* Hệ thống lọc và phân loại Ở hệ thống này, nguyên liệu sẽ tiếp tục được lọc để loại bỏ những thành phần mà không có khả năng nảy mầm ra khỏi lượng để làm giống.. Hệ thống này cũng có bộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ KHOA CƠ KHÍ CÔNG NGHỆ
- -BÁO CÁOTHỰC TẬP GIÁO TRÌNH
Sinh viên : Hoàng Nữ Thanh Dung
Lớp :Cơ khí bảo quản K40
Thời gian TT: từ ngày 9/4/2009 đến ngày 28/4/2009
Huế, 04/2009
Trang 2MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU
* Giới thiệu sơ lược về ngành học
Ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm thuộc khoa Cơ khí – Công nghệ nằm trong trường Đại học Nông Lâm Huế, đó là một ngành khá mới, đến nay ngành này đã được thành lập cách đây 4 năm Do là một ngành khá mới mẻ nên nó cũng gặp không ít khó khăn
* Giới thiệu về thực tập giáo trình
Do là một ngành khá mới mẻ nên nó cũng gặp không ít khó khăn Địa điểm thực tập còn hạn chế Được sự đồng ý của nhà trường, của khoa và đặc biệt
là được sự chấp thuận các cơ sơ thực tập này, đã giúp cho chúng em có được một
số hiểu biết thực tế, biết được một số dây chuyền công nghệ
Mục đích:
2 NỘI DUNG
2.1 Dây chuyền chế biến hạt giống
- Thời gian thực tập: 7h30 – 11h ngày 9/4/2009
- Địa điểm thực tập: Công ty cổ phần giống cây trồng – vật nuôi TT Huế
Địa chỉ: 128 Nguyễn Phúc Nguyên – xã Hương Long – TP Huế - tỉnh TT Huế
- Giới thiệu sơ lược về cơ sở sản xuất:
+ Công ty cổ phần giống cây trồng – vật nuôi TT Huế được thành lập vào năm 1984
+ Nhà máy chế biến hạt giống thuộc công ty cổ phần giống cây trồng – vật nuôi TT Huế, đây là một dây chuyền sản xuất được lắp đặt vào năm 2004 do Viện cơ điện Nông Nghiệp nghiên cứu
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm: cả nước
Sơ lý Hóa chất Định
lượng
Trang 3o Nguyên lý làm việc: hệ thống sấy làm việc theo nguyên lý tỏa nhiệt.
o Có 2 lò đốt bằng than đá
o Có mạch điều khiển nhiệt độ: t = 42oC
Nếu t < 42 oC thì hiệu quả sấy sẽ không cao
Nếu t > 42 oC thì ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống (mầm hạt chết đi)
o Tháp: Nguyên liệu đi từ trên
xuống, không khí nóng đi từ dưới
lên
o Thời gian sấy phụ thuộc vào
nguyên liệu đầu vào của tháp
o Độ ẩm hạt giống ban đầu: Ao
= 22 %
o Độ ẩm có thể bảo quản: Ao =
13÷14 %
o Thời gian sấy: t = 10÷12 h
o Có bộ phận kiểm tra độ ẩm, nhiệt độ trong lò
Lấy mẫu để kiểm tra xem độ ẩm đã đạt chưa
o Thường ít nhất phải đảo 1 lần/mẻ Để đảo, ta tiến hành xả cửa xả Thông qua cửa xả, một nửa nguyên liệu được xả vào bể chứa nguyên liệu và thông qua hệ thống gàu tải đưa nguyên liệu vừa được xả lên lại tháp để sấy Khi
đó, ở tháp sấy đã có hiện tượng đảo nguyên liệu sấy, tức là một nửa phía trên sẽ nằm ở dưới tháp sấy và một nửa phía dưới sẽ nằm ở phía trên tháp nhằm đảm bảonhiệt độ sấy ở nguyên liệu sấy được đều hơn
o Năng suất: 5 tấn/mẻ
o Nhiên liệu: 20 kg than đá/h/2 tháp
Nguyên liệu sấy được đưa vào hầm, thông qua gàu tải múc nguyên liệu lên phía trên và đổ vào thùng sấy Hơi sấy được đi từ dưới lên và sấy đều nguyên liệu sấy
Trang 4
Sau khi nguyên liệu được sấy
xong, thỏa mãn độ ẩm thích hợp để
bảo quản hạt giống thì nguyên liệu
được gàu tải đưa lên 2 thùng Xylô
chứa thành phẩm rồi tiến hành sàng
phân loại
* Hệ thống sàng phân loại hạt
Hạt sau khi thu hoạch xong còn lẫn ít tạp chất đồng thời trong quá trình sấy thì có hiện tượng một sốhạt bị va đập vào nhau tạo nên thành phẩm không mong muốn Ví dụ như hạt
bị vỡ ra tạo thành gạo và lớp vỏ trấu, mà thành phần này thì không thể làm giốngđược,do đó để chế biến hạt giống đạt chất lượng tốt thì ta cần phải loại bỏ những tạp chất đó như loại bỏ trấu, lép, lửng, thân cây (dau dau) v.v
Sàng được đặt nằm nghiêng, chuyển động của sàng tạo nên chuyển động đặc trưng của hạt trên đó
Trong hệ thống này còn có thêm hệ thống hút bụi để loại bỏ bụi bẩn bám trên hạt Một số vỏ trấu, lép, lửng được hút lên và thải ra ngoài còn những hạt nhỏ và
đá sỏi thì được loại bỏ xuống phía dưới
Sau khi ta sàng phân loại xong, thì những hạt gạo trong nguyên liệu vẫn chưa được loại trừ Do đó sau quá trình sàng phân loại, nguyên liệu tiếp tục qua hệ thống gàu tải được chuyển lên và qua hệ thống lọc và phân loại
* Hệ thống lọc và phân loại
Ở hệ thống này, nguyên liệu sẽ tiếp tục được lọc để loại bỏ những thành phần
mà không có khả năng nảy mầm ra khỏi lượng để làm giống Một số hạt gạo được lọc để tách ra khỏi hạt giống thông qua trống phân li
Trang 5Hệ thống này cũng có bộ phận hút bụi bẩn còn sót lại ở bề mặt hạt.
* Hệ thống xử lý hóa chất
Hạt sau khi được sấy khô, được sàng
để loại bỏ tạp chất và lọc để tách gạo ra khỏi thành phẩm thì cần phải tiến hành xử
lý hóa chất, bởi vì hạt vẫn còn tồn dư một lượng mối mọt rất lớn, mà yếu tố này nếu nhiều sẽ làm giảm chất lượng của hạt giống, giảm khả năng nảy mầm v.v Hóa chất có nhiều dạng
Ví dụ:
- Dạng lỏng: hóa chất này dùng
để xử lý mối mọt bằng cách phun sương
- Dạng bột: hóa chất này cũng dùng để xử lý mối mọt
Trong sơ đồ cấu tạo hệ thống này, phía trên có 2 thùng: một thùng để chứa hóa chất (dạng lỏng) còn thùng kia để chứa nguyên liệu Sau khi nguyên liệu đi xuống, hóa chất được phun vào nguyên liệu để xử lý mối mọt, sau đó nguyên liệutiếp tục qua hệ thống gàu tải để đưa vào thùng xylo định lượng đóng gói sản phẩm Tùy theo nguyên liệu là gì mà ta áp dụng xử lý hóa chất dạng bột hay lỏng Trường hợp xử lý hóa chất dạng bột, phía dưới thùng chứa nguyên liệu có
bộ phận để xử lý hóa chất dạng lỏng, hệ thống này có cánh khuấy Sau đó nguyênliệu cũng tiếp tục qua hệ thống gàu tải đưa nguyên liệu qua bộ phận định lượng
để đóng gói thành phẩm
Trường hợp không qua xử lý hóa chất, cho chạy thẳng vào thùng chứa
nguyên liệu để định lượng sản phẩm
* Hệ thống định lượng:
Hệ thống này có bộ phận điều chỉnh lưu lượng
Trang 6+ Sản xuất – kinh doanh:
* Công suất: 1 Tấn/ha.
* Vốn đầu tư: 1 tỉ 2
* Sản phẩm thu được: 2000 Tấn/năm
* Thị trường tiêu thụ: cả nước
* Bảo dưỡng: 2 lần/năm
2.2 Dây chuyền sản xuất tinh bột sắn.
- Thời gian thực tập: Sáng từ 7h30 đến 11h ngày 10/4/2009
- Địa điểm thực tập: Công ty thực phẩm và đầu tư công nghệ - Nhà máy tinh bột
sắn Thừa Thiên Huế
Địa chỉ: Km 802 – QL1A – Phong An – Phong Điền – Thừa Thiên Huế
- Giới thiệu sơ lược về cơ sở sản xuất: Nhà máy tinh bột sắn Thừa Thiên Huế.
+ Nhà máy tinh bột sắn Thừa Thiên Huế phát triển mạnh trong 8 năm trở lại đây, sản phẩm thu được của quá trình chế biến là bột lọc và sắn củ khô và chủ yếu là tinh bột sắn Đặc biệt là trong vòng 4 năm trở lại đây thì Nhà máy đã có một bước phát triển rất lớn và nổi bật, đạt được những thành tựu to lớn
+ Nhà máy gồm có 120 công nhân viên
+ Nhà máy tinh bột sắn Thừa Thiên Huế được xây dựng vào năm 2002, và hoàn thành vào năm 2004
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm: xuất khẩu nội địa chỉ nhỏ, lẻ và mục tiêu chủ yếu là để xuất khẩu sang các nước khác như Nhật Bản, Singapo, Úc, v.v
+ Tinh bột sắn được dùng làm nguyên liệu đầu vào của các ngành công nghiệp khác, hiện nay có khoảng 200 mặt hàng công nghiệp khác sử dụng tinh bột sắn để làm nguyên liệu Người ta thống kê có khoảng 4000 sản phẩm được tạo thành mà nguyên liệu của các sản phẩm đó lại là tinh bột sắn Hiện nay ở mặt hàng nội địa thì tinh bột sắn dùng để làm thực phẩm như mì tôm, dược phẩm (làm chất nền của thuốc, tạo Glucoza), bột ngọt, kẹo hải hà, bì ni lông, Etanol (từ
củ sắn tươi)
+ Giá sắn tươi khi nhập vào nhà máy: 700-800 đồng
Trang 7+ Vốn đầu tư thiết bị: 56 tỉ
- Nội dung:
+ Công nghệ: Công nghệ sản xuất tinh bột sắn cũng tương tự như sản xuất
bột lọc thủ công, nhưng chúng ta cần phải cơ giới hóa các công đoạn
Sơ đồ công nghệ:
Trích ly thô
Trích ly tinh
+ Dây chuyền thiết bị: gồm nhiều công đoạn
* Công đoạn nạp liệu mài:
Nguyên liệu Phễu Băng tải
Thùng
chứa củ
Xát vỏ lụa
Trục khuấy Trích ly
Phân ly
Ly tâm tách H2O
Sấy
Định lượng
Băm
Trang 8- Nạp liệu mài nhằm bóc
đi lớp vỏ đất, cát sau đó ta tiến hành băm nhỏ nghiền thành vữa (sản phẩm thu đượctương tự như bột tựa thủ công
mà ta đã xay ra
- Củ sắn được đưa vào phễu liệu,
sau đó được tiếp tục đưa lên băng tải
và đi vào thùng chứa củ Ở đây thông
qua hệ thống trống rửa để rửa sạch củ
bẩn Sắn được tiếp tục chuyển sang
lòng bóc vỏ để bóc vỏ lụa, từ đó ta có
củ sắn sạch
- Củ sắn sau khi làm sạch xong được băm nhỏ và được đưa qua 3 máy
nghiền, từ đó mẫu sắn được nghiền nhỏ ra
- Sản phẩm sau khi nghiền xong bao gồm: tinh bột, dịch bào và nước (trong
đó tinh bột chiếm 25÷30%) Cho nguồn sản phẩm đó vào máy trích ly, máy này hoạt động theo nguyên lý li tâm, máy trích ly dùng để tách bã Hỗn hợp sau khi trích ly xong ta thu được gọi đó là hỗn hợp sữa, còn bã sẽ đi ra ngoài
- Ứng với các bước lắp đặt khác nhau ta sẽ thu được hỗn hợp sữa không còn
xơ và bã đi ra ngoài có ít tinh bột nhất nhằm mục đích để đạt hiệu quả cao nhất, tức là sản phẩm thu được gồm nước, tinh bột tự do và bã
* Trích ly:
- Trích ly thô: tách sữa ra khỏi dòng chảy
- Trích ly tinh: tách sữa ra khỏi dòng chảy
* Phân ly:
Trang 9- Máy ly tâm dạng đĩa.
- Đây là công đoạn quyết định đến chất lượng sản phẩm: bằng cách tách lượng mủ ra ngoài (gồm 2÷3 bước),tức là cứ cô đặc rồi hòaloãng, cô đặc rồi lại hòa loãng, quá trình này lặp lại càng nhiều càng tốt nhằm thu được sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất
- Quá trình phân ly: nhằm để tách dịch bào, các sắc tố (còn một ít xơ mịn) Sản phẩm thu được gồm H2O và tinh bột
Sau quá trình phân ly để tách dịch bào ra khỏi hỗn hợp sữa, thì để thuận tiện cho quá trình sấy ta cần phải tách H2O bằng ly tâm tách H2O
Sản phẩm sau khi tách H2O xong chỉ có hàm lượng tinh bột là chủ yếu có độ ẩm
Ao = 32 ÷ 34%, để bảo quản được lâu thì yêu cầu Ao < 13% (Ao = 12,5%) Muốn đạt được độ ẩm như vậy thì ta cần phải sấy
Không khí được làm sạch đi qua dàn Clorifer, sau đó đi qua tháp sấy cao 30m Ống sấy: hỗn hợp gồm tinh bột, hơi nước, không khí
Để tách tinh bột: dùng xyclon để tách H2O, không khí, hơi ẩm ra khỏi hỗn hợp Sau đó, ta hút tinh bột và tiến hành làm nguội rồi đưa đến bao tự động Thựcphẩm tinh bột sắn có độ ẩm Ao = 12,5%
Tuy nhiên trong quá trình sản xuất thì chúng ta cần phải có thêm hệ thống kiểm soát quá trình sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000
Sau khi qua các công đoạn ta tiến hành kiểm tra:
+ Nếu đạt: chứng nhận, nhập kho Cân định lượng: 50 kg;
Trang 10+ Không đạt: tái chế lại.
Tất cả các giai đoạn trên đều có quá trình kiểm soát trung gian Nếu các bước
đi theo một “barem” nào đó thì hiệu quả dây chuyền sẽ cao nhất
* Hệ thống xử lý nước thải.
- Lưu lượng nước thải: 840 m3/ngày
- Nước thải gồm: dịch bào (vỏ lụa)
Từ dịch bào, ta đưa qua lồng bóc vỏ (sàng tay) rồi qua hệ thống lắng, sau đó đưa qua hồ xử lý đất đá, xúc đi
- Lượng nước thải ra có hệ thống phụ trợ như:
+ Lý học (bể lắng)
+ Hóa học (chất keo tụ)
+ Xử lý vi sinh (phế phẩm, nuôi cấy men)
- Dùng công nghệ Biogas để khử mùi, tạo CH4
+ Sản xuất - kinh doanh:
- Năng suất: 400 tấn sắn tươi/ ngày
- Thị trường tiêu thụ: nội địa chỉ nhỏ lẻ, mục tiêu chủ yếu là xuất khẩu
- Kế hoạch phát triển sản xuất:
+ Đánh giá – nhận xét:
- Thuận lợi: Nhà máy tinh bột sắn đi vào hoạt động khá sớm ở khu vực Bắc miền Trung (đồng thời với nhà máy ở Nghệ An nhưng sớm hơn các nhà máykhác)
- Chất lượng ổn định
- Nhà máy sử dụng công nghệ hiện đại của Thái Lan, Đức
+ Khó khăn: Diện tích đất canh tác nhỏ nên nguồn cung cấp còn khó khăn, lúc thừa nguyên liệu và cũng có lúc thiếu nguyên liệu Điều này không thuận lợi cho quá trình sản xuất tinh bột sắn
+ Sự cố hư hỏng: tùy theo bảo trì dự đoán nhằm khắc phục sự cố
+ Kế hoạch: - Không nâng cao công suất
- Đi sâu vào chất lượng sản phẩm
+ Điểm chú ý: - Lượng tinh bột theo bã: 0,8÷1%, bã đó được làm thức ăn gia súc
- Sắn không để quá 72 ngày, vì nếu để quá 72 ngày thì chất lượng sẽ giảm,gây nên chất tạo màu
- 1 tấn sắn có thể thu được 250 kg tinh bột thuần túy
- Nếu củ sắn để lâu ngày thì xuất hiện hàm lượng xianua Tuy nhiên xianua là một chất dễ bay hơi nên nếu như chúng ta sau khi thu hoạch xong đem
về nhà máy chế biến ngay thì sẽ không có hàm lượng xianua trong sắn
+ Đề xuất:
Trang 112.3 Dây chuyền chế biến gỗ.
- Thời gian thực tập: Chiều: 1h30 – 5h ngày 10/4/2009
- Địa điểm thực tập: Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế HUWOCO Địa chỉ: Khu công nghiệp Phú Bài
- Giới thiệu sơ lược về cơ sở sản xuất:
+ Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế HUWOCO được thành lập: 9/2006, tiền thân là xí nghiệp chế biến gỗ Phú Bài hoạt động ngày 26/3/2002, trực thuộc công ty xây lắp Thừa Thiên Huế
+ Tổ chức: Gồm
- Hội đồng quản trị
- Ban kiểm soát: Giám đốc
- Phòng nghiệp vụ: phòng tài chính – hành chính, phòng kế hoạch kinh doanh và phòng kỹ thuật
- Các tổ phụ trợ: điện, KCS, bảo vệ
+ Có 2 xưởng sản xuất:
- Xưởng sơ chế: xẻ, sấy
- Xưởng tinh chế hoàn thiện
+ Sản phẩm chính: sản xuất hàng ngoài trời phục vụ xuất khẩu ra châu Âu, châu Mỹ; hàng nội thất trong một phần nhỏ dùng để tiêu thụ trong nước, còn phần lớn thì xuất khẩu sang nước Hàn Quốc
+ Doanh thu: 20÷25 tỉ VNĐ
- Nội dung:
+ Công nghệ sản xuất gỗ:
* Nguyên liệu: Sản xuất gỗ tràm, gỗ keo là chủ yếu được thu mua ở khu vực
Quảng trị, Thừa Thiên Huế; ngoài ra còn sản xuất một số loại gỗ như gỗ lim, gỗ hương, gỗ kiền v.v nhưng chỉ với một lượng nhỏ
* Dây chuyền công nghệ sản xuất gỗ:
Gỗ mua về ở dạng gỗ tròn hoặc vát, sau đó ta tiến hành xẻ (xẻ gỗ ván, xẻ các chi tiết sản phẩm Tùy theo từng loại gỗ mà ta cần phải xử lý sơ bộ trước khi đi vào sản xuất, ví dụ đối với gỗ cao su thì ta cần phải xử lý trước khi đi vào chế biến còn các loại gỗ như tràm, keo thì không cần xử lý Sau xẻ gỗ xong, ta tiến hành đem gỗ đó vào sấy để đưa vào gia công các chi tiết từ khâu định hình (bào, phay) đến khâu định vị (khoan, đục, phay mộng, phay lạnh) Sau đó là đến dây chuyền ghép gỗ, công đoạn này có thể có hoặc không tùy theo từng sản phẩm
Kế tiếp đến công đoạn chà nhám bề mặt chi tiết sản phẩm trước khi đem đi lắp ráp Sau khi lắp ráp xong thì công đoạn hoàn thiện sản phẩm đặc biệt cần chú ý:
xử lý các vết keo, các lỗi kỹ thuật khi gia công gọi là công đoạn làm nguội, sau
đó mới tiến hành hoàn thiện bề mặt (sơn, lau dầu, phun dầu) Tùy theo hàng ở
Trang 12ngoài trời hay trong nhà mà ta dùng sơn hay dầu, thường thì đối với hàng ngoài trời ta dùng lau dầu còn đối với hàng trong nhà thì ta dùng sơn Công đoạn cuối cùng để hoàn thiện sản phẩm là đóng gói sản phẩm rồi đem lưu kho để kiểm tra sản phẩm trước khi xuất hàng.
Sản phẩm chủ yếu: bàn ghế
Sản phẩm phụ: cửa, tủ, giường
Sơ đồ công nghệ như sau:
Gỗ xẻ xử lý gỗ Sấy Gia công Định hình Định vị
Ghép gỗ Chà nhám bề mặt Lắp ráp Làm nguội
hoàn thiện bề mặt Đóng gói sp
Sấy: hơi nóng qua dàn calorifer, sau đó cho ngưng tụ và đi về đường hồi
o Trong quá trình sấy, phải phun ẩm tránh cho sản phẩm cong, nứt
o Thời gian sấy: 15÷35 ngày
o Lượng sấy: 15÷30 m3/phòng (tùy theo độ dày)
o Quạt 2 chiều, sau 4h đảo chiều giúp sấy đồng đều hơn
o Lấy không khí trong phòng, cần kê gỗ để có các khoảng hở
o Sấy bằng ẩm: gỗ không bị cong, nứt; sấy bằng hơi nước: gỗ bị cong
* Nhận xét:
- Không phải là dây chuyền cứng
- Chưa được chuyên môn hóa cao
- Đi theo dây chuyền công nghệ, có thể đi theo ziczăc nhưng vẫn theo dây
chuyền
+ Dây chuyền thiết bị:
* Một số thiết bị:
- Xẻ: gồm các máy:CD đứng, CD nằm, cắt đứt, cưa mông xẻ dọc, cưa lộng
- Sấy: gồm nồi hơi, phòng sấy (dàn nhiệt)
- Định hình: máy bào 2 mặt, máy bào 4 mặt, máy phay 1 trục, máy phay 2 trục
- Định vị: máy đánh mộng ovan dương, máy đánh mộng ovan âm, máy đánh mộng 2 đầu, máy phay mộng 1 đầu, máy phay mộng 2 đầu, máy cắt ngang bàn trượt, máy khoan, máy đục
- Chà nhám: máy chà nhám thủng (loại 1,2m và loại 0,6m), máy chà nhám rung (trục ngang, trục đứng), máy chà nhám cong
- Lắp ráp: các bàn cảo, máy cảo thủy lực công cụ chủ yếu bằng hơi hoặc cảo
cơ khí (vít me đai ốc)
- Ráp nguội: máy chà nhám rung cầm tay, máy khoan để vặn vít
- Sơn dầu: dầu: lau trực tiếp
Sơn: sơn điện dùng 2 line: 1 line sơn lót và 1 line hoàn thiện
Trang 13- Đóng gói: bằng tay, bằng máy liền dây đai
* Hệ thống thiết bị nhiệt lò hơi.
+ Lò hơi: sấy bằng hơi nước Tận dụng các phế phẩm như dăm bào, bìa gỗ dùng để đốt cho nồi hơi
Hơi trích vào bình góp rồi đưa đến các dàn calorifer, nước ngưng về bể cấp cho nồi hơi
+ Nồi hơi: nén 6 kg, có các van an toàn, thông số kỹ thuật mỗi loại
+ Sử dụng hơi quá nhiệt theo các dàn: t >100oC
+ 2 nồi hơi có công suất: 1500 tấn hơi/h/nồi, áp suất làm việc Plv = 6 at
+ Thiết bị phụ trợ: dây chuyền ghép Tức là tận dụng gỗ để ghép các tấm sản phẩm bán tự động
+ Cơ điện: hệ thống khí nén dùng cho các máy, cung cấp cho xi lanh khí làm việc hoặc các cơ cấu trong máy sử dụng điện khí nén
* Mạng điện: Điện 3 pha từ trạm vào, một số máy sử dụng bộ biến tần, bộ điều
khiển PLC (sơn tĩnh điện), ghép dọc ngang bán tự động, máy phay ghép hình.Nhìn chung, chế biến gỗ cơ cấu máy đơn giản
* Phương pháp vận hành, bảo dưỡng
+ Các máy có nội quy vận hành riêng và được treo ở mỗi máy
+ Nguyên tắc chung:
- Chuẩn bị trước khi vận hành: kiểm tra các bước
- Trong quá trình vận hành: trình tự vận hành, thao tác vận hành như thế nào tùy theo đặc thù từng máy, điểm lưu ý đối với từng máy
- Sau quá trình vận hành: tắt cầu dao điện
+ Có công đoạn làm thủ công: xử lý mối mọt sau khi bào
+ Bảo dưỡng: thường xuyên, định kỳ, hàng năm (định kỳ: 6 tháng/lần hoặc 1 năm/lần) nhưng chủ yếu là bảo dưỡng ở dạng thường xuyên hoặc hàng năm; chưa sử dụng được bảo dưỡng từng tuần, từng tháng Khi bảo dưỡng, bôi mỡ các khớp nối, cơ cấu truyền động, vệ sinh máy giúp cho người vận hành máy thực hiện dễ dàng hơn Do tính thời vụ cao nên mùa hè ít sản xuất, do đó thường bảo dưỡng vào mùa hè
* Kiểm tra chất lượng:
Có sổ tay về tiêu chuẩn kỹ thuật, nếu không đạt thì quay lại tái chế
Trang 14Theo bội số, có các xe kích tay
Hệ thống truyền xích tải để sơn (tốc độ: 45 ph/vòng)
* Gia công đồng thời các chi tiết để lắp ráp đồng bộ, kiểm soát theo các cụm
+ Sản xuất – kinh doanh:
- Năng suất:10.000 m3 gỗ tròn/năm
- Vốn đầu tư: 2 triệu USD
- Độ ẩm sản phẩm: hàng ngoài trời Ao = 10÷14%, hàng trong nhà:10÷12%
- Thị trường tiêu thụ: trong nước, châu Âu, châu Mỹ, Hàn Quốc
- Kế hoạch phát triển sản xuất: nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thịtrường
+ Đánh giá – nhận xét:
* Khó khăn:
- Xuất khẩu hàng ngoài trời: Mùa hè, đây là thời điểm sản xuất cao điểm nhưng lại nghỉ hè còn mùa đông thì phải làm ngày làm đêm cho kịp hàng Để hạn chế, khắc phục khó khăn này thì công ty đã làm thêm một số mặt hàng nội thất (làm quanh năm)
- Các phụ kiện, công nghiệp phụ trợ chưa có, phải mua từ TP Hồ Chí Minh ra
- Mô hình sản xuất chưa bền vững, chưa đảm bảo nguồn nguyên liệu Để
mô hình sản xuất bền vững thì cần phải phụ thuộc ở đầu vào và đầu ra
- Chưa phân bố đều công việc
* Thuận lợi: nhân lực dồi dào, chịu khó, sáng tạo.
* Phế phẩm tái chế: mùn cưa được sử dụng để bán ra bên noài(người dân mua
để làm nấm, hương), dăm bào, bìa gỗ được sử dụng để đốt nồi hơi
* Định hướng: đa dạng hóa dòng hàng, tiếp cận hàng trong nhà
* Đề xuất:
2.4 Dây chuyền xử lý rác thải
- Thời gian thực tập: Sáng 7h30 ÷11h ngày 11/4/2009
- Địa điểm thực tập: Nhà máy xử lý rác Thủy Phương – Huế thuộc Công ty cổ
phần đầu tư – phát triển Tâm Sinh Nghĩa – chi nhánh Thừa Thiên Huế
Địa chỉ: Thôn 7 – xã Thủy Phương – huyện Hương Thủy – Thừa Thiên Huế
- Giới thiệu sơ lược về cơ sở sản xuất:
+ Lịch sử Nhà máy: trước đây có dây chuyền đầu tư của Pháp năm 1996, nhưng dây chuyền này rất đơn giản, còn sơ sài Sau đó được nhà máy cổ phần
AC – Tâm Sinh Nghĩa đầu tư dây chuyền xử lý rác và nó đi vào hoạt động cho đến ngày nay, đó là một dây chuyền xử lý rác đã hoàn thiện, hiện đại Hiện nay công ty này còn là trung tâm đào tạo chuyển giao công nghệ xử lý chất thải rắn
Trang 15+ Nhà máy xử lý rác Thủy Phương – Huế thuộc Công ty cổ phần đầu tư – phát triển Tâm Sinh Nghĩa – chi nhánh Thừa Thiên Huế được khánh thành vào ngày 28/4/2007, dây chuyền này hoàn toàn là ý tưởng của nhà máy, Nhà máy hoàn toàn tự làm chứ không nhập của nước ngoài về
+ Gồm có 3 phân xưởng sản xuất:
- Phân loại rác
- Ủ và sản xuất vi sinh, phân bón
- Tái chế nhựa, ni lông
- Các phòng ban nghiệp vụ khác: bảo vệ, cây cảnh, kế toán v.v
Ngoài ra còn có 1 giám đốc và 2 phó giám đốc
+ Thi trường tiêu thụ sản phẩm: Nhựa Thùy Dương (Huế), Hà Nội, Đà Nẵng
Trang 16* Dây chuyền phân loại.
Rác từ nhà tập kết rác sinh hoạt ta tiến hành phun vi sinh khử độc và các mùi hôi từ 5÷8 htrước khi nhập liệu Xong, rác được nạp liệu lên băng chuyền
xử lý (cơ khí hóa) và được tách tuyển bằng tay 5 nhóm rác cá biệt: chăn, chiếu, mùng, mền, thân cây, sắt, các vụn chai, các bao bìv.v tức là họ phải tách ngay đầu nguồn để dùng nguyên liệu làm chất đốt phục vụ cho lò đốt số 3 Ở giai đoạn tách tuyển bằng tay này có 4 người công nhân và nhiệm vụ của họ là sẽ phân rác đầu nguồn, sau đó mới tiến hành tách tuyển bằng máy Dây chuyền phân loại rác này yêu cầu phải phân loại theo đúng kích cỡ của nó: Chất nổ, chất đốt, phế liệu mình sẽ tận dụng để bán phế liệu, còn lại tất cả rác sẽ được truyền qua máy bộ văn Trước khi tách tuyển bằng máy,rác được đi qua Bộ văn 1, ở đây máy sẽ làm nhiệm vụ xé bao, đập, cắt và làm tơi tất cả các dòng rác đang chạy kềnh càng ở trên băng tải Nghĩa là bên này nhìn thấy rác kềnh càng nhưng qua khỏi máy bộ văn thì ta sẽ thấy rác chạy “đầm” hơn Rác hữu cơ ở máy băm sẽ lọt và rơi xuống còn ni lông và một số thứ khác
sẽ tiếp tục được đi qua máy lồng Nhiệm vụ của máy lồng này là nó sẽ thổi và sẽ truyền ni lông nổi ở trên mặt và sẽ bay xuống đáy, ở đây sẽ có máy quạt gió, nó
sẽ thổi mạnh lên và dây chuyền này sẽ chia ra 2 dòng: Ni lông nhẹ sẽ đi vào dây chuyền và có 4 công nhân sẽ nhặt tất cả các ni lông loại 1 (tất cả ni lông đóng bao đều là ni lông loại 1, còn loại 2 và loại 3 thì được dùng làm chất đốt); còn những vật nặng sẽ dẫn theo một dây chuyền khác, tức là nó xuống 2 dòng: 1
8
Trang 17dòng là ni lông còn dòng kia là chất hữu cơ Hỗn hợp rác hữu cơ làm giàu lần 1 được đi qua sàng lồng để tách đất cát (chiếm 3%) Qua hệ thống này thì máy sẽ sấy, những loại hữu cơ từ 3÷5 cm thì nó sẽ rơi xuống, sau đó tiếp tục đi vào dây chuyền phân loại hữu cơ.
Ở dây chuyền phân loại này có 2 sàng lồng, do trong quá trình khi máy thổi,
ni lông sẽ kéo theo một số chất hữu cơ nằm ngay ở ni lông Nhiệm vụ của sàng lồng này là nó sẽ “dùng” lại và nó sẽ lấy tất cả các rác hữu co ở ni lông sẽ rơi xuống, còn ni lông sẽ được tiếp tục chạy theo băng tải
Trong hệ thống phân loại này có một lô từ Tất cả các sắt thép khi qua lô từ này thì nó sẽ bị hút Trong lô từ này có nam châm, và nam châm đó có 2 mặt Khi qua nữa này thì nó sẽ bị hút nhưng khi qua nữa bên kia thì nó sẽ nhả ra Như vậy nhiệm vụ của lô từ này là nó sẽ tách ngay các kim loại đồng thời nó cũng có nhiệm vụ là để băm lại lần thứ 2 Hàng ngày có khoảng 1,2 ÷1,5 tạ sắt thép, vỏ lon được dùng để bán phế liệu Các chất hữu cơ này sẽ được băm đến tốc độ 170÷180 vòng/s, tức là các dao băm sẽ băm hết tất cả Dây chuyền này nó sẽ qua máy băm cuối cùng và nó sẽ chuyển lại qua dòng hữu cơ ở đây
3 dòng hữu cơ này nó sẽ về trộn lại ở nhà máy trộn
+ Tách tuyển thủ công: tách rác cá biệt (rác cá biệt là những loại rác không chế tạo phân bón được: chiếm 10%
+ Tách tuyển sắt thép, đất cát để sản phẩm có chất lượng tốt
+ Tách tuyển ni lông
+ Thành phần hữu cơ đưa vào hầm được dùng làm phân bón chiếm 50÷55%
* Dây chuyền ủ và sản xuất vi sinh, phân bón.
Sau khi phân rác xong, các chất hữu cơ đưa vào ủ và đảo chuyển trong vòng
45 ngày, độ ẩm khoảng 50÷55% Sau 45 ngày, ta tách tuyển mùn thô kiểu sàng
20 li và mùn thô ủ trong vòng 30 ngày nhằm giảm 50÷60% khối lượng ban đầu Sau 30 ngày đem ra giảm ẩm thông qua lò sấy phơi nhằm giảm xuống khoảng 20% mùn thô, sau đó đem tách tuyển thành phân bón dưới sàng 3 li Các chất saukhi tách tuyển xong ta thêm một số chất phụ gia để chế biến thành phân bón vi sinh Phân bón này có hàm lượng hữu cơ là trên 15%
* Dây chuyền tái chế nhựa, ni lông.
* Ni lông:
Ni lông loại 1 tách tuyển ra sau đó đem đi
dũ sạch, khối lượng giảm còn 40% Sau đó,đưa qua máy băm cắt
Trang 18nhỏ khoảng 2÷3 cm2 rồi tiếp tục đưa qua máy rửa Ni lông sau khi được rửa sạch xong, được hệ thống máy ép (hoặc máy vắt) và vắt khô Công đoạn cuối cùng là đóng bao các sản phẩm thu được đó rồi đem bán lại cho các đại lí để tái chế lại.
* Nhựa: Ni lông tươi được băm thành từng bao, sau đó qua hệ thống sấy khô,
đồng thời một phần lấy nhiệt ở bên lò đốt số 3, nhiệt độ ở lò đốt: 1100 ÷ 1200 o Ctrong khi đó cung cấp cho bên này khoảng 80÷100o C Sau khi sấy khô xong được đưa qua máy đùn, máy đùn có từng lỗ, khi qua nhiệt độ cao ni lông sẽ tạo thành từng dòng và lên các máy nó sẽ đổ lên nhựa sợi, ở đây nó sẽ băm ra thành từng hạt nhỏ như hạt bắp, sau đó ta đổ ra từng ống Ví dụ như đùn ống 60 thì sẽ
đổ sang đây, còn đùn ống 200 thì ta đổ vào máng khác Trong máy đùn này nó sẽqua một hệ thống nước, lúc ta đùn ta phải bơm lên đây cho nó nguội lại Khi nó đùn ra thì nó sẽ dài ra theo mặt bằng của mình, nếu như chúng ta thích ngang đâuthì ta sẽ cắt ngay chổ đó
Nếu như sản phẩm để tái chế dày ví dụ như giày hoặc dép thì ni lông sẽ được
sử dụng hoàn toàn còn nếu như sản phẩm không cần dày thì cần phải pha thêm một số chất phụ gia
* Xử lí nước ô nhiễm môi trường: Trong dây chuyền tái chế nhựa, ni lông thì
trong quá trình rửa ni lông có thải ra một lượng nước thải, tuy nhiên nhà máy đã
xử lí nước một cách rất tốt, số lượng nước thải ra làm gây ô nhiễm nguồn nước là
Máy băm
Đóng bao Máy băm
2
Trang 19không đáng kể Nước sau khi được thải ra được cho qua 4 bể lắng Từ bể lắng 1
ta thu được nước đục nhưng đến bể lắng 4 ta thu được nước trong
* Lò đốt: hỗn hợp chất thải rắn sinh hoạt khó phân hủy: đốt 3 tấn nguyên
* Xưởng chế tạo máy và thiết bị môi trường
Sản xuất sàng lồng, dao băm,
+ Sản xuất – kinh doanh:
- Năng suất: 180÷200 tấn rác/ngày
- Thị trường tiêu thụ: Rác sau khi được xử lí xong thì thu được một số sản phẩm như ni lông, phân vi sinh, nhựa Những sản phẩm này được tiêu thụ ở Nhà máy nhựa Thùy Dương, Hà Nội, Đà Nẵng
- Kế hoạch phát triển sản xuất: xử lí môi trường 200 tấn rác thải mỗi ngày cho khu vực đô thị thành phố Huế Đồng thời hiện nay công ty đang chuyển giao công nghệ xử lí rác cho các tỉnh thành
- Rác lấy sản phẩm để bán ra ít, nhiệm vụ xử lí môi trường là chủ yếu
- Hiện nay, có một bãi rác nằm ngay sau lưng nhà máy, tuy nhiên bãi rác này đã được chôn lấp từ rất lâu, nó xuất hiện trước khi nhà máy này ra đời Qua thời gian thì bãi rác này bị xuống cấp làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Vì do nằm ngay sau lưng nhà máy mà nhà máy vẫn chưa có hướng giải quyết nên danh dự của nhà máy bị tổn hao một phần,
* Nhiệm vụ: chuyển giao công nghệ cho các tỉnh thành.
* Đề xuất:
2.1.5 Dây chuyền chế biến cao su
Trang 20- Thời gian thực tập: Sáng 8h – 10h30 ngày 13/4/2009.
- Địa điểm thực tập: Công ty cao su Quảng Trị - Nhà máy chế biến
Địa chỉ: Do Linh – Quảng Trị
- Giới thiệu sơ lược về cơ sở sản xuất.
+ Xí nghiệp cao su Quảng Trị, đây cũng là xí nghiệp chế biến cơ khí thuộc công ty cao su Quảng Trị, và đây cũng là một doanh nghiệp Nhà nước thuộc tổngcông ty cao su Việt Nam, nó đóng chân trên địa bàn xã Do Linh – huyện Do Linhtỉnh Quảng Trị
+ Diện tích toàn bộ đóng chân chủ yếu trên 2 huyện: Vĩnh Linh và Do Linh với diện tích S = 3.700 ha, trong đó 3.300 ha kinh doanh
+ Công ty cao su Quảng Trị, tiền thân là công ty cao su Bình Trị Thiên được thành lập vào năm 1984 tại Thừa Thiên Huế
+ Trước đây thì công ty đã phải bương chãi và gặp nhiều khó khăn, đặt biệt lànăm 1985 thì công ty đã phải gặp một cơn bão rất lớn, mà đặc tính của cây cao su
là chịu sức gió rất kém, do đó các nông trường trồng cây cao su gặp cũng không
ít khó khăn Tuy nhiên từ đó đến nay thì chỉ gặp bão nhẹ thôi không có vấn đề gì lắm
+ Tổ chức: Gồm toàn bộ các công nhân viên là 125 người, trong đó cán bộ quản lý là: 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 1 kế toán, 1 thư ký ; Lực lượng gián tiếp gồm 17 người; Biên chế cho các tổ sản xuất: hiện nay toàn bộ công nhân xí nghiệp gần 100 người (khoảng 119 người) lao động trực tiếp
Lao động ở đây có 5 tổ: - Tổ khuyến nông
- Tổ máy cán
- Tổ gói
- Tổ sửa chữa và vận hành
- Tổ bóc vát – đóng bao+ Sản lượng bình quân khi khai thác: trên 1900 kg/ha/năm
+ Cho đến nay thì công ty này tương đối thành công
+ Nhiệm vụ chính của nhà máy:
- Tiếp nhận mũ ở các Nông trường trên địa bàn về để chế biến
- Thu mua mủ cao su tiểu điền
+ Hàng năm sản lượng công ty là 6500 tấn, trong đó 2000 tấn tiểu điền dùng
để sơ chế mủ cao su cốm
+ Mủ cao su tại công trường có 2 loại:
- Trồng 7-8 năm là khai thác được, nhưng hiện nay là 6 năm
- Từ khi trồng đến khi thanh lý khoảng 20÷25 năm
+ Mủ thích hợp với nhiều loại đất nhưng độ dốc cần phải thấp để dễ khai thác Thời điểm khai thác là từ 3÷7 h sáng vì nhiệt độ thấp thì sinh lý cho mủ cao
Trang 21+ Ở mỗi vùng đất thì thời tiết khác nhau, do đó cây cao su cũng có tên gọi khác nhau.
Ví dụ: Quảng trị: S2D2 (S2: ½ đường kính; D2: 2 ngày khai thác 1 lần)
SVR: Standard Vietnam Rubber
Ở đây chỉ có một loại mủ quy định màu còn 3 loại mủ kia không quy định màu mà chỉ quy định chất lượng thôi
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trung Quốc, Châu Âu, Đà Nẵng (công ty cao
su Đà Nẵng mua để chế biến lốp, giày da )
+ Lương: 4 triệu đồng/tháng (đối với công nhân)
- Nội dung:
+ Công nghệ: Gồm 2 dây chuyền:
- Dây chuyền chế biến mủ nước (mủ chín)
- Dây chuyền chế biến mủ tạp
* Dây chuyền chế biến mủ nước
sơ đồ công nghệ
Tiếp nhận mủ nước cân điện tử làm KCS 3 hồ tổng hợp để khuấy mủ nước tơi ra xả về các mương + axit làm đông dùng muối Natri xịt lên bề mặt làm mỏng (1 – 1,5cm) máy cán 1, 2, 3 + làm sạch sấy (to = 110oC – 120oC) ép kiện đóng bao
- Mủ nước sau khi khai thác xong từ 3-7 h sáng người ta để trong thùng sau đó đưa về nhà máy, sau đó tiến hành làm KCS (kiểm tra % mủ cao su trong mủ nước)
- Trong mủ nước có cao su, xenlulo, nước Trong đó nước chiếm tỷ lệ nhiều nhất:1kg mủ nước có 300 g cao su
- Nhà máy có 3 công đoạn chính
+ Gia công hóa
+ Gia công cơ
+ Gia công nhiệt
Nguyên tắc đơn giản nhất của Nhà máy là lấy mủ nước về làm khô nhưng phải đảm bảo chất lượng