1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên Đề đánh giá sự thay đổi hệ thống canh tác ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ ở đồng bằng sông hồng

26 468 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 273,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng hạnchế của ĐBSH là: bình quân ruộng đất trên đầu người thấp nhất cả nước540m2/người, quỹ đất nông nghiệp tiếp tục giảm nhanh ,môi trường bị ônhiễm do thâm canh, phát triển công ngh

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ.

Đồng bằng sông Hồng là một trong hai đồng bằng lớn nhất nước Đây

là vùng sản xuất nông nghiệp truyền thống, có tiềm năng lớn với hơn 1,5 triệu

ha đất canh tác (bằng 20% đất canh tác cả nước), sản lượng lương thực 7 triệutấn, dân số 17 triệu người (22%), mức bình quân ruộng đất đầu người bằng 40%

cả nước; cơ cấu kinh tế nông nghiệp có tỷ lệ: trồng trọt 72% (cây lương thực80%) chăn nuôi 25%, dịch vụ 3%

Các lợi thế so sánh của đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là: có khí hậu mùađông lạnh, đất tốt (80% diện tích là đất phù sa), là vùng có hệ thống thuỷ lợi tốtnhất nước (tưới tiêu chủ động 80% diện tích, trong đó có 60% diện tích có nướctưới phù sa) ĐBSH là một tam giác tăng trưởng với tốc độ đô thị hóa nhanh, cóđiều kiện tốt thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.Trong thời kỳ đổi mới hiện nay ĐBSH nằm trong vùng trọng điểm phát triểnkinh tế xã hội ở phía Bắc Điều kiện trên là cơ sở cho vùng phát triển một nềnnông nghiệp, thuỷ sản hàng hóa đa dạng, năng suất, chất lượng cao Nhưng hạnchế của ĐBSH là: bình quân ruộng đất trên đầu người thấp nhất cả nước(540m2/người), quỹ đất nông nghiệp tiếp tục giảm nhanh ,môi trường bị ônhiễm (do thâm canh, phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa…), thunhập bình quân của hộ nông dân thấp nên khả năng đầu tư hạn chế, hệ thốngcanh tác truyền thống là thuần nông, tâm lý bao cấp nặng nề… Khó khăn lớnnhất của ĐBSH là hàng nông sản xuất khẩu ít, không ổn định Sản phẩm hànghóa của vùng chủ yếu là gạo, thịt lợn, rau, hoa, quả, cây cảnh, thủy sản Trừthuỷ sản là có khả năng xuất khẩu khá, các mặt hàng khác còn lại đều có sứccạnh tranh kém trên thị trường trong nước và xuất khẩu

Điểm xuất phát trong năm 2002 của vùng ĐBSH là: Mức thu nhập bìnhquân nông dân khoảng 5 triệu đồng/năm, tổng thu nhập trên 1 ha đất canh táckhoảng 28 - 30 triệu đồng/ha/năm (trong đó TP Hà Nội 37 triệu, Hà Tây 30triệu, Thái Bình 32 triệu, Nam Định 36 triệu, Hải Phòng, 38 triệu, Hưng Yên 34triệu, Hải Dương, 31 triệu, trong khi trung bình cả nước là 17 triệu đồng)

Hiện nay ở ĐBSH hàng lọat các chính sách thay đổi hệ thống canh tácnhằm thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển, tạo nhu cầu cho phát triển cácngành công nghiệp khác; tạo điều kiện thúc đẩy đưa khoa học – công nghệ mớivào sản xuất, chế biến và tiêu thụ; thu hút chất xám về nông thôn nhằm “xâydựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, cónăng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao” như tinh thần Nghị quyết Hội nghịTrung ương 5 (khóa IX) về “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn”, cũng là bước cụ thể hóa yêu cầu của Đại hội IX của Đảngtrong việc “đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vịdiện tích”

Trang 2

Nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu gia tănghiệu quả sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và củakhu vực nông nghiệp nói riêng ngày càng được đặt ra Mục tiêu là tăng doanhthu sản xuất hàng năm của một hộ, tạo ra khả năng mới trong cạnh tranh chosản phẩm nông nghiệp Việt Nam, nâng cao thu nhập và khả năng đầu tư chomỗi hộ nông dân Bên cạnh việc nâng cao doanh thu phải chú ý nâng cao chấtlượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm gắn liền với quá trình chuyển đổi

cơ cấu cây trồng vật nuôi

Xuất phát từ những yêu cầu xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp

và nông thôn ở đồng bằng sông Hồng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở các vùng đất đai cụ thể Cùng ngành nông nghiệp chọn lựa được những môhình canh tác và luân canh có hiệu quả kinh tế cao (năng suất, chất lượng cao và

ổn định) trong điều kiện khí hậu và đất đai từng vùng ở đồng bằng sông Hồnggóp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống xã hội Với tất cả những lý do

trên, chúng tôi đã có sự thống nhất về chuyên đề “ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI

HỆ THỐNG CANH TÁC ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG”

Trang 3

PHẦN II: MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ

2.1 Mục đích chung

Giới thiệu khái quát về ĐBSH, đánh giá hiện trạng các hệ thống sản xuấtnông nghiệp, tình hình thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nôngdân trong các vùng khác nhau

Xác định các yếu tố gây ra sự biến động về thu nhập của hộ nông dân vàcác vấn đề hiện nay mà hộ nông dân gặp phải khi muốn tăng thu nhập

Đưa ra các giải pháp điều chỉnh hệ thống canh tác góp phần nâng cao thunhập cho người dân

2.2 Mục đích cụ thể

Hệ thống hoá được thông tin về các hệ thống sản xuất nông nghiệp và tìnhhình thu nhập của hộ nông dân trong các vùng khác nhau của đồng bằng sôngHồng

Giới thiệu về vùng đánh giá

Đánh giá tình hình phát triển hệ thống canh tác tại vùng

Xác định các yếu tố nâng cao thu nhập cho người dân gắn liền với pháttriển bền vững

Đề xuất những kiến nghị các chính sách hỗ trợ phát triển, cải thiện cơ sở hạtầng, chuyển dịch cơ cấu và chuyển giao khoa học công nghệ tạo điều kiệnthuận lợi cho người dân phát triển

Trang 4

PHẦN III: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

Vùng đất có điều kiện thích hợp cho phát triển nông nghiệp Nó đượcnhiều nhà sử học coi là nơi hình thành và phát triển của dân tộc Việt, một nôivăn hóa quan trọng của người Việt

-Vùng đồng bằng sông Hồng nằm ngay cạnh phía Nam của đường bắc chítuyến, giữa vĩ độ 22°00' và 21°30' Bắc và kinh độ 105°30' và 107°00' Đông Nó

có hình dáng điển hình của một vùng châu thổ, với đáy là đường bờ biển kéodài 130 km từ trung tâm mỏ than và cảng Thành phố Hạ Long ở phía Bắc, đếnđiểm cực Nam của tỉnh Ninh Bình ở phía Nam

Khu trung tâm của vùng ĐBSH rất bằng phẳng, phần lớn nằm ở độ cao từ0,4 m đến 12 m so với mực nước biển, với 56% có độ cao thấp hơn 2 m Tuynhiên cũng có những khu vực đất cao, dưới dạng cacxtơ đá vôi hình thành cácđồi riêng biệt giống như các đỉnh núi nhọn và những dãy đồi núi dọc theo haicánh tây-nam và đông-bắc của vùng

Phần lớn vùng đất của đồng bằng sông Hồng được 2 loại đê bảo vệ: 3000

km đê ngăn lũ của hệ thống sông và 1500 km đê biển ngăn sóng lớn của cáccơn bão ở vịnh Bắc Bộ

3.1.1 Điều kiện tự nhiên đồng bằng sông Hồng

• Nhiệt độ trung bình năm : 26oC

• Mưa trung bình năm : 1600mm + Nứơc :

• Mật độ sông trung bình 0,5 - 1km/km2,

• Lượng nước dồi dào : 122 x 109m3/năm

• Nước mang nặng phù sa là nguồn phân bón : 131g/m3

Trang 5

• Than nâu chôn vùi dưới đồng bằng Hưng Yên, Thái Bình.

• Nước ngầm rất phong phú Sông Hồng có dải chảy ngầm chiếm 37%tổng lượng dòng chảy

3.1.2 Dân số, cơ sở hạ tầng.

3.1.2.1 Dân số

+ Mật độ dân cư ở đồng bằng châu thổ sông Hồng cao nhất Việt Nam(1.225 người/km²)(2006) Tổng dân số của vùng là 17.649.700 người (2003)trong đó gần 50% số dân đang ở trong độ tuổi lao động

+ Dân đồng bằng có nhiều kinh nghiệm trồng lúa, đánh bắt nuôi trồng hảisản và nhiều nghề thủ công truyền thống

Đồng bằng sông Hồng đã được khai thác từ lâu đời và có các điều kiện tựnhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con người

Nền kinh tế ở đồng bằng sông Hồng tuy tương đối phát triển, nhưng đangphải chịu áp lực rất lớn của dân số

Dân số đông và sự gia tăng dân số đã để lại những dấu ấn đậm nét vềkinh tế - xã hội Hàng loạt vấn đề xã hội như việc làm, nhà ở, y tế, văn hoá, giáodục vẫn còn là bức xúc

Ngoài vấn đề chuyển cư, giải pháp hàng đầu ở đồng bằng sông Hồng làviệc triển khai có hiệu quả công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm

tỉ lệ sinh Đồng thời, trên cơ sở lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lí, từng bước giảiquyết việc làm tại chỗ cho lực lượng lao động thường xuyên tăng lên, tiến tớinâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong vùng

Trang 6

Tên Cấp đơn vị hành chính Diện tích (km²) Dân số (người)

du lịch, dịch vụ đi đôi với tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng có năm vùng chuyển tiếp thuộc địagiới hành chính của 5 huyện

+ Vùng chuyển tiếp huyện Thái Thuỵ : 10.579 ha + Vùng chuyển tiếp huyện Tiền Hải :13.000 ha+ Vùng chuyển tiếp huyện Giao Thuỷ : 11.183 ha+ Vùng chuyển tiếp huyện Nghĩa Hưng : 9.745 ha+ Vùng chuyển tiếp huyện Kim Sơn :10.034 ha

3.1.4.2 Vùng đệm

Vùng đệm có diện tích 36.849 ha, là vùng tiếp giáp với vùng lõi, có thểtiến hành các hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng khôngảnh hưởng đến mục đích bảo tồn trong vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển châuthổ sông Hồng có năm vùng đệm thuộc địa giới hành chính của 5 huyện: TháiThuỵ và Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình; Giao Thuỷ và Nghĩa Hưng thuộc tỉnhNam Định; Kim Sơn thuộc tỉnh Ninh Bình

+ Vùng đệm huyện Thái Thuỵ : 8.463 ha+ Vùng đệm huyện Tiền Hải : 9.050 ha+ Vùng đệm huyện Giao Thuỷ :8.250 ha + Vùng đệm huyện Nghĩa Hưng : 6.232 ha+ Vùng đệm huyện Kim Sơn : 4.854 ha

Trang 7

3.1.4.3 Vùng lõi

+ Vùng lõi có diện tích (14.167 ha) Mục tiêu quản lý vùng lõi là bảotồn đa dạng sinh học, hạn chế các hoạt động của con người Khu dự trữ sinhquyển châu thổ sông Hồng có hai vùng lõi

+ Vùng lõi 1: 4.100 ha (Nội địa: 3.100 ha; biển 1.000 ha) thuộcVườn Quốc gia Xuân Thuỷ

+ Vùng lõi 2: 4.000 ha (Nội địa: 3.000 ha; biển 1.000 ha) thuộc KhuBảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải

Việc bảo tồn đa dạng sinh học vùng lõi gắn liền với việc bảo tồn rừngngập mặn và những bãi bồi ven biển, cửa sông Không giống như các khu bảotồn trong nội địa, vùng lõi trong khu dự trữ sinh quyển này vẫn thường xuyênchịu sức ép của việc khai thác và đánh bắt thuỷ sản quá mức Có thể nói rất khóphân chia diện tích vùng lõi hay vùng đệm, bởi vì việc đánh bắt thuỷ sản ở vùngđệm sẽ trực tiếp làm suy giảm đa dạng sinh học vùng lõi Các bãi bồi nuôi vạnghay các loài thuỷ sản khác không chỉ làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan mà còn làmđảo lộn các chuỗi và lưới thức ăn trong tự nhiên

3.1.5 Sinh cảnh

Đây là khu vực liên tỉnh vùng Nam đồng bằng sông Hồng bao gồm cảkhu vực bãi ngang Kim Sơn, cửa sông Đáy, sông Càn, VQG Giao Thủy, khubảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải, và các vùng phụ cận, Khu RamsarXuân Thuỷ

Khu vực có khoảng 200 loài chim, trong đó có gần 60 loài chim di cư,hơn 50 loài chim nước Nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giớinhư: cò thìa, mòng bể, rẽ mỏ thìa, cò trắng bắc, Sinh cảnh đặc sắc nơi đây lànhững cánh rừng ngập mặn rộng hàng ngàn ha, đầm lầy mặn, bãi bồi ven biển

và cửa sông Những cánh rừng này được ví như bức tường xanh bảo vệ đê biển,làng xóm khỏi bị tàn phá bởi gió bão, nước biển dâng, và cả thảm hoạ sóng thầnnếu xảy ra

Rừng ngập mặn là nơi nuôi dưỡng sinh đẻ của các loài hải sản Như mộtvườn ươm cho sự sống của biển, rừng ngập mặn cung cấp nguồn lợi thuỷ sảnphong phú cùng với 500 loài động thực vật thuỷ sinh và cỏ biển cung cấp nhiềuloài thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, cá biển, vạng, trai, sò, cátráp, rong câu chỉ vàng v.v

Miêu tả các vùng

Tổng DĐĐT canh tác (ha)

DĐĐT đất lúa (ha)

Diện tích cây lâu năm (ha)

Mật độ dân số (người/

Km 2 )

Tỷ lệ số

hộ %

Tỷ lệ diện tích

% Các huyên trung du và

ven đồng bằng 238706 238706 8543 1486 37 37

Các huyện vùng trũng

Nam Hà cũ: Thuần lúa 97493 97493 2906 762 12 15

Trang 8

Các huyện ven đô thị

lớn Hà Nội, Hải Phòng 75583 75583 496 1324 15 12

Các huyện thâm canh

cây vụ đông, cây hàng

Vùng duyên hải ven

đồng bằng 125580 125580 1550 1079 19 20

Bảng 2: Cơ cấu đất nông nghiệp các vùng ĐBSH.

3.2 Giới thiệu ngành trồng trọt, thuỷ sản, chăn nuôi ĐBSH

Xét nguồn lực phát triển, đồng bằng sông Hồng có thế mạnh sản xuấtlương thực và thực phẩm

3.2.1 Ngành trồng cây lương thực: Luôn chiếm vị trí hàng đầu :

+ Diện tích trồng cây lương thực 1,2 - 1,3 triệu ha, chiếm 18,2% diệntích cây lương thực cả nước

+ Sản lượng cây lương thực đạt 6,1 triệu tấn, chiếm gần 18% sản lượnglương thực toàn quốc (1999)

+ Trong các cây lương thực, lúa chiếm địa vị hàng đầu : đất trồng lúachiếm 88% diện tích cây lương thực, chiếm gần 14% diện tích trồng lúa cảnước (1999)

+ Trọng điểm trồng lúa : Thái Bình, Nam Định, Hà Tây, Hải Dương.Năng suất bình quân 51,3 tạ/ha, nhiều huyện đạt 8 - 10 tấn/ha/

+ Sản phẩm thực phẩm cũng là một trong những thế mạnh của đồngbằng

+ Rau quả chiếm vị trí quan trọng : diện tích gieo trồng 7 vạn ha, chiếm27,8% diện tích rau quả cả nước

3.2.2 Chăn nuôi, thủy sản:

+ Chăn nuôi chiếm vị trí thứ hai ở Bắc Bộ, sau trung du miền núi Bắc Bộ

với 4,3 triệu con lợn, chiếm 22,5% đàn lợn toàn quốc ; 323.000 con bò, bằng42,5% bò miền núi và trung du Bắc Bộ, 181.00 con trâu, bằng 11% đàn trâumiền núi trung du Bắc Bộ

+ Vùng biển đồng bằng sông Hồng thuộc vùng Vịnh Bắc Bộ có nhiều bãitôm cá lớn, diện tích hơn 136.000 km2 với trữ lượng cá 800.000 tấn, khả năngkhai thác 300.000 tấn

Hiện nay toàn vùng có 5,8 vạn ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản,chiếm 10,9% diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của cả nước Trong đồngbằng còn 1 vạn ha mặt nước có thể nuôi trồng thủy sản nước ngọt và nước lợ

3.3 Hệ thống canh tác vùng Đồng Bằng Sông Hồng.

3.3.1 Tình hình phát triển của hệ thống:

Trang 9

Trong những năm qua Đồng Bằng Sông Hồng đã phát triển công nghiệphóa hiện đại hóa trong nông nghiệp nông thôn Đa dạng hoá cây trồng sẽ giúptối đa hoá hiệu quả sử dụng đất đai, tăng năng suất lao động và thu nhập của các

hộ nông dân

Do là vùng đồng bằng lớn thứ 2 cả nước, đất đai rất giàu dinh dưỡng, nênvùng đã đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa trong nông nghiệp theo hướng pháttriển các cây trồng giá trị cao nhắm xuất khẩu như: lúa gạo, rau sạch, ngô bao

tử, cà chua…

Thực hiện dồn điền đổi thửa, giao đất cho người dân, khuyến khích khuvực kinh tế hộ cải cách phương thức sản xuất, tiếp thị và đẩy mạnh phát triểncông nghiệp chế biến nông sản

Tại một số tỉnh, hệ thống canh tác điển hình là lúa nước, cây trồng xen canh(các cơ cấu luân canh như đậu nành, ngô-đậu xanh, v.v.) và các loại cây ăn quảnhư vải, nhãn, , v.v

Bên cạnh đó, thực hiện rất nhiều mô hình nuôi trồng, đánh bắt thủy sản tạicác phần diện tích mặt nước

Khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển nôngnghiệp, cải thiện sử dụng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cao hiệuquả của hệ thống hành chính về phát triển nông nghiệp Đa dạng hoá cây trồng

sẽ giúp tối đa hoá hiệu quả sử dụng đất đai, tăng năng suất lao động và thu nhậpcủa các hộ nông dân Vùng thực hiện các chính sách thúc đẩy sản xuất trongnước để thay thế nhập khẩu, tạo công ăn việc làm ở nông thôn để thu hút nhữngngười lao động bị thất nghiệp và chuẩn bị đối phó với sự thay đổi khí hậu toàncầu

Trong nông nghiệp, hệ hống cơ sở hạ tầng nông thôn: hệ thống tưới tiêu,đường giao thông liên vùng, hệ thống điện, hệ thống truyền thông được xâydựng hàng năm tạo điều kiện cho người dân phát triển sản xuất

Để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp cũng như hiệu quả sử dụng đất,mới đây Bộ NN-PTNT đã tổ chức hội nghị cơ cấu mùa vụ và cơ cấu giống lúavùng ĐBSH Hướng sản xuất chính là vụ xuân muộn và mùa sớm đã được đưa

ra bàn thảo

Theo ông Lê Hưng Quốc, Cục trưởng Cục Nông nghiệp, nhiều trở ngại.mớitrong nông nghiệp vùng ĐBSH đã xuất hiện, như diện tích đất lúa ngày cànggiảm, dân số tăng nhanh (ước tính đến 2010 ĐBSH có khoảng 21 triệu người,

Trang 10

tăng 3 triệu người, nhu cầu lương thực theo đó tăng thêm khoảng 700-800nghìn tấn/ năm); hiệu quả sử dụng đất chưa cao (chỉ 3 năm 2000-2003 giảm tới6,5 nghìn ha) Do vậy, các địa phương cần phải có sự điều chỉnh trong sảnxuất đặc biệt là cơ cấu mùa vụ và cơ cấu giống để nâng cao năng suất, giá trị,từng bước đáp ứng yêu cầu mới

Trên cơ sở đúc rút những mô hình có hiệu quả tại các địa phương, CụcNông nghiệp đưa ra định hướng chung để các tỉnh, các huyện căn cứ vào điềukiện của mình mà lựa chọn bộ giống và cơ cấu thích hợp: (1) Phương thức canhtác 2 vụ lúa+ 1 vụ màu theo cơ cấu: Lúa xuân muộn-lúa mùa sớm-vụ đông.Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu ăn ngon, các địa phương có thể lựa chọn giốnglúa vừa năng suất cao, vừa có chất lượng tốt Còn nếu đáp ứng yêu cầu năngsuất có thể mở rộng diện tích lúa lai qua việc lựa chọn các tổ hợp lúa lai hệ Bác

ưu, D.ưu, Nhị ưu, vừa có năng suất mà chất lượng gạo khá Song song với việclựa chọn giống, áp dụng các biện pháp thâm canh tổng hợp để tăng năng suất

Về các trà lúa, vụ ĐX hiện đang có biến động mạnh với việc chuyển từ xuânsớm, xuân chính vụ sang xuân muộn Trước năm 1990, xuân chính vụ chiếm tới55-60% thì bây giờ giảm xuống rất còn rất ít Trong khi đó, trà xuân muộn đượccác địa phương gieo cấy chiếm 84% Thậm chí một số địa phương như HàNam, Nam Định, Hà Tây đạt trên 90% (Nam Định đạt 99%) Xu hướng thayđổi tăng xuân muộn phù hợp với mực tiêu dành quỹ thời gian dài hơn cho sảnxuất vụ đông Tuy nhiên, với những nơi chân rưộng thấp trũng, không sản xuấtđược vụ đông không nhất thiết phải bỏ vụ xuân sớm Về giống, với trà xuânsớm nên dùng các giống nhóm X như X21, X23, X20, N30; ngoài ra có thể sửdụng ĐT10, VN 10, BM 9830, IR 17494 Đáp ứng tiêu chí năng suất cao, chấtlượng khá vụ xuân muộn có thể dùng các giống KD 18, Q5, Bắc thơm số7, cácgiống nếp và các giống lai như Nhị ưu 838, D ưu 527, Nhị ưu 63

Về vụ mùa, trà lúa mùa sớm trong thời gian qua đã tỏ rõ ưu thế Điều này xuấtphát từ định hướng mở rộng tối đa trà mùa sớm để tăng diện tích sản xuất raumàu vụ đông Các địa phương có thể áp dụng: Lúa mùa sớm-lúa mùa trung-lúamùa muộn=30-50-20% Về cơ cấu giống, do điều kiện khí hậu, đất đai, dịchbệnh nên cơ cấu giống các địa phương có khác nhau Tuy nhiên, với trà sớm,trà trung có thể dùng Q5, KD 18, CR 203, HT1, các giống nếp cải tiến và các tổhợp lai D.ưu 527, Bồi tạp sơn thanh HYT83, VL20; đối với trà mùa muộn sử

Trang 11

dụng các giống cảm ôn như X21, NX 30, các giống cảm quang như Bác ưu 903,Bác ưu 64, Mộc tuyền và các giống tám, dự, nếp cổ truyền

(Nguồn:http://www.hoinongdan.org.vn/)

Điểm xuất phát trong năm 2002 của vùng ĐBSH là: Mức thu nhập bìnhquân nông dân khoảng 5 triệu đồng/năm, tổng thu nhập trên 1 ha đất canh táckhoảng 28 - 30 triệu đồng/ha/năm (trong đó TP Hà Nội 37 triệu, Hà Tây 30triệu, Thái Bình 32 triệu, Nam Định 36 triệu, Hải Phòng, 38 triệu, Hưng Yên 34triệu, Hải Dương, 31 triệu, trong khi trung bình cả nước là 17 triệu đồng)

Tuy thế, hiện nay ở vùng ĐBSH số mô hình cánh đồng đạt 50 triệu đồng/ha/năm đã chiếm khoảng 10% diện tích canh tác (90 ngàn ha trong số 880 ngànha) và các mô hình hộ đạt 50 triệu đồng/hộ/năm cũng đạt khoảng 10% số hộ(350 ngàn hộ trong số tổng số 3,5 triệu hộ) Việc phấn đấu đạt mục tiêu “50triệu đồng” ngoài ý nghĩa thúc đẩy hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệpcòn là tiền đề thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển, tạo nhu cầu cho pháttriển các ngành công nghiệp khác; tạo điều kiện thúc đẩy đưa khoa học – côngnghệ mới vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ; thu hút chất xám về nông thônnhằm “xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bềnvững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao” như tinh thần Nghị quyếtHội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn”, cũng là bước cụ thể hóa yêu cầu của Đại hội IX củaĐảng trong việc “đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trênđơn vị diện tích”

3.3.2.2 Nhân tố kinh tế - kỹ thuật

Trang 12

Nhân tố kinh tế - kỹ thuật có nhiều như: cơ sở hạ tầng, sự phát triển lựclượng sản xuất, chất lượng lao động, thị trường và chính sách kinh tế vĩ mô củanhà nước, vv Tất cả những nhân tố đó tác động đến sự lựa chọn và phát triển

hệ thống canh tác Trong tất cả các nhân tố kinh tế - kỹ thuật, nhân tố thị trường

là nhân tố bao trùm nhất, chính thị trường giúp cho người sản xuất biết đượcnên sản xuất cái gì, cây gì, con gì, cho đối tượng nào để có được thu nhập cao

Chính sách kinh tế nông nghiệp nông thôn: Chính sách này góp phầnphát triển hệ thống canh tác, đó là: chính sách giá cả, marketing, vật tư đầu vào,tín dụng, cơ giới hoá, đất đai, nghiên cứu và tưới tiêu

Các nhân tố kỹ thuật là những tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa vào sản xuấtthông qua các tổ chức khoa học và kinh tế trong quá trình chuyển giao có ảnhhưởng lớn đến chuyển đổi hệ thống canh tác Tiến bộ khoa học - kỹ thuật màtrước hết là những thành tựu khoa học về sinh vật (như giống cây trồng, gia súc,các thành tựu về công nghệ gieo trồng, chăm sóc) có chất lượng cao, sản phẩmsản xuất ra được thị trường chấp nhận sẽ kích thích chuyển đổi hệ thống canhtác nhanh hơn

3.4 Thu nhập của người dân trong hệ thống canh tác ĐBSH.

ĐBSH có điều kiện đất đai bằng phẳng, màu mỡ, độ phì nhiêu cao vàthời tiết khí hậu ôn hoà, lượng nước mặt và nước ngầm phong phú là điều kiệnthuận lợi cho Vùng phát triển sản xuất nông nghiệp với các tập đoàn cây trồng,vật nuôi hết sức phong phú bao gồm: cây lương thực (lúa, ngô, khoai…); câythực phẩm bao gồm đủ các loại cây ăn củ, quả, lá, thân; cây công nghiệp ngắnngày như lạc, đỗ tương; cây cây ăn quả như: cam, chanh, bưởi, na, vv…vật nuôibao gồm trâu, bò, lợn và gia cầm; phát triển thuỷ sản như cá, tôm, các con đặcsản…cho đến nay, nông nghiệp vẫn là cơ sở và chỗ dựa cho mọi hoạt động kinh

tế khác của hộ Thu nhập của hệ thống canh tác cây trồng, vật nuôi tăng dầntheo sự phát triển của hệ thống canh tác:

- Đối với hệ thống canh tác cây trồng: Thu nhập trên 1 ha canh tác phụthuộc vào hệ thống luân canh cây trồng trên từng loại đất Thực tế ở hầu hết cácvùng thu nhập của công thức luân canh 2 vụ lúa/năm đạt thấp nhất Nếu lấy thunhập thuần trên 1 ha đất canh tác 2 lúa năm 2004 làm gốc (=1) để so sánh thìthấy thu nhập thuần trên 1 ha canh tác của các công thức luôn canh cây trồngtăng dần: công thức 2 vụ lúa + 1 vụ ngô đông sẽ tăng gấp 1,3 lần; 2 vụ lúa + 1

vụ khoai lang sẽ tăng gấp 1,58 lần; 2 lúa + 1 vụ khoai tây tăng gấp 1,76 lần; vụlúa xuân + 2 vụ dưa hấu tăng gấp 3,82 lần và cao nhất là công thức trồng 3 vụdưa hấu + 1 vụ rau tăng gấp 4,79 lần

- Đối với hệ thống canh tác ngành chăn nuôi: lợn thịt và gia cầm thịtphương thức chăn nuôi kết hợp sử dụng thức ăn công nghiệp có thu nhập/kg sảnphẩm cao hơn chăn nuôi tận dụng; chăn nuôi lợn giống theo phương thức tận

Trang 13

dụng kết hợp giữa chế biến nông sản với nuôi lợn nái đem lại thu nhập/kg sảnphẩm cao hơn chăn nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp.

- Nuôi trồng thuỷ sản theo phương thức đa dạng các loại thuỷ ngư có thunhập/ha cao hơn nuôi độc canh một loại cá

Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ quá trình phát triển kinh tế của ĐBSH, tathấy vấn đề đáng suy nghĩ: Là một trong hai vùng nông nghiệp trọng điểm của

cả nước nhưng nông nghiệp của vùng trong giai đoạn 1995-1997 có tốc độ tăngtrưởng đạt thấp (4,35%/năm), chưa bằng tốc độ phát triển nông nghiệp toànquốc (4,63% năm; tỷ lệ GDP nông nghiệp của vùng so với toàn quốc chưa có sựcải thiện đáng kể (23,52% năm 1995, đến 1997 cũng chỉ 23,65%); Về đời sống,mặc dù hết sức cần cù, nông dân ĐBSH vẫn ở mức thu nhập thấp, vùng có mứcthu nhập thấp bình quân năm 1996 dưới mức bình quân cả nước,và chỉ đạt223,3 nghìn đồng/người (cả nước: 226,7 ngàn đồng người, giá thực tế)

3.4.1.Thu nhập của hộ phụ thuộc vào mức độ phát triển của hệ thống canh tác

Thu nhập của hộ nông dân ở ĐBSH hiện nay nhìn chung vẫn ở mức trungbình so với các vùng trên cả nước, bình quân thu nhập của hộ nông dân ởĐBSH hiện nay khoảng 28 đến 30 triệu đồng/năm

Trước sự giảm thiểu đất canh tác và áp lực tăng dân số ngày càng lớn, các

hộ nông dân ở ĐBSH nói chung đều có xu hướng đa dạng hoá các hoạt độngkinh tế, nhưng đồng thời vẫn giữ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như là cơ

sở cho mọi hoạt động kinh tế hộ gia đình Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

hộ nông dân ở ĐBSH đã dần dần hình thành 3 loại hộ chủ yếu, đó là: hộ thuầnnông, hộ kiêm (sản xuất nông nghiệp kết hợp các ngành nghề phi nông nghiệp)

và hộ chuyên kinh doanh phi nông nghiệp

Cơ cấu giữa các loại hộ này luôn biến đổi theo thời gian và luôn có sự khácnhau giữa các vùng ở ĐBSH: vùng cận đô có tỷ lệ hộ thuần nông thấp và tỷ lệ

hộ phi nông nghiệp cao, trong khi tại các vùng khác tỷ lệ hộ thuần nông và hộkiêm chiếm đại đa số Xu thế phát triển hệ thống canh tác của hộ hiện nay ởĐBSH là sự phối hợp giữa kinh doanh sản xuất nông nghiệp với phi nôngnghiệp

Mức thu nhập của các nhóm hộ tính theo hệ thống canh tác thì mức thunhập bình quân/hộ của nhóm hộ kiêm cao hơn nhóm hộ thuần nông Các nhóm

hộ có cùng hệ thống sản xuất ở các vùng khác nhau cũng có thu nhập khácnhau: vùng ven đô > duyên hải ven biển > đa dạng nông nghiệp > thuần lúa

Nếu hộ nông dân sử dụng lao động làm công thì một phần của Phần củagiá trị gia tăng sẽ dùng để trả thù lao cho sức lao động của họ Phần còn lại cho

chủ hộ là Thu nhập thuần nông nghiệp.

Ngày đăng: 09/04/2015, 17:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng hành chính các  tỉnh ĐBSH - Chuyên Đề đánh giá sự thay đổi hệ thống canh tác ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ ở đồng bằng sông hồng
Bảng 1 Bảng hành chính các tỉnh ĐBSH (Trang 6)
Bảng 2: Cơ cấu đất nông nghiệp các vùng ĐBSH. - Chuyên Đề đánh giá sự thay đổi hệ thống canh tác ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ ở đồng bằng sông hồng
Bảng 2 Cơ cấu đất nông nghiệp các vùng ĐBSH (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w