Để tăng giá trị đóng góp của ngành công nghiệp trong tổng giá trị ngành kinh tế theo định hướng chung, việc xây dựng vàphát triển khu - cụm - điểm công nghiệp là hướng đi tất yếu, góp ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾKHOA KHUYẾN NÔNG & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Giáo viên giảng dạy: TS Trần Xuân Bình Nhóm học viên thực hiện: lớp cao học
Phát triển nông thôn K14
1 Hồ Thị Thu Hòa
2 Nguyễn Tiến Anh
3 Nguyễn Thị Thống
Huế,tháng 12/2008
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG MỞ ĐẦU……… 3
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… …….4
2.1 Một số khái niệm.……… …………4
2.1.1.Khái niệm cộng đồng, nông thôn, phát triển nông thôn.………4
2.1.2 Xu thế phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn.……….……5
2.1.3 Một số quan điểm về làng nghề……….…….7
2.2 Một số vấn đề bất cập khi hình thành khu cụm điểm công nghiệp làng nghề ở Việt Nam………….……… ……8
2.2.1 Về vấn đề quy hoạch, xúc tiến đầu tư ở các khu cụm điểm công nghiệp……….9
2.2.2 Về vấn đề đền bù giải tỏa, chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn khi hình thành khu cụm công nghiệp……… 10
2.2.3 Về vấn đề ô nhiễm môi trường……… 11
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG XÃ HỘI NÔNG THÔN KHI CHƯA HÌNH THÀNH CỤM ĐIỂM CÔNG NGHIỆP VÀ LÀNG NGHỀ………13
3.1.Vài nét tổng quan về huyện Tây Sơn,tỉnh Bình Định ……….13
3.2.Thực trạng và những bất cập xã hội nông thôn khi chưa hình thành cụm điểm công nghiệp và làng nghề……… 14
CHƯƠNG IV: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HÀNH THÀNH CỤM ĐIỂM CÔNG NGHIỆP VÀ LÀNG NGHỀ VÀO XÃ HỘI NÔNG THÔN………17
4.1 Quá trình hình thành cụm điểm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn huyện…… 17
4.2 Những bất cập trong xã hội nông thôn khi hình thành, phát triển cụm điểm công nghiệp và làng nghề……… 20
CHƯƠNG V HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CỤM ĐIỂM CÔNG NGHIẸP VÀ LÀNG NGHỀ TẠI HUYỆN TRONG THỜI GIAN TỚI THEO ĐÚNG HƯỚNG VÀ BỀN VỮNG ……… 24
CHƯƠNG VI KẾT LUẬN ……….26
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… ……….27
Trang 3CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành công nghiệp có vaitrò hết sức to lớn Khác với nông nghiệp, ngành công nghiệp có lợi thế hơn hẳn về tốc độtăng trưởng, trình độ mở rộng qui mô Sự phát triển của công nghiệp thúc đẩy nhanh quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhu cầu tư liệu sinh hoạt cho nhân dân, tăngkim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa đất nước Trong xu thế hội nhậpkinh tế quốc tế, công nghiệp càng có vị trí quyết định, bởi suy cho cùng, cạnh tranh trênthị trường quốc tế chủ yếu vẫn là cạnh tranh giữa các sản phẩm do ngành công nghiệpchế tạo ra… Công nghiệp tăng trưởng cao sẽ tạo ra tiền đề vật chất đảm bảo nâng cao
nhịp độ phát triển đất nước, đẩy mạnh CNH-HĐH Để tăng giá trị đóng góp của ngành
công nghiệp trong tổng giá trị ngành kinh tế theo định hướng chung, việc xây dựng vàphát triển khu - cụm - điểm công nghiệp là hướng đi tất yếu, góp phần “hạ nhiệt” nhữngbức xúc về mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và giải quyết việc làmcho lao động nông thôn
Thực tế đã cho thấy nền kinh tế nông thôn gắn liền với nông nghiệp có nhiều hạnchế Nông dân ở nhiều vùng nông thôn không thể làm giàu được trên mảnh ruộng củamình dù đã cố gắng xoay xuở hết cách Vì vậy, việc phát triển cụm điểm công nghiệp vàlàng nghề như là một hướng đi cho nông dân với một hướng làm ăn khác ngay trên mảnhđất của mình, góp phần giải quyết việc làm nâng cao thu nhập tại chỗ cho người dân.Trong những năm qua, nhiều địa phương trên địa bàn cả nước đã quy hoạch và phát triểncác khu cụm công nghiệp và làng nghề, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định là một trongnhững địa phương như thế Hầu hết ở các địa phương khi đánh giá về hiệu quả của việcquy hoạch và phát triển cụm điểm công nghiệp này chỉ quan tâm đến mở rộng quy mô,hiệu quả kinh tế, rất ít trường hợp quan tâm đến các vấn đề xã hội nhất là những tác độngđến xã hội nông thôn Mặc dù, việc phát triển này có nhiều tác động tích cực đến xã hộinông thôn nhưng trong đó đã làm nảy sinh những bất cập trong xã hội mà khi biểu hiện rabên ngoài người ta mới chú ý đến.Vậy vấn đề xã nảy sinh ở đây là gì? Nó có tác độngnhư thế nào đến đời sống của cộng đồng nông thôn?Xuất phát từ mối quan tâm này
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Sự tác động của quá trình hình thành và phát triển cụm điểm công nghiệp và làng nghề vào xã hội nông thôn tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định”
Mục tiêu của chuyên đề: phát hiện và phân tích những vấn đề bất cập xảy ra trong
xã hội nông thôn do việc hình thành các cụm điểm công nghiệp làng nghề; trên cơ sở đó
đề ra những giải pháp góp phần tác động tích cực, đưa các cụm điểm công nghiệp làngnghề tại địa phương phát triển hiệu quả và bền vững
Trang 4CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm.
2.1.1.Khái niệm cộng đồng, nông thôn, phát triển nông thôn.
* Cộng đồng
Trong đời sống khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ mốiquan hệ và tương tác giữa các cá nhân trong những nhóm người khác nhau Đó chính lànhững đặc thù mang tích tập thể trng tất cả các lĩnh vực đời sống và hoạt động xã hội cónhững điểm tương đối khác nhau về quy mô và hoạt động
Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000), cộng đồng là một thực hể xã hội có cơ cấu
tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràngbuộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổigiữa các thành viên Các đặc điểm và lợi ích chung đó rất đa dạng Đó là những đặc điểm
về kinh tế, xã hội, nhân văn, môi trường, huyết thống, tổ chức, vùng địa lý, hoặc các khíacạnh về tâm lý mối quan tâm và quan điểm
* Nông thôn:
Nông thôn có thể coi là khu vực địa lý nơi đó có sinh kế cộng đồng gắn bó, cóquan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạtđộng sản xuất nông nghiệp
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểunông thôn là vùng sinh sống của tập hợn cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợn cưdân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong mộtthể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác Một số đặc điểm đặcthù của nông thôn Việt Nam như: các cư dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, cư dân
có quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc vàgia đình; nông thôn luôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa của quốc gia; nông thônthể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, các vùng nôngthôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to lớn, phong phú và đa dạng,
* Phát triển nông thôn
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về phát triển nông thôn Mỗi tổ chức hoặcchương trình phát triển nông thôn có thể khái niệm phù hợp nhất với mục tiêu hoạt động
và điều kiện kinh tế xã hội đặc thù Theo Umalele “phát triển nông thôn được khí niệmnhư là một quá trình cải thiện mức sống của hầu hết những người có thu nhập đang sinh
Trang 5sống trong cá vùng nông thôn, đồng thời tạo lập tiến trình phát triển bền vững của họ”.Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các lĩnh vực có mối quan hệ tácđộng qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội thể chế
và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lạp mà phải được đặt trong khuônkhổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của các vừngnông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của các vùng nông thôn sẽ đónggóp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của cả nước(Trương Văn Tuyển, 2007)
2.1.2 Xu thế phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn.
* Công nghiệp nông thôn.
Phát triển công nghiệp nông thôn là một nội dung quan trọng của quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Trong nền kinh tế quốc dân, côngnghiệp được coi là ngành kinh tế thứ hai ra đời sau nông nghiệp, nó là nền kinh tế vôcùng quan trọng tạo ra năng suất lao động và hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triểnvượt bậc đạt những tiêu chí kinh tế - xã hội của nước công nghiệp phát triển Bất kỳ mộtquốc gia nào sau khi phát triển công nghiệp ở một mức độ nhất định nhằm ổn định xã hộiđều quan tâm phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa đất nước Chỉ có nềnkinh tế công nghiệp mới đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Phát triển côngnghiệp nông thôn có những vai trò hết sức quan trọng góp phần giải quyết nhiều khí cạnhtrong các lĩnh vực sau đây:
- Tạo điều kiện để các cơ sở công nghiệp gắn liền với các vùng nguyên liệu ởkhu vực nông thôn
- Tận dụng những điều kiện thuận lợi về đất đai ở các vùng nông thôn nơi màgiá thuê đất rẻ hơn rất nhiều so với vùng đô thị
- Đẩy nhanh việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọngcác ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ và giảm thuần nông
- Đẩy mạnh việc phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập và mức sốngcộng đồng nông thôn
- Tạo điều kiện để phân phối lại lực lượng lao động nông thôn theo hướng giảmdân số người lao động nông nghiệp và tăng lao động công nghiệp và dịch vụ
- Hạn chế và tiến tới xóa bỏ hiện tượng di cư tự do của một bộ phận lao độngnông thôn ra các đô thị kiếm việc làm
- Hình thành các điểm công nghiệp, thương mại và dịch vụ gắn với nông nghiệp
và nông thôn, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nông thôn
Trang 6- Nâng cao mức sống vằn hóa, tinh thần và xã hội của người dân nông thôn vàcủa xã hội theo hướng văn minh và hiện đại, giảm dần khoảng cách giữa thànhthị và nông thôn.
- Tận dụng việc xử lý chất thải công nghiệp ở nông thôn có thể dễ dàng hơn ởcác vùng đô thị
- Đảm bảo chất thải công nghiệp được tận dụng tốt hơn: thí dụ một số chất thải
từ ngành chế biến nông sản có thể sử dụng làm phân vi sinh
Công nghiệp nông thôn phân bố ở khắp các vùng nông thôn rộng lớn nhằm tậndụng ưu thế về mặt bằng, về vùng nguyên liệu, nguồn lao động tại chỗ và các ưu thế khác
ở các vùng nông thôn, vì vậy nó phải tuân theo những nguyên tắc nhất định để lựa chọncác ngành công nghiệp ở khu vực nông thôn như:
- Các ngành công nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu được sản xuất hoặc khaithác ở nông thôn như chế biến nông lâm thủy sản, khai thác mỏ,
- Các ngành công nghiệp trực tiếp phục vụ nông nghiệp hoặc các doanh nghiệp,hoặc người tiêu dùng ở nông thôn; sản xuất phân bón, thuốc sát trùng, công cụcầm tay, sửa chữa máy móc nông nghiệp, điện dân dụng,
- Các ngành công nghiệp làm gia tăng giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp, lâmnghiệp như thuộc da, kéo sợi, chế biến bột mì (sắn), sản xuất giấy,
- Các ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều nhân công hoặc có thể sử dụng nhữngngười lao động ít lành nghề như may mặc, giày dép, sản xuất và khai thác mở,gia công lắp ráp máy
- Các ngàng công nghiệp đòi hỏi diện tích đất lớn để làm mặt bằng sản xuất nhưsản xuất vật liệu xây dựng, may mặc, gốm sứ, đồ mộc,
- Các ngành công nghiệp đòi hỏi xử lý chất thải, xử lý an toàn môi trường dễdàng và ít tốn kém hơn trong các đô thị như công nghiệp xi măng, hóa chất,sản xuất giấy,
- Không xâm chiếm đất nông nghiệp phì nhiêu, cần giữ gìn quỹ đất cho yêu cầucung ứng lương thực, thực phẩm ngày càng tăng của nhân loại
- Có thể cùng tồn tại với việc bảo tồn di sản thiên nhiên, văn hóa, môi trườngsinh thái là đảm bảo ổn định xã hội, không xâm phạm đến những di tích lịch sửvăn hóa, những tập tục cộng đồng
- Không gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước do quy trìnhcông nghệ hoặc chất thải công nghiệp gây ra
- Khuyến khích nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức và nguồn vốn đầu tư,nhiều loại hình doanh nghệp cùng tham gia phát triển công nghiệp nông thôn
Trang 7- Từng bước phát triển thành các cụm công nghiệp tại các địa phương nhằm thuhút lao động tại chỗ, cải thiện bộ mặt nông thôn.
* Tiểu thủ công nghiệp nông thôn
Tiểu thủ công nghiệp nông thôn là những ngành sản xuất bằng tay và bằng công
cụ thô sơ hoặc cải tiến có từ rất lâu đời gắn với các làng nghề hoặc các hộ làm nghề, tạo
ra các mặt hàng tiêu dùng truyền thống phong phú và kỹ xảo phục vụ tiêu dùng trongnước và xuất khẩu Có thể nói tiểu thủ công nghiệp là tiền thân của ngành công nghiệp.Phát triển công nghiệp nông thôn không thể xem nhẹ phát triển tiểu thủ công nghệp nôngthôn, đó là những ngành nghề truyền thống sử dụng lao động và kinh nghiệm tại chỗ sửdụng nguyên liệu tại địa phương, sản xuất ra công cụ, sản phẩm phục vụ tiêu dùng củađịa phương và ngày nay gópp hần không nhỏ xuất khẩu các mặt hàng truyền thống có giátrị và thu ngoại tệ về cho đất nước
Ở Việt Nam, tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm
và tăng thu nhập cho người dân nông thôn, đáp ứng yêu cầu trong nước về nhiều loạisản phẩm, tạo ra nguồn hàng xuất khẩu, góp phần từng bước làm thay đổi cơ cấu kinh tếnông thôn Hiện nay, cả nước có gần 1.500 làng nghề, trong đó trên 300 nghề truyềnthống, có khoảng 1,35 triệu hộ và doanh nghiệp nhỏ chuyên về sản xuất hàng thủ công.Tiểu thủ công nghệp đã tạo việc làm cho hơn 4 triệu lao động nông thôn, thu nhập củangười lao động cao hơn gấp 4-6 lần thu nhập của lao động nông nghiệp Ở các hộ giađình vừa làm nông nghiệp vừal àm hàng thủ công, thu nhập bình quân cao gấp 1,7 lần tới3,9 lần thu nhập của hộ thuần nông Một số vấn đề cần giải quyết cho phát triển tiểu thủcông nghiệp nông thôn gồm:
- Máy móc thiết bị trong ngành đã lạc hậu hoặc không có hiệu quả, không đápứng các tiêu chuẩn về an toàn lao động và bảo vệ môi trường
- Trình độ văn hóa kỷ thuật của người lao động thấp, 55% số lao động nàykhông qua đào tạo nghề hoặc đòa tạo về quản lý
- Vốn đầu tư xây dựng còn hạn chế, bình quân mỗi hộ làm hàng thủ công mới có
28 triệu đồngvoons và mỗi doanh nghiệp chi có 700 triệu đồng
- Chất lượng sản phẩm không cao, mẫu mã đơn điệu, đa số sản phẩm chưa cóthương hiệu, chưa phù hợp với tiêu thụ rộng trên thị trường và xuất khẩu Rất ítdoanh nghiệp có thị trường rộng và ổn định để tiêu thụ sản phẩm của mình
- Nguyên liệu mà một số doanh nghiệp làm hàng thủ công lấy từ các nguồn gâytác hại đến môi trường ví dụ như khai thác gõ trái phép
2.1.3 Một số quan điểm về làng nghề.
Trang 8Khái niệm Làng nghề thường được xuất hiện khá nhiều trên sách báo địa phương
và trung ương, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất mà “chấpnhận” như một phạm trù trong văn hoá Nên chúng ta thường gặp những câu “tình làng,nghĩa xóm”, “sau luỹ tre làng”, hay “trai khôn chọn vợ cùng làng”
Từ khái niệm làng và nghề người ta đi vào việc nhận dạng khái niệm làng nghề.Tuy có những khái niệm về loại hình làng nghề tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ
nọ, song vẫn có những điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là xét từ góc độ văn hóa,chúng ta có thể sử dụng chung khái niệm “làng nghề” Làng nghề, theo cách nhìn văn hóabao gồm các nội dung cụ thể như: “Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư cónghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ Ổn định về mộtnghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loạisản phẩm.Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ với tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệpđược lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau Sản phẩm có ý nghĩa kinh tế đểnuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang lại những giá trị vật thể vàphi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hóa, xã hội liên quan tới chính họ”
Khái niệm này có từ lâu đời nó nhằm phân biệt với khái niệm phường hội ở khuvực đô thị mà đặc điểm nổi bật nhất là trình độ và công nghệ làng nghề ở khu vực nôngthôn vẫn mang nặng hoạt động thủ công và gắn với sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, để
có một khái niệm đầy đủ về làng nghề cần thống nhất một số quan điểm sau:
Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện sau:
- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề;
- Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của làng
Như vậy, không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng gọi là làngnghề mà cần có qui định một số tiêu chuẩn nhất định Vấn đề này Vụ Thống kê Nông,Lâm nghiệp và thuỷ sản có qui định trong phương án Tổng điều tra Nông nghiệp năm
2001 qui định tạm thời về làng nghề theo 4 tiêu chí
2.2 Một số vấn đề bất cập khi hình thành khu cụm điểm công nghiệp làng nghề ở Việt Nam.
Ở Việt Nam từ năm 1996 đến năm 1998, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyhoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng cơ sở 1996 – 2010, và mới đây,ngày 14/3/2008, Thủ tướng Chính phủ lại ký Nghị định Quy định về khu công nghiệp,khu chế xuất và khu kinh tế Tính đến cuối năm 2007, cả nước có gần 190 khu công
Trang 9nghiệp (KCN) với tổng diện tích 44.000 ha, trong đó có hơn 110 KCN đã đi vào hoạtđộng Các KCN đã thu hút hơn 3.000 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn gần 30 tỉUSD Ngoài ra còn có 3.000 dự án trong nước với tổng vốn gần 200 ngàn tỉ đồng, giảiquyết việc làm cho hơn 3 triệu lao động Các KCN đã tạo ra một bộ mặt mới cho côngnghiệp Việt Nam Các KCN được phân bố ở 54 tỉnh, thành phố, chủ yếu ở các vùngĐông Nam bộ, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung, làm cho đường giaothông, cảng sông, cảng biển, thông tin liên lạc và các kết cấu hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ phát triển Đội ngũ công nhân kỹ thuật có tác phong công nghiệp có trình độ quản lýđược hình thành Trong những năm qua, nhiều thương hiệu của các doanh nghiệp trongKCN đã xuất hiện và có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế Tuy nhiên, hiện naytại các khu cụm điểm công nghiệp trên địa bàn cả nước bộc lộ những bất cập mà nếukhông có những tác động vào thì sẽ gây hậu quả khôn lường.
2.2.1 Về vấn đề quy hoạch, xúc tiến đầu tư ở các khu cụm điểm công nghiệp.
Khi đánh giá về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở một số vùng trong cả nước,
có ý kiến cho rằng, phát triển khu công nghiệp gây ra lãng phí quỹ đất đai Việc lấy đấtnông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ở vùng đất thâm canh, tăng vụ cónăng suất lúa cao, có hệ thống thuỷ lợi đầy đủ đang gây khó khăn cho nông dân tại chỗnói riêng và cả ngành nông nghiệp nói chung Thêm vào đó, nhiều khu công nghiệp đượctriển khai ồ ạt, thiếu tính toán, chạy theo thành tích gây ra tình trạng các quy hoạch KCN
bị “treo” quá lâu Nhiều khu công nghiệp được thành lập khá lâu, nhưng nhà máy, xínghiệp hiện đại chẳng thấy đâu, chỉ thấy những dải đất mầu mỡ, trù phú ngày nào giờ bịphơi nắng dầm mưa Cùng với những KCN “treo”, cuộc sống của nông dân có đất bị thuhồi để xây dựng các khu công nghiệp cũng “treo” luôn Điều đó đã tạo thêm sự bức xúccho nông dân Sự lãng phí đất còn thể hiện ở chỗ tỷ lệ lấp đầy ở một số KCN thấp: Ví dụnhư: KCN An Nghiệp (Sóc Trăng), sau một thời gian khá dài xây dựng kết cấu hạ tầngkỹ thuật, đến nay mới có 17 doanh nghiệp thuê 82,96 ha đất, với năm doanh nghiệp xâydựng nhà xưởng, trong khi tổng diện tích quy hoạch cho thuê lên đến 178 ha Như vậy,
có thể nói, việc phát triển các khu công nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trongthời gian qua mặc dù đã sử dụng một quỹ đất khá lớn đất nông nghiệp (chủ yếu là nhữngnơi “đắc địa”), nhưng những tác động tích cực trở lại của các khu công nghiệp đối với sựphát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa tương xứng Nói cách khác,lợi ích do phát triển khu công nghiệp đem lại đối với nông nghiệp chưa xứng với chi phí(cả trước mắt và lâu dài) mà nông nghiệp phải “hy sinh” để xây dựng các khu côngnghiệp
Trang 10Tuy nhiên, các khu công nghiệp được xây dựng trong những năm qua chủ yếubám vào các vùng ven, những đô thị có sẵn hoặc những vị trí thuận lợi như ven đường,ven sông, gần trục lộ chính Điều đó đã dẫn đến một hệ quả là mối quan hệ giữa các khucông nghiệp với nông thôn chưa rõ nét Các khu công nghiệp đã góp phần đô thị hoánông thôn nhiều hơn là hiện đại hoá nông thôn Việc quy hoạch và xây dựng đồng bộ cáckhu dân cư, hệ thống hạ tầng kỹ thuật - xã hội gắn với các khu công nghiệp chưa đượcchú trọng Do đó, đến nay hàng hoạt vấn đề mới phát sinh làm thay đổi bộ mặt, cơ cấu xãhội ở nông thôn Tình trạng người lao động di cư một cách tự phát, nhiều vấn đề xã hộinổi cộm như trật tự, an ninh, nhà ở, đời sống văn hoá… không được tính toán đầy đủ khilập quy hoạch và đánh giá các tác động của KCN
2.2.2 Về vấn đề đền bù giải tỏa, chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn khi hình thành khu cụm công nghiệp.
Trong thực tế có nhiều quan điểm cho rằng các khu cụm điểm công nghiệp luônluôn là chiếc “túi thần” hút lao động ở nông thôn Có một thực tế là việc phát triển cáckhu công nghiệp tất yếu phải đi liền với việc thu hồi đất, mà chủ yếu là đất nông nghiệpcủa một bộ phận nông dân Đứng trên quan điểm phát triển, việc thu hồi đất để xây dựngcác khu công nghiệp là chủ trương đúng đắn, góp phần tích cực chuyển một bộ phận laođộng ở nông nghiệp, nông thôn sang khu vực công nghiệp Nhưng nếu xét riêng bộ phận
bị thu hồi đất thì quá trình đó đang làm cho không ít nông dân đang bị mất đất, mất việclàm, không tìm được việc làm mới Trong số 32.000 lao động được tạo ra trong các khucông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long, liệu có bao nhiêu phần trăm trong số đó lànông dân bị thu hồi đất và con em của họ! Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức,nhưng chắc chắn con số này không cao Điều này cũng dễ hiểu vì các doanh nghiệp khucông nghiệp cần tuyển dụng lao động có trình độ, đã được đào tạo theo từng nghề nhấtđịnh, trong khi đó phần đông nông dân chỉ biết nghề làm ruộng, chăn nuôi ở trình độthấp, hoặc nghề thủ công truyền thống; chưa có tác phong làm việc công nghiệp Thêmvào đó, những hộ nông dân giao đất để xây dựng các khu công nghiệp, sau khi nhận đượctiền đền bù hay hỗ trợ đã sử dụng chúng theo nhiều cách khác nhau Có nhiều gia đìnhbiết dùng số tiền đó để đào tạo lại, chuyển đổi ngành nghề, nhanh chóng ổn định đượccuộc sống và tạo tiềm năng để phát triển kinh tế lâu dài Nhưng cũng có không ít gia đìnhsau khi nhận được tiền đền bù đã sử dụng không hiệu quả, tiêu xài hoang phí, để sau mộtthời gian ngắn hết tiền, mất điều kiện sinh sống lâu dài, trở thành những bần cố nông thựcthụ Từ thực tế trên, chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù các địa phương và bản thân cácnhà đầu tư cũng đã rất cố gắng trong việc thu hút lao động nông thôn dôi dư, lao động bịmất đất vào làm việc trong các khu cụm công nghiệp, nhưng việc phát triển các khu cụm
Trang 11công nghiệp thời gian qua chưa thật sự góp phần xứng đáng vào việc giải quyết vấn đềlao động - việc làm ở nông thôn
2.2.3 Về vấn đề ô nhiễm môi trường.
Có thể nói, thành tựu của các khu cụm điểm công nghiệp trên địa bàn cả nước đã đánhdấu một mốc son trong phát triển kinh tế nước ta thời hội nhập Tuy nhiên, nó cũng đặt ranhiều vấn đề cần giải quyết mà trước hết là ô nhiễm môi trường Do KCN thường bámsát quốc lộ, gần khu vực dân cư, cộng với việc một số doanh nghiệp nhập khẩu các thiết
bị cũ, công nghệ lạc hậu, nguyên liệu kém chất lượng, đã làm cho môi trường càng thêm
ô nhiễm Trong số 154 KCN đang hoạt động trên toàn quốc chỉ có 39 KCN có hệ thốngxử lý nước thải tập trung (chiếm 25%), chính vì hệ thống nước thải ở các KCN chưađược xây dựng đồng bộ, nên lượng nước thải công nghiệp mỗi ngày thải ra môi trườngkhoảng 500.000-700.000 m3 hầu hết chưa được xử lý đã làm ô nhiễm môi trường nước.Tình trạng ô nhiễm trên một số con sông như sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu, sôngĐồng Nai, sông Sài Gòn, sông Thị Vải đã đến mức báo động Đó là chưa kể, các KCNkhi xây dựng thiếu biện pháp bảo vệ môi trường, làm ô nhiễm môi trường không khí vàkhi sản xuất, các chất thải rắn không có chỗ chôn lấp, cũng như không có hệ thống xử lý,làm cho môi trường càng ô nhiễm Hiện nay, chất thải công nghiệp mỗi năm lên tới hơn2,9 triệu tấn, trong đó các KCN là 1,2 triệu tấn và khối lượng chất thải nguy hại chiếm175.000 tấn, nhưng lượng thu gom, xử lý không được 50% Nếu kể cả lượng rác sinhhoạt, trong 20 năm qua còn tồn đọng 70 triệu tấn, trong khi cả nước hiện có 850 bãi chônlấp rác thải đang vận hành, nhưng chỉ có 8 bãi là hợp vệ sinh Các KCN làm ô nhiễm môitrường đã gây nhiều tác hại đến sức khỏe con người Ngân hàng thế giới đã đưa con số:Mỗi năm ở Việt Nam thiệt hại 780 triệu USD trong các lĩnh vực sức khỏe cộng đồng vì ônhiễm môi trường Không phải ngẫu nhiên mà nhân 50 năm ngày phát hiện ra bệnhMinamata, Hội đồng Môi trường Nhật Bản đã tổ chức một diễn đàn quốc tế về ô nhiễmmôi trường ảnh hưởng đến sức khỏe ở thành phố Kumamoto với chủ đề "Bài học gì từ 50năm phát hiện ra bệnh Minamata?" 300 đại biểu đến từ 141 vùng lãnh thổ của 12 quốcgia, trong đó có Việt Nam đã rút ra bài học cho mình là, không vì tăng trưởng kinh tế màbỏ qua nguy cơ ô nhiễm môi trường tiềm ẩn gây hậu họa lâu dài cho đất nước và conngười
Bước vào thực hiện CNH - HĐH, Việt Nam đã rút ra bài học kinh nghiệm của cácnước đi trước là sớm có Chiến lược bảo vệ môi trường; đó là việc ban hành Luật Môitrường, thiết lập hệ thống quản lý nhà nước về môi trường Tuy nhiên, đến nay vẫn còntình trạng ô nhiễm là do pháp luật chưa đồng bộ, thực hiện chưa nghiêm, hệ thống quản
Trang 12lý chưa đủ mạnh mặc dù lực lượng cảnh sát môi trường đã được thành lập, chế tài xửphạt chưa đủ sức răn đe đối với các doanh nghiệp làm ô nhiễm môi trường
Cho đến nay, chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý trách nhiệm hình sự và công khaitrên các phương tiện thông tin đại chúng khi vi phạm Luật Môi trường Nhiều doanhnghiệp còn thiếu ý thức, chưa coi chi phí bảo vệ môi trường là chi phí sản xuất cần thiết.Kết quả kiểm tra năm 2007 của Cục Bảo vệ môi trường cho thấy: 10% các cơ sở côngnghiệp được kiểm tra không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kếtbảo vệ môi trường chưa có cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; 125/156 cơ sở không thựchiện đúng nội dung cam kết bảo vệ môi trường; 102/140 cơ sở phát sinh nước thải vượttiêu chuẩn; 77 cơ sở phát sinh chất thải nguy hại nhưng không quản lý, vận chuyển và xử
lý theo quy định của Nhà nước, không lập hồ sơ đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại.Hiện nay, việc giải quyết ô nhiễm môi trường ở các KCN đang là nhiệm vụ cấp bách củaNhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư Việc làm đó đạt kết quả khả quan hay không còntùy thuộc vào việc đã coi môi trường là yếu tố cơ bản của sản xuất và của chất lượngcuộc sống hay chưa? Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta đã chỉ rõ, cần ngănchặn, xử lý kịp thời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường tại các khu dân cư, khu vực đô thị,KCN, vùng đầu nguồn nước, ven biển, khu vực làng nghề Kế hoạch cũng nêu ra các chỉtiêu về môi trường, trong đó năm 2008, xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường đạt 60%;Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đạt 80%; Tỷ lệ xử lý chất thải nguy hại đạt 64%; Tỷ lệKCN, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là60% Thực hiện những chỉ tiêu này sẽ giảm bớt ô nhiễm môi trường ở KCN và đảm bảophát triển bền vững
Trang 13CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG XÃ HỘI NÔNG THÔN KHI CHƯA HÌNH
THÀNH CỤM ĐIỂM CÔNG NGHIỆP VÀ LÀNG NGHỀ 3.1.Vài nét tổng quan về huyện Tây Sơn,tỉnh Bình Định
Tây Sơn là một huyện trung du nằm về phía Tây Nam tỉnh Bình Định, có đầy đủ lợithế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế - xã hội,cách thành phố Qui Nhơn 42km trên trục quộc lộ 19 nối cảng biển Qui Nhơn với TâyNguyên, Tây Sơn có nhiều tiềm năng phát triển một nền kinh tế đa dạng: công nghiệp,TTCN, thương mại dịch vụ, du lịch, nông lâm nghiệp Những năm qua, với sự chỉ đạođúng hướng, kịp thời của Huyện ủy, HĐND và UBND huyện, nền kinh tế của huyện đã
có những chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu kinh tế xã hội đều đạt và vượt mức kế hoạchđặt ra, giai đoạn 2001-2005 tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt trên 10,68%, trongcác năm 2006, 2007 (giai đoạn 2006-2010), tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức 15%
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng của ngànhnông lâm ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp- TTCN, thương mại dịch
vụ -Du lịch Giai đoạn 2001-2005 cơ cấu kinh tế (CN-TTCN-XD, TMDVDL, NLNN) là:28%-39%-33%; năm 2007 là: 32,85% – 39,95% – 27,20%
Về sản xuất nông lâm nghiệp, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 70.000 tấn Nhờ
sự hỗ trợ của các cấp huyện đã xây dựng được nhiều mô hình khuyến nông về trồng trọtchăn nuôi hiệu quả; tập trung khuyến khích phát triển các gia trại, trang trại đến nay theosố liệu thống kê sơ bộ toàn huyện có gần 77 trang trại, trong đó đã có 36 trang trại đượccấp giấy chứng nhận Tổng đàn gia súc, gia cầm ngày càng tăng, năm 2008 gia súc55.000 con, đàn gia cầm 339.852con Cùng với chương trình phủ xanh núi trống đồi trọc,huyện được tham gia nhiều chương trình trồng rừng như dự án KfW6, WB3, dự án nămtriệu ha rừng,…đến nay điện tích có rừng toàn huyện hơn 27 nghìn ha
Với mục tiêu tăng dân tỷ trọng đóng góp của ngàng Công nghiệp – TTCN, xây dựngtrong cơ cấu nền kinh tế, huyện đã có nhiều chủ trương, vận dụng các chínha sách hỗ trợcho các doanh nghiệp đầu tư và các cụm, điểm công nghiệp, làng nghề Giá trị côngnghiệp – TTCN xây dựng ngày càng tăng Đến nay toàn huyện có 4 cụm công nghiệp, 07điểm công nghiệp và 08 làng nghề, trong đó tập trung một số loại hình sản xuất như gạchngòi, đá Granit, gỗ dân dụng,…Tình hình sản xuất CN - TTCN trên địa bàn đã đi vào ổnđịnh và phát triển có hiệu quả, chỉ tính riêng năm 2007, giá trị công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp - xây dựng đạt 355,96 tỷ đồng, tăng 30,4% so cùng kỳ; trong đó: tiểu thủcông nghiệp huyện quản lý đạt 99,64 tỷ đồng, tăng 18,3 % so cùng kỳ Trong quá trìnhphát triển CN - TTCN, huyện ủy HĐND và UBND huyện luôn quan tâm đúng mức đến