từng lít dầu hoả để thắp đèn, sau 35 năm thành lập, Tổng cục dầu khí Việt Nam đã đưa ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng của nó Việt

Trang 30

Nam đã bắt đầu được xếp trong danh sách các nước sản xuất dầu khí bắt đầu

từ năm 1991 khi sản lượng xuất được vài ba triệu tấn Đến nay, sản lượng dầu khí khai thác và xuất khẩu hàng năm đạt vào khoảng 20 triệu tấn/năm Như vậy trong 35 năm từ khi được thành lập đến nay, ngành dầu khí Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn, là một trong những ngành kinh tế hàng đầu của đất nước, đóng góp đáng kể cho nguồn thu ngân sách của quốc gia, phục vụ Tích cực cho công cuộc phát triển và đổi mới nền kinh tế Việt Nam

Ta xem xét tình hình phát triển của ngành dầu khí Việt Nam qua các lĩnh vực như sau:

1.1 Về hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí:

Từ những ngày đầu thành lập đến nay, công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí

đã được Tổng cục Dầu khí (nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) triển khai mạnh mẽ trên toàn thềm lục địa Việt Nam với mục tiêu phát hiện nhiều mỏ dầu khí mới nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Bên cạnh việc

mở rộng hoạt động thăm dò, khai thác ở trong nước, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã và đang triển khai thành công các hoạt động tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí ở nước ngoài

“Ở hoạt động tìm kiếm thăm dò” với phương châm chủ yếu là phát huy Nội lực, kết hợp tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư về khoa học và công nghệ của nước ngoài

a Trong nước

Từ công tác tìm kiếm thăm dò đã xác định được các bể trầm tích Đệ Tam có triển vọng dầu khí như: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Mã Lay - Thổ Chu, Tư Chính - Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa và Hoàng

Trang 31

Savới diện tích gần 1 triệu km2.(Hình 1)

Trang 32

Hình 1: Bản đồ phân bố các bể trầm tíchĐến nay, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ký được 87 Hợp đồng dầu khí với các công ty dầu khí của Mỹ, Nhật, Nga, Anh, Malaysia, Singapore, Canada, Úc… trong đó 60 Hợp đồng dầu khí đang còn hiệu lực bao gồm 46 Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC), 10 Hợp đồng điều hành chung (JOC), 03 Hợp đồng POC, 01 Hợp đồng Hợp tác kinh doanh (BCC) và 01 hợp đồng

Ngày đăng: 03/04/2013, 17:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn thời kỳ 1995-2009 - Tình hình huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam
Bảng 1 Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn thời kỳ 1995-2009 (Trang 13)
Hình 2. Bản đồ Hoạt động Dầu khí Việt Nam - Tình hình huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam
Hình 2. Bản đồ Hoạt động Dầu khí Việt Nam (Trang 34)
Hình 3: Bản đồ phân bố các hợp đồng dầu khí ở nước ngoài - Các dự án phát triển khai thác - Tình hình huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam
Hình 3 Bản đồ phân bố các hợp đồng dầu khí ở nước ngoài - Các dự án phát triển khai thác (Trang 37)
Bảng 3: thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khai thác dầu khí - Tình hình huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam
Bảng 3 thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khai thác dầu khí (Trang 43)
Bảng 3: Doanh thu và nộp ngân sách nhà nước - Tình hình huy động vốn đầu tư vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt Nam
Bảng 3 Doanh thu và nộp ngân sách nhà nước (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w