Để đáp ứng nhu cầu ngày cao của người dân đô thị, cần phải nhìn nhận lại các khu ở đã xây dựng Và vấn đề quy hoạch công trình công cộng cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng, chiếm đư
Trang 1Các thành viên nhóm:
Dương Thị Như Nguyệt 10124131
Huỳnh Trọng Trường 10124230 Trần Văn Thi 10124185 Trần Minh Tiến 10124207 Nguyễn Thị Ngọc Hằng 10124048
Trang 2Việc xây dựng và cải tạo đô thị diễn ra rầm
rộ trong những năm qua cùng với việc ra đời các khu ở mới, khang trang, hiện đại và văn
minh hơn Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn khá nhiều vấn đề đặt ra cho các nhà chuyên môn và công tác
quản lý đô thị Cụ thể là:
Trang 3 Việc phân bố các khu ở trong tổng thể
quy hoạch chung một cách rời rạc, thiếu
tính liên kết
Hình thái không gian các khu ở mới khá
đa dạng: dạng ô bàn cờ, dạng tự do, dạng hỗn hợp Tuy nhiên công tác quy hoạch chỉ dừng ở góc độ phân khu chức năng, chưa chú trọng đến hình thể không gian 3
chiều
Trang 4 Việc xác định quy mô hợp lý của 1 khu ở
hoàn toàn chưa có cơ sở khoa học Phần lớn các khu ở có cơ cấu chưa hoàn chỉnh, thiếu
hệ thống các không gian công cộng nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của người dân
Việc quy hoạch cảnh quan các khu ở mới
Trang 5Sự bất cập trong quy hoạch đô thị
Trang 6Mật độ cây xanh thấp
Trang 7Trong tương lai, cùng với sự phát triển mạnh
mẽ kinh tế-xã hội, những khu ở mới tiếp tục
ra đời Để đáp ứng nhu cầu ngày cao của
người dân đô thị, cần phải nhìn nhận lại các khu ở đã xây dựng
Và vấn đề quy hoạch công trình công cộng
cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng,
chiếm được sự quan tâm đông đảo của cộng đồng
Trang 8Quy hoạch công trình công cộng đô thị
nhằm:
- Tạo vẻ mĩ quan đô thị
- Đưa ra những định hướng cho việc xây
dựng các khu ở mới trong tương lai
- Tiện lợi về các hoạt động chức năng cho
sử dụng của người dân sống trong khu
ở và cả khu vực lân cận
Trang 9- Tạo môi trường đảm bảo với các không gian mở cho các hoạt động nghỉ ngơi vui chơi giải trí, học hành, giao tiếp
Phục vụ và đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho người dân
Trang 101 Cách thức tổ chức các khu chức năng trong
quy hoạch công trình công cộng đô thị
a) Công trình công cộng-dịch vụ :
Các dịch vụ công cộng, cơ quan hành
chính của khu ở, trung tâm giải trí, bưu
điện, thư viện và các dịch vụ hàng
ngày cần bố trí ở trung tâm và ở gần bến
xe Dịch vụ hàng ngày, bưu điện, thư viện, trạm cứu hỏa và trụ sở công an nên ở gần điểm bán lẻ, gần với trung tâm khu ở hay gần công viên chính Trường học
nên đặt ở rìa khu ở hoặc trong khu
ngoại vi nếu cần thiết
Trang 11Khu vui chơi Suối Tiên Bưu điện Thành phố HCM
Trang 12Khu vui chơi trẻ em Bến xe Bến Thành-Quận 1
Trang 13b) Bãi đỗ xe
Đặt ở nơi tránh ảnh hưởng thị giác với đường phố Việc này làm cho đặc điểm các ngôi nhà trở nên nổi bật trong cảnh quan đường phố Garage cần đặt phía sau mặt đứng công trình chứ không chiếm lĩnh mặt đứng Trong các khu có nhà ở gia đình đơn
lẻ, garage có thể đặt trong ngõ và phải
cách mặt tiền ít nhất 6m
Trang 14Bãi đỗ xe công cộng
Trang 15c) yêu cầu đối với quy hoạch xây dựng
các công trình công cộng ngầm
Phải phù hợp với quy hoạch tổ chức không gian và hệ thống dịch vụ công cộng của đô thị.
Phải đảm bảo kết nối không gian thuận tiện
và an toàn với các công trình giao thông
ngầm, các công trình công cộng trên mặt đất
và các công trình công cộng ngầm liền kề và kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngầm chung của đô thị
Trang 16d) Công viên và quảng trường:
Vị trí trong quy hoạch khu ở:
Công viên và quảng trường cần
phải là trung tâm công cộng của khu
ở Chúng phải được đặt gần đường phố
công cộng, khu nhà ở hoặc khu bán lẻ
Không được coi công viên như phần đệm hay phần đất thừa của khu ở, không được tách biệt công viên với đường phố Công viên công cộng và quảng trường trong khu
ở có vai trò như nơi gặp gỡ của cộng đồng,
là trung tâm giải trí, chỗ chơi cho trẻ em
và là điểm đến của những người lao động trong giờ nghỉ ăn trưa Cạnh công viên
công cộng và quảng trường nên thêm vào khu vực bán lẻ và khu vực nhà ở phù hợp với các hoạt động công cộng
Trang 17Quảng trường Ba Đình – Hà Nội Công viên
Trang 18 Quy mô và cơ cấu tổ chức công viên:
Giữa các khối nhà ở nên có một khu
vườn rộng từ 200 - 400 m2 Tại rìa của
khu ở hoặc liền kề với trường học cần
có công viên với sân chơi trẻ em rộng khoảng 3 ha Công viên cộng đồng diện tích
3 - 5 ha cần bố trí dọc không gian mở của vùng Diện tích tổng cộng của công viên
phải dựa trên số lượng nhà ở hoặc tương
đương với 5 đến 10% diện tích khu vực
Tiêu chuẩn cho mật độ công viên thay đổi theo từng thành phố và tùy thuộc vào dân
số Tối thiểu là 2500 m2 /1000 dân
Trang 19e) Tổ chức hệ thống giao thông :
Vị trí cho tuyến giao thông
Các tuyến giao thông xác định mật độ,
vị trí và chất lượng phát triển trong vùng Các tuyến cần được đặt ở nơi có thể tăng tối đa các khu ở mới, để dễ tiếp cận tới các khu vực tái phát triển hoặc lấp đầy và để phục vụ cho các khu ở hiện có cũng như
các trung tâm việc làm
Trang 21 Vị trí bến đỗ xe
Các bến đỗ chính cần phải ở trung tâm và liền kề với lõi thương mại Bến xe buýt nhánh
có thể đặt ở khu phụ trợ dọc theo các phố kết nối và liền kề với công viên và tiện nghi công cộng Khả năng tiếp cận dễ dàng là yếu tố tạo
ra sự thành công cho hệ thống giao thông
công cộng Tại các bến đỗ xe phải có chỗ đợi thoải mái, thuận lợi với mọi điều kiện thời tiết quanh năm Cũng cần có cửa hàng, quán cafe nhỏ và các hoạt động khác cần thiết trong khi khách đang đợi xe Vùng đón khách cần phải gần bến đỗ và thuận tiện cho việc sử dụng
của người khuyết tật
Trang 22 Đường ngang qua đường phố chính và cầu đi bộ
Chỉ khi nào thật cần thiết mới tổ chức cầu vượt hay đường ngầm dành cho người đi
bộ băng qua đường vì cả hai giải pháp
điều rất tốn kém kinh phí và dễ gây mất cảnh quan Có thể kết hợp xây dựng cầu vượt hay đường ngầm với các tổ hợp các công trình thương mại cao ốc văn phòng hay nhà ga tầu điện ngầm (nếu có) tạo
nên hệ thống giao thông liên hoàn, thuận tiện cho người sử dụng và đảm bảo cảnh quan chung cho khu ở
Trang 23Cầu vượt và đường phố chính
Trang 24 Các tuyến đường dạo:
Đường dạo được sử dụng cho việc đi
Trang 25
Trong tương lai các tuyến đường dạo nên
được bố trí các giàn cây hay mái che nhẹ
để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi
người sử dụng hệ thống này
Đường dạo nên rộng từ 2m đến 3,5m,
nó phù hợp với kích thước vỉa hè của các tuyến đường giao thông nội bộ
Bề mặt của đường bằng phẳng, được phân định bằng bề mặt lát, đảm bảo người khuyết tật sử dụng dễ dàng
Trang 262 Một số giải pháp tổ chức cảnh quan
không gian khu ở mới:
a) Về cây xanh
Tổ chức cây xanh theo quy hoạch có
thể tạo nên định hướng khác nhau như
theo các cách trồng tạo điểm nhấn, tạo
tuyến trong không gian, tạo nên diện với vai trò vừa là phông nền hay rào ngăn
cách cho không gian vừa có tác dụng vi
khí hậu như che mưa, nắng, gió bất lợi cho không gian
Trang 27Trong một khu đô thị mới có thể tổ chức
trồng cùng một loại cây trên một tuyến để tạo nên sắc thái riêng cho nhóm nhà, nhưng trong tổng thể toàn khu thì loại cây trồng thì nên đa dạng Lựa chọn chủng loại cây
phù hợp với điều kiện môi trường ở, thuận tiện cho việc chăm sóc, thay thế Kết hợp
màu sắc của cây với không gian xung
quanh để tạo tổng thể hài hoà, dễ chịu
Trang 28Loại đô thị Tiêu chuẩn (m 2 /người)
Trang 29b) Thiết bị ngoài trời:
Cabin điện thoại, các dụng cụ phục vụ vui chơi của trẻ em, trụ đèn giao thông,
thùng rác… Chúng chịu ảnh hưởng trực
tiếp của thời tiết, đặc biệt đối với khí hậu của vùng biển nên chúng phải được làm
bằng vật liệu có độ bền cao và có khả
năng di chuyển dễ dàng, thay thế được
Chú ý đến các tiêu chuẩn về an toàn cho người sử dụng Màu sắc của các thiết bị
ngoài trời cũng nên được nghiên cứu, chú
ý công tác bảo trì, duy tu và sử dụng màu sắc hài hoà với cảnh quan xung quanh
Trang 30Cabin điện thoại
Trang 31d) Các công trình kiến trúc nhỏ:
Tượng đài, vòi phun nước, tác phẩm phù điêu, điêu khắc, bể cảnh, non bộ, các logo hoặc tranh tường, hệ thống các chòi nghỉ chân che mưa nắng Nên được thiết kế
theo một hình thức thống nhất, gắn với các biểu trưng của khu vực để tạo nên nét
riêng cho khu đô thị mới
Trang 32e)Quy hoạch nhà vệ sinh công cộng
Trên các trục phố chính, khu thương mại, công
viên, chợ, bến xe, nơi sinh hoạt công cộng, phải bố trí nhà vệ sinh công cộng.
Khoảng cách giữa hai nhà vệ sinh công cộng trên đường phố chính 1,5km.
Các điểm đỗ xe buýt chính phải có nhà vệ sinh
công cộng.
Tại các khu vực có giá trị đặc biệt về cảnh quan đô thị hoặc quỹ đất hạn chế, cần xây nhà vệ sinh công cộng ngầm.
Trang 33Trong các công trình cao tầng có thể sử
dụng một phòng của tầng 1 (trệt) để bố trí nhà vệ sinh công cộng và có biển báo chỉ dẫn
Tại các trạm xăng dầu ngoài đô thị phải có nhà vệ sinh công cộng cách xa nơi chứa
xăng 10m
Nhà vệ sinh công cộng
Trang 34IV Kết luận
Việc tìm ra được giải pháp Quy hoạch
công trình công cộng khu ở mới phù hợp cho thành phốnói riêng và cho các đô thị của Việt Nam là việc làm khó khăn, đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu nghiêm túc, trên cơ sở khoa học và những
kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới Đây là vấn đề rất bức thiết và cần
có sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự tham gia đóng góp của các nhà chuyên
môn và tất nhiên không thể thiếu vai trò của người dân Nhằm góp phần mang lại cho người dân một không gian sống thực thụ và phát triển bền vững