cầu các giống lúa chịu hạn,… Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về giốngcho nông dân thì việc đưa một số giống mới vào sản xuất đang được thựchiện,thử nghiệm để chọn ra được loại giống mới
Trang 1PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực chính của
nước ta và nhiều nước trên thế giới, nó có vai trò rất quan trọng trong sản xuấtnông nghiệp Lúa có thể trồng được ở nhiều điều kiện môi trường khác nhau,hiện nay cây lúa được trồng ở 113 quốc gia trên thế giới, phân bố chủ yếu ởnhững nước có vĩ tuyến từ 30-400 vĩ tuyến Nam đến 48-490 vĩ tuyến Bắc Với90% diện tích trên tổng diện tích trồng lúa ở toàn cầu Khoảng 40 % dân sốtrên thế giới sống bằng lúa gạo, sử dụng lúa gạo làm nguồn lương thực chính,25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần thức ăn hằng ngày Lúa gạo có ảnhhưởng tới ít nhất 65% dân số thế giới, sản xuất lúa gạo chủ yếu tập trung ởcác nước châu Á với mức tiêu dùng hàng năm khoảng 180-200 kg/người, cònchâu Mỹ, châu Âu khoảng 100 kg/người
Ở nước ta sản xuất lúa gạo giữ vai trò quan trọng trong nền sản xuất nôngnghiệp, chiếm gần 50% GDP của nông nghiệp Trong những năm qua, diện tíchđất nông nghiệp có xu hướng giảm xuống nhưng do năng suất lúa tăng lên nênsản lượng thóc không ngừng tăng lên Hiện nay, năng suất lúa bình quân củaViệt Nam vào khoảng 48,9 tạ /ha xếp thứ hai sau Indonexia Diện tích gieo trồnglúa Việt Nam là 7326,2 nghìn ha xếp thứ hai sau Trung Quốc
Nước ta nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng có diện tích trồng lúakhá lớn và vấn đề dịch hại luôn được quan tâm đúng mức Đã nhiều năm naycác loài dịch hại luôn là đối tượng trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất lúa, vìvậy việc nghiên cứu thành phần và diễn biến một số sâu bệnh hại chính trêncác giống lúa sẽ có ý nghĩa thực tế rất lớn cho người dân trồng lúa
Nông dân ở mỗi vùng do hệ thống canh tác khác nhau mà đòi hỏi cácgiống lúa khác nhau Ở những vùng thiếu đói thì yêu cầu giống lúa cho năngsuất cao là chính, vùng lương thực dư thừa lại cần giống lúa đáp ứng yêu cầucủa xuất khẩu Các vùng trồng cây vụ Đông ở miền Bắc và cấy vụ lúa Hè Thu
ở miền Trung và miền Nam đòi hỏi các giống lúa ngắn ngày để thu hoạchsớm, giải phóng đất sớm tránh bão lụt Trong một vùng thì tùy vào điều kiệnđất đai mà yêu cầu về giống lúa cũng khác nhau, vùng đất chua phèn cần cungcấp các giống lúa chịu mặn, chịu phèn, vùng không có hệ thống tưới tiêu yêu
Trang 2cầu các giống lúa chịu hạn,… Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về giốngcho nông dân thì việc đưa một số giống mới vào sản xuất đang được thựchiện,thử nghiệm để chọn ra được loại giống mới có khả năng chống chịu vớisâu bệnh và cho năng suất cao.
Trong các loài dịch hại, thì rầy nâu (Nilarpavata lugens Stal) là một trong
những đối tượng sâu hại nghiêm trọng nhất cho lúa ở Việt Nam nói riêng và thếgiới nói chung.Rầy nâu không những gây hại trực tiếp bằng cách chích hút nhựaluyện ở thân, lá lúa làm cho lúa thâm đen, cây héo, nếu bị nặng có thể gây cháyrầy, mà còn gây hại gián tiếp đó là làm môi giới truyền bệnh lúa cỏ, lúa lùn xoắn
lá nên tác hại của rầy nâu lại càng nghiêm trọng hơn
Hiện nay, để phòng trừ rầy nâu, có rất nhiều biện pháp như biện phápcanh tác, hóa học, sinh học,… nhưng biện pháp sử dụng giống kháng rầy vẫnđược chú ý hơn cả vì đây là một biện pháp chủ động và có hiệu quả kinh tếcao, đặc biệt là không gây ô nhiễm môi trường
Trước tình hình trên việc tuyển chọn và lai tạo các giống lúa có khả năngkháng rầy và cho năng suất cao, phẩm chất tốt là một trong những yêu cầu bứcthiết trong việc sản xuất lúa gạo ở nước ta Việc tìm ra giống kháng rầy đối vớinhững giống lúa nhập nội là một việc rất có ý nghĩa cho người sản xuất
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu phản ứng với rầy nâu (Nilarpavata lugens Stal) và tình hình sâu bệnh hại, thiên địch chính trên một số giống lúa nhập nội tại Thành Phố Huế
trong vụ Đông Xuân 2008-2009”.
Nắm vững diễn biến thời tiết khí hậu tại Thừa Thiên Huế
Biết được nguồn gốc của các giống lúa nghiên cứu
Nắm rõ các thành phần sâu bệnh hại chính trên lúa
Trang 3Biết được một số thiên địch bắt mồi ăn thịt của rầy nâu trên đồng ruộng.Nắm vững các quy trình kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm.
Nắm rõ phương pháp bố trí thí nghiệm ngoài đồng ruộng và trongphòng thí nghiệm
Nắm vững các phương pháp theo dõi các chỉ tiêu đối với từng loài dịch hại.Biết cách ghi số liệu chính xác và khoa học
Biết xử lý số liệu
Mô hình hoá các số liệu, nhận xét, đánh giá, phân tích số liệu một cáchchính xác và khoa học
Trang 4PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình sản xuất lúa
*Trên thế giới:
Hiện nay, trên thế giới cây lúa được trồng ở nhiều khu vực và nhiều vùngkhí hậu khác nhau Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trong những năm qua
có nhiều thay đổi, điều đó được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới từ năm 2000 - 2007
Năm
Diện tích
(triệu ha) 154,1 152,0 147,7 149,2 153,5 137,5Năng suất
xu thế phát triển của thời đại Mặc dầu, diện tích gieo trồng lúa ngày cànggiảm nhưng năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên, từ năm 2000 đến
2007 năng suất tăng từ 39 tạ/ha lên 41 tạ/ha, sản lượng tăng từ 599 triệu tấnlên 626,7 triệu tấn, nguyên nhân là do việc đầu tư thâm canh tăng năng suất
về khoa học kỹ thuật, giống, phân bón,…
Trong đó, diện tích trồng lúa chủ yếu tập trung ở châu Á, chiếm khoảng85% diện tích và 90% sản lượng lương thực thế giới, thấp nhất là châu Úc chỉchiếm 0,12% diện tích và 0.3% sản lượng của thế giới Châu Á vốn là cái nôicủa nền sản xuất lúa nước và là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việcsản xuất lúa
Trang 5Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở một số nước Châu Á (2006)
Chỉ tiêu
Nước
Diện tích(1000 ha)
Năng suất(tấn/ha)
Sản lượng(1000 tấn)
*Ở Việt Nam:
Ngày nay, sản xuất lúa gạo là nguồn lương thực và thu nhập chính của đa
số nông dân Trong giai đoạn 1999 - 2002 sản lượng lúa tăng bình quân nămkhoảng 4,9%, trong đó năng suất lúa tăng 3,0% năm và diện tích gieo trồngtăng 1,8% năm Năm 2003 sản xuất lúa gạo đã chiếm gần 50% GDP nôngnghiệp (không bao gồm Lâm và Ngư nghiệp) [18]
Theo báo cáo của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 2004 sảnlượng lương thực đạt mức kỷ lục là 35,9 triệu tấn, vượt mục tiêu Đại hộiĐảng lần thứ IX đề ra là 1,5 triệu tấn, tăng so với năm 2003 là 1,3 triệu tấn,góp phần nâng khối lượng xuất khẩu gạo lên 4,06 triệu tấn, giá trị kim ngạchxuất khẩu đạt 941 triệu USD, giúp Việt Nam vững vàng ở vị trí nước xuấtkhẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới [19]
Trang 6Hiện nay, năng suất lúa bình quân của Việt Nam vào khoảng 48,9 tạ/haxếp thứ 2 sau Indonexia, diện tích gieo trồng lúa Việt Nam là 7326,2 nghìn haxếp thứ 2 sau Trung Quốc [31].
Năm 2007 với mục tiêu đề ra là tập trung thực hiện thâm canh đồng
bộ, mở rộng diện tích ở các tỉnh miền Bắc và sử dụng giống lúa chất lượngcao để tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất lúa, tíchcực phòng chống dịch bệnh trên cây lúa đặc biệt là Rầy nâu, vàng lùn, lùnxoắn lá,…[20]
Tình hình sản xuất lúa gạo của nước ta trong những năm qua được thểhiện ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam qua các năm
(1000ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(1000tấn)
áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất Sau năm 2000 diện tíchtrồng lúa có xu hướng giảm, giảm từ 7,6 triệu ha xuống còn 7,2 triệu ha.Nguyên nhân do cơ cấu cây trồng, quá trình đô thị hóa để phù hợp với xuthế phát triển của thế giới Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứngthứ 2 trên thế giới sau Thái Lan
Trang 7* Tình hình sản xuất lúa ở Thừa Thiên Huế:
Thừa Thiên Huế là một tỉnh miền Trung thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, códiện tích gieo trồng cây lương thực là 64.211 ha trong đó lúa 51.316 ha, màu12.905 ha
Với hơn 75% dân số sống bằng nghề nông, các vùng trồng lúa ở ThừaThiên Huế thường bị phân tán, không tập trung lớn để chuyên canh, thời tiếtkhí hậu khắc nghiệt Khí hậu hằng năm phân hóa thành 2 mùa rõ rệt mùa mưa
và mùa khô, lượng mưa phân bố không đồng đều thường tập trung từ tháng 9đến tháng 12 gây lũ lớn ở đầu vụ Đông Xuân, ngược lại từ tháng 4 đến tháng
8 lại khô hạn gây khó khăn cho sản xuất vụ Hè Thu Nhưng nhìn chung tìnhhình sản xuất lúa trong 12 năm trở lại đây có nhiều tiến bộ, nó được thể hiện ởbảng 2.4
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Thừa Thiên Huế
qua các năm Năm Diện tích( 1000 ha ) Năng suất( tạ/ ha ) Sản lượng( 1000 tấn )
( Nguồn: Số liệu thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2007) [25]
Nhìn chung tình hình sản xuất lúa ở Thừa Thiên Huế trong những nămqua khá ổn định, Trong 12 năm từ năm 1996 -2007 diện tích gieo trồng lúachỉ giao động trong khoảng 49-51 ngàn ha, năng suất tăng không đáng kể giaođộng từ 37- 50 tạ/ha, một mặt là do điều kiện thời tiết khắc nghiệt mặt khác là donông dân chưa đẩy mạnh đầu tư thâm canh Hiện nay, diện tích trồng lúa củaThừa Thiên Huế đang có xu hướng giảm đi, nguyên nhân là do đất trồng lúađược chuyển sang trồng hoa màu và phục vụ cho các hoạt động sản xuất khác
Để tăng sản lượng lúa thì việc đầu tư thâm canh tăng năng suất là tất yếu
Trang 8*Một số thành tựu trong công tác nghiên cứu và chọn tạo giống lúa mới
Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI đã nghiên cứu ra nhiều giống lúa mới khắcphục được những nhược điểm như đỗ ngã, đẻ nhánh kém, dễ nhiễm bệnh, …Chương trình cải tiến lúa được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phát triển giống có dạng hình thấp cây, thân cứng, khả năng
đẻ nhánh cao, có thời gian sinh trưởng ngắn,… Ví dụ như giống IR8
Giai đoạn 2: Đưa gen kháng vào dạng hình thấp cây cải tiến cho năngsuất cao và ổn định ví dụ như IR26, IR42,…
Giai đoạn 3: Phát triển những giống chín sớm với dạng hình thấp cây,kháng được một số sâu bệnh hại quan trọng, năng suất cao ví dụ như IR6,IR36, IR35366 [1]
Nhiều loại côn trùng gây hại, vi khuẩn, nấm,… trên cây lúa có tính đadạng về địa lý và thời gian Tính đa dạng này thường được biểu hiện thôngqua sự khác nhau về độc tính và sự khác biệt về cây chủ có tính kháng Cácnhà khoa học đã sử dụng phương pháp phân tích RFLP và RADP để tạo racác giống lúa kháng bệnh như kháng đạo ôn, kháng bệnh bạc lá [15]
Sử dụng ưu thế lai đối với cây lúa được bắt đầu vào cuối thế kỷ 19 vàđầu thế kỷ 20, nhiều công trình nghiên cứu về ưu thế lai cây lúa thành công ởnhiều nước như Nhật Bản 1958, Mỹ 1969, Ấn Độ 1973, Viện nghiên cứu lúaquốc tế IRRI năm 1977, gần đây Trung Quốc là nước đạt được nhiều thắnglợi trong việc sử dụng ưu thế lai [5]
Song song với việc chọn tạo giống lúa năng suất cao và chống chịu sâubệnh thì công tác nghiên cứu cải tạo giống lúa chất lượng cao của các nướctrên thế giới ngày càng phát triển Những năm thập niên 70 của thế kỹ XXIRRI đã thực hiện chương trình cải tạo các giống lúa chất lượng cao nhằmnâng cao năng suất và khả năng chống chịu [4]
Hiện nay, nhiều giống lúa mới được tạo ra nhờ áp dụng các tiến bộ khoahoc kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về giống lúa sản xuất
2.2 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại lúa và thiên địch
Để đóng góp vào quá trình phát triển của nền nông nghiệp toàn cầu thìhiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về sâu bệnh hại lúa và đã có được những kết quả đáng kể
Trang 9Theo tính toán của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) thìhằng năm sâu bệnh làm mất từ 15 - 30% tổng sản lượng nông nghiệp trên thếgiới, ở nhiều nước tỷ lệ này cao hơn có trường hợp lên đến 50% Riêng đốivới lúa và ngũ cốc hàng năm trên thế giới thiệt hại do sâu bệnh gây ra lên đến
100 triệu tấn, số lương thực này đủ để nuôi 450 triệu người ăn trong 1 năm,sâu bệnh là một trong những nguyên nhân gây nên thiệt hại trên [6]
Điều tra những yếu tố hạn chế năng suất lúa ở các vùng trồng lúa chính ởNam Á và Đông Nam Châu Á những năm gần đây, sau khi một số giống lúathấp cây được phổ biến trong sản xuất các nhà khoa học nông nghiệp ở các nước
đã thống nhất ý kiến cho sâu bệnh là trở ngại lớn nhất và phổ biến nhất [2].Vấn đề sâu bệnh luôn là vấn đề lớn đối với nghề trồng lúa ở vùng châu Ánhiệt đới vốn có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu bệnh(ẩm, nóng, có nhiều loài cây chủ,…) [2]
*Về sâu hại:
Theo PGS Nguyễn Công Thuật ở phía Bắc qua điều tra cơ bản 1968), đã phát hiện có 88 loài sâu hại lúa, còn ở miền Nam (1977-1979) đãphát hiện được 78 loài, trong đó có 6 loài gây hại chủ yếu như: Rầy nâu, sâucuốn lá nhỏ, sâu đục thân bướm 2 chấm, bọ xít dài, sâu năn, sâu phao và 15loài gây hại thứ yếu [28] Theo kĩ sư Nguyễn Văn Hạ, Trung tâm Bảo vệ thựcvật miền Trung qua điều tra sâu bệnh hại lúa ở miền Trung từ năm 1984-1988
(1967-đã xác định được 6 loài sâu hại chính đó là: sâu đục thân bướm 2 chấm, sâucuốn lá nhỏ, sâu phao, rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít dài, sâu năn [27] TheoThs Lê Văn Hai qua nghiên cứu điều tra sâu hại lúa vùng đầm phá tại ThừaThiên Huế đã xác định được 6 loài sâu hại chính đó là: Sâu cuốn lá nhỏ, sâucuốn lá lớn, sâu năn, bọ xít dài, châu chấu lúa, bọ xít xanh, trong đó sâu cuốn
lá nhỏ, bọ xít lúa và sâu năn là phổ biến nhất [23]
Tình hình sâu hại diễn biến rất phức tạp, có những loài trong năm trướcđây gây hại thứ yếu thì nay trở thành gây hại chủ yếu, ví dụ như sâu cuốn lánhỏ trước những năm đầu của thập niên 60 là loài sâu gây hại thứ yếu, đếnthập niên 70 nó là loài sâu hại chủ yếu ở những vùng trồng lúa Vào năm
2002 tổng diện tích bị nhiễm sâu cuốn lá nhỏ là 998,139 ha trong đó diệntích bị nhiễm nặng là 275,503 ha [21] Như bọ xít dài hại lúa ở tỉnh Nghệ
An, Thanh Hóa gây thiệt hại nặng từ năm 1986 -1987 làm giảm 20-30%
Trang 10năng suất, vì thế cần thường xuyên theo dõi để có biện pháp phòng trừ kịpthời và hợp lý [29].
* Về bệnh hại:
Theo kết quả điều tra năm 1903-1904 của Phạm Quý Hiệp và cộng tácviên đã phát hiện có tới 28 loài bệnh hại lúa [14] Hiện nay, đã ghi nhận trêndưới 40 loài bệnh hại lúa trong đó bệnh do nấm gây ra đóng vai trò chủ yếu
và chiếm trên 80% số bệnh hại [16]
Ở Thừa Thiên Huế, vụ xuân 1994 - 1995 có 17 nghìn ha bị nhiễm đạo ônchiếm 56,38% diện tích Hiện nay các giống lúa trong vụ xuân như IR1749,IR38, nếp, CR203 bị nhiễm đạo ôn khá nặng [23] Bệnh đạo ôn được phát hiệnđầu tiên ở Italia năm 1560 sau đó là Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản 1760, Mỹ
1906, Ấn Độ 1913, Việt Nam 1921 ở vùng Nam Bộ Trong những năm 1956
-1961 bệnh đã phát sinh phá hại nghiêm trọng nhiều nơi ở miền Bắc như HảiPhòng, Thái Nguyên, Bắc Giang, …Vụ Đông Xuân năm 1991-1992 ở miền Bắcdiện tích lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn là 292.000 ha, miền Nam là 105.000 ha [12].Năm 2002 diện tích bị nhiễm đạo ôn là 208.349 ha
Theo kết quả điều tra sâu bệnh hại lúa ở miền Trung từ năm 1984-1988 của
kĩ sư Nguyễn Văn Hạ thì bệnh khô vằn đã trở thành nghiêm trọng và phổ biến ởtất cả các vụ [28] Bệnh khô vằn là bệnh khá nghiêm trọng, năm 2001 tổng diệntích lúa bị nhiễm khô vằn là 725.420 ha, năm 2002 là 880.315 ha [16]
Bệnh đốm nâu là bênh gây hại phần lớn diện tích gieo trồng lúa trongnhững năm gần đây Ở miền Bắc nước ta từ năm 1969 - 1970 bệnh đã xuấthiện ở nhiều vùng, vụ mùa năm 1971 bệnh đã trở thành phổ biến ở khắp cácvùng trồng lúa nước ta [12]
* Về thiên địch:
Phòng trừ sinh học (Biological control) đối với sâu hại là biện pháp sửdụng kẻ thù tự nhiên của loài sâu hại đó để diệt trừ chúng bằng cách bảo vệ,tạo điều kiện cho các loài này có mặt trên đồng ruộng [13]
Thành phần thiên địch trên ruộng lúa đã phát hiện khoảng 415 loàithuộc 14 bộ, 58 họ, 241 giống của các lớp côn trùng, nhện, nấm và tuyếntrùng Bộ cánh màng có số lượng loài lớn nhất: 165 loài (chiếm 39,7% tổng
số loài thiên địch); thứ hai là bộ cánh cứng: 95 loài (22,8%); thứ 3 là bộ cánhnửa: 70 loài (16,8%); đứng thứ 4 về số lượng loài là bộ nhện lớn: 49 loài
Trang 11(11,8%) Còn các bộ khác, mỗi bộ mới ghi nhận được 1 hoặc vài loài là thiênđịch trên ruộng lúa [8].
Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu theo dõi số lượng của nhữngnhóm nhện lớn bắt mồi ăn thịt chính trên những giống nhiễm rầy nâu (nếpTK90 và giống kháng rầy nâu CR203) cho thấy: Ở những ruộng cấy giốngnhiễm rầy nâu có số lượng nhện ăn thịt cao hơn rõ ràng so với ruộng lúacấy giống kháng rầy Sự khác biệt này có ý nghĩa là nơi có nhiều rầy nâuthì sẽ có nhiều nhện lớn ăn thịt, chúng là những thiên địch quan trọng vànguy hiểm đối với rầy nâu [3]
Theo nghiên cứu của Barion et all (1984) cho biết thành phần nhện bắt
mồi ăn thịt trên đồng ruộng lúa khá phong phú và ông đã thống kê được 217loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt trên đồng lúa của 12 nước thuộc vùng Đông vàĐông Nam châu Á, trong khi đó ở Nhật Bản có 90 loài, Đài Loan 75 loài,Thái Lan 62 loài, Philippin 51 loài Riêng ở Trung Quốc đến năm 1991 đã ghinhận có 295 loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt trên đồng ruộng lúa [9]
2.3 Những nghiên cứu về rầy nâu và giống kháng rầy nâu
2.3.1 Những nghiên cứu về rầy nâu
Rầy nâu (Nilarpavata lugens Stal) bộ cánh đều Hemoptera họ muội nâu
Delphacidae là một loài sâu hại phổ biến ở nước ta, trước đây cũng như hiệnnay, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam Từ giữa những năm 1977 rầy nâu đãphát sinh thành dịch lớn gây thiệt hại nặng cho lúa ở nhiều tỉnh đồng bằngsông Cửu Long [33]
Ở nước ta, lần đầu tiên rầy nâu phát sinh thành dịch hại lúa vào cuối năm
1931 tại Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Cần Thơ, Rạch Giá,Bến Tre, … Mức độ thiệt hại lên đến 50% và một số nơi bị mất trắng Năm 1932dịch rầy nâu lại xảy ra ở các tỉnh trên nhưng sớm hơn ngay từ đầu tháng 9
Sau năm 1954, ở miền Bắc rầy nâu vẫn được coi là một trong 3 loài rầyphát sinh phổ biến và có khi gây tác hại nặng trên lúa, 2 loài rầy kia là rầy
lưng trắng Sogata furcifera Horvath và rầy xám Delphacodes striatella [33].
Vụ mùa năm 1973 ba loại trên gây hại nặng cho lúa ở khắp các vùngmiền Bắc Trước năm 1967, ở miền Nam rầy nâu có xuất hiện nhưng khônggây thiệt hại đáng kể, từ năm 1968 trở đi do trồng rộng rãi các giống lúa mớingắn ngày năng suất cao loại IR (thần nông) nên rầy nâu càng ngày càng trởnên nghiêm trọng [33]
Trang 12Rầy nâu phân bố rộng ở nhiều nước như Nhật Bản, Trung Quốc, TriềuTiên, Băngladet, Ấn Độ, Indonexia, Thái Lan, Malaixia, Philippin, Việt Nam,Campuchia, Lào, Srilanca, Java, …Ngoài cây lúa nó có thể sống trên nhiềuloài ký chủ như cỏ lồng vực, cỏ môi, cỏ công viên, cỏ mần trâu, cỏ chỉ, cỏtranh, cỏ sâu róm, cỏ đuôi chó, cỏ gấu, cỏ bông, cỏ chân nhện,…[14].
Số liệu thống kê cho thấy rầy nâu đã xuất hiện và gây hại cho vùng trồnglúa lớn nhất của nước ta từ những năm của thập niên 1970 rồi từ đó đến nay
nó luôn được xem là đối tượng gây hại rất quan trọng trên cây lúa Rầy nâu đãgây hại nặng (cháy rầy) trong các năm 1978, 1991, 1992, 2005 Ngoài ra, rầycòn là tác nhân lan truyền virus gây ra 2 loại bệnh rất nguy hiểm đó là bệnhvàng lùn và bệnh lúa lùn xoắn lá gây thiệt hại nhiều trong các năm 1979,1993,
1999, 2000, 2002, 2006 đặc biệt có một khoảng thời gian khá dài từ năm 1993-2005 diện tích và mật độ rầy xuất hiện ở mức khá cao [33]
Vòng đời rầy nâu rất ngắn 25-30 ngày, số lứa 12-13 lứa trong một năm,các lứa quan trọng trong năm thường nằm trong mùa mưa khống chế đượcmật độ của các lứa này có tác dụng rất lớn
Để phòng chống rầy nâu có thể sử dụng nhiều biện pháp như dùng bẫyđèn, trồng cây bẫy là những giống lúa nhiễm rầy chín sớm, dùng dầu hỏa,mazut, diezen rải đều trên mặt ruộng, mật độ gieo trồng hợp lý, sử dụng phânbón cân đối, hợp lý, chế độ nước thích hợp, luân canh cây trồng, dùng thuốchóa học để dập dịch khi rầy nâu bùng phát về số lượng [28] Tuy nhiên cầnthực hiện các biện pháp tổng hợp một cách có trọng điểm nhưng đồng bộ thìmới đạt hiệu quả mong muốn [13]
Một trong những biện pháp hiện nay đang được nghiên cứu và sử dụng
để phòng chống rầy nâu rất có hiệu quả là biện pháp dùng giống kháng rầy.Biện pháp này vừa mang lại hiệu quả cao, an toàn cho người và đông vật vừakhông gây ô nhiễm môi trường
2.3.2 Những nghiên cứu về giống kháng rầy nâu.
Trồng giống kháng rầy nâu là biện pháp phòng trừ hiệu quả nhất Đa sốcác giống lúa cải tiến đang được trồng hiện nay đều có mang gen kháng rầynâu, trong quá trình gieo trồng nếu thấy giống đang gieo trồng bị nhiễm rầynâu thì nên thay giống mới kháng rầy nâu Nguyên nhân do nòi của rầy nâu(Biotype) luôn thay đổi thích nghi với giống kháng để sinh tồn Việc lai tạo và
Trang 13chọn giống kháng rầy nên được tiến hành liên tục để luôn có giống khángthay thế khi giống đang được gieo trồng trở nên nhiễm rầy [31].
Mỗi giống lúa bị rầy nâu phá hại với mức độ khác nhau tùy theo mức
độ thích nghi của rầy với giống đó Khả năng này phụ thuộc vào phản ứng củarầy với đặc điểm lí sinh và hóa sinh của giống và diễn ra theo các giai đoạnsau: 1) phản ứng định hướng nhờ đó rầy đến được cây chủ; 2) phản ứng thức
ăn quyết định sự lấy thức ăn; 3) việc sử dụng những thức ăn đã ăn vào quyếtđịnh dinh dưỡng của rầy; 4) sinh trưởng của rầy non cho đến giai đoạn trưởngthành phụ thuộc vào sự lấy thức ăn cũng như vào dinh dưỡng; 5) sự sống sótcủa rầy trưởng thành và sản lượng trứng cũng phụ thuộc vào sự lấy thức ăn vàdinh dưỡng; 6) quá trình đẻ trứng quyết định số trứng đẻ ra; 7) sự nở củanhững trứng đã đẻ ra Bảy phản ứng trên quyết định số lượng rầy nâu tồn tạitrong một thời gian nhất định Bất cứ phản ứng nào bị rối loạn cũng làm chocây không thích hợp với rầy do đó chống được rầy ở một mức độ nào đó [6]
Từ năm 1966, Viện nghiên cứu lúa quốc tế đã tiến hành những thí nghiệmkhác nhau nhằm xác định các nguồn chống rầy, nhờ chọn lọc hàng loạt với 26nghìn ha lúa đã chọn khoảng 500 giống chỉ bị thiệt hại ở các mức điểm từ 1-5
Để thử lại tính chống chịu của chúng với 3 biotype rầy nâu, khi thử nghiệm lại
đã xác định được 268 giống chống biotype 1, 110 giống chống biotype 2, 95giống chống biotype 3 Tuy nhiên những giống chống được biotype này khôngnhất thiết cũng chống được biotype khác, đã xác định được khoảng 50 giốnghoặc dòng chọn lọc chống được cả 3 biotype của rầy nâu, không giống nào mẫncảm với biotype 1 lại chống được các biotype 2 và 3 [6]
Khi rầy nâu có điều kiện chọn giữa giống chống rầy với giống mẫn cảmvới rầy dần dần một số lượng sẽ tụ tập ở giống mẫn cảm Ba thí nghiệm trongnăm 1977 ở viện quốc tế nghiên cứu lúa khẳng định những giống IR sauchống được rầy nâu IR32, IR2863-38-1-2, IR4432-103-6-4, IR4570-83-3-2 vàIR5853-118-3 Các giống PTB19, PTB21, PTB33 và Sinna sivappu chốngkhỏe với 3 biotype trong nhà kính và bị rầy nâu phá hại ở mức thấp nhất trênđồng ruộng [9]
Định hướng chiến lược đến 2015 và tầm nhìn đến 2020 là nghiên cứuchọn tạo bộ giống lúa (lúa thuần, lúa lai, lúa đặc sản,… có năng suất, chấtlượng khá, có khả năng kháng rầy nâu, sâu đục thân, sâu năn, các giống lúakháng bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá, kháng bệnh đạo ôn, bạc lá, tạo được các
Trang 14giống kháng đa gen để khắc phục được sự biến dị của các nòi độc tính dịchhại, góp phần giảm thiểu sử dụng thuốc hóa học BVTV bảo vệ mùa màng và
an toàn với môi trường [9]
2.4 Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.4.1 Cơ sở lý luận
Theo điều tra những yếu tố hạn chế năng suất lúa thì sâu bệnh là trởngại lớn nhất và phổ biến nhất, cây lúa cũng như nhiều cây trồng khác luôn bịnhiều đối tượng sâu bệnh gây hại
Việc phòng chống bằng thuốc hóa học không đúng cách, không đúngđối tượng, không hợp lý không những gây độc hại cho con người, động vật,gây ô nhiễm môi trường mà còn làm cho một số loài sâu bệnh hại trước đây làthứ yếu trở thành dịch hại chủ yếu gây thiệt hại nặng cho người sản xuất
Để hạn chế việc sử dụng thuốc hóa học việc đưa các giống có năng suấtcao, chống chịu với sâu bệnh vào sản xuất đã đưa lại hiệu quả cao và an toànvới môi trường
Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng các giống này bị thoái hóa và dễ
bị nhiễm sâu bệnh, sâu bệnh hại phát triển dưới một hình thức cao hơn, phongphú hơn hình thành các biotype mới làm cho các giống này mất tác dụng.Nguyên nhân là do kỹ thuật canh tác không phù hợp, đặc biệt là việc chuyểnđổi cơ cấu cây trồng với toàn bộ diện tích là giống kháng làm cho sâu khôngcòn thức ăn, để tồn tại chúng phải tiến hóa dưới những hình thức cao hơn
Trên đồng ruộng nếu cùng trồng loại giống nhiễm và giống kháng rầynâu thì khi đó rầy nâu sẽ tập trung ở những giống nhiễm, giống kháng sẽ đượcbảo vệ, vì thế trong sản xuất cơ cấu khoảng 60% diện tích trồng giống kháng
là phù hợp
Hơn nữa, một giống lúa kháng được loại sâu hại này chưa chắc đãkháng được các loài sâu hại khác, việc đưa các giống lúa ra ngoài sản xuất đểkiểm nghiệm có ý nghĩa thực tế rất lớn cho việc sản xuất, đó là tìm ra đượcgiống lúa kháng rầy nâu nhưng ít bị nhiễm các đối tượng sâu hại khác
2.4.2 Cơ sở thực tiễn
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, trên 80% dân sốsống bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp, hằng năm sâu bệnh phát sinh gâynhiều thiệt hại cho ngành sản xuất nông nghiệp
Trang 15Ở nước ta nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng, cây lúa được trồngquanh năm và thường xuyên có mặt trên đồng ruộng, điều đó đã tạo điều kiệncho sâu bệnh thường xuyên có nơi cư trú Mặt khác với thực trạng sản xuấtmanh mún, hệ thống canh tác không phù hợp cộng với điều kiện khí hậu nóng
ẩm, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh, phát triểnnhư bệnh đạo ôn, khô vằn, đốm nâu, sâu cuốn lá nhỏ, sâu năn, đặc biệt là rầynâu Thực tế trong quá trình sản xuất nhiều giống trước đây là giống khángbây giờ đã trở thành giống nhiễm như khang dân, 13/2, …trước đây khángbệnh đạo ôn hiện nay đã bị nhiễm đạo ôn Hơn nữa, việc lạm dụng thuốc hóahọc vào trong việc phòng chống các đối tượng sâu bệnh hại đang ngày càngphổ biến, dư lượng thuốc hóa học trong nông sản ngày càng nhiều gây độccho con người và vật nuôi Chính vì vậy biện pháp giống là biện pháp chắcchắn nhất và hiệu quả nhất để đưa nền nông nghiệp thế giới cũng như nềnnông nghiệp nước ta trở thành nền nông nghiệp sạch, nền nông nghiệp bềnvững Thực tế hiện nay cũng đã cho thấy, số lượng giống chống chịu với sâubệnh và cho năng suất cao ngày càng nhiều đáp ứng được nhu cầu về giống và
Trang 16PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Rầy nâu: Thu thập ở khu vực Thừa Thiên Huế
Giống lúa nghiên cứu
Nghiên cứu phản ứng với rầy nâu trên 12 giống lúa nhập nội và mộtgiống lúa đối chứng là khang dân trong phòng thí nghiệm của bộ môn Bảo vệthực vật, Khoa Nông Học, Trường ĐHNL Huế
Nghiên cứu các đối tượng sâu bệnh hại, thiên địch chính trên 23 giống lúanhập nội ngoài đồng ruộng tại hợp tác xã Hương Long, tỉnh Thừa Thiên Huế.Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trong thời gian từ tháng 5/1/2009 đếntháng 9/5/2009
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá phản ứng với rầy nâu của các giống lúa nhập nội theo cácphương pháp của IRRI
- Điều tra thành phần, mức độ phổ biến và diễn biến mức độ gây hại củamột số sâu bệnh, thiên địch trên các giống lúa nghiên cứu
- Điều tra diễn biến mật độ các loại thiên địch bắt mồi ăn thịt của các loạisâu hại trên đồng ruộng
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để có đủ quần thể rầy nâu và độ đồng đều (về tuổi và dinh dưỡng) của nókhi đưa vào nghiên cứu chúng tôi tiến hành thu thập rầy nâu ngoài đồng ruộngtại 3 địa điểm là Hương Long, Trung tâm nghiên cứu cây trồng Tứ Hạ, Hương
Sơ Sau đó nhân nuôi trên giống lúa nhiễm rầy (HT1) trong phòng thí nghiệm
3.3.1 Đánh giá phản ứng của các giống lúa thí nghiệm với rầy nâu theo phương pháp IRRI
- Phương pháp trong cốc mạ của IRRI: Gieo tất cả các giống lúa nghiêncứu vào cốc nhựa (cốc nhựa có thể tích khoảng 200ml), mỗi giống gieo vào
15 cốc, mỗi cốc gieo 1 hạt, khi cây mạ được 2 lá (khoảng 7 ngày tuổi) chọn ramỗi giống 10 cốc, chọn cốc có cây mạ khỏe và đồng đều, dùng ống nhựa bằngmica cắm cố định cây mạ trong cốc Rồi tiến hành thả rầy non tuổi 2 vào mỗicốc, đầu trên của ống nhựa được che bằng vải mỏng Tiến hành làm thínghiệm trên 12 giống nhập nội và một giống đối chứng là Khang dân, theo
Trang 17dõi chỉ tiêu cấp hại và số lượng rầy sống sót vào 5 và 7 ngày sau lây nhiễm.Biểu hiện tác hại của rầy trên cây mạ được phân cấp như sau:
Cấp 0: >=70% số lượng rầy chết và cây mạ khỏe
Cấp 1: <70% số lượng rầy chết và cây mạ khỏe
Cấp 7,1- Cấp 9,0 Nhiễm nặng (NN)
- Phương pháp trong hộp mạ của IRRI: Gieo tất cả các giống lúa cầnđánh giá vào chung một khay lớn, 1 giống gieo thành một hàng dài 15cm theochiêu rộng của khay Trong mỗi khay các hàng giống được đặt theo ngẫunhiên Đến ngày thứ 7 sau khi gieo, tỉa để mỗi giống thí nghiệm còn 10cây/hàng, sau đó dặt vào lồng, giữ mực nước trong khay khoảng 1-2cm để tạo
độ ẩm cần thiết cho rầy nâu sống Tiến hành thả rầy tuổi 2 vào khay, trungbình 3con/cây Việc thả rầy lên các giống thí nghiệm phải làm đồng đều Thínghiệm được lặp lại 3 lần Theo dõi chỉ tiêu cấp gây hại của cây mạ vào 5 và
7 ngày sau lây nhiễm Số lượng rầy ghi được trên mỗi giống cho thấy tínhthích ứng hay không thích ứng đối với giống đó Căn cứ vào cấp gây hại đểxác định mức độ kháng rầy của từng giống
* Cấp hại và triệu chứng cây mạ bị hại:
Trang 18*Cấp hại và mức độ kháng rầy nâu:
Cấp1- Cấp 3 Kháng (K)Cấp 3,1- Cấp 4,5 Kháng vừa (KV)Cấp 4,6- Cấp 5,5 Nhiễm vừa (NV)Cấp 5,6- Cấp 7,0 Nhiễm (N)
Cấp 7,1- Cấp 9,0 Nhiễm nặng (NN)
3.3.2 Điều tra theo dõi những loài sâu bệnh chủ yếu
.Để xác định lại kết quả trong phòng thí nghiệm chúng tôi tiến hành bố tríthực nghiệm ngoài đồng ruộng
Thí nghiệm trên 23 giống lúa, không nhắc lại và một giống đối chứng làKhang dân Mỗi giống tương ứng với một ô thí nghiệm, diện tích mỗi ô 10m2
Do thứ tự của các giống không liên tục, để thuận lợi trong việc điều tra theodõi chúng tôi quy định thay đổi ký hiệu một số giống như sau: G3 (thay choG24), G6 (thay cho G25), G8 (thay cho G26), G9 (thay cho G29), G10 (thaycho G30), G20 (thay cho G31)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
*Đối với sâu hại:
Điều tra khung 40 cm x 50 cm = 0,2 m2 Đếm số sâu có trong khung.Riêng đối với rệp thì tính 10 dảnh trên một điểm
Trang 19Đối với các loại rầy thì dùng khay 20cm x 30 cm Ở đáy khay có trángmột lớp dầu nhờn Đặt khay nghiêng 450 so với cây lúa, đập nhẹ hai đập, diệntích đập bằng diện tích khay Sau đó tiến hành phân loại và đếm số lượng rầy
có trong khay Để giảm sai số thường lấy số rầy trên khay nhân hệ số 2
Điều tra tính mật độ sâu (con/m2) đối với các đối tượng như: Sâu cuốn lá,rầy nâu, sâu keo,
Tính theo công thức:
Mật độ SVH (con/m2) = Tổng số SVH điều tra/ tổng số m2 điều tra
*Đối với bệnh hại:
Đối với bệnh trên thân (khô vằn, tiêm hạch,…) : Điều tra 10 dảnh ngẫu
nhiên/ điểm
Đối với bệnh trên lá(đạo ôn lá, đốm nâu, tiêm lửa,…): Điều tra toàn bộ
số lá của 5 dãnh ngẫu nhiên/ điểm
Điều tra tính tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh đối vơí các bệnh trên lá và phâncấp gây hại theo bảng sau:
Cấp 9: Vết bệnh leo tới đỉnh cây lúa, các lá nhiễm nặng, một số cây chết.Các chỉ tiêu theo dõi:
Trang 20b - cấp bệnh tương ứng
N - tổng số lá (dãnh, bẹ, ) điều tra
T - cấp bệnh cao nhất
3.3.3 Điều tra theo dõi các loại thiên địch bắt mồi trên đồng ruộng
Điều tra khung 40 cm x 50 cm = 0,2 m2 Đếm số thiên địch có trongkhung, sau đó quy ra mật độ con/m2
Phương pháp xử lý số liệu.
Tiến hành tổng hợp số liệu theo phần mềm:
Microsoft Office Excel 2003
Trang 21PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Phản ứng của các giống lúa thí nghiệm với rầy nâu theo phương pháp của IRRI
Trong tập đoàn 23 giống lúa nhập nội để chọn ra được giống lúa có khảnăng kháng rầy nâu, những giống này có thể gieo trồng ra đồng ruộng hoặclàm vật liệu cho việc nghiên cứu lai tạo ra các giống kháng rầy Do điều kiệnkhông cho phép trong phòng thí nghiệm chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu
12 giống trong tổng số 23 giống nghiên cứu theo 2 phương pháp của IRRI
4.1.1 Cấp hại và mức độ kháng của các giống lúa đối với quần thể rầy nâu ở Thừa Thiên Huế theo phương pháp trong cốc mạ của IRRI
Phương pháp trong cốc mạ của IRRI thể hiện đúng bản chất của tínhkháng Khi không có sự lựa chọn về nguồn thức ăn thì bắt buộc rầy nây muốntồn tại nó phải sử dụng loại thức ăn đó Đối với các giống nhiễm thì rầy nâu
dễ dàng tồn tại và phát triển, đối với các giống kháng thì chúng sẽ bị chết Kếtquả thu được thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Phản ứng của các giống lúa đối với quần thể rầy nâu ở Thừa
Thiên Huế theo phương pháp trong cốc mạ của IRRI
Tỷ lệ rầy sống sót sau lây nhiễm
5 ngày 7 ngày 5 ngày 7 ngày 5 ngày 7 ngày
Trang 22Qua bảng 4.1 chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Sau lây nhiễm 5 ngày cấp hại biến động giữa các giống từ 2,6 - 5,1, mức
độ kháng của các giống lúa từ kháng đến nhiễm vừa, tỷ lệ rầy sống sót giaođộng từ 53% -83% Hai giống có biểu hiện kháng là G14 và G20, bốn giống
có biểu hiện nhiễm vừa là G4, G9, G19, KD còn lại 7 giống có biểu hiệnkháng vừa Hai giống có tỷ lệ rầy sống sót cao nhất là G4 và KD 83% phùhợp với khả năng thích nghi của rầy trên giống nhiễm vừa Sang ngày thứ 7sau lây nhiễm thì đã có sự thay đổi Bốn giống có biểu hiện kháng vừa làG13, G14, G20, G23, bốn giống có biểu hiện nhiễm là G4, G9, G19, G13, cònlại 5 giống có biểu hiện nhiễm vừa, không có giống nào có biểu hiện nhiễmnặng Cấp hại giao động giữa các giống từ 3,4 ± 0,29 đến 6,2 ± 0,44, tỷ lệ rầysống sót giảm xuống, giữa các giống giao động từ 47 – 67 %, KD vẫn làgiống có tỷ lệ rầy sống sót cao nhất 67%
4.1.2 Cấp hại và mức độ kháng của các giống lúa đối với quần thể rầy nâu ở Thừa Thiên Huế theo phương pháp trong hộp mạ của IRRI
Phương pháp trong hộp mạ của IRRI với mục đích kiểm tra lại mức độkháng của các giống lúa nghiên cứu Phương pháp thức ăn có sự lựa chọn tức
là có sự hỗ trợ của các giống nhiễm nhằm ứng dụng đưa các giống này ra gieongoài đồng ruộng
Kết quả thu được thể hiện ở bảng 4.2
Trang 23Bảng 4.2: Phản ứng của một số giống lúa đối với rầy nâu theo phương pháp trong hộp mạ của IRRI
STT Giống
Cấp gây hại sau lây nhiễm
(TB±SE) Mức độ kháng sau lây nhiễm
Số rầy có lại trên cây sau lây nhiễm (TB±SE)
5 ngày TN1
chết hết 7 ngày
5ngày
TN1 chếthết 7 ngày 5 ngày
Trang 24Qua bảng 4.2 chúng tôi có một số nhận xét:
Kết quả thí nghiệm trong hộp mạ khá phù hợp so với kết quả trong cốc
mạ Kết quả cho thấy sau 5 ngày lây nhiễm chỉ có hai giống có biểu hiệnkháng là G14 và G20, ba giống có biểu hiện nhiễm vừa là G5, G6, G18, támgiống còn lại có biểu hiện nhiễm vừa, không có giống nào có biểu hiệnnhiễm đễn nhiễm nặng Do có giống chuẩn nhiễm TN1 nên mức độ bị hại củacác giống giảm Cấp hại giữa các giống giao động từ 2,7±0,09 đến 4,9±0,22
Số lượng rầy có trên cây thể hiện khả năng thích nghi của rầy đối với giống
đó, Giống KD có số lượng rầy trên cây là nhiều nhất 2,7±2,19, các giống cònlại giao động từ 0,8±1,33 đến 2,2±0,88 con/cây Trong phương pháp khay mạchúng tôi có đánh giá thêm mức độ bị hại của các giống thí nghiệm sau khigiống chuẩn nhiễm TN1 chết hết (khoảng 6 ngày sau khi lây nhiễm) Sau khigiống TN1 chết hết thì có 8 giống có biểu hiện kháng vừa là các giống G9,G13, G14, G15, G19, G20, G22, G23, cấp hại chênh lệch nhau khá nhiều,giao động từ 3,8±0,18 đến 5,8±0,20, năm giống có biểu hiện nhiễm vừa làG4, G5, G6, G18, KD, không có giống nào có biểu hiện nhiễm đến nhiễmnặng Số rầy có trên cây giảm xuống, giữa các giống giao động từ 0,5±1,45đến 2,1±1,15 Qua 7 ngày sau lây nhiễm thì cấp hại, mức độ kháng, số rầy cótrên cây thay đổi rất nhiều, hai giống có biểu hiện kháng vừa là G14, G20 vớicấp hại tương ứng là 4,5±0,23; 4,4±0,20, hai giống có biểu hiện nhiễm vừa làgiống G13, G23 còn lại 9 giống đều có biểu hiện nhiễm, không có giống nào
có biểu hiện nhiễm nặng.Số rầy có trên cây giảm xuống rất nhiều giao động từ0,3±0,58 đến 1,7±0.53
4.2 Tình hình sâu bệnh hại trên các giống lúa nghiên cứu
4.2.1 Thành phần sâu bệnh và thiên địch trên các giống lúa nghiên cứu
Thành phần sâu bệnh hại và thiên địch trên lúa rất đa dạng và phongphú Việc nghiên cứu chúng có ý nghĩa rât quan trọng trong công tác phòngtrừ Ở mỗi vùng, mỗi địa phương và trên mỗi giống khác nhau thành phần sâubệnh hại, thiên địch là không giống nhau Trong quá trình sản xuất lúa, nếu tanắm được thành phần sâu bệnh, thiên địch trên các giống lúa ở các điều kiệncanh tác khác nhau, chúng ta sẽ có sơ sở xây dựng biện pháp phòng trừ sâubệnh có hiệu quả, trên cơ sở xác định rõ những đối tượng sâu bệnh, thiên địchquan trọng, phổ biến và thường xuyên gây hại trên đồng ruộng
Qua điều tra chúng tôi ghi nhận được thành phần sâu bệnh, thiên địch vàmức độ phổ biến của chúng trên các giống lúa nghiên cứu ở bảng 4.3a vàbảng 4.3b
Trang 25Bảng4.3a: Thành phần sâu hại và mức độ phổ biến của chúng qua các
giai đoạn điều tra
S
T
T Tên Việt Nam Tên khoa học
Mức độ phổ biến quacác giai đoạn
3 lá Đẻnhánh
Làmđòng
chín
4 Sâu đo xanh Naranga aenescens Moore. + + 0 0
7 Rầy lưng trắng Sogatella furcifera
Ghi chú: 0 : Không phổ biến
+ : Ít phổ biến (tần suất xuất hiện < 25%)++ : Phổ biến (tần suất xuất hiện 25 – 50%)+++ : Rất phổ biến (tần suất xuất hiện > 50%)
Trang 26Bảng4.3b: Thành phần bệnh hại, thiên địch và mức độ phổ biến của
chúng qua các giai đoạn điều tra
ST
T Tên Việt Nam Tên khoa học
Mức độ phổ biến quacác giai đoạn
3 lá Đẻnhánh
Làmđòng
chín
Trổ-Bệnh hại
1 Bệnh đạo ôn Pyricularia oryzae Cavet Bri 0 + + +
3 Bệnh tiêm lửa Helminthosporium oryzae 0 0 + +
4 Bệnh khô vằn Rhizoctonia solani Palo. 0 + ++ ++
5 Bệnh lem lép hạt Pseudomonas glumae 0 0 0 +
Thiên địch
5 Bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis 0 0 + +
Ghi chú: 0 : Không phổ biến
+ : Ít phổ biến (tần suất xuất hiện < 25%)++ : Phổ biến (tần suất xuất hiện 25 – 50%)+++ : Rất phổ biến (tần suất xuất hiện > 50%)Qua bảng số liệu 4.3a và 4.3b nhận thấy: Thành phần sâu bệnh hại,thiên địch trên các giống thí nghiệm rất đa dạng và phong phú
Về sâu hại: Có 11 loài xuất hiện trên ruộng thí nghiệm, xuất hiện rải rác
ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây lúa Trong 11 loài trên thìloài xuất hiện phổ biến là sâu cuốn lá nhỏ Sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện từ giaiđoạn đẻ nhánh cho đến giai đoạn trổ - chin Còn 10 loài khác là rầy nâu, rầylưng trắng, rầy xanh đuôi đen, bọ trĩ, rệp muội, sâu cuốn lá lớn, sâu keo, sâu
Trang 27đo xanh, rệp xanh, sâu đục thân 2 chấm có xuất hiện nhưng ít phổ biến ở cácgiai đoạn khác nhau
Về bệnh hại: Có 6 loại xuất hiện tại ruộng thí nghiệm, trong đó bệnhđốm nâu và bệnh khô vằn là 2 bệnh phổ biến, bệnh đốm nâu xuất hiện từ giaiđoạn đẻ nhánh và phổ biến ở giai đoạn làm đòng cho đến trổ chín, bệnh khôvằn xuất hiện từ giai đoạn đẻ nhánh và phổ biến về giai đoạn cuối Còn 4bệnh là bệnh tiêm lửa, bệnh lem lép hạt, bệnh đạo ôn, bệnh khô đầu lá xuấthiện nhưng ít phổ biến
Về thiên địch bắt mồi ăn thịt: Trong 5 loài thiên địch bắt mồi ăn thịt cómặt trên đồng ruộng thì 2 loài phổ biến là nhện chân dài và nhện lưới, nhệnchân dài xuất hiện từ giai đoạn 3 lá và phổ biến ở giai trổ - chín, nhện lướicũng xuất hiện từ giai đoạn 3 lá và phổ biến ở giai đoạn làm đòng Còn 3 loài
bọ rùa đỏ, nhện lycosa, bọ xít mù xanh có xuất hiện ít phổ biến
4.2.2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalorcocis medinalis
Guenee.) trên các giống lúa nghiên cứu
Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalorcocis medinalis Guenee.) có mặt ở khắp các
vùng trồng lúa của nước ta, sâu phát sinh và gây hại mạnh trong điều kiệnnhiệt độ từ 25-29 0C, ẩm độ lớn hơn 90%, đặc biệt là trong điều kiện mưanắng xen kẽ Sâu tuổi 1 gặm ăn chất xanh ở mép lá, từ tuổi 2 bắt đầu nhả tơcuốn dọc lá lúa thành một bao phẳng đứng hoặc bao tròn gập lại Sâu nằmtrong bao ăn biểu bì mặt trên và diệp lục của lá dọc theo gân lá tạo thành cácvệt trắng dài Cây lúa bị phá hại nặng nhìn ruộng lúa bạc trắng Sâu non cómàu xanh lá mạ, trước khi hóa nhộng chuyển sang màu vàng Mức độ bị hạicủa cây lúa phụ thuộc vào giống, giai đoạn sinh trưởng, thời vụ gieo cấy vàchế độ bón phân Kết quả nghiên cứu về diễn biễn mật đô sâu cuốn lá nhỏ trênđồng ruộng được thể hiện ở bảng 4.4 và biểu đồ 1