QUẢN TRỊ HỌCCHỦ ĐỀ: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC KINH TẾQuản trị (Management) là từ thường được dùng phổ biến trong nhiều sách giáo khoa và nhiều tài liệu khác. Nếu xét riêng từng từ một thì ta có thể tạm giải thích như sau: Quản: là đưa đối tượng vào khuôn mẫu qui định sẵn. Ví dụ: Cha mẹ bắt đứa bé phải làm theo một kế hoạch do mình định ra; sáng phải đi học, buổi trưa nghỉ ngơi, buổi chiều học bài, trước khi đi phải thưa về phải chào, … Đó là cái khuôn mẫu chúng phải thực hiện chứ không để đối tượng tự do hoạt động một cách tùy thích. Trị: là dùng quyền lực buộc đối tượng phải làm theo khuôn mẫu đã định. Nếu đối tượng không thực hiện đúng thì sẽ áp dụng một hình phạt nào đó đủ mạnh, đủ sức thuyết phục để buộc đối tượng phải thi hành. Nhằm đạt tới trạng thái mong đợi, có thể có và cần phải có mà người ta gọi là mục tiêu. Sau đây là những khái niệm về Quản trị của một số tác giả là Giáo sư, Tiến sĩ quản trị học trong và ngoài nước.
Trang 1MÔN: QUẢN TRỊ HỌC CHỦ ĐỀ: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC
KINH TẾ GVHD: NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NHÓM: QL618
BÀI THỰC HÀNH
Trang 2Các yếu tố môi trường vĩ mô
Các yếu tố môi trường vĩ mô
• Môi trường kinh tế
• Chính trị và pháp luật
• Văn hóa-xã hội
• Công nghệ
• Tự nhiên
Các yếu tố môi trường vi mô
Các yếu tố môi trường vi mô
• Nhà cung ứng
• Khách hàng
• Đối thủ cạnh tranh
Môi trường nội bộ
Môi trường nội bộ
• Tài chính
• Nhân sự
• Cơ cấu tổ chức
• Văn hóa tổ chức
Trang 3I Các yếu tố môi trường vĩ mô
- Trong môi trường kinh tế,doanh nghiệp chịu tác động của các yếu tố như:tổng sản phẩm quốc nội(GDP),yếu tố lạm phát,tỉ giá hối đoái và lãi suất,tiền lương và thu nhập.
- Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức với doanh nghiệp.Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế,các nhà quản trị của doanh nghiệp phải theo dõi,phân tích,dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp,các chính sách kịp thời,phù hợp với từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng,khai thác những cơ hội,giảm thiểu nguy cơ và đe dọa.
- Trong môi trường kinh tế,doanh nghiệp chịu tác động của các yếu tố như:tổng sản phẩm quốc nội(GDP),yếu tố lạm phát,tỉ giá hối đoái và lãi suất,tiền lương và thu nhập.
- Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức với doanh nghiệp.Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế,các nhà quản trị của doanh nghiệp phải theo dõi,phân tích,dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp,các chính sách kịp thời,phù hợp với từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng,khai thác những cơ hội,giảm thiểu nguy cơ và đe dọa.
I.1 Môi trường kinh tế
GDP tác động đến nhu cầu của gia đình, doanh nghiệp, nhà nước tức GDP đã chi phối và làm thay đổi quyết định tiêu dùng trong từng thời kì nhất định.
Vì vậy, nó tác động đến tất cả các mặt hoạt động của quản trị; các nhà quản trị phải dựa vào tổng sản phẩm quốc nội
và tình hình thực tế để từ đó hoạch định ra kế hoạch sắp tới phù hợp với xu hướng thị trường; ra quyết định , tổ chức và lãnh đạo, giám sát việc thực thi kế hoạch
GDP tác động đến nhu cầu của gia đình, doanh nghiệp, nhà nước tức GDP đã chi phối và làm thay đổi quyết định tiêu dùng trong từng thời kì nhất định.
Vì vậy, nó tác động đến tất cả các mặt hoạt động của quản trị; các nhà quản trị phải dựa vào tổng sản phẩm quốc nội
và tình hình thực tế để từ đó hoạch định ra kế hoạch sắp tới phù hợp với xu hướng thị trường; ra quyết định , tổ chức và lãnh đạo, giám sát việc thực thi kế hoạch
Tổng sản phẩm quốc nội(GDP)
-Lạm phát ảnh hưởng đến tâm lí và chi phối hành vi tiêu dùng của người dân; làm thay đổi cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng;cho thấy tốc độ tiêu thụ hàng hóa giảm ngày càng nhiều, nhất là ở những mặt hàng mang tính thiết yếu đối với cuộc sống hàng ngày
- Trong thời kì lạm phát thì yếu tố về giá của sản phẩm càng được người tiêu dùng quan tâm. Các nhà quản trị cần phải hoạch định lại chiến lược sản xuất ở các khâu ;cả nhà sản xuất và nhà phân phối cần quan tâm cắt giảm các hình thức tiếp thị để tập trung vào ổn định giá sản phẩm.Kết nối sản xuất với phân phối lại một cách phù hợp.Vì vậy,việc
dự đoán chính xác yếu tố lạm phát là rất quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh
-Lạm phát ảnh hưởng đến tâm lí và chi phối hành vi tiêu dùng của người dân; làm thay đổi cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng;cho thấy tốc độ tiêu thụ hàng hóa giảm ngày càng nhiều, nhất là ở những mặt hàng mang tính thiết yếu đối với cuộc sống hàng ngày
- Trong thời kì lạm phát thì yếu tố về giá của sản phẩm càng được người tiêu dùng quan tâm. Các nhà quản trị cần phải hoạch định lại chiến lược sản xuất ở các khâu ;cả nhà sản xuất và nhà phân phối cần quan tâm cắt giảm các hình thức tiếp thị để tập trung vào ổn định giá sản phẩm.Kết nối sản xuất với phân phối lại một cách phù hợp.Vì vậy,việc
dự đoán chính xác yếu tố lạm phát là rất quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh
Lạm phát
-Tác động đến giá thành và nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
-Thu nhập hay nó phản ánh tới mức sống của người dân. Người tiêu dùng sẽ chi tiêu những sản phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế. Vì thế, doanh nghiệp phải phân loại từng bậc sản phẩm để mọi khách hàng có thể biết đến và tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
-Tiền lương của công nhân, nhân viên là yếu tố chính quyết định đến nguồn nhân lực của doanh nghiệp;bởi tiền lương chính là nguồn sống của hầu hết mọi người; mức lương thường được đặt lên hàng đầu trong tâm lí và đó cũng chính là nguồn hứng khởi cho họ làm việc.Các nhà quản trị phải có chính sách cụ thể quy định về mức tiền lương phù hợp với năng lực làm việc của mỗi người,có sự thưởng,phạt công minh để tạo ra sự hài lòng,tin tưởng trong môi trường làm việc.Có sự khuyến khích những sáng kiến mới sáng tạo để tạo hứng khởi trong công việc;các nhà quản trị cũng cần có chính sách đặc biệt với những công nhân,nhân viên có tuổi nghề lâu năm để trong tâm lí của họ có sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp
-Tác động đến giá thành và nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
-Thu nhập hay nó phản ánh tới mức sống của người dân. Người tiêu dùng sẽ chi tiêu những sản phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế. Vì thế, doanh nghiệp phải phân loại từng bậc sản phẩm để mọi khách hàng có thể biết đến và tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
-Tiền lương của công nhân, nhân viên là yếu tố chính quyết định đến nguồn nhân lực của doanh nghiệp;bởi tiền lương chính là nguồn sống của hầu hết mọi người; mức lương thường được đặt lên hàng đầu trong tâm lí và đó cũng chính là nguồn hứng khởi cho họ làm việc.Các nhà quản trị phải có chính sách cụ thể quy định về mức tiền lương phù hợp với năng lực làm việc của mỗi người,có sự thưởng,phạt công minh để tạo ra sự hài lòng,tin tưởng trong môi trường làm việc.Có sự khuyến khích những sáng kiến mới sáng tạo để tạo hứng khởi trong công việc;các nhà quản trị cũng cần có chính sách đặc biệt với những công nhân,nhân viên có tuổi nghề lâu năm để trong tâm lí của họ có sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp
Tiền lương và thu nhập
-Tỷ giá hối đoãi và lãi suất ảnh hưởng tới các hoạt động xuất nhập khẩu;tức là làm ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp:các nguồn nguyên,vật liệu nhập khẩu có sự thay đổi dẫn đến kế hoạch sản xuất bị chậm tiến độ so với dự kiến;làm ảnh hưởng đến thị trường cũng như việc tiêu dùng của người dân. Tỷ giá hối đoãi ảnh hưởng đến hoạt động quản trị của các doanh nghiệp;các nhà quản trị phải dự báo trước về tỷ giá hối đoãi và lãi suất để từ đó có
kế hoạch cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp mình
-Tỷ giá hối đoãi và lãi suất ảnh hưởng tới các hoạt động xuất nhập khẩu;tức là làm ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp:các nguồn nguyên,vật liệu nhập khẩu có sự thay đổi dẫn đến kế hoạch sản xuất bị chậm tiến độ so với dự kiến;làm ảnh hưởng đến thị trường cũng như việc tiêu dùng của người dân. Tỷ giá hối đoãi ảnh hưởng đến hoạt động quản trị của các doanh nghiệp;các nhà quản trị phải dự báo trước về tỷ giá hối đoãi và lãi suất để từ đó có
kế hoạch cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp mình
Tỷ giá hối đoái và lãi suất
Trang 4 Môi trường này bao gồm các yếu tố như:chính phủ,hệ thống pháp luật…ngày càng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp
Chính phủ: cơ quan giám sát, duy trì và bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích quốc gia. Vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ
mô thông qua các chính sách tài chính, tiền tệ, thuế và các chương trình chi tiêu
Pháp luật: Đưa ra những quy định cho phép hay không cho phép, hoặc những ràng buộc, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tuân theo. Để tận dụng được cơ hội và giảm thiểu những nguy cơ, các doanh nghiệp phải nắm bắt được các quan điểm, những quy định, những ưu tiên, những chương trình chi tiêu của Chính Phủ. Thiết lập
một mối quan hệ tốt đẹp, thậm chí có thể thực hiện vận động hành lang khi cần thiết.
Môi trường này bao gồm các yếu tố như:chính phủ,hệ thống pháp luật…ngày càng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp
Chính phủ: cơ quan giám sát, duy trì và bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích quốc gia. Vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ
mô thông qua các chính sách tài chính, tiền tệ, thuế và các chương trình chi tiêu
Pháp luật: Đưa ra những quy định cho phép hay không cho phép, hoặc những ràng buộc, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tuân theo. Để tận dụng được cơ hội và giảm thiểu những nguy cơ, các doanh nghiệp phải nắm bắt được các quan điểm, những quy định, những ưu tiên, những chương trình chi tiêu của Chính Phủ. Thiết lập
một mối quan hệ tốt đẹp, thậm chí có thể thực hiện vận động hành lang khi cần thiết.
I.2 Chính trị và pháp luật
Môi trường văn hóa - xã hội bao gồm nhiều yếu tố như: dân số, văn hóa, gia đình, tôn giáo. Nó ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanh của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn hóa -
xã hội nhằm nhận biết cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra. Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một nghành kinh doanh mới nhưng cũng co thể xóa đi một ngành kinh doanh
Môi trường văn hóa - xã hội bao gồm nhiều yếu tố như: dân số, văn hóa, gia đình, tôn giáo. Nó ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanh của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn hóa -
xã hội nhằm nhận biết cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra. Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một nghành kinh doanh mới nhưng cũng co thể xóa đi một ngành kinh doanh
I.3 Văn hóa – xã hội
người trong xã hội
trường mới việc đầu tiên các doanh nghiệp cần làm là phải nghiên cứu về yếu tố văn hóa xem sản phẩm doanh nghiệp
mình đưa đến có phù hợp với nhu cầu,phong tục…nơi đó không.Nếu không phù hợp thì sản phẩm đó sẽ bị loại bỏ hoặc không có nhu cầu.
cho phù hợp với từng nền văn hóa; cố gắng định vị sản phẩm để người tiêu dùng biết đến va tiêu dùng sản phẩm
người trong xã hội
trường mới việc đầu tiên các doanh nghiệp cần làm là phải nghiên cứu về yếu tố văn hóa xem sản phẩm doanh nghiệp
mình đưa đến có phù hợp với nhu cầu,phong tục…nơi đó không.Nếu không phù hợp thì sản phẩm đó sẽ bị loại bỏ hoặc không có nhu cầu.
cho phù hợp với từng nền văn hóa; cố gắng định vị sản phẩm để người tiêu dùng biết đến va tiêu dùng sản phẩm
Văn hóa
Tôn giáo: ảnh hưởng tới văn hóa đạo đức, tư cách của mọi người, trong việc chấp hành và thực thi các quyết định
Tôn giáo
Gia đình: ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng,năng suất lao động cũng như hiệu quả làm việc của tất cả mọi người
Gia đình
Dân số: ảnh hưởng lên nguồn nhân lực, ảnh hưởng tới đầu ra của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ về nguồn dân số và xác định quy mô thị trường để từ đó có chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện ở từng nơi
Dân số: ảnh hưởng lên nguồn nhân lực, ảnh hưởng tới đầu ra của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ về nguồn dân số và xác định quy mô thị trường để từ đó có chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện ở từng nơi
Dân số
Trang 5I Các yếu tố môi trường vĩ mô
Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh,trực tiếp đến doanh nghiệp và tác động đến hoạt động quản trị.Các thay đổi về công nghệ-kĩ thuật sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu tương lai của một tổ chức về nhân lực.Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện như:
thông tin và truyền thông
trước đây
và quản lý ngày càng cao hơn.
ngày càng rộng lớn hơn…
Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh,trực tiếp đến doanh nghiệp và tác động đến hoạt động quản trị.Các thay đổi về công nghệ-kĩ thuật sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu tương lai của một tổ chức về nhân lực.Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện như:
thông tin và truyền thông
trước đây
và quản lý ngày càng cao hơn.
ngày càng rộng lớn hơn…
I.4 Công nghệ
hóa. Tự nhiên có tác động rất lớn đến doanh nghiệp. Nó thường tác động bất lợi đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có liên quan đến tự nhiên như:sản xuất nông phâm,thực phẩm theo mùa, kinh doanh khách sạn, du lịch… để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên các nhà quản trị cần phải phân tích,dự báo,đánh giá tình hình thông qua các cơ quan chuyên môn.phải có biện pháp đề phòng để giảm thiểu rủi ro tới mức có thể
hóa. Tự nhiên có tác động rất lớn đến doanh nghiệp. Nó thường tác động bất lợi đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có liên quan đến tự nhiên như:sản xuất nông phâm,thực phẩm theo mùa, kinh doanh khách sạn, du lịch… để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên các nhà quản trị cần phải phân tích,dự báo,đánh giá tình hình thông qua các cơ quan chuyên môn.phải có biện pháp đề phòng để giảm thiểu rủi ro tới mức có thể
I.5 Tự nhiên
Kết luận:
- Môi trường vĩ mô tác động đến các động quản trị của doanh nghiệp,có ảnh hưởng lâu dài và doanh nghiệp khó kiểm soát được
- Mức độ tác động và tính chất tác động của loại môi trường này khác nhau tùy theo từng nghành.
Kết luận:
- Môi trường vĩ mô tác động đến các động quản trị của doanh nghiệp,có ảnh hưởng lâu dài và doanh nghiệp khó kiểm soát được
- Mức độ tác động và tính chất tác động của loại môi trường này khác nhau tùy theo từng nghành.
Trang 6 Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kĩ những khách hàng của mình.
Khách hàng luôn bị thu hut bởi những lợi ích hứa hẹn sẽ được hưởng trong việc mua hàng.
Khách hàng luôn thay đổi nhu cầu,lòng trung thành của khách hàng luôn bị lung lay trước nhiều hàng hóa đa dạng. Có 5 dạng thị trường khách hàng. Doanh nghiệp cần dựa vào từng thị trường để có chiến lược cho phù hợp:
Thị trường người tiêu dùng:những người và hộ dân mua hàng hóa,dịch vụ để sử dụng cho cá nhân.
Thị trường các nhà sản xuất:các tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ để sử dụng chúng trong quá trình sản xuất.
Thị trường các nhà bán buôn trung gian:tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ để sau đó bán lại kiếm lời.
Thị trường các cơ quan nhà nước:những tổ chức mua hàng và dịch vụ để sau đó sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ công cộng hoặc chuyển giao hàng hóa,dịch vụ cho những người cần đến nó.
Thị trường quốc tế:những người mua hàng ở nước ngoài bao gồm những người tiêu dùng,sản xuất bán trung gian và các cơ quan nhà nước buôn bán ngoài nước.
Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kĩ những khách hàng của mình.
Khách hàng luôn bị thu hut bởi những lợi ích hứa hẹn sẽ được hưởng trong việc mua hàng.
Khách hàng luôn thay đổi nhu cầu,lòng trung thành của khách hàng luôn bị lung lay trước nhiều hàng hóa đa dạng. Có 5 dạng thị trường khách hàng. Doanh nghiệp cần dựa vào từng thị trường để có chiến lược cho phù hợp:
Thị trường người tiêu dùng:những người và hộ dân mua hàng hóa,dịch vụ để sử dụng cho cá nhân.
Thị trường các nhà sản xuất:các tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ để sử dụng chúng trong quá trình sản xuất.
Thị trường các nhà bán buôn trung gian:tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ để sau đó bán lại kiếm lời.
Thị trường các cơ quan nhà nước:những tổ chức mua hàng và dịch vụ để sau đó sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ công cộng hoặc chuyển giao hàng hóa,dịch vụ cho những người cần đến nó.
Thị trường quốc tế:những người mua hàng ở nước ngoài bao gồm những người tiêu dùng,sản xuất bán trung gian và các cơ quan nhà nước buôn bán ngoài nước.
II.1 Khách hàng
Những nhà cung ứng là những cá nhân hay tổ chức cung cấp cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh các nguồn vật tư cần thiết để sản xuất ra những mặt hàng cụ thể hay dịch vụ nhất định
Những sự kiện xảy ra trong môi trường của “nhà cung ứng” có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động quản trị của doanh nghiệp Những nhà quản trị phải chú ý theo dõi giá cả của các mặt hàng cung ứng, vì việc tăng giá của nguồn vật tư mua có thể phải nâng giá sản phẩm; phải nghiên cứu để đưa ra chính sách phù hợp; hoặc nếu
có vấn đề làm rối loạn bên phía cung ứng thì kế hoạch sản xuất sản phẩm sẽ không kịp tiến độ, làm lỡ đơn đặt hàng Trong kế hoạch ngắn hạn sẽ bỏ lỡ những khả năng tiêu thụ và trong kế hoạch dài hạn sẽ làm mất đi thiện cảm của khách hàng đối với công ty
Những nhà cung ứng là những cá nhân hay tổ chức cung cấp cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh các nguồn vật tư cần thiết để sản xuất ra những mặt hàng cụ thể hay dịch vụ nhất định
Những sự kiện xảy ra trong môi trường của “nhà cung ứng” có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động quản trị của doanh nghiệp Những nhà quản trị phải chú ý theo dõi giá cả của các mặt hàng cung ứng, vì việc tăng giá của nguồn vật tư mua có thể phải nâng giá sản phẩm; phải nghiên cứu để đưa ra chính sách phù hợp; hoặc nếu
có vấn đề làm rối loạn bên phía cung ứng thì kế hoạch sản xuất sản phẩm sẽ không kịp tiến độ, làm lỡ đơn đặt hàng Trong kế hoạch ngắn hạn sẽ bỏ lỡ những khả năng tiêu thụ và trong kế hoạch dài hạn sẽ làm mất đi thiện cảm của khách hàng đối với công ty
II.2 Nhà cung ứng
Là những cá nhân hay tổ chức có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu doanh
nghiệp bằng: Cùng loại sản phẩm. Bằng sản phẩm có khả năng thay thế. Doanh nghiệp cần có chiến lược mới trong chất lượng sản phẩm,bên cạnh đó yếu tố quảng bá thương hiệu cũng không kém phần quan trọng. Môi trường kinh doanh thuận lợi,ngành nghề sẽ được mở rộng đối thủ tiềm ẩn cũng là nguy cơ khá quan trọng. Dự báo và lên kế hoạch cho những năm tiếp theo.
Là những cá nhân hay tổ chức có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu doanh
nghiệp bằng: Cùng loại sản phẩm. Bằng sản phẩm có khả năng thay thế. Doanh nghiệp cần có chiến lược mới trong chất lượng sản phẩm,bên cạnh đó yếu tố quảng bá thương hiệu cũng không kém phần quan trọng. Môi trường kinh doanh thuận lợi,ngành nghề sẽ được mở rộng đối thủ tiềm ẩn cũng là nguy cơ khá quan trọng. Dự báo và lên kế hoạch cho những năm tiếp theo.
II.3 Đối thủ cạnh tranh
Trang 7III Môi trường nội bộ
Nguồn vốn và khả năng huy động vốn.
Tình hình phân bổ và sử dụng các nguồn vốn.
Kiểm soát các chi phí.
Quan hệ tài chính với các bên hữu quan.
Đây là nguồn lực quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động quản trị và quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp mọi hoạt động sản xuất đều cần có vốn bằng tiền hay bằng nguồn lực tài chính để thực hiện hoạt động; đây cũng là cơ sở để các nhà quản trị vạch ra kế hoạch trong tương lai cho các hoạt động đầu tư mới, mua nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân…
Trong đấu thầu xây dựng thì năng lực tài chính càng thể hiện rõ vai trò quan trọng: năng lực tài chính mạnh giúp doanh nghệp hoàn thành nhiệm vụ thi công, bảo đảm chất lượng,tiến độ và tạo niềm tin cho chủ đầu tư đồng thời nâng cao uy tín, thương hiệu của nhà thầu; nếu năng lực này mạnh cũng sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá cao các công trình trước khi thi công đến khi có khối lượng nghiệm thu,mặt khác sẽ cho phép doanh nghiệp ra giá bỏ thầu một cách sáng suốt, hợp lí.
Nguồn vốn và khả năng huy động vốn.
Tình hình phân bổ và sử dụng các nguồn vốn.
Kiểm soát các chi phí.
Quan hệ tài chính với các bên hữu quan.
Đây là nguồn lực quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động quản trị và quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp mọi hoạt động sản xuất đều cần có vốn bằng tiền hay bằng nguồn lực tài chính để thực hiện hoạt động; đây cũng là cơ sở để các nhà quản trị vạch ra kế hoạch trong tương lai cho các hoạt động đầu tư mới, mua nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân…
Trong đấu thầu xây dựng thì năng lực tài chính càng thể hiện rõ vai trò quan trọng: năng lực tài chính mạnh giúp doanh nghệp hoàn thành nhiệm vụ thi công, bảo đảm chất lượng,tiến độ và tạo niềm tin cho chủ đầu tư đồng thời nâng cao uy tín, thương hiệu của nhà thầu; nếu năng lực này mạnh cũng sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá cao các công trình trước khi thi công đến khi có khối lượng nghiệm thu,mặt khác sẽ cho phép doanh nghiệp ra giá bỏ thầu một cách sáng suốt, hợp lí.
III.1 Tài chính
- Chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức thể hiện ở năng lực, tay nghề và khả năng hoàn thành
nhiệm vụ của công nhân,nhân viên. Các nhà quản trị phải đánh giá đúng năng lực để giao phó công việc chính xác,đề ra mức lương hợp lí tuy theo năng lực của mỗi người. Các cán bộ quản lí phải là những người có năng lực lãnh đạo tốt, có khả năng đánh giá,nhìn nhận vấn đề và định hướng xa. Phải là những tấm gương tốt trong mọi hoạt động, quy định của công ty…luôn quan tâm đến mọi người dưới cấp quản lí,tạo được môi trường làm việc tốt nhất có thể.
- Xác định đúng nhu cầu lao động. Đánh giá đúng nhu cầu,mục đích công việc để tuyển lao động phù hợp với ngành nghề…không tuyển
trái với định hướng để không phải hao tổn về thời gian đào tạo lại công việc.
- Cần có chính sách đãi ngộ hợp lý và động viên, khuyến khích người lao động tích cực làm việc. Hoạt động quản trị phải chú trọng đến
các chính sách đãi ngộ đối với công - nhân viên. Bởi đó cũng là một phần tạo nên tâm lí, tinh thần làm việc của họ: lịch các ngày nghĩ lễ, tết, tiền thưởng có chính sách ưu đãi riêng cho những công - nhân viên có tuổi nghề dài tạo ra tâm lí muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
- Chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức thể hiện ở năng lực, tay nghề và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của công nhân,nhân viên. Các nhà quản trị phải đánh giá đúng năng lực để giao phó công việc chính xác,đề ra mức lương hợp lí tuy theo năng lực của mỗi người. Các cán bộ quản lí phải là những người có năng lực lãnh đạo tốt, có khả năng đánh giá,nhìn nhận vấn đề và định hướng xa. Phải là những tấm gương tốt trong mọi hoạt động, quy định của công ty…luôn quan tâm đến mọi người dưới cấp quản lí,tạo được môi trường làm việc tốt nhất có thể.
- Xác định đúng nhu cầu lao động. Đánh giá đúng nhu cầu,mục đích công việc để tuyển lao động phù hợp với ngành nghề…không tuyển trái với định hướng để không phải hao tổn về thời gian đào tạo lại công việc.
- Cần có chính sách đãi ngộ hợp lý và động viên, khuyến khích người lao động tích cực làm việc. Hoạt động quản trị phải chú trọng đến các chính sách đãi ngộ đối với công - nhân viên. Bởi đó cũng là một phần tạo nên tâm lí, tinh thần làm việc của họ: lịch các ngày nghĩ lễ, tết, tiền thưởng có chính sách ưu đãi riêng cho những công - nhân viên có tuổi nghề dài tạo ra tâm lí muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
III.2 Nhân sự
Xác định đúng nhiệm vụ chức năng của từng bộ phận, từng phòng ban và từng cá nhân.
Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và khoa học.
Đảm bảo hoạt động hiệu quả.
Xác định đúng nhiệm vụ chức năng của từng bộ phận, từng phòng ban và từng cá nhân.
Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và khoa học.
Đảm bảo hoạt động hiệu quả.
III.3 Cơ cấu tổ chức
Văn hóa tổ chức là những chuẩn mực, khuôn mẫu, giá trị truyền thống mà mọi thành viên trong
tổ chức tôn trọng và tuân theo.
Cần xây dựng một nền văn hóa vững mạnh, mang nét riêng và độc đáo của tổ chức.
Văn hóa tổ chức là những chuẩn mực, khuôn mẫu, giá trị truyền thống mà mọi thành viên trong
tổ chức tôn trọng và tuân theo.
Cần xây dựng một nền văn hóa vững mạnh, mang nét riêng và độc đáo của tổ chức.
III.4 Văn hóa tổ chức
Trang 8LẮNG NGHE BÀI THUYẾT TRÌNH
NHÓM QL618
LẮNG NGHE BÀI THUYẾT TRÌNH
NHÓM QL618
CHÚC MỌI NGƯỜI MỘT NGÀY HỌC TẬP
VÀ LÀM VIỆC HIỆU QUẢ
CHÚC MỌI NGƯỜI MỘT NGÀY HỌC TẬP
VÀ LÀM VIỆC HIỆU QUẢ