1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Động thái phát triển nông nghiệp và một số đề xuất phát triển chăn nuôi ở huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh

54 434 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 618 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.3.2 Về lợn Việc phát triển đàn lợn đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận đó làviệc sau khi ta nhập vào các con đực cao sản như Yorshire, Landrace ,Duroc đã đem cho lai với con móng

Trang 1

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đánh giá thực trạng, tiềm năng và các giải pháp phát triển ngành chănnuôi của huyện Cẩm Xuyên là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu.Thật vậy, tỷ trọng ngành chăn nuôi của huyện Cẩm Xuyên còn thấp so vớingành trồng trọt Theo thống kê của huyện tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm35,1% (năm 2007)

Vấn đề đặt ra là phải làm gì, làm như thế nào để đưa tỷ trọng củangành chăn nuôi tăng lên, đồng thời khai thác các tiềm năng, lợi thế sẵn cónhư đất đai, lao động để khắc phục những khó khăn, đề ra các giải pháp pháttriển ngành chăn nuôi của huyện một cách có hiệu quả và giải quyết công ănviệc làm và đem lại nguồn thu nhập cao cho người dân

Đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi trước hết cần có bức tranh

về thực trạng và xác định được tiềm năng Từ bức tranh thực trạng đó để cóhướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, cần có kiến thức khoahọc kỹ thuật để áp dụng rộng rãi vào sản xuất làm tăng năng suất, chất lượngcây trồng, vật nuôi

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài :

”Động thái phát triển nông nghiệp và một số đề xuất phát triển chăn nuôi

ở huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.”

Trang 2

PHẦN 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tình hình cơ bản của huyện Cẩm Xuyên

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh là một huyện đồng bằng ven biểnthuộc vùng Duyên Hải Bắc Trung Bộ, nằm phía Đông Nam của tĩnh HàTĩnh, có toạ độ địa lý từ 18002’18” đến 18020’51” vĩ độ Bắc và từ105051’17” đến 106009’13” kinh độ Đông Phía Tây Bắc giáp thành phố HàTĩnh và huyện Thạch Hà, phía Đông Bắc giáp biển Đông, phía Tây, TâyNam giáp huyện Hương Khê , phía Đông Nam giáp huyện Kỳ Anh

Thị trấn Cẩm Xuyên là trung tâm kinh tế - văn hoá - chính trị củahuyện, cách trung tâm tĩnh lỵ-thành phố Hà Tĩnh 10km về phía Đông Nam.Trên địa bàn có tuyến quốc lộ 1A, tĩnh lộ 4 chạy qua va nhiều tuyến đườngliên huyện , liên xã khác; có 18km bờ biển trong đó bãi biển Thiên Cầm cóđiều kiện thuận lợi để xây dựng một khu du lịch nghỉ mát lý tưởng.Ngoài raCửa Nhượng là nơi thuận lợi cho tàu thuyền ra vào trao đổi, lưu thông hànghoá và neo đậu trú bão.Vị trí của huyện hội tụ nhiều điều kiện và cơ hội đểgiao lưu, thu hút vốn đầu tư cho phát triển tổng hợp các ngành kinh tế - xãhội như nông lâm nghiệp, thuỷ hải sản và du lịch - dịch vụ

2.1.1.2 Địa hình, đất đai.

Cẩm Xuyên với tổng diện tích tự nhiên là 63554,37 ha Trong đó:

-Đất nông nghiệp: 13065,37 ha chiếm 20,6%

-Đất lâm nghiệp: 30239,05 ha chiếm 47,6%

Trang 3

Tài nguyên đất của huyện rất đa dạng phù hợp cho việc trồng nhiềuloại cây: cây lâm nghiệp, cây ăn quả cây lương thực như lúa, ngô, cây côngnghiệp như lạc, đậu, cây thực phẩm và một số loại cây khác.

2.1.1.3 Thời tiết khí hậu:

Cũng như toàn Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên năm trong vùng khí hậu nhiệtđới gió mùa và chịu ảnh hưởng lớn của gió nóng Tây Nam (gió Lào), nhưngnhìn chung khí hậu khá khắc nghiệt và được phân thành 2 mùa rõ rệt Mùanắng từ tháng 4 đến tháng 8 mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau Trongnăm chủ yếu có 3 hướng gió chính đó là:

+ Gió đông bắc vào mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

+ Gió đông nam (gió nồm) vào các tháng 9 đến tháng 10 và xen lénvào các tháng trong năm

+ Gió tây nam vào mùa nắng từ tháng 4 đến tháng 8

Tổng lượng mưa bình quân tương đối lớn trên 2000 mm, phân bốkhông đều giữa các tháng trong năm, Độ ẩm bình quân năm là 86 %

2.1.1.4 Chế độ thuỷ văn:

Huyện có hệ thống sông, suối khá dày đặc, nhưng nhìn chung, chiềudài của các con sông ngắn, lưu vực nhỏ, suối có độ dốc nhỏ và tốc độ dòngchảy lớn, chủ yếu về mùa mưa lũ gây xói mòn, rữa trôi đất Cẩm Xuyên cónguồn nước mặt khá dồi dào nhờ hệ thống sông, suối, kênh mương dày đặc

và nhiều hồ đập Đặc biệt phải kể đến các hồ như hồ Kẻ Gỗ, hồ sông Rác, hồBộc Nguyên, hồ Thượng Tuy Chỉ tính riêng hồ Kẻ Gỗ với dung tích 450triệu m3 nước, không những đủ cung cấp nguồn nước sinh hoạt và sản xuấtcho huyện mà còn cung cấp nước tưới cho một số vùng lân cận như thị xã

Hà Tĩnh, huyện Thạch Hà

2.1.1.5 Quản lý đất đai:

Đến năm 2007 huyện Cẩm Xuyên đã hoàn thành việc lập QH-KH sửdụng đất đến năm 2010 cho 26/27 xã, thị trấn ( đạt 96,3 %, QHSD đất cấpxã) đưa vào công bố QH-KH sử dụng đất đai đảm bảo theo QH-KH đã đượcphê duyệt

Hiện nay, huyện đang tập trung tổ chức lập QHSD đất đến năm 2015

và định hướng sử dụng đất đến năm 2020 cho đơn vị thị trấn Cẩm Xuyên

Trang 4

2.1.2 Tình Hình Kinh Tế Xã hội:

2.1.2.1 Tình hình kinh tế

Trong những năm gần đây huyện Cẩm Xuyên đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể như sau:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8 %

- Thu thập bình quân đầu người đạt 5,05 triệu đồng/ năm

- Tổng thu nhập toàn huyện 723.789 triệu đồng toàn huyện (theo giáthực tế hiện hành)

- Sản xuất nông nghiệp: Sản xuất lương thực quy thóc cả năm đạt91.394 tấn, trong đó lúa 83.641 tấn, bằng 104 % so năm 2005, người nôngdân đã chuyển dần sang sản xuất hàng hoá

- Về chăn nuôi: Tổng đàn trâu bò 35.936 con, bằng 108 % so năm

2005, trong đó đàn bò 21.736 con bằng 130 % so với cùng kỳ UBND huyện

đã ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển như chương trình cải tạo đàn bò,

mô hình chăn nuôi lợn tập trung, mô hình lợn nái siêu nạc Đức Cần tại thịtrấn Cẩm Xuyên

- Về thú y: Huyện đã phối hợp với xã, thôn, chi cục thú y áp dụng triệt

để các biện pháp ngăn chặn dịch nên đã không chế được dịch lây lan

- Về lâm nghiệp: Trong năm đã trồng được 580 ha rừng tập trung và 3triệu cây phân tán đạt 100 % kế hoạch

- Về thuỷ sản: Sản lượng thuỷ hải sản đạt 5036 tấn Trong đó sảnlượng khai thác đạt 4115 tấn, trong đó sản lượng tôm sú 320 tấn

* Về sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch.Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước đạt 101.207triệu đồng, đạt 113,5 % so năm 2005 Huyện đã thu hút các đơn vị đầu tư mởthêm tại Sơn Thịnh - Cẩm Thịnh, Công ty cổ phần gạch ngói Cầu Họ mởrộng quy mô sản xuất ở Cẩm Quang, Thành lập được hai làng nghề chế biếnnước mắm tại xã Cẩm Nhượng, Cẩm Dương, tổ hợp mây đan lát xuất khẩutại xã Cẩm Sơn Đẩy mạnh các hoạt động thu mua, chế biến hải sản, mâyxuất khẩu

Tổng mức bán lẽ hàng hoá và dịch vụ ước đạt 230.683 triệu đồng, đạt110,5 so với cùng kỳ

Trang 5

Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đã có xu hướng giảm Tuy nhiên tỷ lệ

đó còn cao, số lượng người năm trước so với năm sau chênh lệch còn quálớn

* Lao động và việc làm:

Đến năm 2007 huyện có 68.334 lao động chiếm 43,38 % dân số.Trong đó, lao động nông nghiệp có 57.316 người chiếm 83,87 % trong tổng

số lao động; còn lại 16,13 % là lao động tham gia trong các lĩnh vực khác

2.1.3 Tình hình cải tạo chất lượng đàn giống của huyện Cẩm Xuyên những năm qua

2.1.3 1 Đối với đại gia súc Trâu Bò

Những năm qua huyện Cẩm Xuyên đã được sự quan tâm của nhànước, của tỉnh nhà, song thực chất kết quả đạt được chưa cao, chưa tươngxứng với tiềm năng của huyện Đó là do nhiều yếu tố quan trọng tác động

- Chuyển dịch kinh tế thấp, tiềm năng để phát triển chăn nuôi còn lớnnhưng chưa khai thác đúng mức

- Nhận thức của cán bộ và nhân dân về kinh tế thị trường còn hạn chế,thiếu thông tin về thị trường nên công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vậtnuôi còn chậm và nhỏ lẻ, tư duy làm kinh tế còn mang tính bảo thủ, chưamạnh dạn đầu tư lớn, hiệu quả đạt được còn thấp

- Đội ngũ thú y viên từ huyện đến cơ sở còn thiếu và yếu về trình độchuyên môn, tay nghề

Tuy nhiên trong những năm qua ngành chăn nuôi đã có những bướcphát triển cả về số lượng và chất lượng, từng bước chuyển dịch từ nuôi kiêmdụng sang nuôi chuyên dụng, từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi hànghoá

+ Đối với bò: Theo thống kê của huyện năm 2007 tổng đàn bò là

21564 con Trong 4 năm đã lai sind hoá được 6026 con bò lai chiếm 28%

Trang 6

đàn bằng hình thức phối trực tiếp và dẩn tinh viên Toàn huyện đã xây dựngđược 120 trang trại chăn nuôi lớn nhỏ theo quy mô hộ gia đình và chăn nuôi

bò thịt chất lượng cao

Đồng thời phát triển chăn nuôi bò theo cả hai hướng chăn nuôi trangtrại và khuyến khích các nông hộ chăn nuôi bò sinh sản và bò thịt Coi việcđẩy mạnh phát triển đàn bò là mũi nhọn trong ngành chăn nuôi Đảm bảo độtăng trưởng đàn bò đạt 7% năm Phấn đấu đến năm 2015 tổng đàn bò đạt

41564 tăng 20000 con, tạo tầm vóc và chất lượng đàn bò bằng giống bò laisind để đến năm 2015 tỷ lệ đàn bò lai sind chiếm 50-60% tỉ lệ bò nái laichiếm 45-50% tổng đàn Tập trung xây dựng các trang trại chăn nuôi bò thịtchất lượng cao từ bò cái lai sind, phấn đấu toàn huyện có 60 điểm tập trungphối giống

+ Đàn trâu: Đang chủ yếu là tập trung khuyến khích phát triển đàntrâu hiện có Còn việc chú ý cải tạo tầm vóc thì trâu Việt Nam không thuakém trâu trên thế giới mà chỉ có nhược điểm sản lượng sữa thấp Do đó,trong thời gian qua nước ta đã nhập loại giống trâu MuRah từ Ấn Độ về laicấp tiến nhưng đạt thấp

2.1.3.2 Về lợn

Việc phát triển đàn lợn đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận đó làviệc sau khi ta nhập vào các con đực cao sản như Yorshire, Landrace ,Duroc đã đem cho lai với con móng cái của ta cho con lai F1 và lợn nái có tỷ

lệ nạc cao, tăng trọng nhanh, đã được đưa vào chăn nuôi thu hiệu quả kinh tếcao Hiện nay, trước cơ chế thị trường việc tiến tới nạc hoá đàn lợn đangđược chú ý, việc lai tạo cho ra con lai 3/4 máu ngoại đang được quan tâmnhiều.Trong mục tiêu chiến lược đến năm 2015 Huyện Cẩm Xuyên cóhướng chuyển đổi đàn lợn như sau:

Đưa quy mô đàn lợn lên 145.000 con, trong đó đàn lợn siêu nạc đạt70% tổng đàn lợn thịt Đàn lợn nái là 30.000 con chủ yếu là nái ngoại và laimáu ngoại để thực hiện nạc hoá đàn lợn Sản lương thịt xô lọc đạt trên67.000 tấn

Tập trung phát triển các cơ sở chăn nuôi lợn quy mô lớn từ 100 con trởlên

Tăng cường hình thức liên doanh liên kết trong chăn nuôi nhằm tranhthủ nguồn vốn , kỹ thuật sản xuất và bảo đảm đầu ra cho sản phẩm

Trang 7

Mở rộng mạng lưới thụ tinh nhân tạo, giải quyết tốt công tác phòng trừdịch bệnh vệ sinh thú y, xây dựng vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh gắn vớiviệc xây dựng các cơ sở giết mổ chế biến theo tiêu chuẩn.

2.1.3.3 Về gia cầm

+ Đàn gà: do nguồn gốc gà ta có nhiều ưu điểm như trứng, thịt thơmngon, khéo nuôi con nhưng tầm vóc nhỏ bé Thì hiện nay, ta đã lai tạo thànhcông một số giống gà như:

- Từ dòng 433 x dòng 488 sau hai thế hệ cho ra con lai 3 máu 791 chấtlượng, hiệu quả cao

- Từ dòng V3 xV5 sau hai thế hệ cho ra con lai 3 máu V1, V3, V5,chất lượng tốt, năng suất hiệu quả kinh tế cao

Trong các năm gần đây huyện đã nhập về một số giống có năng suấtcao gia cầm lai, gà Tam Hoàng, giống gà Lương Phượng Hiện nay, giống gàlai giữa gà địa phương với Tam Hoàng hoặc gà Lương Phượng có mức tăngtrọng nhanh hơn, được người tiêu dùng ưa chuộng đang được nuôi phổ biến

Phấn đấu đến năm 2015 có quy mô đàn gia cầm là: 920.000 con Pháttriển nhanh giống gà địa phương và trang trại nuôi gà theo hình thức côngnghiệp và bán công nghiệp, kết hợp với nuôi gà thả vườn Đồng thời, đẩymạnh giống gia cầm lai như gà 882, gà Lương Phượng, vịt siêu trứng để laivới giống địa phương nhằm tạo ra đối tượng nuôi vừa có năng suất cao,chống chịu tốt, vừa phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng

+ Đàn vịt: Ta mang về một số giống vịt siêu trứng, siêu thịt như vịtBắc Kinh ( Trung Quốc), vịt Anh Đào (Anh) SuPer-maer về để phát triểnđàn và cũng nhằm mục đích lâu dài lai cải tạo đàn vịt bầu, vịt cỏ trong nước

Tóm lại: Chương trình cải tạo đàn giống gia cầm của nước ta nóichung và huyện Cẩm Xuyên nói riêng trong mấy năm qua đã thu được nhiềukết quả tạo niềm tin cho nhân dân nhất là đối với người chăn nuôi Ngoài cácđối tượng nuôi chính, khuyến khích phát triển đàn dê

Qua đây ta thấy tình hình chăn nuôi của huyện Cẩm Xuyên đang từngbước thay đổi đi lên có nhiều chuyển biến tích cực Vì vậy, song song vớiviệc cải tạo đàn gia súc phải bảo tồn vốn gen quý hiếm của Việt Nam là mộtchủ trương đúng đắn của nhà nước nhằm từng bước nâng cao tỷ trọng củangành chăn nuôi, không ngừng hướng tới xuất khẩu để thu ngoại tệ cho đấtnước

Trang 8

2.1.4 Nhận xét chung

Năm 2008 mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng nền kinh tế của huyệnvẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10% tăng hơn so với năm trước.Chất lượng tăng trưởng đã có sự chuyển biến đáng kể, cơ cấu kinh tế chuyểndịch theo hướng tích cực

Các lĩnh vực đã có bước chuyển dịch khá trong cơ cấu kinh tế Giá trịsản xuất nông lâm ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngày càng phát triển vàduy trì ở mức cao Đầu tư cơ sở hạ tầng luôn được chú trọng, thu ngân sáchtrên địa bàn vượt chỉ tiêu đề ra Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, chăm sócsức khỏe nhân dân xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm được quan tâmđúng mức Bên cạnh đó cho ta thấy huyện có tiềm năng lớn về chăn nuôi Sốlượng đàn trâu, bò khá lớn tính thích nghi cao, nguồn sản phẩm phụ nôngnghiệp dồi dào, có nhiều bãi chăn thả lớn Đây chính là những thuận lợi đểphát triển ngành chăn nuôi

Diện tích gieo trồng cây lương thực và hoa màu lớn, tạo nên lượng lớncác sản phẩm phụ và phế phụ phẩm Nếu được chế biến bảo quản tốt thì đây

là nguồn thức ăn dồi dào cho gia súc, gia cầm trong những tháng mưa rét

Bên cạnh đó huyện có nhiều cơ hội, được nhiều dự án hỗ trợ cho pháttriển chăn nuôi, có một thị trường rộng lớn đó là khu vực phụ cận của thànhphố Hà Tĩnh

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu kinh tế xã hội mà đã đạt được.Huyện nhà vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, đó là: quy mô phát triển kinh tếcòn nhỏ lẻ , nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp người dân xử lý chế biến chưakhoa học, chưa đảm bảo với yêu cầu chất lượng thức ăn và để dự trữ lâu dài

Hệ thống dịch vụ chăn nuôi thú y còn hạn chế, chưa đáp ứng với nhucầu của người dân

Hệ thống chuồng trại chưa được đầu tư thích đáng, người dân chưadám mạnh dạn đầu tư lớn cho chăn nuôi theo hướng công nghiệp sản xuấthàng hóa

Trang 9

sung thêm các loại thức ăn tinh bột Với hệ thống chăn nuôi này đem lạinăng suất và lợi nhuận thấp.

Hệ thống chăn nuôi kết hợp với trồng trọt

Hệ thống chăn nuôi này hiện nay đang được áp dụng nhiều ở đây mùa

vụ được bố trí quanh năm, vai trò của kiểu chăn nuôi này là tận dụng các sảnphẩm dư thừa trong ngành trồng trọt nhưng phải đảm bảo không xâm hại đếncây trồng chính và nó có các kiểu mô hình được trình bày sau đây

+ Chăn thả trâu, bò ở những bãi, cánh đồng mới thu hoạch xong, vencác trục đường đi, bờ đê, mương nước, hay các nơi công cộng

+ Chăn dắt ở những nơi đầu bờ ruộng di động trong phạm vi cây trồngnhưng đòi hỏi phải có người canh giữ thường xuyên

+ Nhốt tại chuồng cắt cỏ đem về chăm, bổ sung cho ăn thêm các loạirơm rạ, cây chuối thái nhỏ độn với cám các loại

Hình thức này được áp dụng ở những nơi hạn chế đất canh tác mà sốđầu gia súc nhiều, ý thức đầu tư thâm canh của người dân khá, đặc điểm nàygiúp cho người chăn nuôi luôn quan tâm theo dõi được tình trạng sức khỏecủa con vật, và chăn nuôi theo kiểu này tuy tốn công sức và chi phí đầu vàotương đối cao nhưng mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể và rõ ràng hơn

+ Hệ thống chăn nuôi - Nông - Lâm kết hợp

Là một hình chăn nuôi kết hợp với trồng rừng, trồng cây phân tán,được áp dụng ở những vùng gò, đồi, núi Hệ thống này trâu bò vừa lợi dụngcác loại thức ăn mục dưới tán cây, vừa làm tăng độ phì cho đất như phân,nước tiểu do trâu, bò thải ra giúp cây trồng phát triển Lợi ích của hệ thốngchăn nuôi này được thể hiện ở các khía cạnh dưới đây

- Bớt được công làm cỏ, phát gốc cây

- Gia súc vừa được ăn no vừa tránh nóng vào những ngày nắng nóng

- Mô hình này có thể được xem là mô hình tương đối bền vững, thúcđẩy chăn nuôi phát triển và đồng thời góp phần tăng độ che phủ cho đất

Với mô hình này làm tăng giá trị thu được trên một đơn vị diện tíchnhiều sản phẩm hiệu quả tăng lên rõ rệt

+ Chăn nuôi kết hợp trồng cây chống xói mòn, cây che phủ

Là mô hình vừa trồng cây chống xói mòn đất, cải tạo đất tăng độ phìcho đất, nó có thể trồng trong vườn nhà, ven các lối đi, xung quanh bìa

Trang 10

rừng v.v làm cân bằng môi trường sinh thái, kiểu chăn nuôi này dễ phổbiến vì các cây họ đậu sẵn có ở địa phương, đồng thời là nguồn cung cấpprotein, chất dinh dưỡng, chất khoáng cho vật nuôi, góp phần làm giảmlượng nhu cầu tinh bột trong khẩu phần thức ăn, tăng hiệu quả kinh tế, hạ giáthành sản phẩm.

+ Chăn nuôi kết hợp chăn dắt, bổ sung thức ăn

Các chất dinh dưỡng hằng ngày động vật đưa vào cơ thể từ thức ăntrên đồng cỏ như như protein, tinh bột, khoáng, vitamine không đủ so vớinhu cầu và cần được bổ sung hàng ngày nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi

Mô hình này đã trở thành biện pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất sảnphẩm và phẩm chất của thịt gia súc

Theo Preston và Leng (1986) thì việc bổ sung thức ăn nhằm tạo ra một

hệ thống sinh thái (Ecosystem) hữu hiệu giúp cho sự lên men tiêu hóa chất

xơ trong dạ cỏ, để từ đó các sản phẩm đã được tạo ra từ sự lên men với cácchất dinh dưỡng thoát qua (ByPass) trong khẩu phần để tạo ra sản phẩm cầnthiết

Việc bổ sung thức ăn hằng ngày điều chú ý nhất là thức ăn đa dinhdưỡng Vì trong cơ thể khi được cung cấp đầy đủ thức ăn đa dinh dưỡng thì

nó làm cân bằng hệ sinh thái đường ruột, thúc đẩy mạnh quá trình tiêu hóa,giúp cho con vật ăn được nhiều, tỷ lệ tiêu hóa cao Bên cạnh đó, việc bổ sungcác loại thức ăn thô xanh đã phần nào được chú ý, nhưng biện pháp bổ sungthức ăn thô xơ khô đã được chế biến từ các sản phẩm phụ của ngành trồngtrọt chưa được quan tâm và chú ý đến nhiều còn đang quá lãng phí

2.2.2 Hệ thống chăn nuôi lợn

+ Hệ thống chăn nuôi kiêm dụng

Mục đích của nghề nuôi lợn là sử dụng các sản phẩm dư thừa củatrồng trọt, các phụ phế phẩm của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nhưrau khoai, sắn, bã mắm, bột cá, đầu tôm, cua, bã bia, rượu.v.v và chuyểnchúng thành các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, đồngthời lại cung cấp cho ngành trồng trọt một lượng phân hữu cơ có giá trị chocây trồng phát triển Bên cạnh đó tận dụng một cách tối đa sức lao động dưthừa của ngành nông nghiệp và có thể tận dụng cả sức lao động người già vàtrẻ em Hiện nay nước ta đang có trên 80% là lao động nông nghiệp nên

Trang 11

nghề chăn nuôi lợn vẫn được coi trọng, đó là vì chăn nuôi lợn nâng cao đượcthu nhập cho nông dân và tận dụng được lao động phụ trong nông thôn.

+ Hệ thống chăn nuôi công nghiệp

Là mô hình chăn nuôi có tính khoa học, tập trung tại các trang trại,chăn nuôi có tính chất hàng hóa, để cung cấp thịt cho công nghiệp chế biến,như đồ hộp Với mức độ đầu tư cao, hiệu quả kinh tế rõ nét đối với các hộ cóđiều kiện kinh tế ở nông thôn Đây cũng là mô hình tiếp cận với hội nhập để

có đủ sức cạnh tranh với hàng hóa nông sản từ các nước đến Việt Nam saukhi ta là thành viên chính thức của WTO

2.2.3 Hệ thống chăn nuôi gia cầm

+ Chăn nuôi gà kiêm dụng

Hiện nay hầu hết nông dân đang phát triển mạnh mô hình chăn nuôi gàkiêm dụng này, cơ bản vừa tận dụng các loại sản phẩm rơi vãi của ngànhtrồng trọt, tự tìm kiếm thức ăn xung quanh vườn nhà là chủ yếu, với mục tiêu

để cung cấp một phần thực phẩm hàng ngày cho con người như trứng, thịttăng thêm thu nhập một phần cho người dân Nhưng với mô hình này thườngcho thu nhập thấp, hay bị dịch bệnh xẩy ra nên hiệu quả kinh tế chưa cao

Trang 12

+ Chăn nuôi gà kết hợp giữa nuôi nhốt - thả vườn

Mô hình này gà tự tìm kiếm thức ăn sẵn có trong vườn như giun, dế,kiến, mối, mặt khác lại được con người bổ sung dinh dưỡng, thức ăn hàngngày, hiệu quả kinh tế cao hơn, nhưng tính chuyên dụng vẫn còn thấp Gàthả vườn tuy năng suất không cao bằng gà công nghiệp nhưng đầu tư thấphơn và giá bán lại cao gấp rưỡi đến gấp đôi (đối với gà ri) gà công nghiệp.Lợi thế giá của gà thả vườn là do thị hiếu của người tiêu dùng Việt Nam chorằng gà thả vườn thịt thơm và vị đậm đà hơn gà công nghiệp

+ Nuôi gà chuyên dụng bao gồm

+ Nuôi gà chuyên cho trứng: tập trung theo hướng tăng sản lượng bình

quân trứng/mái/năm, giữ nguyên hoặc giảm đầu gà mái, khai thác trứng đến

75 - 78 tuần tuổi, sản lượng trứng đạt 290 - 315 quả/con/năm

- Loại mô hình này tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, nên chú ý đến việchạn chế , việc phát triển trọng lượng gà

Điều kiện gà mái đạt 50% tỷ lệ đẻ ở tuổi sớm hơn trước là từ 150

-155 ngày tuổi (Loman, Dekalb)

- Chất lượng trứng tốt, tỷ lệ dập vỡ không quá 2%, muốn đạt đượctheo hướng này thì cần chọn lọc, lai tạo để tạo ra giòng tốt

+ Nuôi gà hướng thịt: là mô hình chăn nuôi công nghiệp phát triển

theo xu thế công nghiệp hóa nhằm vào thị trường để phát triển và cung cấpthịt cho tiêu dùng và cho xuất khẩu Việc tạo ra các giống có thể trọng lớn,tốc độ sinh trưởng nhanh, sử dụng thức ăn tốt, có lông màu trắng, rút ngắnthời gian nuôi, chất lượng thức ăn cao, đảm bảo tỷ lệ Protein thô từ 24 -26% Phải tìm cách giảm chi phí thức ăn trên một đơn vị sản phẩm, tìm cácnguồn thức ăn mới, tận dụng tối đa các phế phụ phẩm của công nghiệp chếbiến để phát triển

2.2.4 Hệ thống chăn nuôi vịt

Bên cạnh việc phát triển gia súc, gia cầm thì các mô hình chăn nuôi vịtnói riêng và thủy cầm nói chung đã có nhiều hướng phát triển tốt trên thếgiới và trong nước nó cũng tồn tại và phát triển theo các xu hướng sau

+ Nuôi với hình thức kiêm dụng có tính chất chăn thả tự nhiên trên cáccánh đồng, ao hồ, đập, tự tìm kiếm các loại thức ăn rơi vãi chủ yếu với mụcđích nuôi để cải thiện đời sống, có tính nhỏ lẻ, một hộ nuôi từ 10 - 15 con

Trang 13

nhằm cung cấp một phần thực phẩm hằng ngày cho con người Do vậy tínhchất hàng hóa của kiểu mô hình này thấp, tính chuyên nghiệp chưa cao,không thể trở thành chăn nuôi hàng hóa.

+ Chăn nuôi kết hợp với sản xuất lúa nước đây là mô hình được ápdụng ở các vùng đồng bằng hay còn gọi là mô hình " Vịt - Lúa" Đối với mô

hình này vịt (ngan) có thể tự tìm kiếm thức ăn ở trên các cánh đồng và đồng

thời giúp người dân đỡ được công làm cỏ và hiệu quả cao nhất là vịt (ngan)

là những thiên địch góp phần tiêu diệt các loại côn trùng sâu hại lúa, nhưngnăng suất và hiệu quả kinh tế không cao, nhưng lại giúp việc giảm chi phíđầu vào cho nông dân

+ Chăn nuôi kết hợp chăn thả và bổ sung thức ăn có tính chuyênnghiệp đây là kiểu chăn nuôi kết hợp đã chú trọng đến khâu đầu tư, thâmcanh Ngoài việc vịt (ngan) tự tìm kiếm thức ăn, thì được con người hàngngày cung cấp thêm thức ăn, trong khẩu phần đã chú ý đến dinh dưỡng, giúpcho nó phát triển tốt hơn , đem lại hiệu quả kinh tế và thu nhập cao hơn

+ Ngoài các mô hình chăn nuôi trên ta có thể thấy đã xuất hiện nhiềutrang trại chăn nuôi có tính qui mô được đầu tư xứng đáng chủ yếu là nuôikiểu công nghiệp sản xuất hàng hóa như cung cấp khối lượng thịt, trứng lớncho thị trường trong nước, cho xuất khẩu và công nghiệp chế biến đã đem lạihiệu quả kinh tế cao

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi

2.3.1 Công tác giống

+ Công tác giống trâu, bò

Yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi gia súc trước hết phải kể đến côngtác giống Các con vật có nguồn gốc khác nhau thì năng suất, phẩm chất, khảnăng sinh trưởng,

Khả năng sản xuất thịt, sữa và sinh sản của các giống nhập ngoại vềViệt Nam có xu thế giảm, ngược lại trâu bò Việt Nam lại thích nghi với điềukiện nóng ẩm và môi trường dinh dưỡng hạn chế

* Bò: Chủ yếu là bò vàng hoặc diễn biến của vàng và nó được đặt tên

là bò vàng Việt Nam (Yellow Cattle) có tầm vóc và hình dạng nhỏ bé, trọnglượng từ 180 - 250kg Năng suất thịt sữa đều rất thấp, đó là nhược điểm cầnkhắc phục, nhưng lại có đặc điểm mang tính ưu việt đó là

Trang 14

+ Mắn đẻ, đẻ dày đều 1 năm một lứa.

+ Thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm

+ Có khả năng thích nghi cao, chống chịu bệnh khá, đặc biệt như bệnh

Hiện nay các nước nhiệt đới ẩm trên thế giới đang dùng bò Zebu đểcải tạo đàn giống bò cao sản, chủ yếu là về sức chịu đựng Mặt khác do tínhnăng các giống bò này tốt và hợp với điều kiện ở Việt nam

Ngoài ra hiện nay đã có một số giống đã và đang nuôi tại Việt Namnhư: Holstein nó được nhập vào Việt Nam những năm 1959 qua con đườngTrung Quốc, lúc đầu nuôi ở Ba Vì song do điều kiện thích nghi không tốtđàn bò bị giảm xuống thì năm 1962 được đưa lên nuôi ở Mộc Châu, Sơn Lathì dần dần phát triển trở lại bình thường

Những năm sau này nó được đưa vào Việt nam qua con đường từCuba vào Mộc Châu, Lâm Đồng và hiện nay phát triển khá, sản lượng sữacho từ 4000 - 5000 kg/chu kỳ

+ Công tác giống lợn

Lợn là loại được con người thuần hóa từ rất lâu đời, nó có nguồn gốcchủ yếu là từ lợn rừng châu Âu và châu á (Susscrofa và Susvitatus,Susorientalis.) Lợn Móng Cái hiện là giống nội có tầm ảnh hưởng lớn nhấttrong cả nước và nó đang được làm nền trong công tác lai tạo giống

Lợn Móng cái có nguồn gốc tại huyện Đầm Hà, Hà Cối, Tiên Yên (QuảngNinh)

Ngoại hình có đầu đen, giữa trán có chấm trắng, hình tam giác hoặchình thoi, vai và cổ có vành trắng vắt qua tạo thành hình yên ngựa

Đặc điểm sinh sản, thành thục về tính tương đối sớm, lợn con sơ sinh

có trọng lượng từ 0,5 - 0,6kg/con Tăng trọng trung bình 3 - 10kg/tháng Thịtngon thơm Về ưu điểm có ngoại hình đồng nhất, bụng gọn vú nhiều, phátdục sớm, mắn đẻ, nuôi con khéo, tiết sữa cao Khả năng sử dụng thức ăn thô

Trang 15

xanh cao Ngoài ra còn có các giống lợn khác như Mường Khương, ThuộcNhiêu.

Bên cạnh các giống trong nước thì nước ta đã nhập nội một số giốngnhư Berkshise, Yorkshire, Lan drace v.v để vào nhằm mục đích thuần chủngcải tạo đàn giống trong nước, kết quả thu được đáng khả quan

Ngày nay do nhu cầu của cơ chế thị trường và thị hiếu cả người tiêuthụ do vậy việc đưa và phát triển lợn hướng nạc là vấn đề được quan tâm vàhiệu quả kinh tế của nó trong việc đầu tư của người chăn nuôi đạt kết quảcao

+ Công tác giống gia cầm

Giống gia cầm là một quần thể vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị vềmặt gây giống trong điều kiện nhất định nhưng đòi hỏi phải đảm bảo tính ditruyền Với đặc điểm và điều kiện phát triển của nền khoa học, trước nhu cầuđòi hỏi của con người thì quần thể giống gia cầm tương đối phong phú, dựavào mục tiêu kinh tế mà ta có thể chia gia cầm theo các mục tiêu sau đây:+ Giống kiêm dụng

+ Giống chuyên trứng

+ Giống chuyên thịt

Gà ri địa phương: nó được phân bố rộng rãi trong cả nước, có tầm vóc

nhỏ chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh đẻ sớm mỗi năm đẻ 5 -6 lứa ,

mỗi lứa 12 - 15 quả Trọng lượng con trống trưởng thành đạt 1,5 - 1,8 kg,con mái 1,1,- 1,6 kg thịt thơm ngon

Vịt cỏ là giống vịt sống từng đàn, chịu khó tìm kiếm thức ăn khi chănthả tự do, chi phí thức ăn trên một con vịt tương đối cao, số trứng bình quân /lứa 160 -170 quả thích ứng chăn nuôi quảng canh

2.3.2 Yếu tố ngoại cảnh

Trong ngành chăn nuôi ngoài công tác giống thì vấn đề điều kiện tựnhiên như khí hậu, đồng cỏ, bệnh dịch v.v nó có ảnh hưởng không nhỏ đếnviệc phát triển chăn nuôi vì qua nhiều đề tài nghiên cứu của nhiều nhómkhoa học và nhất là việc đưa bò sữa nuôi ở Việt nam năm 1959 tại Ba Vì đãcho thấy Mặc dầu giống bò sữa Holsteinfriz là giống tốt nhưng khi đến Ba

Vì do điều kiện không thích hợp nên năng suất giảm rõ rệt, sau đó đưa lênMộc Châu nó lại phát triển bình thường

Trang 16

Ví dụ: Điều kiện dịch bệnh nếu xẩy ra sẽ làm cho quá trình phát triểncủa gia súc chậm lại Trong mùa hè khí hậu nóng làm con vật phải tăngcường hô hấp vừa phải tiêu hao nhiều năng lượng, lượng ăn vào giảm lại bịmệt mỏi dẫn đến gầy yếu, trọng lượng cơ thể và các sản phẩm thịt, sữa, sứccày kéo đều giảm.

Các yếu tố hạn hán, giá rét, mùa vụ cũng làm ảnh hưởng đến vật nuôi,thông qua việc đáp ứng đầy đủ, hay thiếu thức ăn, dinh dưỡng cho gia súc ,đặc biệt trâu, bò yếu tố mùa vụ có ảnh hưởng lớn nhất Vì quá trình sinhtrưởng của nó hầu như phụ thuộc cơ bản vào thức ăn thực vật, cây cỏ và cácloại thức ăn thô xanh, khác

Để giải quyết vấn đề trên, đồng thời khắc phục tình trạng thường vẫnxẩy ra là mất cân đối thức ăn giữa các mùa trong năm, cần làm tốt các giảipháp sau đây

Cần có kế hoạch và biện pháp tác động kỹ thuật vào việc sơ chế, chếbiến bảo quản các phụ phế phẩm của ngành trồng trọt như rơm, rạ, lá sắn,đậu đỗ

2.3.3 Điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc

Ngoài các yếu tố trên công tác nuôi dưỡng chăm sóc phải có tính khoahọc, đầu tư chăm sóc hợp lý thì đem lại hiệu quả kinh tế cao và rõ nét hơn

Ví dụ: Giống bò: HereFord lúc 12 tháng tuổi, nếu chăn thả tự nhiên không

bổ sung thêm các thức ăn giàu dinh dưỡng thì trọng lượng chỉ đạt khoảng

120 - 130kg

Ngược lại nuôi theo mô hình công nghiệp thức ăn đảm bảo thì trọnglượng cơ thể đạt từ 230 - 260kg , hoặc như bò vàng Việt Nam nếu có chế độchăm sóc nuôi dưỡng tốt thì 1 tuổi đã phát dục Nhưng nếu chăm sóc kémthì ít nhất phải mất 18 - 24 tháng có khi 36 tháng mới phát dục, các hiệntượng điển hình có thể chứng minh cho việc ảnh hưởng trực tiếp của điềukiện chăm sóc đó là:

Phôi tử và trạng thái ấu tử nó được biểu hiện cụ thể khi phôi tử trongnhững thời gian mang thai được cơ thể mẹ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng,phát triển khá, nhưng khi sinh ra không được chăm sóc, nuôi dưỡng kém thìphát triển kém v.v

Trang 17

Vì vậy nếu chúng ta nắm chắc các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinhtrưởng và phát triển thì có thể chống lại các yếu tố có hại, nhằm tác động tíchcực, các yếu tố có lợi nhằm thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát triển theoyêu cầu mục đích mong muốn của con người.

Động vật là cơ thể hữu cơ do vậy để dần thích nghi với điều kiện sốngmới Nhưng dù sao con người phải thuần dưỡng một cách từ từ nhất là điềukiện khí hậu vì " Nó chỉ dễ thích nghi ở những vùng khí hậu nói chungkhông khác xa bao nhiêu so với khí hậu vùng gốc của nó" (Proncx vàOblanc -1938) hay tiểu vùng khí hậu cải tiến rất nhiều (Seathdm.Miller -1947) Qua một số nghiên cứu cho thấy:

Bò Holstein nếu khi nhiệt độ môi trường ở mức độ 27,3 oC, thân nhiệtbên trong lên đến 39,7 oC, bên cạnh đó bò Jersey có thân nhiệt bên trong chỉ39,3 oC , từ đó ta thấy bò Holstein Hà Lan đã đi tìm chỗ bóng mát để nghỉcòn bò Jersey vẫn đi lại gặm bình thường

Qua nghiên cứu trên nhiều loài động vật thông qua điều traNA.Crapxco (1963) đã chia sự thích nghi ra thành 3 cấp độ khác nhau đó là + Nếu giống thích nghi thì sinh trưởng và phát triển bình thường

+ Nếu giống chưa hoàn toàn thích nghi ngay với điều kiện mới thì saumột vài đời nuôi thuần chủng nó có thể thích nghi bình thường

+ Nếu giống không thích nghi thì sau một vài đời thoái hóa và diệtvong

Trang 18

Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn với sự thích nghi, do đó cầnphải chú ý khi nhập các loại con giống Vì không dễ gì khi nhập một loạigiống vào để sử dụng mà nó thích nghi ngay với điều kiện mới.

Theo Hutte (1958) thông báo bò nhập từ vùng ôn đới vào nhiệt đới,thường hay bị bệnh lao, bò gốc ôn đới khi nhập vào vùng nhiệt đới thì hay bịghẻ lở, các bệnh sinh dục

Để tạo giống thích nghi con người đã biết cách vận dụng bằng cáchdùng chủ yếu là con đực ngoại có năng suất cao cho lai với con cái địaphương, kết quả thu được khá hơn và có hiệu quả tốt hơn

Sau một thời gian dài nghiên cứu, một số nhóm nhà khoa học đã kếtluận: ở môi trường mới thì loại gia súc nhỏ dễ thích nghi hơn gia súc lớn

2.3.5 Thị trường và mức độ tiêu thụ sản phẩm ngành chăn nuôi

Trong tất cả các ngành sản xuất, yếu tố thị trường là động lực thúc đẩy

và quyết định đến thành công hay thất bại trong sự hoạt động của từng ngànhtrong đó với chăn nuôi là khâu rất quan trọng Nếu giá bán của sản phẩmchăn nuôi cao thì sẽ kích thích được người chăn nuôi vừa phát triển đàn vừanâng cao chất lượng và ngược lại

Mức tiêu thụ của người dân cũng là vấn đề ảnh hưởng không nhỏ trongkhâu sản xuất, nếu mức tiêu thụ quá thấp hay sức mua thấp đều gây bất lợicho người sản xuất, chăn nuôi

2.3.6 Các cơ chế chính sách

Cơ chế chính sách là động lực thúc đẩy và quyết định đến việc pháttriển Không những giúp người dân tăng thêm thu nhập mà còn giúp cho nhànước tăng nguồn thu ngoại tệ, giải quyết công ăn việc làm nhất là lao động ởnông thôn do đó Đảng và Nhà nước ta cần có cơ chế chính sách hợp lý hơncần có đầu tư thích đáng đến ngành chăn nuôi thể hiện ở các khía cạnh dướiđây

Trong 20 năm đổi mới vừa qua (1986 - 2005), Đảng và Nhà nước đã cónhiều chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôntheo hướng sản suất hàng hóa gắn với thị trường Những chủ trương chínhsách đó là sự cụ thể hóa quan điểm, đường lối đổi mới theo tinh thần đại hội

VI của Đảng (1986), nhất là nghị quyết 10 của bộ chính trị về đổi mới quản

lý nông nghiệp (5/4/1998 )

Trang 19

Bước vào thập niên 90, đại hội VII của Đảng đã đề ra đường lối vàchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2000 theophương châm tiếp tục kiên trì sự nghiệp đổi mới, trong đó nông nghiệp, kinh

tế nông thôn được xác định là mặt trận hàng đầu Cụ thể hóa đường lối đạihội VII, hội nghị BCHTW lần 5 ( 0/6/1993) đã ra nghị quyết tiếp tục đổi mới

và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với trọng tâm là chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Mục tiêu của NQTW5 là trên cơ sở phát triển nhanh và vững chắc nông,lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn,nâng cao chất lượng sản phẩn và hiệu quả kinh doanh mà thu hút được đại bộphận lao động dư thừa, tăng năng suất lao động xã hội, giải quyết việc làm,tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân Trên cơ sở xúc tiến côngnghiệp hóa (CNH) nói chung, CNH nông nghiệp, nông thôn nói riêng màthực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh,vững chắc, có hiệu quả

Đối với công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, phương hướng chung là tăngnhanh tỷ trọng những ngành này trong cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn,

đa dạng hóa ngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2000đạt cơ cấu 50% nông nghiệp, 25% công nghiệp và 25% dịch vụ

Về chích sách tài chính, NQTW5 chỉ rõ : Nhà nước dành phần đầu tư từngân sách thỏa đáng đồng thời có chính sách và hình thức huy động nguồnđầu tư của các thành phần kinh tế khác cho xây dựng kết cấu hạ tầng nôngthôn như thủy lợi, giao thông, điện, thông tin liên lạc, các cơ sở văn hóa, y

tế, giáo dục Thay thuế nông nghiệp bằng thuế sử dụng đất, dành toàn bộnguồn thu từ thuế sử dụng đất đầu tư trở lại cho nông nghiệp và kết cấu hạtầng nông thôn, giảm giá thủy lợi phí và giá điện nông thôn

Trong tình hình thị trường và giá cả không ổn định, Đảng và Nhà nước

đã có nhiều chủ trương, chính sách kinh tế, tài chính để hỗ trợ sản xuất nôngnghiệp và kinh tế nông thôn phát triển nhanh và vững chắc Chủ trương trợgiá xuất khẩu cà phê, mua lúa tạm trữ 2 triệu tấn trong vụ đông xuân năm

2000 ở đồng băng sông Cửu Long, ổn định giá phân bón là rất đúng đắn vàkịp thờ Đặc biệt, nghi quyết 09/NQ - CP ngày 15 tháng 6 năm 2000 củaChính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Trang 20

đã tạo cơ sở pháp lý để phát triển nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ rõ nét và cụ thể hơn.

Bước sang thế kỷ XXI , Đại hội IX của Đảng - Đại hội của trí tuệ, dânchủ, đoàn kết, đổi mới là mốc son lịch sử đánh dấu thời kỳ phát triển mớicủa Việt Nam với nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNHHĐH vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh Đại hội đã quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hộinước ta trong 10 năm (2001 - 2010), trong đó nông nghiệp, nông thôn được

quan tâm đặc biệt "Đẩy mạnh CNH HĐH nông nghiệp nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng , chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động nông thôn Đưa nhanh tiến bộ

về khoa học và công nghệ vào sản xuất, xây dựng hợp lý cơ sở sản xuất nông nghiệp Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn Giá trị tăng nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,0 - 4,5%”.

Để cụ thể hóa nghị quyết Đại hội IX, NQTW5 (khóa IX) đã ra hai nghịquyết quan trọng về nông nghiệp và nông thôn, đó là : CNH HDH nôngnghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế hợp tác, HTX Về CNH HĐH nông

nghiệp, nông thôn, nghị quyết khẳng định "CNH HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH HĐH đất nước ".

Đường lối đối mới nông nghiệp, nông thôn được Đảng ta đề xướng vàlãnh đạo là đúng đắn, hợp lòng dân Để cụ thể đường lối đó, từ 1986 đến nay

Bộ chính trị, Ban chấp hành TW các khóa đã ra nhiều nghị quyết chuyên đềrất quan trọng làm cơ sở cho việc xây dựng cơ chế, chính sách Nhà nước,Quốc hội, Chính phủ đã ban hành hàng loạt nghị quyết, luật pháp, cơ chế,chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướngCNH, HĐH

Kết quả của những chủ trương, chính sách đó đã được chứng minh quathực trạng phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn 20 năm đổi mới

2.3.7 Những thành tựu trong phát triển nông nghiệp, nông thôn

Thành tựu nổi bật nhất và thắng lợi ngoạn mục nhất của nông nghiệpnước ta là sản xuất lương thực phát triển toàn diện, tăng trưởng nhanh vàvượt xa mục tiêu đề ra

Trang 21

Lương thực hàng hóa tăng nhanh đảm bảo thỏa mãn mọi nhu cầu tiêudùng của dân cư với mức độ tăng dân số trên 1,3 triệu người/năm, bổ sungnguồn thức ăn cho chăn nuôi và đáp ứng đầy đủ nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến với số lượng ngày càng tăng, sản phẩm ngày càng đa dạng.Nhờ vậy mà an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm vững chắc kể cảtrong tình huống phức tạp của thời tiết Nhiều năm qua trên phạm vi cả nướckhông xẩy ra cơn sốt thị trường về giá cả lương thực, kể cả những năm thiêntai lũ lụt lớn, hạn hán Nạn đói giáp hạt cơ bản bị đẩy lùi và không có khảnăng tái diễn trên phạp vi rộng lớn Hiện nay Việt Nam vẫn giữ vững vị tríthứ 2 về xuất khẩu gạo của thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan, thành tựu nàyđược cả thế giới công nhận.

Đa dạng hóa cây trồng, xóa dần thế độc canh lúa Đó là nét mới, nét tiến

bộ khá rõ hiện nay Sự phát triển của các cây cà phê, cao su, chè trong nhữngnăm gần đây đã bước đầu xóa bỏ được tình trạng tự túc lương thực theophương hướng tự cung tự cấp ở các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.Phương thức canh tác " đất nào cây nấy " lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu

đã được thực hiện ở nhiều vùng, nhiều địa phương từ miền núi đến đồngbằng ở những vùng có truyền thống độc canh cây lúa như đồng bằng SôngHồng, đồng bằng Sông Cửu Long cũng đã có chuyển biến tích cực về đadạng hóa cây trồng

Chăn nuôi phát triển nhanh và toàn diện theo hướng hàng hóa Năm

2000, đàn lợn đạt 19,52 triệu con, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 1,4triệu tấn, tăng 67% và gấp 2,3 lần so với năm 1986 Đặc biệt đàn bò sữa tăngkhá, năm 2000 đạt gần 50 ngàn con , trong đó có 11951 con cho sữa, sảnlượng 37 ngàn tấn sữa tươi Nét đổi mới của chăn nuôi bò sữa kỳ này là hìnhthành và phát triển mô hình trang trại, nhập giống bò ngoại có năng suất chosữa cao, mở rộng phạm vi nuôi bò sữa ra nhiêu vùng Cùng với bò sữa nhiềungành chăn nuôi mới tiếp tục phát triển theo hướng hàng hóa như nuôi cừu,nuôi ong mật, nuôi gà công nghiệp, vịt siêu thịt, siêu trứng, ngan giốngngoại, lợn hướng nạc Đã góp phần đa dạng hóa vật nuôi và làm phong phúhơn thực phẩm trên thị trường Chăn nuôi theo mô hình trang trại phát triểnmạnh, đến năm 2000 cả nước có 1634 trang trại chăn nuôi Nhờ ứng dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật mới về giống, thức ăn và thú y nên chăn nuôi gia

Trang 22

súc , gia cầm phát triển khá ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, góp phần tíchcực vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp.

2.4 Xu hướng phát triển chăn nuôi nông hộ nhỏ ở Miền Trung

2.4.1 Vai Trò của chăn nuôi trong việc nâng cao thu nhập cho người dân

Cùng với sự phát triển của sản xuất trồng trọt, những năm qua các cấp,các ngành ở các địa phương đã chú ý đầu tư thích đáng và hợp lý nhằm pháttriển chăn nuôi trên địa bàn nông thôn với những chương trình như lai tạogia súc nhằm nâng cao tầm vóc và năng xuất các giống vật nuôi như sind hóađàn bò, nạc hoá đàn lợn để có sản lượng và chất lượng thịt phù hợp với nhucầu tiêu thụ của thị trường chung

Những năm qua, chăn nuôi là một trong những ngành kinh tế thu hút sựtham gia sản xuất của phần lớn hộ gia đình trong nông thôn Bên cạnh sảnxuất lúa, rau màu các loại, chăn nuôi được xác định là ngành mang lại hiệuquả kinh tế ổn định, góp phần cải thiện thu nhập cho các hộ nông dân Đây làmột ngành kinh tế mà hầu hết người nông dân đều có những kiến thức từthực tiễn sản xuất và có khả năng tài chính đầu tư với những qui mô khácnhau

2.4.2 Thực trạng và những thách đố

Tuy nhiên thực trạng hiện nay, tình hình chăn nuôi của các địa phương

là tự phát, chưa ổn định Chăn nuôi chưa được xác định là một trong nhữngngành kinh tế mũi nhọn và thiếu những đầu tư thích đáng cũng như nhữngchính sách phù hợp để thúc đẩy ngành này phát triển Việc đầu tư có lúcchưa phù hợp với từng vùng sinh thái, nên người nông dân chưa mạnh dạnđầu tư chiều sâu, hơn nữa giá cả còn bấp bênh, dịch bệnh gia súc liên tục xảy

ra làm cho người sản xuất thiếu yên tâm

Thực tế sản xuất ở các địa phương cho thấy vào những năm sản xuấttrồng trọt ổn định, tỷ trọng giá trị chăn nuôi chiếm trong nông nghiệp cònthấp, mối tương quan về tăng trưởng chưa tương xứng Theo số liệu thống kê

ở huyện Triệu Phong Quảng Trị riêng năm 1998 tỷ trọng giá trị chăn nuôiđạt 31,8% trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, cao nhất trong cả thời kỳ

Trang 23

1996 -2000 nhưng không phải do sự phát triển tăng đột biến mà do năm

1998 ngành trồng trọt bị mất mùa nặng do thiên tai

Tốc độ tăng tưởng ngành chăn nuôi ở các địa phương còn thấp, hiệu quảkinh tế mang lại chưa cao Thu nhập bình quân ước tính đầu người/năm từsản xuất chăn nuôi ở các tỉnh miền Trung là: 0,34 triệu đồng, chiếm 13,2 %trong tổng thu nhập của nông hộ

- Cơ cấu đàn chăn nuôi hiện nay chủ yếu là: Trâu, Bò, Lợn, Gà, Vịt đây

là những vật nuôi truyền thống từ lâu, chất lượng đàn thấp: trọng lượng xuấtchuồng bình quân: Trâu 200 kg, Bò 160 kg, lợn: 50 đến 55 kg Mức tăngtrưởng sản lượng thịt hơi xuất chuồng bình quân hiện thời của các huyện làkhoảng 200 tấn, mức này còn thấp Sản phẩm chăn nuôi chưa đa dạng và chủyếu là thịt và trứng

Hệ thống sản suất nông nghiệp của các làng xã là trồng trọt và chănnuôi kết hợp để phục vụ cho nhu cầu lương thực thực phẩm của con người vàphần dư thừa được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi Các sản phẩm heo,trâu, bò và gia cầm và một phần dư của sản phẩm trồng trọt như lạc và đậu

đỗ được bán để phục vụ cho các nhu cầu khác của gia đình nông dân Hệthống sản xuất trên đã bộc lộ những điểm yếu chính sau:

- Tính chuyên nghiệp trong sản xuất thấp nên hàng hóa chưa đủ tiêuchuẩn để xuất khẩu

- Tạo ra tình trạng “cung lớn hơn cầu” và giá mua sản phẩm hạ làmcho thu nhập của nông dân bị thấp đi

Hơn thế nữa, nông dân Miền Trung lại bị bão lụt đe dọa thường xuyêngây ra những hậu quả xấu cho sản xuất chăn nuôi như số đầu gia súc giảm,dịch bệnh gia tăng đã gây ra tâm lý thiếu tự tin khi đầu tư cho chăn nuôi

Hệ thống chăn nuôi hiện hành là chăn nuôi hỗn hợp nhiều loại gia súctrong một hộ gia đình với nhiều mục đích khác nhau như lấy thịt, sức kéo vàlấy phân Đa số các hộ nông dân muốn mở rộng chăn nuôi kết hợp với pháttriển trồng trọt để nâng cao thu nhập

Nguồn lực đầu tư chưa cao, phân vùng sản xuất chưa hợp lý, nhiều nơi

có ảnh hưởng xấu của lũ lụt, hạn hán Tiềm năng chưa được khai thác đúng

Trang 24

mức còn lãng phí, đặc biệt là trong các sản phẩm phụ sản xuất từ các ngànhtrồng trọt và thuỷ sản.

2.4.3 Các vật nuôi chính ở nông hộ

+ Nuôi trâu ở nông hộ

Nuôi trâu có xu hướng giảm dần và nguyên nhân chính là do từ năm

1995 trở về trước việc chăn nuôi trâu chủ yếu dùng làm sức kéo Nhưng thờigian gần đây, với hai mục đích chính mà người nông dân địa phương đangkhai thác là lấy sức kéo và lấy thịt, nhưng với sự cơ giới hoá trong nôngnghiệp hiện nay đã từng bước giải phóng sức lao động của con người cũngnhư sức kéo của trâu bò, các hộ nông dân ngày càng chuyển đàn của mình từgiống đực sang giống cái sinh sản và do vậy rất ít trâu đực được nuôi, trâuđực và cái gặp nhau trên bãi chăn thả hạn chế dẫn đến sinh sản của đàn trâurất thấp

Hơn nữa đồng cỏ dùng cho việc chăn thả ở vùng đồng bằng bị thu hẹp

do quá trình khai hoang phục hóa đất đai, việc chăn nuôi trâu ở vùng đồngbằng xét thấy không hiệu quả Do đó đàn trâu ở vùng đồng bằng bị giảmnhưng các xã vùng gò đồi đã duy trì và phát triển nghề nuôi trâu truyềnthống Theo số liệu thống kê của tỉnh Quảng Trị thì năm 1994, tổng đàn trâu

ở vùng gò đồi gần 800 con, nhưng qua các năm 1996-1998 đã tăng lên xấp xỉ

1200 con Thực tế này cho thấy các xã gò đồi có tiềm năng để phát triển đàntrâu

Tuy nhiên hiện nay, giống trâu địa phương có tầm vóc nhỏ, lại bố trívùng chăn nuôi chưa hợp lý nên thể trọng không tăng và có xu hướng giảm,

tỷ lệ đực mất cân đối nên thời gian sinh trưởng kéo dài, hầu hết trâu đượcnuôi rải rác với qui mô đàn nhỏ, không có khả năng gia tăng tổng đàn

Từ năm 1995 đến năm 1998, đàn trâu có xu hướng giảm nhưng từ năm 1999đến nay trâu có xu hướng tăng trưởng trở lại do nhu cầu phát triển thực phẩmhàng hóa Đây là một xu hướng tất yếu, tuy nhiên việc phát triển đàn trâucòn tùy thuộc vào thái độ của những nhà hoạch định chính sách và sự hỗ trợdân cho duy trì và phát triển đàn trâu của các địa phương

+ Nuôi bò ở nông hộ

Trang 25

Tổng đàn bò ở các địa phương có xu thế tăng nhanh trong những nămvừa qua Tuy vậy có thể nói tốc độ tăng này chưa tương xứng với tiềm năngcủa một địa bàn có nhiều đồng cỏ tự nhiên ở vùng gò đồi.

Lai bò Sind là cách để nâng cao trọng lượng nhưng nhiều chương trình

bò lai bị thất bại vì lý do sinh sản thấp (kĩ thuật thụ tinh nhân tạo bằng tinhđông viên) Bãi chăn tự nhiên là khẩu phần chính của trâu bò và thườngxuyên bị ăn trụi nhất là vào mùa khô Mùa này được gọi là giai đoạn khanhiếm thức ăn xanh

Còn có những hạn chế khác đến năng suất chăn nuôi trâu bò đó là theocách chăn nuôi truyền thống trâu bò nhốt tại chuồng vào ban đêm nhưngkhông được ăn thêm Hạn chế này đã làm giảm thời gian ăn, hơn thế nữa do

sự khan hiếm thức ăn và thức ăn cỏ, lá kém dinh dưỡng đã gây cho gia súcnhững Stress dinh dưỡng Vì vậy có thể nhận định rằng năng xuất chăn nuôitrâu bò thấp là do mất cân bằng về dinh dưỡng hơn là giống trâu bò nội chưatốt

Theo số liệu thống kê ở Triệu Phong, Quảng trị là một ví dụ trongnhững năm trở lại đây, việc chăn nuôi bò trên địa bàn có xu hướng chững lại,nhất là ở vùng gò đồi Nguyên nhân chính ở đây là do tập quán chăn thả tựnhiên thiếu sự kiểm tra, quản lý, hơn nữa chất lượng đàn bò ở trên địa bàncòn thấp, giống đàn chủ yếu hiện nay là Bò vàng Việt Nam, thể trạng thấp,

có khả năng chịu nóng tốt nhưng thể trọng bé (trọng lượng khoảng 160 kg vàchiều cao 100 cm) Để thúc đẩy chăn nuôi bò phát triển thì chương trình Laisind đàn bò bước đâu có hiệu quả vì với 50 % máu ngoại, đã dần dần cải tạotầm vóc đàn bò điạ phương vốn nhỏ bé

Tuy nhiên, với sự qui hoạch phát triển lâm nghiệp và sự hình thành các

mô hình nông - lâm kết hợt qui mô đàn có xu hướng gia tăng trong nhữngnăm đến Các hộ gia đình đã tiến hành thanh lý đàn bò cóc để thay thế dầnđàn bò có chất lượng cao hơn Trong những năm qua được sự hỗ trợ của cácngành các cấp về kỹ thuật cũng như về vốn trong việc lai tạo đàn bò giốngđịa phương với giống bò ngoại xu thế nuôi bò lai đang phát triển mạnh trongnông thôn

Người ta đã khuyến cáo rằng cải thiện giống bò vàng địa phương bằngviệc sử dụng tinh bò Sind chỉ nên thực hiện khi mà đã có đủ thức ăn trên

Trang 26

đồng cỏ cũng như thức ăn bổ sung từ các nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp.Cải tạo giống bò địa phương bằng lai tạo với giống ngoại không nên thựchiện cho tới khi nào kế hoạch trồng cỏ chưa hoàn tất và việc bảo vệ sức khỏeđàn gia súc chưa được ứng dụng thành công.

Đồng cỏ tự nhiên hiện nay ở các địa phương còn nghèo cả về số lượng

và chất lượng và chỉ có các loại cỏ tự nhiên và cây họ đậu mọc hoang vớitốc độ sinh trưởng chậm và không được bón phân Có nhiều người cho rằngcách tốt nhất để cải tạo loại đất này là trồng những cây họ đậu bao gồm cảloại cỏ họ đậu và cây bụi họ đậu Cây họ đậu không chỉ có tác dụng cải tạođất mà còn là nguồn thức ăn bổ sung có giá trị cho gia súc nhai lại

+ Nuôi lợn ở các nông hộ

Nuôi lợn là nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ gia đình Tuổixuất chuồng của lợn là 7-8 tháng với trọng lượng khoảng 70 kg, điều đó chothấy năng suất chăn nuôi lợn còn thấp Nguyên nhân chính là do khẩu phần

ăn chính cho lợn là gạo, cám, sắn, khoai lang những thức ăn này có nguồngốc là tinh bột và giàu năng lượng nhưng lại nghèo chất đạm (sắn bột chỉ có2-3% chất đạm so với 13% - 18 % CP nhu cầu chất đạm cho heo) Trongđiều kiện như vậy gia súc ăn quá nhiều tinh bột dẫn đến tích lũy nhiều mỡnhưng tỷ lệ nạc lại thấp

Đàn lợn được người nông dân sản xuất với nhiều mục đích đó là:

* Nuôi lợn lấy thịt, với giống nuôi hiện nay là F1 (Móng Cái X ĐạiBạch), qui mô đàn còn thấp, trọng lượng xuất chuồng chưa cao

* Nuôi lợn kết hợp khai thác phân chuồng phục vụ cho trồng trọt đểgiảm chi phí mua phân hóa học và lại có tác dụng giữ cho độ màu mỡ củađất được bền vững

Việc chăn nuôi lợn trên địa bàn nông thôn trong những năm qua đượckhuyến khích phát triển để giải quyết thời gian nhàn rỗi trong nông nghiệp,đồng thời tận dụng nguồn thức ăn tại chỗ

Việc cải tạo đàn lợn theo hướng nạc hóa ngày càng được đẩy mạnh và

đã được các địa phương nuôi thử nghiệm đối với các nông hộ khá Một sốđịa phương đã mạnh dạn đầu tư nuôi và từng bước chuyển sang mô hình

Trang 27

thâm canh lợn nạc 3/4 máu ngoại Tuy nhiên mô hình này chỉ thích hợp vớinhững hộ có vốn lớn và sẵn sàng đầu tư lớn.

Mức độ thâm canh chăn nuôi đàn lợn chưa cao là tín hiệu mừng cho xuthế hội nhập hiện nay và đang được các cấp lãnh đạo quan tâm để thực sựđưa chăn nuôi lợn vào sản xuất hàng hóa

Chuồng heo của các hộ nông dân nghèo thường làm bằng các nguyênliệu rẻ tiền và đặt ngay cạnh nhà ở Hơn nữa hiện đang có xu thế phát triểnchăn nuôi ở các nông hộ nhỏ này để nâng cao thu nhập của nông dân Chúng

ta không thể không nhìn nhận thấy một thực tế là chuồng trại tồi không hợpquy cách sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường Hậu quả là nó sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe của vật nuôi và con người Câu hỏi đặt ra tronghoàn cảnh này là: liệu tăng thu nhập cho người dân bằng phát triển chăn nuôi

có bù đắp được những thiệt hại vô hình đó là sức khỏe của người dân?

Do vậy, chúng tôi khuyến cáo rằng để tiến hành phát triển nông thôn trongkhu vực cần có sự trợ giúp tài chính cho những người nghèo không có khảnăng kinh tế để dời chuồng gia súc ra xa khu vực nhà ở Đây là một vấn đềcần có giải pháp hữu hiệu tháo gỡ để tránh sự ô nhiễm môi trường do pháttriển chăn nuôi mà thiếu giải pháp xử lý phân và nước tiểu

+ Chăn nuôi gia cầm ở nông hộ

Đối với những vùng trọng điểm lúa rất có điều kiện để phát triển chănnuôi gia cầm Trong những năm qua gia cầm tiếp tục phát triển, các tiến bộ

kỹ thuật chăn nuôi gà Tam hoàng và vịt siêu trứng đã và đang khẳng định ưuthế và nhân rộng Nhìn chung nuôi gà bán công nghiệp với nguồn thức ănsẵn có từ các sản phẩm của trồng trọt đã cho thấy gà sinh trưởng tốt, tăngtrọng nhanh, thích nghi với điều kiện tự nhiên, có xu hướng phát triển và tạo

ra cơ hội để nâng cao thu nhập cho nông dân

+ Công tác thú y ở nông thôn

Những bệnh thường gặp ở vật nuôi trong những vùng nông thôn miềnTrung gồm có các bệnh chính dưới đây:

Bệnh ở trâu bò

Hiện có các loại như: dịch tả trâu, bò(bện do vi rút), tụ huyết trùng trâu

bò (bệnh do vi trùng), bệnh kí sinh trùng đường máu, bệnh ngoại kí sinhtrùng và nội kí sinh trùng

Ngày đăng: 09/04/2015, 17:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.3: Tình hình cân đối ngân sách - Luận Văn Động thái phát triển nông nghiệp và một số đề xuất phát triển chăn nuôi ở huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
Bảng 4.3 Tình hình cân đối ngân sách (Trang 38)
Bảng 4.1: Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp - Luận Văn Động thái phát triển nông nghiệp và một số đề xuất phát triển chăn nuôi ở huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
Bảng 4.1 Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp (Trang 41)
Bảng 6.1: Sản lượng thịt và trứng của ngành chăn nuôi trong 5 năm từ  2003-2007 - Luận Văn Động thái phát triển nông nghiệp và một số đề xuất phát triển chăn nuôi ở huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
Bảng 6.1 Sản lượng thịt và trứng của ngành chăn nuôi trong 5 năm từ 2003-2007 (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w